Xu Hướng 2/2023 # Quảng Trị: Giảm Nghèo Từ Nghị Quyết 80 # Top 8 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Quảng Trị: Giảm Nghèo Từ Nghị Quyết 80 # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Quảng Trị: Giảm Nghèo Từ Nghị Quyết 80 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(Xây dựng) – Sau gần một thập niên triển khai thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020, trên địa bàn Quảng Trị có hàng nghìn hộ thoát nghèo. Bộ mặt nông thôn các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số miền núi, vùng đặc biệt khó khăn bãi ngang ven biển mang một diện mạo mới đáp ứng phần nào sự mong đợi của người dân.

Trồng hoa – một mô hình cải thiện, nâng cao đời sống hiệu quả ở Quảng Trị.

Để đưa Nghị quyết 80 đi vào cuộc sống, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND tỉnh và UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành nhiều văn ban chỉ đạo, điều hành. Trên cơ sở đó, các đề án, kế hoạch, chương trình, chính sách và giải pháp về giảm nghèo đã được các cấp, các ngành chức năng ở địa phương tham mưu xây dựng, ban hành đúng trình tự thủ tục, thẩm quyền, tạo hành lang pháp lý để người nghèo, người cận nghèo tiếp cận, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo. Cụ thể có 2 nhóm chính sách tác động trực quan đến công tác giảm nghèo, đó là: Nhóm chính sách giảm nghèo chung và Nhóm chính sách giảm nghèo đặc thù.

Nhóm chính sách giảm nghèo chung được áp dụng thực hiện đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh. Trong10 năm qua (2011-2020) tổng kinh phí huy động trên 7.269 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương: 1.176,6 tỷ đồng, vốn huy động khác 89,6 tỷ và vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội trên 6.000 tỷ đồng.

Nguồn vốn này được phân bổ nhằm thực hiện nhiều chính sách giảm nghèo như: Chính sách hỗ trợ giáo dục đào tạo; Chính sách hỗ trợ y tế; Chính sách hỗ trợ tín dụng; Chính sách hỗ trợ về dạy nghề, việc làm; Chính sách hỗ trợ về pháp lý; Chính sách hỗ trợ về văn hóa thông tin; Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về tiền điện. Mỗi chính sách đều thuộc một lĩnh vực và mang ý nghĩa riêng, nhưng đều có mục đích chung là nâng cao, cải thiện đời sống cho hộ nghèo.

Những chính sách có tính lan tỏa trực tiếp phải kể đến như: Chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi đã tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước đã cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống, tạo sự chuyển biến ở các vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách này đã giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo.

Chính sách hỗ trợ dạy nghề, việc làm đã giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động nghèo, cận nghèo nói riêng trên địa bàn tỉnh đang được triển khai và có chiều hướng chuyển biến tích cực, lao động sau khi học nghề có khoảng 80% tự tạo việc làm mới hoặc tăng năng suất lao động góp phần tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động; lao động thuộc hộ nghèo tham gia xuất khẩu lao động đã có việc làm ổn định, tăng thu nhập cho gia đình, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững.

Nhóm chính sách giảm nghèo đặc thù được áp dụng thực hiện đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo tại địa bàn vùng nghèo, xã nghèo, với tổng kinh phí huy động trong giai đoạn 2011-2020 trên 1.000 tỷ đồng. Nguồn vốn này được đưa vào các chính sách hỗ trợ như: Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng; Hỗ trợ phát triển sản xuất; Hỗ trợ cho lao động hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đi làm việc có thời hạn nước ngoài; Hỗ trợ đất sản xuất, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số…

Trong đó, chính sách phát triển cơ sở hạ tầng để lại nhiều dấu ấn, thực sự làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng sâu, vùng xa, mà cụ thể, đến nay có 100% số xã đã có đường giao thông về đến trung tâm; 100% xã có trạm y tế; phần lớn các thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng; 100% xã có điện lưới quốc gia, các trường học đều được xây dựng kiên cố và 100% các xã có trường tiểu học, hệ thống trường trung học cơ sở đảm bảo đủ cho con em đến trường.

Kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo từ Nghị quyết 80 của Chính phủ đã góp phần cải thiện đời sống người dân, ổn định xã hội; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, nhất là đối với địa bàn vùng dân tộc và miền núi, đạt được mục tiêu, nhiệm vụ giảm nghèo của tỉnh đề ra.

Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giai đoạn 2011-2015 giảm bình quân hàng năm là 2,57%/năm, đạt mục tiêu đề ra giảm bình quân 2,5-3,0%/năm (theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2011-2015). Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 19,70% (29.635 hộ nghèo) đầu năm 2011 xuống còn 6,92% (11.781 hộ nghèo) cuối năm 2015. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 giảm bình quân 1,77%/năm (đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra giảm từ 1,5-2,0%/năm). Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm từ 15,43% (24.579 hộ nghèo) đầu năm 2016 xuống còn 8,08% (14.101 hộ nghèo) cuối năm 2019 và ước còn 6,58% (11.633 hộ nghèo) vào cuối năm 2020.

Hữu Tiến

Theo

Link gốc:

Hiệu Quả Giảm Nghèo Từ Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

Nghị quyết 30a được triển khai ở huyện Đakrông được đánh giá là ” Cơ hội vàng” giúp địa phương có những bước phát triển trên con đường xóa đói giảm nghèo. Sau 10 năm( 2009-2018) thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của Chính phủ, công tác giảm nghèo ở huyện Đakrông đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều công trình phúc lợi được xây dựng, hệ thống trường học, đường sá ngày càng được hoàn thiện, khang trang hơn, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã có thay đổi tích cực, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên.

Xác định tầm quan trọng của Nghị quyết nên từ những ngày đầu thực hiện, huyện Đakrông đã huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tập trung lãnh, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể để triển khai thực hiện. Các xã trong huyện nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của nghị quyết nên đã quyết liệt triển khai các giải pháp để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương mình, từ đó, cân đối các nguồn lực đầu tư của Nhà nước; đồng thời tổ chức lồng ghép, phối hợp thực hiện có hiệu quả các chương trình dự án, chính sách trên địa bàn. Sau 10 năm (2009-2018) thực hiện, Nghị quyết 30a đã thực sự đi vào cuộc sống, từng bước đưa Đakrông thoát nghèo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng từ 17-18% qua các năm ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2018 đạt 20,9 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm 5-6%/năm. Từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ để thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo theo Nghị quyết 30a,hiện nay huyện Đakrông 100% số xã có đường giao thông đến trung tâm xã; 100% xã dùng điện lưới quốc gia; trên 85% số hộ gia đình được dùng nước sạch và nước hợp vệ sinh; 14/14 số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, bưu chính viễn thông, các di tích lịch sữ và các kết cấu hạ tầng khác được tăng cường đáng kể góp phần quan trọng nâng cao năng lực phát triển kinh tế- xã hội của huyện nhà. Sự nghiệp giáo dục- đào tạo đạt được những kết quả đáng trân trọng , quy mô giáo dục được phát triển qua từng năm, đảm bảo số lượng và chất lượng. chương trình giạy và học từng bước được đổi mới . Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, chống mù chữ được duy trì bền vững. 14/14 xã, thị trấn đạt chuẫn quốc gia về phổ cập giáo dục , mặt bằng dân trí được nâng cao. Hệ thống đường liên thôn, các công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng đáp ứng ngày càng tốt hơn cho yêu cầu phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi góp phần phát triển kinh tế, cải tạo môi trường sinh thái.Viêc đầu tư cơ sở hạ tầng đã từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống ổn định, yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo… Có thể khẳng định, sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 30a trên địa bàn huyện Đakrông đã tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, từng bước xóa đói, giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc trong huyện. Những chính sách hỗ trợ của Nghị quyết 30a đã và đang mang lại sự no ấm, hạnh phúc cho những hộ nghèo. Với những gì mà Nghị quyết 30a/CP và các dự án, chương trình giảm nghèo đã và đang được triển khai, nhân dân các dân tộc ở huyện miền núi Đakrông đã nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình và chủ động trong việc tiếp nhận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng, góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, an sinh xã hội tại địa phương./.

Hiệu Quả Nghị Quyết Xóa Đói Giảm Nghèo

(Baonghean) – Là xã miền núi còn nhiều khó khăn của huyện Thanh Chương, những năm qua, Đảng bộ xã Thanh Đức đã tập trung lãnh đạo phát huy thế mạnh của địa phương, phát triển cây nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nhờ sức sống nghị quyết của đảng, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện.

