Xu Hướng 2/2023 # Quy Định Mới Về Quyền Hạn Của Luật Sư Bào Chữa Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022, Có Hiệu Lực Từ 01/7/2016 # Top 3 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Quy Định Mới Về Quyền Hạn Của Luật Sư Bào Chữa Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022, Có Hiệu Lực Từ 01/7/2016 # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Quy Định Mới Về Quyền Hạn Của Luật Sư Bào Chữa Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022, Có Hiệu Lực Từ 01/7/2016 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Điều 72. Người bào chữa 1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. 2. Người bào chữa có thể là: a) Luật sư; b) Người đại diện của người bị buộc tội; c) Bào chữa viên nhân dân; d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. 3. Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. 4. Những người sau đây không được bào chữa: a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó; b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc. 5. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội. Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa 1. Người bào chữa có quyền: a) Gặp, hỏi người bị buộc tội; b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can; c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này. 2. Người bào chữa có nghĩa vụ: a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; b) Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; c) Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan; d) Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; đ) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; g) Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 3. Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật. Điều 74. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Điều 75. Lựa chọn người bào chữa 1. Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn. 2. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. Trong thời hạn 24 giờ kể khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. 3. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa. 4. Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận từ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương trở lên cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. Điều 76. Chỉ định người bào chữa 1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi. 2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này: a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa; b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. Điều 77. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa 1. Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa: a) Người bị buộc tội; b) Người đại diện của người bị buộc tội; c) Người thân thích của người bị buộc tội. Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này. 2. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối. 3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trường hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người bào chữa khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Bộ luật này. Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa. Điều 78. Thủ tục đăng ký bào chữa 1. Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa. 2. Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ: a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội; b) Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội; c) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; d) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực. 3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 76 của Bộ luật này thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ: a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân; b) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; c) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. 5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp: a) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này; b) Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa. 6. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp: a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa; b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa. 7. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa và thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ khi thuộc một trong các trường hợp: a) Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này; b) Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa. Điều 79. Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa 1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này. 2. Trường hợp người bào chữa đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước mà không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 291 của Bộ luật này. Điều 80. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam 1. Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân. 2. Cơ quan quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Điều 82. Đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án 2. Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật. Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố 1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người được người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. 2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có thể là: a) Luật sư; b) Bào chữa viên nhân dân; c) Người đại diện; d) Trợ giúp viên pháp lý. 3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền: a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. 4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có nghĩa vụ: a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án; b) Giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Điều 84. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự 1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. 2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là: a) Luật sư; b) Người đại diện; c) Bào chữa viên nhân dân; d) Trợ giúp viên pháp lý. 3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền: a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản; đ) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa; e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; g) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; 4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có nghĩa vụ: a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án; b) Giúp bị hại, đương sự về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Mẫu Đơn Yêu Cầu Và Quy Định Về Mời Luật Sư Bào Chữa Cho Bị Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự 2022

Thủ tục mời luật sư bào chữa trong vụ án hình sự

Trong vụ án hình sự, vai trò của luật sư bào chữa vô cùng quan trọng: Đảm bảo vụ án công bằng; thu thập chứng cứ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo… Khi thực hiện nhu cầu thuê luật sư, quý khách hàng cần tìm một văn phòng luật sư uy tín và ký đơn mời Luật sư bào chữa.

Trong vụ án hình sự, vai trò của luật sư vô cùng quan trọng: Đảm bảo vụ án công bằng; thu thập chứng cứ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại hoặc bị cáo.

Quy định về mời luật sư bào chữa 

Công ty Luật Dragon xin tư vấn về trình tự thủ tục và cách mời Luật sư bào chữa vụ án hình sự như sau:

Căn cứ theo Điểm c, Khoản 1 Điều 4 Thông tư 70/2011/TT-BCA có quy định

“Trường hợp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam nhờ người bào chữa là luật sư thì Điều tra viên hướng dẫn họ viết giấy yêu cầu luật sư, nếu yêu cầu đích danh luật sư bào chữa (có họ tên, địa chỉ rõ ràng) thì trong thời hạn 24 (hai mươi bốn) giờ, cơ quan Điều tra có trách nhiệm gửi giấy yêu cầu luật sư của người bị tạm giữ, bị can cho luật sư mà họ nhờ bào chữa bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát nhanh; trường hợp người bị tạm giữ, bị can viết giấy nhờ người thân (có họ tên, địa chỉ rõ ràng) liên hệ nhờ luật sư bào chữa cho họ thì trong thời gian hạn 24 (hai mươi bốn) giờ kể từ khi người bị tạm giữ, bị can có giấy nhờ người thân, cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi giấy đó cho người thân của người bị tạm giữ, bị can bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát nhanh.”

