Xu Hướng 12/2022 # Pháp Luật Cạnh Tranh Trong Hoạt Động Thương Mại Quốc Tế Sau Khi Việt Nam Gia Nhập Wto / 2023 # Top 16 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Pháp Luật Cạnh Tranh Trong Hoạt Động Thương Mại Quốc Tế Sau Khi Việt Nam Gia Nhập Wto / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Pháp Luật Cạnh Tranh Trong Hoạt Động Thương Mại Quốc Tế Sau Khi Việt Nam Gia Nhập Wto / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lĩnh vực cạnh tranh trong hoạt động thương mại quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO được pháp luật về cạnh tranh điều chỉnh như sau:

Thứ nhất: Các quy định trong pháp luật cạnh tranh chưa rõ ràng, còn chồng chéo, mâu thuẫn với nhau.

Qua quá trình tiến hành rà soát gần đây cho thấy: mức độ của sự mâu thuẫn và chồng chéo giữa luật cạnh tranh với văn bản luật chuyên ngành và các văn bản dưới luật khá phức tạp, và đang có xu hướng gia tăng.

Thứ hai: Pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh còn chưa phù hợp với thực tiễn, dẫn đến áp dụng khó khăn.

Thứ ba: Một số quy định của pháp luật về cạnh tranh chưa phù hợp các cam kết gia nhập WTO.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực viễn thông: Theo Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường viễn thông cho các doanh nghiệp nước ngoài theo lộ trình và tuân thủ quy định theo Tài liệu tham chiếu. Tuy nhiên, quy định của Bộ Bưu chính – viễn thông (BCVT) về cước kết nối cuộc gọi quốc tế chiều về Việt Nam có thể đã vi phạm cam kết. Cụ thể theo Quyết định số 04/2006/QĐ-BBCVT, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế tự xác định và đăng ký với Bộ BCVT mức sàn giá cước kết nối cuộc gọi chiều về, nhưng nếu doanh nghiệp có tổng lưu lượng cuộc gọi quốc tế chiều về Việt Nam theo quí vượt 39% tổng lưu lượng của thị trường cuộc gọi quốc tế chiều về Việt Nam, doanh nghiệp phải đóng cho Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam phần cước bổ sung là 0,17 USD/phút đối với phần lưu lượng vượt mức.

Điều này thể hiện qua các quy định điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong sở hữu trí tuệ. Ví dụ: Hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu nước ngoài và đăng ký và sử dụng tên miền gây nhầm lẫn đã được quy định tại Luật SHTT.

Thứ năm: Pháp luật về cạnh tranh nói chung và trong hoạt động thương mại quốc tế nói riêng chưa thực sự được quan tâm bởi cả doanh nghiệp trong nước lẫn doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Luật Thương Mại; Khía Cạnh Pháp Lý Và Hợp Đồng Thương Mại Trong Nước Và Quốc Tế; / 2023

LĨNH VỰC DOANH NGHIỆP

Trong bối cảnh Việt Nam đang hòa mình vào nền kinh tế quốc tế mang tính thách thức như hiện nay thì các doanh nghiệp trong nước cũng như những nhà đầu tư nước ngoài cần có những phương án hoạt động hiệu quả và phù hợp với từng thời kỳ. Doanh nghiệp cần nắm vững những quy định, chính sách của nhà nước đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực hoạt động.

Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi tham gia vào thị trường Việt Nam cần được tư vấn rõ ràng và cụ thể về những chính sách đầu tư, những ưu đãi và hạn chế, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, chính sách lao động,… để có thể tiến hành đầu tư một cách hiệu quả, tránh những rủi ro. Vì vậy, một bộ phận pháp lý chuyên nghiệp với kiến thức pháp luật vững vàng là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp trong giai đoạn đầy những cơ hội và thách thức như hiện nay.