Ghé thăm trang trại tổng hợp rộng hơn 10 ha của ông Hồ Thái Đại ở xóm Sướn, chúng tôi như bị hút mắt bởi màu xanh ngút ngát của những đồi chè trải rộng. Ngoài 2 ha chè, keo ông còn trồng thêm 0,5 ha rễ hương, đào ao thả cá, chăn nuôi 3 con trâu, 5 con dê và vài chục con gà… doanh thu mỗi năm tầm khoảng 150 triệu đồng, trừ chi phí còn 80 triệu đồng. “Trước đây gia đình tôi rất khó khăn, cuộc sống chỉ trồng chờ vào sản phẩm nông nghiệp, nay nhờ phát triển trang trại mà đổi đời. Chỉ riêng cây chè mỗi lần hái cũng cho thu nhập 10 triệu đồng. Năm nào thuận trời được 8 lần hái, năm nào thời tiết khó khăn thì được 6 lần thu hoạch đem lại nguồn thu nhập ổn định”, ông Đại phấn khởi cho biết.

Phát triển cây chè công nghiệp ở xã Thanh Đức.

Trang trại tổng hợp rộng 12 ha của ông Đậu Bá Minh ở xóm 7 cũng được xem là mô hình kinh tế điển hình cho cách làm giàu dựa trên thế mạnh của địa phương. Ngoài hai cây chủ lực là chè công nghiệp và keo nguyên liệu, ông Minh còn trồng sắn, trồng lúa, đào ao đắp đập để thả cá đem lại tổng doanh thu 170 triệu đồng/năm, trừ chi phí cũng được 80-90 triệu đồng. Trang trại của ông Đại ở xóm Sướn và trang trại của ông Minh, xóm 7 trở thành những mô hình tiêu biểu trong việc phát huy thế mạnh của địa phương phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và làm giàu.

Đồng chí Trịnh Văn Nhã – Bí thư Đảng ủy xã cho hay: Thanh Đức là xã khó khăn của huyện Thanh Chương, kinh tế chủ yếu dựa vào sản phẩm nông nghiệp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Làm thế nào để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân là nỗi trăn trở của Đảng uỷ và chính quyền xã suốt nhiều năm qua. Dựa trên đặc điểm tình hình, diện tích tự nhiên hơn 17.117 ha (chiếm 15,16% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện), hơn 80% diện tích là đồi núi cộng với truyền thống canh tác của người dân và định hướng của huyện, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Thanh Đức đã ban hành Nghị quyết 19-NQ/ĐU về chỉ đạo thực hiện đề án “Phát triển cây nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm giai đoạn 2011-2015”.

Trong đó xác định cây keo và cây chè là hai loại cây chủ lực trong xóa đói, giảm nghèo. Đối với cây chè, cây công nghiệp truyền thống, phù hợp với điều kiện khí hậu, tiềm năng đất đai trong xã, việc tiêu thụ sản phẩm thuận lợi bởi trên địa bàn lại có 2 nhà máy chế biến với công suất lớn (gần 10.000 tấn chè búp tươi/năm) và một số lò sấy mini hoạt động đảm bảo tiêu thụ nguyên liệu. Việc thu, hái, tỉa, đốn bằng cơ giới hóa ngày càng nhiều và phổ biến, toàn xã có trên 40 máy hái chè hoạt động có hiệu quả góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm áp lực thiếu lao động lúc cao điểm của thời vụ thu hoạch.

Nhờ những điều kiện thuận lợi nên người dân đã tập trung phát triển diện tích cây chè công nghiệp với diện tích 112 ha chè kinh doanh. Đối với cây nguyên liệu giấy, diện tích 500 ha keo lai, keo tai tượng, keo lá tràm, bạch đàn… không chỉ tạo nguồn nguyên liệu cho cho công nghiệp chế biến gỗ, giấy, phủ xanh đất trống đồi núi trọc mà còn tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo nâng cao thu nhập ổn định đời sống cho các hộ dân có đất lâm nghiệp. Ngoài cây chè công nghiệp, cây nguyên liệu giấy thì cây sắn nguyên liệu để phục vụ cho nhà máy chế biến tinh bột sắn Intirmex cũng đã từng bước đi vào ổn định với diện tích 85 ha sắn, năng suất bình quân 380 tấn/ha.

