Xu Hướng 12/2022 # Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật / 2023 # Top 21 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật / 2023 # Top 21 View

Bạn đang xem bài viết Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

← Phong cách ngôn ngữ

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

a/ Ngôn ngữ nghệ thuật

– Là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, gọt giũa, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ.

– Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật: chức năng thông tin & chức năng thẩm mĩ.

– Phạm vi sử dụng:

+ Dùng trong văn bản nghệ thuật: Ngôn ngữ tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình, hồi kí…); Ngôn ngữ trữ tình (ca dao, vè, thơ…); Ngôn ngữ sân khấu (kịch, chèo, tuồng…)

+ Ngoài ra ngôn ngữ nghệ thuật còn tồn tại trong văn bản chính luận, báo chí, lời nói hằng ngày…

b/ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

– Là phong cách được dùng trong sáng tác văn chương

– Đặc trưng:

+ Tính hình tượng:

Xây dựng hình tượng chủ yếu bằng các biện pháp tu từ: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, hoán dụ, điệp…

+ Tính truyền cảm: ngôn ngữ của người nói, người viết có khả năng gây cảm xúc, ấn tượng mạnh với người nghe, người đọc.

+ Tính cá thể: Là dấu ấn riêng của mỗi người, lặp đi lặp lại nhiều lần qua trang viết, tạo thành phong cách nghệ thuật riêng. Tính cá thể hóa của ngôn ngữ còn thể hiện trong lời nói của nhân vật trong tác phẩm.

Như vậy trong đề đọc hiểu, nếu thấy trích đoạn nằm trong một bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tuỳ bút, ca dao,… và các tác phẩm văn học nói chung thì mình đều trả lời thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

Giới Thiệu Đặc Điểm Của Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật / 2023

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật khác với các phong cách ngôn ngữ khác ở những đặc điểm về tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và những dấu ấn riêng của tác giả.

Về tính đa nghĩa: Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thằnh phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn. Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người.

Về dấu ấn riêng của tác giả: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả.

Tính thẩm mĩ thể hiện ở cấu trúc văn bản theo thể loại phú: Văn bản Phú nhà nho vui cảnh nghèo thuộc thể phú, ngôn ngữ được tổ chức theo hình thức biền văn, có sáu mươi tám vế sóng đôi; hai mươi vế đầu miêu tả nơi ở, cách sông và ăn mặc của một nhà nho nghèo.

Tính thẩm mĩ còn được thể hiện ở các yếu tố ngôn ngữ, các biện pháp tu từ tập trung diễn tả nơi ở, cách sống và ăn mặc của một nhà nho nghèo: sự lặp lại, sóng đôi, điệp âm (Chém cha… chém cha, rành rành – ấy ấy, bình bịch – kho kho, chát chát chua chua – nhai nhai nhổ nhổ..), hiệp vần o, ô), đối (Bóng nắng rọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô – Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó…), lối nói “phô trương” (mọt tạc vẽ sao, nhện giăng màn gió, mối giãi quanh co, giun đùn lố nhố, lợn nằm gặm máng, chuột cậy khua niêu, vỗ bụng rau bình bịch, an giấc ngáy kho kho, áo vải thô nặng trịch, khăn lau giắt đỏ lòm…).

Về tính đa nghĩa của văn bản: Tác giả không dùng chữ nghèo nào mà vẫn miêu tả được cảnh nghèo của hàn nho. Qua việc miêu tả khách quan cảnh sống nghèo (nơi ở, cách sống, ăn mặc), tác giả đã lột tả được cảnh sống nghèo đến cùng cực, đồng thời cho thấy quan niệm, thái độ sống lạc quan của một nhà nho chân chính.

Về dấu ấn riêng của tác giả: Dấu ấn riêng của tác giả thể hiện nổi bật qua giọng điệu mỉa mai, châm biếm (đặc biệt là ở từ phong vị, hay việc sử dụng ngôn ngữ trong cách nói “phô trương”,…). Cũng qua giọng điệu ấy mà hình tượng tác giả hiện ra với một tư thế vừa ngao ngán vừa ngạo nghễ, bất chấp, ngông… Nguyễn Công Trứ thường để lại ấn tượng về một cá tính ngang tàng, đậm chất tài tử.