Nhận thấy được tầm quan trọng trong việc đảm bảo tính pháp lý trong hoạt động kinh doanh và nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp tại Việt Nam, Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh Tuân và cộng sự đã và đang đồng hành cùng nhiều doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên con đường thực hiện chiến lược kinh doanh của họ.

Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh Tuân và cộng sự thực hiện tư vấn trong các lĩnh vực sau:

Tư vấn hợp đồng mua bán hàng hóa, Hợp đồng dịch vụ… Quy định về buộc thực hiện đúng hợp đồng, xử lý vi phạm, buộc bồi thường, đình chỉ, huỷ bỏ hợp đồng. Tư vấn về tập quán thương mại quốc tế;

Điều kiện kinh doanh đối với một số ngành nghề;

Các cam kết quốc tế, lộ trình mở cửa thị trường, tập quán, thông lệ thương mại quốc tế;

Các vấn đề pháp lý về cạnh tranh, hạn chế cạnh tranh, độc quyền, tập trung kinh tế trong cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh, áp dụng các biện pháp khẩn cấp; các vụ việc về cạnh tranh;

Tổ chức mạng lưới chi nhánh, văn phòng đại diện; xúc tiến thương mại và đại diện thương nhân, hoạt động đại lý, uỷ thác thương mại;

Tư vấn về các qui định của pháp luật đối với hoạt động cung ứng dịch vụ;

Tổ chức nội bộ doanh nghiệp.

Tư vấn giải quyết tranh chấp trong doanh nghiệp

Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh Tuân và cộng sự cung cấp dịch vụ luật sư tranh tụng – giải quyết tranh chấp tại các cấp Toà Án, tại các Tổ chức Trọng Tài, Tại Hội Đồng Cạnh Tranh bao gồm:

Tư vấn luật về cách thức giải quyết tranh chấp, đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của các bên tranh chấp. Đưa ra những phương án cụ thể có lợi nhất trong quá trình đàm phán, hòa giải (nếu có);

Tiến hành điều tra thu thập chứng cứ – tài liệu, kiểm tra đánh giá chứng cứ – tài liệu để trình trước Tòa, Trọng tài, Hội đồng cạnh tranh;

Tham gia tố tụng với tư cách là luật sư bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ tại tòa án các cấp hoặc các Cơ quan tiến hành tố tụng khác;

Tham gia tố tụng với tư cách là đại diện ủy quyền- nhân danh khách hàng thực hiện tất cả các phương án và cách thức theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất tại các phiên xử.

LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung cứ dịch cụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhắm mục đích sinh lợi khác

Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh Tuân và cộng sự thương xuyên tương tác với các quy định pháp luật để hỗ trợ các khách hàng trong và ngoài nước giải quyết khó khăn pháp lý ở các lĩnh vực xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa quốc tế…

Qua nhiều vụ tranh chấp, chúng tôi nhận thấy được những lỗ hổng pháp lý, những sơ suất của khách hàng, sự cố tình gây hiểu nhầm trong hợp đồng thương mại của doanh nghiệp đối thủ, dự liệu trước rủi ro có thể ảnh hưởng đến khách hàng, từ đó đưa ra những lời khuyên hữu ích, giúp khách hàng ngày càng phát triển.

Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh Tuân và cộng sự cung cấp các dịch vụ pháp lý gồm:

Cung ứng dịch vụ

Mua bán hoàng hóa

Trung gian thương mại

Xúc tiến thương mại

Hoạt động thương mại khác

Quý khách có nhu cần xin vui lòng liên hệ:

Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh Tuân và Cộng sự

Trụ sở: 105D Ngô Quyền ( Tầng 1), Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh

Email: tuan.nguyen@nttuanlaw.com.vn

Website:

ĐIỆN THOẠI: (08) 38 59 12 37

HOTLINE: 0913.903.900(Ls Tuân)

Luật Sư Tranh Chấp Kinh Tế Thương Mại Số 1 Việt Nam / 2023

– Thế nào được xem là một vụ án tranh chấp kinh tế thương mại? – Làm gì khi bị phát sinh tranh chấp? – Làm sao để bào chữa án tranh chấp kinh tế thương mại ổn thỏa nhất? – Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại ra sao?

