Xu Hướng 1/2023 # Phê Bình Văn Bản Là Gì? # Top 6 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Phê Bình Văn Bản Là Gì? # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Phê Bình Văn Bản Là Gì? được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Câu hỏi: Phê bình văn bản là gì?

Trả lời: Nói một cách đơn giản, phê bình văn bản là một phương pháp được sử dụng để xác định điều bản thảo gốc của Kinh Thánh nói. Bản thảo gốc của Kinh Thánh đã bị mất, che giấu, hoặc không còn tồn tại nữa. Những gì chúng ta có là hàng chục ngàn bản sao của những bản thảo gốc có niên đại từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên (cho Tân Ước) và có niên đại từ thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 15 sau Công Nguyên (cho Cựu Ước). Trong những bản thảo này, có nhiều sự khác biệt nhỏ và một vài khác biệt đáng kể. Phê bình văn bản là sự nghiên cứu của những bản thảo này nhằm xác định xem bản gốc thực sự là gì.

Có ba phương pháp chính để phê bình văn bản. Đầu tiên là Textus Receptus. Textus Receptus là một bản thảo của Kinh Thánh được biên soạn bởi một người tên là Erasmus vào những năm 1500 sau Công Nguyên. Ông lấy số lượng bản thảo có giới hạn mà ông đã truy cập và biên soạn chúng thành thứ cuối cùng được gọi là Textus Receptus.

Phương pháp thứ hai được gọi là Majority Text. The Majority Text lấy tất cả các bản thảo có sẵn ngày nay, so sánh sự khác biệt và chọn bản có khả năng chính xác dựa trên việc bản nào xuất hiện nhiều nhất. Ví dụ, nếu 748 bản thảo đọc “ông ấy nói” và 1429 bản thảo đọc “họ nói” thì Majority Text sẽ chọn “họ nói” là bản gốc có khả năng. Không có bản dịch Kinh Thánh chính nào dựa trên Majority Text.

Phương pháp thứ ba được gọi là phương pháp phê bình hoặc chiết trung. Phương pháp chiết trung bao gồm việc xem xét các bằng chứng bên ngoài và bên trong để xác định văn bản gốc có khả năng. Bằng chứng bên ngoài làm cho chúng ta hỏi những câu hỏi này: trong đó có bao nhiêu bản thảo có bài đọc xuất hiện? Niên đại của những bản thảo này là gì? những bản thảo này được tìm thấy ở những khu vực nào trên thế giới? Bằng chứng bên trong nhắc nhở những câu hỏi này: điều gì có thể đã gây ra những bài đọc khác nhau? Bài đọc nào có thể có khả năng giải thích nguồn gốc của các bài đọc khác?

Phương pháp nào là chính xác nhất? Đó là nơi cuộc tranh luận bắt đầu. Khi các phương pháp được mô tả lần đầu tiên cho một người nào đó, thì người đó thường chọn phương pháp Majority Text làm phương pháp nên được sử dụng. Về cơ bản nó là “quy tắc đa số” và phương pháp “dân chủ”. Tuy nhiên, có một vấn đề khu vực để xem xét ở đây. Trong vài thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh, đại đa số các Cơ Đốc nhân đã nói và viết bằng tiếng Hy Lạp. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên, tiếng La-tin bắt đầu trở thành ngôn ngữ phổ biến nhất, đặc biệt là trong nhà thờ. Bắt đầu với bản Latin Vulgate, Tân Ước bắt đầu được sao chép bằng tiếng La-tin thay vì tiếng Hy Lạp.

Tuy nhiên, trong thế giới Cơ Đốc phương đông, tiếng Hy Lạp tiếp tục là ngôn ngữ chủ đạo của nhà thờ trong hơn 1.000 năm nữa. Kết quả là, phần lớn các bản thảo tiếng Hy Lạp đến từ khu vực phương Đông/Đế quốc Đông La Mã. Những bản thảo Đế quốc Đông La Mã này đều rất giống nhau. Tất cả chúng đều có nguồn gốc từ cùng một vài bản thảo tiếng Hy Lạp. Mặc dù rất giống nhau, nhưng các bản thảo Đế quốc Đông La Mã có nhiều sự khác biệt so với các bản thảo được tìm thấy ở các khu vực phía Tây và trung tâm của nhà thờ. Tóm lại: nếu bạn bắt đầu với ba bản thảo, và một bản được sao chép 100 lần, một bản khác được sao chép 200 lần, và bản thứ ba được sao chép 5.000 lần, nhóm nào sẽ có quy tắc đa số? Tất nhiên là nhóm thứ ba. Tuy nhiên, nhóm thứ ba không có khả năng có bản gốc nhiều hơn nhóm thứ nhất hoặc nhóm thứ hai. Nó chỉ có nhiều bản sao hơn. Phương pháp phê bình/chiết trung của phê bình văn bản đưa ra “trọng lượng” bằng nhau cho các bản thảo từ các vùng khác nhau, mặc dù các bản thảo từ phương Đông có đa số áp đảo.