Không những cần phải hiểu về đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật mà còn phải biết cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

Một mặt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng có chọn lọc những yếu tố của tất cả các lớp từ ngữ khác nhau để biểu hiện hình tượng. Mặt khác (nhất là trong văn học cổ, văn học lãng mạn) phong cách ngôn ngữ này còn có lớp từ riêng, đó là lớp từ thi ca: giang sơn, hải hà, thiên thu, lệ, nguyệt, chàng, nàng…

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng rộng rãi mọi kiểu câu, đồng thời còn có cách vận dụng đặc thù các kiểu câu, tạo nên kiểu cú pháp thi ca.

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng tối đa mọi biện pháp tu từ (ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp…) để xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm văn chương.

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật hết sức coi trọng vẻ đẹp cân đối, hài hoà trong chiều sâu bố cục, trình bày của tác phẩm.

Ở những đặc điểm này, ta có thể chú ý đến biểu hiện đó trong đoạn thơ sau:

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Về ngữ âm, trong đoạn thơ có sự cộng hưởng âm thanh rất độc đáo. Năm tiếng vần trắc trong câu đầu Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm và các tiếng vần bằng trong câu cuối Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi có tác dụng gợi tả, khắc hoạ địa thế hiểm trở của Tây Bắc cùng những cảm nhận của người lính Tây Tiến trên đường hành quân.

Về từ ngứ, các từ láy khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút được sử dụng rất có hiệu quả gợi tả hình ảnh và cảm xúc trong những câu thơ của Quang Dũng.

Về biện pháp tu từ, ta có thể tính đến khả năng biểu cảm cao của biện pháp nhân hoá súng ngửi trời.

Hiểu rõ về các đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật giúp người đọc tiếp nhận các văn bản nghệ thuật được đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn. Mặt khác, công việc ấy cũng góp phần không nhỏ vào hoạt động sáng tạo các văn bản văn học nghệ thuật.

Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận / 2023

I.VĂN BẢN CHÍNH LUẬN VÀ NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN:

1/ Tìm hiểu văn bản chính luận:

-Thời xưa: Hịch, cáo, , chiếu, biểu…

– Hiện đại: Cương lĩnh, tuyên bố, tuyên ngôn, báo cáo, tham luận…

-Tuyên ngôn, tuyên bố … nhằm trình bày quan điểm chính trị của một đảng phái hay quốc gia nhân dịp một sự kiện trọng đại

* Đoạn trích: Cao trào chống Nhật cứu nước

– Trích đoạn mở đầu trong tác phẩm chính luận CMDTDCND Việt Nam, tập I của đồng chí Trường Chinh Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

-Phân tích những thành tựu mới về các lĩnh vực của đất nước, vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Từ đó nêu những triển vọng tốt đẹp của CM trong thời gian tới

2/Nhận xét chung về văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận:

– Ngôn ngữ chính luận còn được dùng trong các tài liệu chính trị khác, trong những tác phẩm lí luận có quy mô khá lớn: SGK.

– Ngôn ngữ chính luận tồn tại ở dạng viết mà cả ở dạng nói.

b. Phân biệt giữa nghị luận và chính luận:

– Nghị luận: Dùng để chỉ một loại thao tác tư duy; Một loại văn bản một kiểu làm văn trong nhà trường.

– Chính luận: Chỉ một phong cách ngôn ngữ văn bản nhằm trình bày những quan điểm chính trị của quốc gia, đoàn thể, quan điểm chính trị…

Bài tập 2: Chú ý các mặt hiểu hiện của phong cách chính luận trong đoạn văn:

– Dùng nhiều từ ngữ chính trí.