1. Vụ án tranh chấp kinh tế thương mại là gì?

Vụ án kinh tế là các tranh chấp kinh tế mà một hoặc các bên tranh chấp khởi kiện ở Tòa án.

2. Đặc điểm của tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại được chia làm 3 trường hợp khác nhau cụ thể như sau:

Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình kinh doanh

Tranh chấp trong quá trình hoạt động thương mại, cụ thể là một trong hai bên vi phạm hợp đồng gây ảnh hưởng và thiệt hại cho bên còn lại

Tranh chấp giữa các cá nhân là thương nhân với nhau

3. Các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại của Luật sư

Có 4 hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại mà Luật sư của chúng tôi tư vấn cho khách hàng, tùy từng trường hợp của thể:

– Thương lượng: Đây là hình thức giải quyết tranh chấp không cần sự can thiệp của bên thứ 3,2 bên tự chủ động ngồi cùng nhau bàn bạc, thống nhất để dàn xếp giải quyết cũng như tháo gỡ những khúc mắc để tìm được tiếng nói chúng

– Hòa giải: Luật sư sẽ đứng ra làm bên thứ 3 để tiến hành hòa giải, thuyết phục các bên tranh chấp để giải quyết vấn đề khúc mắc

– Giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Tòa Án: Khi đã đưa ra Tòa, tất cả phải nói chuyện bằng chứng cớ và văn bản, Luật sư sẽ đại diện cho thân chủ xử lý các vấn đề theo trình tự, thủ tục tại Tòa Án nhằm mang lại lợi ích tối đa cho thân chủ

– Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại: là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của Trọng tài viên với kết quả cuối cùng là phán quyết trọng tài buộc các phải thực hiện

4. Luật sư tranh chấp kinh tế thương mại bào chữa cho thân chủ

– Nội dung các vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại:

+ Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thư­ơng mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau hoặc một hay các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận

+ Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

5. Thủ tục khởi kiện các vụ án tranh chấp kinh tế thương mại

– Hợp đồng kinh tế hoặc văn bản, tài liệu giao dịch có giá trị như hợp đồng kinh tế.

– Biên bản bổ sung, phụ lục, phụ kiện hợp đồng (nếu có).

– Tài liệu về bảo đảm thực hiện hợp đồng như: cầm cố, thế chấp, tài sản (nếu có).

– Tài liệu về việc thực hiện hợp đồng như giao nhận hàng , các biên bản nghiệm thu, các chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng, các biên bản làm việc về công nợ tồn đọng.

– Các tài liệu giao dịch khác (nếu thấy cần thiết).

– Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Một Số Đánh Giá Về Pháp Luật An Toàn Thực Phẩm Trong Hoạt Động Thương Mại Của Việt Nam / 2023

Đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP) nói chung và ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng là một trong những vấn đề cấp bách, mang tầm chiến lược trong phát triển của mỗi quốc gia. Hệ thống các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại là cơ sở cho việc đảm bảo cho thực phẩm được an toàn trong các quan hệ thương mại, là công cụ để nhà nước quản lý an toàn thực phẩm trong lĩnh vực thương mại. Việc tìm hiểu thực trạng và rút ra đánh giá về pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại của Việt Nam để tạo cơ sở khoa học hoàn thiện pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

– Yêu cầu đối với hàng hóa là thực phẩm khi đưa vào lưu thông, phân phối.