Thủ tục yêu cầu luật sư bào chữa

Bước 1: Khi người bị tạm giam, tạm giữ hình sự có nhu cầu nhờ luật sư bào chữa (sau đây gọi là người nhờ bào chữa) thì Điều tra viên hướng dẫn họ viết giấy yêu cầu luật sư.

Bước 2: Trong vòng 24 giờ, Cơ quan Điều tra phải gửi giấy yêu cầu luật sư bào chữa đến luật sư/ văn phòng luật sư mà bị can nhờ bào chữa trong trường hợp có chỉ đích danh tên luật sư, hoặc gửi giấy nhờ người thân / giấy yêu cầu luật sư bào chữa nhưng không chỉ đích danh luật sư đến người thân của bị can để người thân bị can đi nhờ luật sư bào chữa. 

Bước 3: Luật sư/ văn phòng luật sư sau khi nhận được đơn yêu cầu sẽ xem xét vụ việc, cử luật sư tham gia bào chữa, và ký hợp đồng với người đại diện của bị can.

Bước 4: Luật sư được yêu cầu bào chữa, luật sư tham gia bào chữa tiến hành đăng ký bào chữa theo quy định tại điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo giấy yêu cầu luật sư của bị can hoặc của người đại diện, người thân thích của bị can, kèm 01 bản sao có chứng thực.

Bước 5: Trong thời hạn 24 (hai mươi tư) giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thông báo về việc đăng ký bào chữa thành công hay thất bại. Nếu đăng ký thất bại phải nêu rõ lý do từ chối đăng ký bào chữa của luật sư bằng văn bản.

Đơn yêu cầu luật sư bào chữa

Mẫu giấy yêu cầu luật sư bào chữa cho bị cáo

Các trường hợp bị từ chối tham gia bào chữa

Để đảm bảo sự công bằng của pháp luật, các trường hợp sau đây sẽ bị luật sư từ chối tham gia bào chữa:

– Người bào chữa là người đã tiến hành tố tụng vụ án đó;

– Người bào chữa là người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;

– Người đã tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người định giá tài sản, người phiên dịch, người giám định, người dịch thuật;

– Người đang bị truy cứu về trách nhiệm hình sự

– Người đã bị kết án mà chưa được xóa án tích

– Người đang bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

Đặc biệt, pháp luật cũng quy định “Một người bào chữa được phép bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Và nhiều người bào chữa cũng có thể cùng bào chữa cho một người.”

Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự uy tín số 1 tại Hà Nội

Công ty Luật DRAGON với đội ngũ Luật sư chuyên hình sự giàu kinh nghiệm, tham gia bào chữa nhiều vụ án hình sự lớn và nghiêm trọng trong phạm vi cả nước. Công ty có chính sách hỗ trợ chi phí trường hợp khách hàng là người bị hại; hộ nghèo; gia đình chính sách…

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:  

Công ty Luật Dragon – Hotline: 1900599979

Website: http://congtyluatdragon.com

Email : dragonlawfirm@gmail.com

Facebook : https://www.facebook.com/vanphongluatsudragon

Văn phòng Luật sư tại Hà Nội:

1, Phòng 14.6, Tầng 14, Tòa nhà Vimeco, đường Phạm Hùng, Q. Cầu Giấy, Hà Nội.

2, Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Long Biên, Hà Nội.

Văn Phòng Luật Sư tại Hải Phòng: Số 102, lô 14 đường Lê Hồng Phong, quận Hải An, TP Hải Phòng.

Người Bào Chữa Tham Gia Tố Tụng Hình Sự

I. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng

a) Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

b) Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

c) Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

II. Lựa chọn người bào chữa

1. Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn.

2. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

3. Trong thời hạn 24 giờ kể khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

4. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.

5. Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận từ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương trở lên cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

III. Chỉ định người bào chữa

1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:

a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;

b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:

a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;

b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;

c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

IV. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa

1. Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa:

a) Người bị buộc tội;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Người thân thích của người bị buộc tội;

Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

2. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối.

3. Trường hợp chỉ định người bào chữa người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.

V. Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa

1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Trường hợp người bào chữa đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước mà không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành, trừ trường hợp chỉ định người bào chữa mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa nhưng nếu bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa thì tòa án vẫn xét xử.