– Câu văn mạch lạc, chặt chẽ, tuy có thể dùng câu dài (câu thứ 3 ở ví dụ trong SGK)

– Thể hiện rõ quan điểm chính trị về lòng yêu nước, đánh giá cao lòng yêu nước của ND ta.

– Đoạn văn có sức hấp dẫn và truyền cảm: nhờ lập luận chặt chế, nhờ những hình ảnh so sánh cụ thể, sát hợp.

– Tình thế buộc chúng ta phải chiến đấu

– Chiến đấu bằng mọi thứ có trong tay.

– Niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.

II. CÁC PHƯƠNG TIỆN DIỄN ĐẠT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN:

1. Các phương tiện diễn đạt:

– Văn bản chính luận sử dụng ngôn ngữ thông thường nhưng có khá nhiều từ ngữ chính trị: độc lập, đồng bào, dân chủ…

– Câu văn trong văn bản chính luận có kết cấu chuẩn mực gần với những phán đoán logic trong một hệ thống lí luận chặt chẽ.

– Câu phức thường dùng những từ ngữ liên kết như: Do vậy, bởi thế, cho nên… Cho lí luận được chặt chẽ.

– Sử dụng rộng rãi các biện pháp tu từ.

– Ngôn ngữ chính luận sử dụng các biện pháp tu từ đúng chỗ. Làm cho bài viết sinh động dễ hiểu, khắc sâu ấn tượng.

2. Đặc trưng của ngôn ngữ chính luận:

a. Tính công khai về quan điểm

– Ngôn ngữ chính luận không chỉ thông tin một cách khách quan mà phải thể hiện đường lối, quan điểm, thái độ chính trị của người viết (người nói) một cách công khai dứt khoát, không che dấu, úp mở.

– Từ ngữ phải được cân nhắc kỉ càng, đặt biệt những từ thể hiện lập trường, quan điểm chính trị.

b. Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận:

Hệ thống luận điểm chặt chẽ, từng ý, từng câu, từng đoạn được phối hợp với nhau một cách hài hoà, mạch lạc.

c. Tính truyền cảm, thuyết phục:

– Giọng văn hùng hồn tha thiết, bộc lộ nhiệt tình của người viết.

– Đối với ngưới nói (diễn thuyết, tranh luận) thì nghệ thuật hùng biện là điều quan trọng để truyền cảm, thuyết phục trong đó ngữ điệu, giọng nói được coi là phương tiện cần thiết để hổ trợ cho lí lẽ, ngôn từ.

– Điệp ngữ kết hợp điệp cú: Ai có … dùng …

– Liệt kê: súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc.

– Ngắt đoan câu (phối hợp với các phép tu từ trên) để tạo giọng văn dứt khoát, mạnh mẽ.

Bài tập 2: Có thể nêu một số ý:

– Luận cứ: Ở thời đỏêm nào thì thanh niên cũng gánh vác nhiệm vụ quan trọng của đất nước, là trụ cột, là người chủ tương lai của đất nước.

– Các luận chứng:

+ Thế hệ thanh niên trong CMT8

+ Thế hệ thanh niên trong kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

+ Thế hệ thanh niên trong công cuộc xây dựng CNXH, hội nhập với thế giới.

– Kết luận: Thanh niên phải học tập để xây dựng đất nước.

Bài tập 3: Có thể nêu một số ý:

a. Lòng yêu nước có thể giáo dục từ truyền thống nhưng một phần khác bắt nguồn từ những tình cảm thiết thực”Nhỏ bé” của mỗi người.: Yêu người thân: cha, mẹ, ông, bà; Yêu làng quê và những kỉ niệm thời thơ ấu.

b.Tình cảm cụ thể và nhỏ bé nhưng sâu sắc, thiết tha, lòng yêu nước trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng và có ý thức thường trực trong mỗi con người.