– Yêu cầu về bảo quản thực phẩm trong kinh doanh: Các cơ sở kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng các yêu cầu về bảo quản thực phẩm nhằm đảm bảo thực phẩm được an toàn, như: nguyên liệu, bao bì, diện tích, thiết kế đối với kho, các giá kệ, nhiệt độ bảo quản, thiết bị chuyên dụng, nước dùng trong bảo quản,…

* Quy định về ghi nhãn thực phẩm:

Việc ghi nhãn thực phẩm được thực hiện theo quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định số 38/2002/NĐ-CP ngày 25/04/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Theo đó, các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa tại Việt Nam hoặc nhập khẩu hàng hóa phải ghi nhãn cho hàng hóa, trừ một số sản phẩm hàng hóa được pháp luật quy định không phải ghi nhãn.

Trong đó, nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện các nội dung gồm: Tên hàng hóa; Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; Xuất xứ hàng hóa và các nội dung khác theo tính chất của mỗi loại hàng hóa. Với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa. Nhãn phụ cũng được sử dụng với hàng hóa không xuất khẩu được hoặc bị trả lại, đưa ra lưu thông trên thị trường, đồng thời, phải có dòng chữ in đậm “Được sản xuất tại Việt Nam”.

Đối với các thực phẩm bao gói sẵn, ngoài tuân thủ các quy định về ghi nhãn hàng hóa, nội dung bắt buộc ghi nhãn phải tuân thủ các quy định sau:

– Thông tin trên nhãn phải đúng bản chất sản phẩm, trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây hiểu lầm cho người sử dụng;

– Đối với thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, trên nhãn phải thể hiện được các nội dung chính sau: công bố thành phần dinh dưỡng; hoạt chất tác dụng sinh học; tác dụng đối với sức khỏe; chỉ rõ đối tượng, liều dùng, cách dùng, cảnh báo nếu có;

– Đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm bổ sung vitamin, khoáng chất, chất vi lượng không nhằm phổ cập cộng đồng như thức ăn công thức dành cho bà mẹ mang thai, trẻ em dưới 36 tháng tuổi và thức ăn qua ống thông cho người bệnh phải công bố mức đáp ứng so với nhu cầu dinh dưỡng, liều lượng sử dụng của từng đối tượng và hướng dẫn của bác sĩ;

– Thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, một số thực phẩm biến đổi gen (thuộc đối tượng phải ghi nhãn theo quy định của pháp luật về ghi nhãn đối với thực phẩm biến đổi gen) phải ghi rõ thành phần và hàm lượng có trong thực phẩm;

– Khi lấy thành phần nào đó trong sản phẩm làm tên sản phẩm thì phải ghi rõ hàm lượng thành phần đó bên cạnh tên sản phẩm;

– Tên sản phẩm phải là cỡ chữ lớn nhất, rõ nhất và tối thiểu gấp 3 lần cỡ chữ khác trên nhãn;

– Khi chuyển dịch nhãn phải bảo đảm không sai lệch nội dung so với nhãn gốc.

Theo quy định của pháp luật thì “Hạn sử dụng an toàn” bắt buộc phải ghi “Hạn sử dụng”, hoặc “Sử dụng đến ngày” đối với thực phẩm chức năng, thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm tăng cường vi chất và những thực phẩm dễ có khả năng bị hư hỏng do vi sinh vật.

Hạn sử dụng an toàn đối với các thực phẩm khác có thể ghi “Sử dụng tốt nhất trước ngày” phù hợp với loại sản phẩm thực phẩm. Đối với thực phẩm ghi “Hạn sử dụng” hoặc “Sử dụng đến ngày” thì không được phép bán ra thị trường khi đã quá thời hạn này. Đối với thực phẩm ghi “Sử dụng tốt nhất trước ngày” thì sau thời điểm này thực phẩm vẫn được phép bán trên thị trường nếu nhà sản xuất chứng minh được thực phẩm đó an toàn với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải ghi hạn sử dụng rõ ràng theo một trong hai hình thức “Hạn sử dụng”, hoặc “Sử dụng đến ngày”.

Chỉ nhà sản xuất thực phẩm mới được kéo dài hạn sử dụng cho sản phẩm thực phẩm của mình và hạn sử dụng kéo dài tối đa chỉ bằng hạn sử dụng đã quy định lần đầu tiên.