Tại Thanh Đức, để phát triển vững chắc các cây công nghiệp chủ lực trên địa bàn, nhất là đối với cây chè, cấp ủy, chính quyền tập trung chỉ đạo sử dụng hết diện tích đất có khả năng trồng chè đã qui hoạch để khai hoang, trồng mới; làm tốt công tác qui hoạch quỹ đất cho các hộ thực hiện đề án trồng chè công nghiệp, tăng đầu tư thâm canh trên đơn vị diện tích chè sẵn có, chuẩn bị tốt các điều kiện ươm giống chè mới. Khai thác các cơ chế, chính sách hiện hành của Nhà nước đối với người trồng mới cây chè công nghiệp và đưa các tiến bộ KHKT vào sản xuất, chế biến chè công nghiệp.

Đối với cây sắn, sử dụng các loại giống có năng suất cao để đưa vào trồng, tận dụng mọi loại đất để trồng xen canh, luân canh với các loại cây trồng khác để nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích. Đối với cây keo, trên cơ sở huy động nguồn lực tại chỗ, kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước, tập trung khai thác sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai và nguồn lao động sẵn có để phát triển cây nguyên liệu gỗ theo hướng gắn trồng rừng nguyên liệu với thu hút đầu tư, chế biến, kết hợp phát triển rừng với môi trường sinh thái…

Về Thanh Đức hôm nay, điều có thể nhận thấy là hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp nói chung, vùng cây nguyên liệu nói riêng đã được cải thiện đáng kể. Trò chuyện với chúng tôi, lãnh đạo xã Thanh Đức bộc bạch: “Địa phương chúng tôi được đầu tư, hỗ trợ nguồn vốn từ Chương trình 135/CP… để xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất. Có vốn của Nhà nước nhưng đầu tư vào đâu, làm cái gì trước, cái gì sau lại là vấn đề không đơn giản, bởi xã nghèo nên lĩnh vực nào cũng thấy bức xúc. Đảng uỷ đã xác định phải ưu tiền đầu tư cho các công trình phục vụ sản xuất, nhất là vùng cây nguyên liệu, một trong những thế mạnh của địa phương.

Trong năm 2012 từ nguồn vốn phân bổ của Chương trình 135/CP giai đoạn 2, Thanh Đức đã đầu tư mở rộng giao thông phục vụ sản xuất, công trình cống bản Khe Sách ở xóm 7, công trình cống bản Ruộng ở xóm 2… Nhờ nỗ lực của cấp ủy, chính quyền và nhân dân nên đến thời điểm này trên địa bàn xã Thanh Đức gần như đã phủ xanh toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp. Không chỉ chú trọng trồng rừng, xã còn động viên bà con phát triển đàn trâu, bò, dê, các loại gia cầm, đào ao thả cá. Nhiều gia đình đã phát triển đàn gia súc với số lượng hàng chục con. Hiện tại trên địa bàn xã có 13 trang trại lớn, doanh thu hàng năm đạt 80-120 triệu đồng và hơn 40 gia trại nhỏ. Tuy chưa phải là số lượng lớn những cũng là minh chứng cho nỗ lực thoát nghèo của cấp ủy, chính quyền và người dân Thanh Đức trong thời gian qua.

Có thể nói, với những định hướng đúng từ nghị quyết của Đảng, từ một xã đặc biệt khó khăn, Thanh Đức đã có bước chuyển mình đáng kể, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi thay, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 15 triệu đồng/năm. Toàn xã có 65% hộ có xe máy, 98% hộ có ti vi, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 12,5%.