VI. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam

1. Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân.

2. Cơ quan quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

VIII. Đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án

2. Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật Sư Bào Chữa Hiệu Quả Án Hình Sự

Một phiên tòa nói chung sẽ gồm những thủ tục chính sau: bất đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng, phần xét hỏi, phần tranh luận, nghị án. Trong các giai đoạn này, một giỏi cần phải biết cách khai thác triệt để kỹ năng xét hỏi & tranh luận một cách hiệu quả nhất.

Kỹ năng của luật sư trong phần xét hỏi. luật sư, luat su, văn phòng luật sư, công ty luật, hãng luật, luật sư giỏi

– Khác với thành viên HĐXX, Luật sư có thể đặt các dạng câu hỏi khác nhau tùy theo phương pháp, chiến thuật bào chữa được xác định. Có câu hỏi yêu cầu người được xét hỏi trả lời theo nội dung; có câu hỏi yêu cầu người được xét hỏi xác nhận hay phủ nhận; thậm chí có những câu hỏi đưa những người được xét hỏi khai báo bất lợi cho thân chủ vào “thế bí” nên có thể không nhất thiết phải được trả lời mà thỏa mãn sự im lặng của họ v.v..;

– Tập trung xét hỏi các bị cáo khác, người bị hại, người làm chứng buộc tội để làm rõ những bất hợp lý, những mâu thuẫn trong chính lời khai của họ hoặc mâu thuẫn trong lời khai của họ với các chứng cứ khác. Thậm chí có những trường hợp sau khi Luật sư đặt câu hỏi mà đương sự lúng túng thì Luật sư không cần người được xét hỏi trả lời. Để nâng cao hiệu quả bào chữa của mình, Luật sư phải triệt để khai thác được những mâu thuẫn, những bất hợp lý, những sai sót hoặc vi phạm tố tụng nghiêm trọng của việc buộc tội, đồng thời khẳng định làm tăng tính thuyết phục các yếu tố gỡ tội, các tình tiết giảm nhẹ; luật sư, luat su

– Đồng thời với việc xét hỏi, Luật sư cần theo sát diễn biến phiên tòa để giúp đỡ thân chủ của mình về mặt pháp lý trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng; bảo vệ thân chủ của mình khỏi những trường hợp dụ cung, mớm cung, bức cung hoặc những câu hỏi xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của thân chủ từ phía những người xét hỏi khác v.v…

– Tham gia xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa;

– Trình bày những nhận xét của mình về vật chứng không thể đưa đến phiên tòa;

Xét hỏi từng người tham gia tố tụng * Hỏi bị cáo

– Đặt các câu hỏi để bị cáo là thân chủ khẳng định về các tình tiết gỡ tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án. Đặc biệt, Luật sư hỏi bị cáo mà mình bào chữa các tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội có giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

– Trong trường hợp bị cáo không khai báo thì tùy theo trường hợp Luật sư tôn trọng ý chí của họ hoặc động viên bị cáo khai báo để hưởng sự khoan hồng của pháp luật;

* Hỏi người tham gia tố tụng khác

Luật sư thực hiện việc xét hỏi không chỉ một lần sau khi HĐXX, KSV đã xét hỏi. Luật sư có thể tiếp tục xét hỏi thêm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, đề nghị xem xét vật chứng, tài liệu… sau khi HĐXX, KSV xét hỏi bổ sung. Bởi vì việc xét hỏi bổ sung của những người này có thể làm xuất hiện các tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần được khẳng định thêm v.v… luật sư, luat su, văn phòng luật sư, công ty luật, hãng luật, luật sư giỏi

Kỹ năng tranh luận của Luật sư

Tranh luận tại phiên tòa là thời điểm mà HĐXX được nghe một cách toàn diện nhất ý kiến của đại diện VKS và những người tham gia tố tụng về việc giải quyết vụ án. Vì vậy, để hoạt động có hiệu quả Luật sư cần nắm vững thủ tục tố tụng trong tranh luận và thực hiện thật hoàn hảo kỹ năng bào chữa, bảo vệ, vận dụng kinh nghiệm làm việc khi cần thiết để tranh luận có chất lượng. luật sư, luat su, văn phòng luật sư, công ty luật, hãng luật, luật sư giỏi