Ngoài ra, đối với thực phẩm chức năng, phụ gia thực phẩm, thực phẩm đã qua chiếu xạ, thực phẩm biến đổi gen, ngoài việc phải tuân thủ các quy định trên còn phải tuân thủ các quy định đối với việc ghi nhãn cho từng loại thực phẩm cụ thể tại một số thông tư sau: Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 27/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói sẵn; Thông tư liên tịch số 45/2015/TTLT-BNNPTNT-BKHCN ngày 23/11/2015 hướng dẫn ghi nhãn đối với thực phẩm biến đổi gen bao gói sẵn; Thông tư số 43/2014/TT-BYT ngày 24/11/2014 của Bộ Y tế quy định về quản lý thực phẩm chức năng;…

1.3. Các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

Quản lý nhà nước về ATTP thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam. Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/04/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP đối với các cơ quan nhà nước như sau:

– Trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP của Bộ Y tế:

Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về ATTP, Bộ Y tế có trách nhiệm sau:

+ Về trách nhiệm chung: (1) Chủ trì xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia, quy hoạch tổng thể về an toàn thực phẩm; (2) Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chỉ tiêu và mức giới hạn an toàn đối với sản phẩm thực phẩm; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm; (3) Yêu cầu các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý ATTP; (4) Quy định về điều kiện chung bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; (5) Chủ trì tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về ATTP; cảnh báo sự cố ngộ độc thực phẩm; (6) Thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của các bộ khác khi cần thiết.

+ Về trách nhiệm trong quản lý ngành: (1) Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; (2) Quản lý ATTP trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ; (3) Quản lý ATTP đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; (4) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

– Trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

+ Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

+ Quản lý ATTP đối với sản xuất ban đầu nông, lâm, thủy sản, muối.

+ Quản lý ATTP trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả và sản phẩm rau, củ, quả, trứng và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ.

+ Quản lý ATTP đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

+ Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý ATTP thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về ATTP trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

– Trách nhiệm quản lý ATTP của Bộ Công Thương:

+ Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về ATTP thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

+ Quản lý ATTP trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột và tinh bột và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ.

+ Quản lý ATTP đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

+ Ban hành chính sách, quy hoạch về chợ, siêu thị, quy định điều kiện kinh doanh thực phẩm tại các chợ, siêu thị.

+ Chủ trì việc phòng chống thực phẩm giả, gian lận thương mại trong lưu thông, kinh doanh thực phẩm.

+ Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý ATTP thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về ATTP trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý.

– Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Ủy ban nhân dân các cấp

+ Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật địa phương; xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất thực phẩm an toàn để bảo đảm việc quản lý được thực hiện trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm.

+ Chịu trách nhiệm quản lý ATTP trên địa bàn; quản lý điều kiện bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, ATTP tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý.

+ Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý ATTP trên địa bàn.

+ Bố trí nguồn lực, tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực cho công tác bảo đảm ATTP trên địa bàn.

+ Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, truyền thông, nâng cao nhận thức về ATTP, ý thức chấp hành pháp luật về quản lý ATTP, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng, ý thức của người tiêu dùng thực phẩm.

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về ATTP trên địa bàn quản lý.

Việc phân công trách nhiệm cụ thể giữa ba Bộ được quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 09/04/2014 hướng dẫn việc phân công phối hợp trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

1.4. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

Thực hiện Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, các bộ đã tích cực xây dựng các tiêu chuẩn (TCVN) và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về ATTP. Trong giai đoạn 2011 – 2016, đã đề nghị ban hành 453 TCVN, ban hành 119 QCVN về thực phẩm và 6 quy định kỹ thuật về ATTP. Riêng trong công đoạn kinh doanh thực phẩm hiện nay có 16 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được ban hành, đó là:

– QCVN 12-1:2011/BYT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm bằng nhựa tổng hợp;

– QCVN 12-2:2011/BYT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm bằng cao su;