c. Yêu nước là phải bảo vệ xây dựng đất nước

Nghệ Thuật Là Gì? Ngôn Ngữ Và Các Loại Hình Nghệ Thuật Ngày Nay / 2023

Nghệ thuật là sự sáng tạo, các hoạt động để tạo ra các sản phẩm (có thể là vật thể hoặc phi vật thể) mang lại những giá trị lớn về tinh thần, tư tưởng và có giá trị thẩm mỹ, mang giá trị văn hóa và làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm của khán giả (người thưởng thức tác phẩm nghệ thuật). Trong mỗi loại hình nghệ thuật lại có những quy định và ý nghĩa về nghệ thuật khác nhau, nhưng đều có chung quan điểm về giá trị tinh thần và tư tưởng.

Nghệ thuật là cái hay cái đẹp để người ta chiêm nghiệm qua các giác quan từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng, kĩ năng, kĩ xảo cao vượt lên trên mức thông thường phổ biến. Theo nghĩa này thường là một tác phẩm nghệ thuật hoặc một nghệ sỹ cụ thể nào đó.

Được gọi là nghệ thuật là khi một nghề nghiệp nào đó được thực hiện ở mức hoàn hảo với trình độ điêu luyện, thậm chí siêu việt. Chẳng hạn nghệ thuật viết báo, nghệ thuật diễn thuyết, nghệ thuật nấu ăn, nghệ thuật đắc nhân tâm, nghệ thuật dùng phím chuột của PC… Theo nghĩa này thường là một tài khéo đặc biệt nào đó.

“Nghệ thuật đấy là ngữ cảnh địa phương của cá nhân và cộng đồng”. Đây là quan điểm đương đại về nghệ thuật và được đa số học giả chấp nhận.

“Mọi sự miêu tả cảm tính bất kỳ một vật thể sống hay hiện tượng nào từ giác độ trạng thái cuối cùng của nó, hay là dưới ánh sáng của thế giới tương lai, sẽ là tác phẩm nghệ thuật.” Soloviev – nhà thơ triết gia vĩ đại người Nga

Một số khái niệm đi liền với nghệ thuật là nghệ sĩ, nghệ nhân

Có mấy loại hình nghệ thuật?

Loại hình nghệ thuật là những hình thức tồn tại ổn định của nghệ thuật. Tính tới nay thì có tất cả là 6 loại hình nghệ thuật, bao gồm:

Nguồn gốc sâu xa của sự phát sinh và phát triển của các loại hình nghệ thuật trong lịch sử là tính đa dạng của các quá trình, các hiện tượng trong thực tại, và sự khác biệt của những phương thức cũng như nhiệm vụ phản ánh thẩm mỹ và cải tạo hiện thực do nhu cầu nhiều mặt của con người.

Mỗi loại hình nghệ thuật có những đặc trưng riêng, được quy định bởi đặc điểm của đối tượng miêu tả, phương thức tái hiện. nhiệm vụ nghệ thuật và bởi cả những phương tiện vật chất chủ yếu tạo nên hình tượng nghệ thuật.

Ngôn ngữ nghệ thuật là gì?

Ngôn ngữ ngữ thường được dùng trong văn trương đó là loai ngôn ngữ gợi cảm gợi hinh mang chức năng truyền đạt thông tin và thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ cho con người.

Có ba loại ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật:

Ngôn ngữ tự sự: trong truyện, tiểu thuyết, bút kí,…

Ngôn ngữ thơ: trong ca dao, vè, thơ…

Ngôn ngữ sân khấu: trong kịch, chèo, tuồng…

Bản chất nghệ thuật là gì?

Có nhiều người tin rằng nghệ thuật phải thể hiện tư tưởng. Số khác lại thích cảm nhận nghệ thuật bởi chính vẻ đẹp tự thân của nó. Các nghệ sĩ trường phái Ấn tượng có nhiều tranh luận cực đoan về vấn đề này. Một số cho rằng quan trọng nhất là vẽ lại khung cảnh cuộc sống hiện đại; có người lại chỉ hứng thú khảo sát tác động của ánh sáng lên vạn vật. Đến cả hình ảnh của thị dân cũng gây tranh cãi, như Georges Seurat đã vô tình khơi ra.