Phương pháp phê bình/chiết trung hoạt động như thế nào trong thực tế? Nếu bạn so sánh Giăng 5:1-9 trong nhiều bản dịch khác nhau, bạn sẽ nhận thấy rằng câu 4 bị thiếu trong các bản dịch dựa theo phương pháp chiết trung. Trong phương pháp Textus Receptus, Giăng 5:4 đọc, “Vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động, lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kì mắc bệnh gì, cũng được lành”. Tại sao câu này lại thiếu trong bản dịch Kinh Thánh sử dụng phương pháp chiết trung? Phương pháp chiết trung hoạt động như sau: (1) Bản văn của Giăng 5:4 không xảy ra trong hầu hết các bản thảo cổ nhất. (2) Bản văn của Giăng 5:4 xảy ra trong tất cả các bản thảo của Đế quốc Đông La Mã, nhưng không có nhiều bản thảo không phải của phương Đông. (3) Có khả năng là người sao chép bản thảo sẽ thêm một lời giải thích hơn là sẽ loại bỏ một lời giải thích. Giăng 5:4 làm cho nó rõ ràng hơn tại sao người bại muốn vào trong ao. Tại sao người sao chép bản thảo lại xóa câu này? Điều đó không có ý nghĩa. Nó có ý nghĩa về mặt truyền thống của lý do tại sao người bại muốn đi xuống ao sẽ được thêm vào. Theo kết quả của những khái niệm này, phương pháp phê bình/chiết trung không bao gồm Giăng 5:4.

Trở lại trang chủ tiếng Việt Phê bình văn bản là gì?

Phê Duyệt Tiếng Anh Là Gì?

1. Phê duyệt tiếng Anh là gì?

Phê duyệt ( tiếng Anh là: Approve) hành vi pháp lý do Chính phủ thực hiện để chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đã ký đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. So sánh phê chuẩn, phê duyệt và gia nhập?

Giống nhau

Phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập đều là hành vi đơn phương nhằm công nhận hiệu lực điều ước quốc tế đối với quốc gia mình. Phê chuẩn, phê duyệt xác nhận điều ước quốc tế đã có hiệu lực đối với quốc gia mình. Gia nhập chính thức ràng buộc quyền và nghĩa vụ của mình đối với một điều ước quốc tế mà mình chưa phải là thành viên điều ước quốc tế đó.

Khái niệm

Phê duyệt là tuyên bố đơn phương ( hành vi pháp lí đơn phương) của cơ quan có thẩm quyền trong nước công nhận một đều ước quốc có hiệu lực đối với quốc gia mình.

Gia nhập là tuyên bố đơn phương của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, công nhận một điều ước quốc tế có hiệu lực đối với quốc gia mình, chính thức ràng buộc quyền và nghĩa vụ của mình đối với một điều ước quốc tế mà mình chưa phải là thành viên của điều ước quốc tế đó.

Phê chuẩn được thực hiện đối với quốc gia sáng lập ra điều ước quốc tế, trong thời điểm kí kết điều ước quốc tế theo trình tự thủ tục phức tạp.

phê duyệt được thực hiện đối với quốc gia sáng lập ra điều ước quốc tế, trong thời điểm kí kết điều ước quốc tế theo trình tự thủ tục phức tạp.

Gia nhập điều ước quốc tế chỉ diễn ra trong khi điều ước quốc tế đã phát sinh hiệu lực và chỉ áp dụng đối với quốc gia chưa là thành viên tham gia ký kết điều ước quốc tế.

Về phạm vi

Phê chuẩn diễn ra cả đối với điều ước quốc tế đa phương và song phương.

Phê duyệt diễn ra cả đối với điều ước quốc tế đa phương và song phương.

Gia nhập điều ước quốc tế chỉ diễn ra đối với điều ước quốc tế đa phương.

Về thẩm quyền

Thẩm quyền phê chuẩn điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp là sự đồng ý chính thức của cơ quan có thẩm quyền (cơ quan quyền lực tối cao) của nhà nước đó.

Thẩm quyền phê duyệt thuộc thẩm quyền cơ quan hành pháp, thường tiến hành ở cơ quan nhà nước thấp hơn như Chính phủ, cấp Bộ…

Gia nhập thì thuộc thẩm quyền của cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp.

Về mức độ quan trọng

điều ước quốc tế cần phải phê chuẩn ở mức độ quan trọng cao hơn

Điều ước quốc tế cần phê duyệt ở mức độ quan trong thấp hơn.

Thực Hiện Nghị Quyết Tw 04 Về Tự Phê Bình Và Phê Bình.