– QCVN 12-3:2011/BYT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm bằng kim loại;

– QCVN 12-4:2015/BYT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ làm bằng thủy tinh, gốm sứ và tráng men tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm;

– QCVN 01-05: 2009/BNNPTNT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Yêu cầu vệ sinh cơ sở đóng gói thịt gia súc, gia cầm tươi sống;

– QCVN 01-100:2012/BNNPTNT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Yêu cầu chung về vệ sinh thú y trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật tươi sống và sơ chế;

– QCVN 02 – 01: 2009/BNNPTNT. Cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm thuỷ sản – Điều kiện chung đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;

– QCVN 02 – 02: 2009/BNNPTNT. Cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm thủy sản – Chương trình đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm theo nguyên tắc HACCP;

– QCVN 02 – 09: 2009/BNNPTNT. Kho lạnh thủy sản – Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;

– QCVN 02 – 10: 2009/BNNPTNT. Cơ sở thu mua thủy sản – Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;

– QCVN 02 – 11: 2009/BNNPTNT. Chợ cá – Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;

– QCVN 02 – 12: 2009/BNNPTNT. Cảng cá – Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;

– QCVN 02 – 13: 2009/BNNPTNT. Tàu cá – Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;

– QCVN 01-133:2013/BNNPTNT. QCVN về kho chứa thóc;

– QCVN 01-21: 2010/BNNPTNT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương pháp kiểm tra củ, quả xuất nhập khẩu và quá cảnh;

– QCVN 01-22: 2010/BNNPTNT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương pháp kiểm tra cây xuất nhập khẩu và quá cảnh.

2. Đánh giá chung về pháp luật ATTP trong hoạt động thương mại của Việt Nam 2.1. Một số kết quả đạt được

– Văn bản pháp luật về ATTP nói chung và về ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng thời gian qua đã được ban hành tương đối đầy đủ và kịp thời; từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về ATTP và đảm bảo ATTP trong đời sống xã hội.

Nội dung các văn bản pháp luật ban hành, về cơ bản đã thể chế hóa được các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về ATTP; nội luật hóa các điều ước, hiệp định quốc tế mà Việt Nam ký kết tham gia, thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành; Các quy định pháp luật ATTP được ban hành đúng thẩm quyền, bám sát yêu cầu quản lý nhà nước về ATTP, bảo đảm tính khả thi, khá thuận lợi cho sản xuất kinh doanh thực phẩm.

– Hệ thống văn bản pháp luật ATTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam tương đối toàn diện và phong phú, bao gồm các lĩnh vực như an toàn sức khỏe cộng đồng, quy định về kiểm dịch động thực vật, hệ thống quy định về kinh doanh, xuất khẩu và nhập khẩu thực phẩm.

Thời gian qua, nhiều văn bản pháp luật như: Hiến pháp 2013, Luật Thú y, Luật Kiểm dịch và Bảo vệ thực vật, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đầu tư, Luật Ngân sách nhà nước… cũng được sửa đổi, bổ sung, ban hành đã góp phần tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác đảm bảo ATTP nói chung và ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng. Tất cả các văn bản nói trên đã tạo hành lang pháp lý để đảm bảo ATTP trong hoạt động thương mại, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

– Các quy định ATTP trong hoạt động thương mại đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Nội dung của pháp luật ATTP trong hoạt động thương mại ngày càng bao quát và đầy đủ hơn.

– Pháp luật An toàn thực phẩm nói chung ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng đã có một bước tiến vượt bậc trong việc phân công trách nhiệm cụ thể cho từng bộ ngành đối với hoạt động quản lý an toàn thực phẩm trên thị trường.

Pháp luật ATTP đã tạo được cơ sở để hình thành và kiện toàn bộ máy cơ cấu, tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về ATTP từ Trung ương đến địa phương, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm giữa các bộ ngành, địa phương nên đã phát huy hiệu lực và hiệu quả trong công tác quản lý ATTP nói chung và quản lý ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng.

– Hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATTP đã được quan tâm ban hành đồng bộ hơn phục vụ yêu cầu quản lý ATTP nói chung và ATTP trong hoạt động thương mại nói riêng.

Các tiêu chuẩn, quy chuẩn về ATTP đều được ban hành trên cơ sở phù hợp hoàn toàn với tiêu chuẩn của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế (Codex), một số quy định chưa có trong Codex hoặc đặc thù của quốc gia thì đều hài hòa với quy định các nước phát triển như Mỹ, Nhật bản, EU và các nước ASEAN.

Tóm lại, những quy định hiện có, pháp luật ATTP?trong hoạt động thương mại ở Việt Nam đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về ATTP trong hoạt động thương mại thời gian gần đây. Điều kiện ATTP ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm được cải thiện. Chất lượng của thực phẩm xuất, nhập khẩu và lưu thông trên thị trường nội địa được kiểm soát tốt hơn. Số lượng chợ đầu mối, chợ an toàn thực phẩm và siêu thị kinh doanh thực phẩm tăng dần theo từng năm. Các quy định về ATTP trong hoạt động thương mại hiện hành đã tạo hành lang pháp lý tích cực cho hoạt động kinh doanh thực phẩm.

– Việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về ATTP còn chậm, chưa được hệ thống hóa gây ảnh hưởng tới việc thực thi Luật; một số quy định chưa phù hợp với quản lý ATTP, tính khả thi chưa cao.

Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 nhưng đến ngày 25/4/2012 mới ban hành Nghị định 38/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ATTP; hoặc đến năm 2014 mới ban hành Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT/BYT- BNNPTNT- BCT về phân công, phối hợp trong QLNN về ATTP. Các văn bản ban hành nhiều nhưng chưa được hệ thống hóa gây khó khăn cho việc áp dụng Luật.

– Một số quy định về phân công trách nhiệm QLNN về ATTP còn chồng chéo, chưa rõ ràng; một số lĩnh vực quản lý thiếu quy định hướng dẫn cụ thể.

Các quy định về phân công trách nhiệm quản lý ATTP?chưa phù hợp trong quản lý các sản phẩm “giao thoa” giữa các bộ hoặc giữa các bộ và địa phương, một số nội dung còn chồng chéo, thiếu rõ ràng; một số lĩnh vực quản lý còn thiếu hướng dẫn cụ thể.

– Thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phục vụ quản lý thực phẩm gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh thực phẩm.

Với số lượng hàng hóa thực phẩm lưu thông trên thị trường lên tới hàng chục nghìn chủng loại, trong đó có sản phẩm nông sản tươi sống, thực phẩm chức năng, hàng nghìn sản phẩm thực phẩm truyền thống, là đặc sản vùng/miền thì việc ban hành TCVN, QCVN, QCKT địa phương về thực phẩm là công cụ kỹ thuật để quản lý ATTP trong thời gian qua là chậm và còn thiếu. Một số quy chuẩn kỹ thuật còn chưa rõ ràng, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng như quy chuẩn kỹ thuật về sữa chế biến dạng lỏng.

Như vậy, bên cạnh những kết quả đạt được rất đáng ghi nhận, thì hệ thống pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại thời gian qua cũng bộc lộ không ít tồn tại và hạn chế; trong đó đáng lưu ý là nhiều văn bản ban hành chậm và còn thiếu, chưa thực sự phù hợp, chưa được hệ thống hóa, còn chồng chéo, quy định phân công trách nhiệm cho các cơ quan đơn vị chưa thực sự khoa học và rõ ràng, cần phải sớm khắc phục trong thời gian tới.

Nguồn: chúng tôi

Cập nhật thông tin chi tiết về Pháp Luật Cạnh Tranh Trong Hoạt Động Thương Mại Quốc Tế Sau Khi Việt Nam Gia Nhập Wto / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!