Giá trị nghệ thuật nằm ở đâu?

Mọi người thường bất đồng gay gắt khi xác định giá trị của một tác phẩm. Vincent van Gogh đã chết trong cảnh nghèo đói vì không bán được tranh – ngay cả bạn bè cũng nói tác phẩm ông vẽ chẳng khác nào của một gã điên. Giờ đây, các bức họa ấy nằm trong số những tranh đắt nhất thế giới. Một ví dụ khác: nhà phê bình John Ruskin đã từng phải hầu tòa vì chê bai bức Cảnh đêm đen và vàng óng của James Whistler.

Ruskin cho rằng bức họa của Whistler vô cùng cẩu thả. Ông không tin nổi Whistler lại đòi 200 đồng vàng cho một thứ “như hắt cả bát sơn vào mặt công chúng”. Whistler đáp rằng: giá trị của tranh không ở chỗ vẽ bao lâu, mà nằm ở tài năng của họa sĩ và bao nhiêu năm miệt mài rèn giữa. Whistler khởi kiện Ruskin vì tội phỉ báng. Whisler thắng kiện và được bồi thường….25 xu. Có vẻ bồi thẩm đoàn cũng ngầm đồng tình với Ruskin.

Nghệ thuật cần phải thỏa mãn nhưng không nhất thiết phải có cảm xúc và ngẫu hứng.

Có lẽ sẽ điều này sẽ gây chói tai cho nhiều người vì chúng ta đang sống chung với một số định kiến rằng: làm nghệ thuật phải nhiều cảm xúc, cần phải có hứng mới làm nên được tác phẩm… Tuy nhiên cảm xúc của con người, về mặt cơ bản, là sự chủ quan. Cảm xúc của một người nghệ sĩ chưa chắc tạo ra cảm xúc cho người xem. Trong khi sự ngẫu hứng cũng tương đương với may mắn. Có những lúc, chúng ta sẽ đi mua vé số vì muốn có nhiều tiền mà không phải làm gì cả. Vì thế, trở thành nô lệ của những yếu tố này sẽ khiến người nghệ sĩ không thể sáng tạo được.

Câu chuyện rằng Marcel Duchamp, đã gửi chiếc bồn tiểu để ngược này đặt tên là “Đài phun nước” (Fountain) và kí tên dưới bút danh chúng tôi gửi đến Hội Nghệ sĩ độc lập (Society of Independent Artists). Vào thời điểm đó, Duchamp là thành viên hội đồng quản trị. Sau nhiều cuộc tranh cãi, tác phẩm đã không được giới thiệu trong triển lãm. Sau đó, Duchamp từ chức khỏi Hội đồng để phản đối. “Đài phun nước” được trưng bày và chụp ảnh tại studio của Alfred Stieglitz, và bức ảnh được xuất bản trong The Blind Man, nhưng bản gốc đã bị mất. Giờ đây, tác phẩm này được xem như một trong những tác phẩm tiêu biểu của thế kỉ 20.

Đây cũng chính là sự thỏa mãn của một chuỗi câu hỏi, thách thức nằm trong tư duy nghệ thuật của Duchamp nói riêng và phong trào Dada nói chung. Tác phẩm thành công ở việc gây ra cảm xúc (có phần tiêu cực, một scandal), tranh luận. Nó khiến chúng ta tự vấn và phải tìm cách tự thỏa mãn chính chúng ta vì cái sự mới mẻ, thách thức các giá trị, tiêu chuẩn nghệ thuật thời bấy giờ. “Đài phun nước” chỉ là một ví dụ nhỏ của sự thỏa mãn. Câu hỏi tiếp theo đặt ra là: “Vào thời nay trong một nền nghệ thuật còn lạc hậu, những tác phẩm của sự thách thức khi nào sẽ xuất hiện?”

Cập nhật thông tin chi tiết về Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!