Mường Mươn Với Nghị Quyết Xóa Đói Giảm Nghèo

Xã Mường Mươn, huyện Mường Chà có 11 bản và 1 cụm dân cư với 783 hộ, 4.204 nhân khẩu được phân bổ theo 2 vùng khác nhau (vùng thấp và vùng cao). Đảng ủy xã có 11 chi bộ trực thuộc với 194 đảng viên; trong đó, 5 chi bộ trường học và 6 chi bộ nông thôn. Là xã biên giới, đặc biệt khó khăn của huyện, diện tích tự nhiên rộng nhưng diện tích đất ruộng nước ít, còn lại chủ yếu là đồi núi nên đời sống người dân hết sức khó khăn. Cùng với đó là thời tiết diễn biến không thuận lợi, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi ảnh hưởng đến phát triển sản xuất kinh doanh cũng là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo của xã luôn ở mức cao. Chính vì vậy, xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng mà Đảng bộ xã hướng tới trong nhiệm kỳ 2015 – 2020. Ông Lò Văn Lún, Bí thư Đảng ủy xã Mường Mươn, cho biết: Để đạt được mục tiêu đề ra trong nghị quyết, xã đẩy mạnh phát triển sản xuất, khai hoang, phục hoá, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phòng trừ sâu bệnh, để tăng năng suất, sản lượng cây trồng; tận dụng các công trình thuỷ lợi mở rộng diện tích gieo trồng vụ chiêm xuân; khai thác chân ruộng 1 vụ trồng ngô, đậu tương, rau màu… Tập trung xây dựng, thực hiện quy hoạch phát triển cây công nghiệp ngắn ngày; phát triển mạnh cây đậu tương, ngô, đặc biệt là sắn trở thành sản phẩm hàng hoá. 6 tháng đầu năm, xã Mường Mươn gieo cấy 42,1ha lúa chiêm – xuân, đạt năng suất 46,5 tạ/ha; xã chỉ đạo người dân gieo trồng 179ha ngô xuân – hè, 89ha sắn… Bên cạnh đó, xã định hướng cho người dân đầu tư mở rộng diện tích các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế phù hợp với điều kiện của địa phương; mở rộng diện tích cây ăn quả dưới dạng phân tán theo hộ gia đình. Hiện nay toàn xã có 16,6ha trồng dứa mang lại nguồn thu ổn định cho nhiều hộ dân trên địa bàn. Xã cũng tập trung vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện trồng rừng theo quy hoạch; thực hiện tốt quản lý và bảo vệ rừng, chăm sóc bảo vệ diện tích cây cao su hiện có, nâng cao hiệu quả chất lượng rừng trồng; tăng cường các biện pháp phòng, chống cháy rừng, đốt phá rừng làm nương…

Cùng với phát triển nông lâm nghiệp, xã cũng chú trọng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ vốn, kỹ thuật, thú y để phát triển mạnh chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê và gia cầm; khai thác diện tích mặt nước ao, hồ để phát triển mạnh nuôi thả cá. Xã tập trung phát huy hiệu quả mạng lưới cán bộ khuyến nông – khuyến ngư, thú y cơ sở; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên môn huyện chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nông – lâm nghiệp đến các hộ dân, nhân rộng các mô hình kinh tế ra diện rộng. Kết quả bước đầu cho thấy đàn gia súc, gia cầm phát triển tốt; đến tháng 6/2017, đạt gần 1.600 con trâu, bò; 3.293 con lợn; 4.773 con gia cầm và 4,7ha ao cá…

Đồng thời, xã cũng tận dụng các nguồn lực đầu tư trong xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo… để phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở, trong đó tập trung xây dựng mới các công trình thuỷ lợi, kiên cố hóa kênh mương. Song song với khai thác, quản lý và sử dụng hiệu quả các công trình hiện có, xã điều tra, khảo sát ở những nơi có tiềm năng về nguồn nước để phục vụ khai hoang, mở rộng diện tích gieo trồng cây lương thực, gắn với quy hoạch sắp xếp, bố trí dân cư. Một nhiệm vụ quan trọng khác đó là, tạo cơ chế thông thoáng khuyến khích nhân dân và các doanh nghiệp đầu tư vốn mở rộng ngành nghề kinh doanh, khai thác tiềm năng lao động sẵn có tại địa phương để phát triển sản xuất, cung ứng dịch vụ… nhằm tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người dân.

Bước sang năm thứ 3 của nhiệm kỳ, cùng với những kết quả đạt được vẫn còn nhiều nhiệm vụ, mục tiêu mà Đảng bộ, chính quyền xã Mường Mươn cần tập trung thực hiện để đạt mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Tin tưởng rằng, với sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ xã, sự đoàn kết nhất trí của chính quyền, nhân dân các dân tộc những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XX, nhiệm kỳ 2015 – 2020 sẽ hoàn thành thắng lợi.

Cập nhật thông tin chi tiết về Quảng Trị: Giảm Nghèo Từ Nghị Quyết 80 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!