Gần một năm qua, các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở đã tiến hành tổ chức thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 04. Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua 02 Nghị quyết quan trọng như:

   

Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. 

Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là ở cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. 

Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất.

Gần một năm qua, các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở đã tiến hành tổ chức thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 04. Tuy nhiên chúng ta cũng nhận thấy, đây là việc không hề đơn giản, dễ dàng; trái lại, vô cùng khó khăn phức tạp, thậm chí có thể nói là một cuộc đấu tranh gay go, gian khổ diễn ra ngay trong mỗi con người, mỗi tổ chức. Nó đòi hỏi toàn đảng phải có nỗ lực cao, mỗi cá nhân và tập thể phải quyết tâm rất lớn, phấn đấu bền bỉ, kiên trì với những biện pháp thật kiên quyết và tích cực.

Những nguyên nhân, mục tiêu, phương châm, giải pháp và tổ chức thực hiện đã được đề ra trong Nghị quyết khá đầy đủ. Tuy nhiên trong thực tế triển khai thực hiện vẫn còn những vấn đề khó khăn, phức tạp nảy sinh làm hạn chế hiệu quả của đợt sinh hoạt chính trị trong đảng. Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà Nghị quyết Trung ương 04 đề ra là: “Phải tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhằm xây dựng Đảng ta thật sự là đảng cách mạng, chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong đảng và nhân dân; động viên toàn đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi các chủ trương, nghị quyết của Đảng”.

Tuy nhiên Đảng muốn giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của mình trong điều kiện hiện nay, đòi hỏi Đảng phải luôn tự đổi mới, tự hoàn thiện để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Đảng và khẳng định vai trò độc tôn lãnh đạo của một đảng cầm quyền trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước. Chính vì vậy tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, liên tục mang tính sống còn của Đảng ta. Để tổ chức thực hiện Nghị quyết có hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra, cần có quan điểm nhận thức và cách làm phù hợp trong từng tổ chức đảng và mỗi cá nhân đảng viên.

Về nhận thức: Mỗi tổ chức đảng và cá nhân đảng viên phải coi đợt sinh hoạt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 04 là việc làm thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày”, chỉ rõ ưu điểm để phát huy, khuyết điểm để sửa chữa, khắc phục; trên tinh thần dân chủ, công khai, đoàn kết và vì mục đích chung của tập thể; tránh tình trạng kiểm điểm mang tính hình thức, qua loa, đại khái; song cũng không lợi dụng để nói xấu, bôi nhọ, đả kích và hạ bệ lẫn nhau.

Cần có cách nhìn nhận thực tế hơn trong việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình; đối với mỗi cá nhân và tổ chức đảng luôn có tâm lý không muốn bị phê bình, nhất là đối với cá nhân bị phê bình trước tập thể, vì lòng tự trọng của họ. Do vậy việc tự phê bình và phê bình phải thật sự tế nhị, có động cơ, mục đích trong sáng, rõ ràng, minh bạch; không vì mục đính cá nhân; việc góp ý phê bình phải đúng thời điểm, đúng nơi, đúng chỗ; với thái độ phê bình nghiêm túc, có tâm huyết, biết tôn trọng ngưởi khác. Phê bình góp ý phải nêu được điểm tốt, điểm mạnh của cá nhân và tập thể trước rồi mới góp ý cho những điểm yếu, điểm hạn chế cần khắc phục, sửa chữa trong cả thời gian trước mắt và lâu dài; có cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt thân thiện, chia sẻ và cảm thông; có như vậy tổ chức, cá nhân được phê bình, góp ý sẽ dễ cảm nhận được, tâm phục, khẩu phục và chủ động khắc phục những hạn chế, yếu kém.

Tự phê bình và phê bình phải có nội dung cụ thể, không chung chung; nội dung phê bình về vấn đề gì? Có nghiêm trọng và cần thiết hay không? Việc phê bình phải đúng và trúng, gắn với chức trách nhiệm vụ được giao, với tư cách đạo đức nghề nghiệp và nhiệm vụ của người Đảng viên Cộng sản. Trên thực tế, không ai có thể hoàn hảo, không ai mà không có khuyết điểm; người phê bình trước hết phải tự phê bình chính bản thân mình và tiếp thu phê bình một cách nghiêm túc thì người được phê bình cũng sẽ chủ động tiếp thu phê bình một cách cầu thị.

Tự phê bình và phê bình cần thực hiện từ Trung ương xuống cơ sở, từ cấp trên xuống cấp dưới, từ tập thể đến từng cá nhân; nêu cao tính tiền phong gương mẫu cùa cấp trên, làm gương cho cấp dưới noi theo và thực hiện. Nâng cao chất lượng công tác sinh hoạt đảng ở các cấp; phát huy dân chủ trong đảng, làm tốt quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ; đổi mới công tác nhận xét, đánh giá chất lượng cán bộ..đồng thời tiếp tục tuyên truyền, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên… làm được như vậy là điều kiện quan trọng để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về “ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”./.

(Vũ Văn Dương – Phó trưởng phòng Đào tạo) 

Văn Bản Pháp Quy Là Gì?

Văn bản pháp quy là văn bản bao gồm các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước từ cơ quan đến địa phương ban hành theo phạm vi thẩm quyền của mình, những quy phạm trong văn bản pháp quy dung để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong đời sống, dựa trên ý chí của nhà nước và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước.

Các quy phạm trong văn bản pháp quy không được trái với các quy định trong hiến pháp và các văn bản pháp luật được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Sở dĩ những văn bản này được gọi là văn bản pháp quy bới trong đó chưa các quy định của pháp luật và để phân biệt loại văn bản này – là một văn bản dưới luật với Hiến pháp và các văn bản Luật do Quốc hội hành.

Đặc điểm của văn bản pháp quy

Văn bản pháp quy cũng là văn bản quy phạm pháp luật, nên nó mang những đặc điểm của một văn bản quy phạm pháp luật nối chung, bao gồm:

– Văn bản pháp quy được nhận diện bằng ngôn ngữ viết. Trong việc quản lý bộ máy nhà nước, cơ quan nhà nước ban hành văn bản pháp quy phải có nội dung đầy đủ, được thể hiện bằng ngôn ngữ viết (tiếng Việt). Nội dung yêu cầu phải đề ra được những vấn đề quan trọng bao gồm những quy tắc xử sự cụ thể về mặt nội dung.

Việc thể hiện văn bản pháp quy thông qua ngôn ngữ viết có ý nghĩa trong việc giúp chủ thể quản lý được một cách rõ nét, mạch lạc các ý chí của mình cũng như thể hiện được đầy đủ những vấn đề xảy ra trong công tác điều hành, quản lý nhà nước. Ngoài ra, văn bản pháp quy còn có thể được thể hiện dưới dạng ngôn ngữ nói và bằng hành động. Tuy nhiên hình thức này không phổ biến bởi tính áp dụng thực tế không cao.

– Nội dung trong văn bản pháp quy bao gồm các quy tắc xử sự chung, dung để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, được cơ quan nhà nước ban hành theo thủ tục, trình tự nhất định, thể hiện ý chí của nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Văn bản pháp quy tuy thể hiện ý chí của cơ quan nhà nước nhưng không phải ban hành một cách tùy tiện mà phải theo một trình tự, thủ tục nhất định và phù hợp với nội dung của Hiến pháp và các vabw bản pháp luật hiện hành, đặc biệt, phải phù hợp với mong muốn của nhân dân, tình hình thực tế của đất nước.

– Văn bản pháp quy được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mỗi cơ quan khác nhau sẽ có thẩm quyền khác nhau về ban hành các văn bản pháp quy khác nhau và chỉ được quyền ban hành các văn bản thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.

– Hình thức của văn bản pháp quy được pháp luật quy định

Về vấn đề hình thức của văn bản pháp luật thì sẽ được cấu thành bởi thể thức và tên gọi. Đầu tiên đó là về thể thức thì các văn bản pháp luật ban hành luôn đảm bảo việc tuân thủ về cách thức trình bày theo một khuôn mẫu cũng như kết cấu mà pháp luật quy định đối với từng loại văn bản khác nhau để mục đích đó là tạo ra sự liên kết một cách chặt chẽ giữa nội dung văn bản và hình thức, đảm bảo được sự thống nhất cho toàn bộ hệ thống văn bản cũng như đảm bảo hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước. Tiếp theo về tên gọi thì hiện nay pháp luật rất nhiều loại văn bản có các tên gọi khác nhau như nghị định, nghị quyết, hiến pháp, pháp lệnh, công điện, công văn …, các văn bản cụ thể này được ban hành dựa trên thẩm quyền ban hành của từng văn bản cụ thể.

Văn bản pháp quy tiếng Anh là gì?

Văn bản pháp quy tiếng Anh là Legal Documents.

Văn bản pháp quy trong tiếng Anh được định nghĩa như sau:

Legal document is a document including legal documents promulgated by state agencies from agencies to localities within their competence, rules in legal documents to regulate relationships. generation arising in life, based on the will of the state and guaranteed to be exercised by state power.

Regulations in legal documents must not be contrary to those in the Constitution and legal documents promulgated by the National Assembly, the National Assembly Standing Committee and superior state agencies. The reason that these documents are called by law documents in which there are no provisions of law and to distinguish these types of documents – is a sub-law document with the Constitution and law documents promulgated by the National Assembly.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Cập nhật thông tin chi tiết về Phê Bình Văn Bản Là Gì? trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!