Trình bày lời bào chữa, bảo vệ

Tùy từng vụ án mà nội dung lời bào chữa của Luật sư bao gồm một hay nhiều điểm sau đây:

– Bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm;

– Không có tình tiết định khung tăng nặng;

– Có tình tiết định khung giảm nhẹ;

– Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

– Có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;

– Có cơ sở miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt;

– Các tình tiết thuộc nhân thân bị cáo hoặc tình tiết khác có thể làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo v.v…

Những nội dung trên, có những nội dung loại trừ lẫn nhau. Cho nên khi bào chữa, Luật sư chú ý để lời trình bày của mình không chỉ chặt chẽ về mặt pháp lý mà còn về lôgic hình thức. Ví dụ: Khi Luật sư khẳng định bị cáo không có hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm, thì lời khẳng định đó đã loại trừ các nội dung bào chữa khác. Tránh trường hợp trong lời bào chữa của mình, Luật sư vừa yêu cầu TA tuyên bị cáo không phạm tội; vừa đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. luật sư, luat su, văn phòng luật sư, công ty luật, hãng luật, luật sư giỏi

Khi bào chữa, tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án cụ thể mà Luật sư đưa ra những tình tiết có lợi cho bị cáo, thường là những tình tiết giảm nhẹ bổ sung không được VKS xem xét đến. Thực tiễn bào chữa trong những năm qua cho thấy các tình tiết mà Luật sư đưa ra thường tập trung vào những nội dung như: trình độ văn hóa thấp, bị cáo phạm tội do nông nổi, phạm tội lần đầu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi… Đây là những tình tiết có ý nghĩa rất lớn khi xem xét và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Theo quy định của BLHS thì khi quyết định hình phạt, ngoài tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội… TA còn phải căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hơn nữa, khi có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, TA có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt… hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Đối với các vụ án đã xác định đúng người, đúng tội thì những tình tiết giảm nhẹ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để bị cáo có thể được giảm nhẹ hình phạt theo quy định của pháp luật. Để phát hiện ra những tình tiết giảm nhẹ ngoài những tình tiết mà VKS đưa ra để đề nghị HĐXX xem xét khi quyết định hình phạt đã là việc không đơn giản, nhưng Luật sư trình bày sao cho thấu tình, đạt lý và được TA chấp nhận lại là việc càng khó khăn hơn. Tại phiên tòa, Luật sư tham gia không phải để bảo vệ bị cáo bằng mọi giá mà phải bảo vệ trên cơ sở pháp luật, bằng những biện pháp mà pháp luật cho phép. luật sư, luat su, văn phòng luật sư, công ty luật, hãng luật, luật sư giỏi

Khi trình bày lời bào chữa, Luật sư tập trung vào những hành vi theo tội danh mà VKS tuy tố đố với bị cáo mà TA quyết định đưa ra xét xử. Luật sư xác định xem tội danh mà VKS truy tố đối với bị cáo có đúng không; có thể chuyển sang tội danh khác nhẹ hơn hay khung hình phạt nhẹ hơn không; có đủ chứng cứ buộc tội bị cáo tại phiên tòa chưa, nếu chưa đủ thì Luật sư đề nghị làm rõ và nếu không thể làm rõ được thì Luật sư phản bác.

Luật sư khai thác triệt để những chứng cứ, những tình tiết có lợi cho bị cáo như đã tích cực, tự nguyện khắc phục hậu quả, bị cáo thuộc gia đình chính sách… Luận cứ bào chữa của Luật sư tại phiên tòa không chỉ là gỡ tội cho bị cáo mà còn giúp bị cáo cũng như người thân của bị cáo khi tham gia phiên tòa giải tỏa tâm lý căng thẳng, lo lắng.

Để thực hiện tốt việc bảo vệ cho bị cáo hoặc các đương sự khác, Luật sư cần: luật sư, luat su, văn phòng luật sư, công ty luật, hãng luật, luật sư giỏi

+ Trình bày lời bào chữa, bảo vệ theo dàn ý của đề cương đã chuẩn bị. Có như vậy mới đi đúng trọng tậm làm toát lên các vấn đề cần bảo vệ, tránh được sự dông dài, trình bày tràn lan bỏ sót những điểm quan trọng. Đề cương bào chữa phải được kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện ngay trong quá trình xét hỏi và khi VKS luận tội;

+ Không lệ thuộc quá nhiều vào bản đề cương viết sẵn, điều này sẽ làm cho Luật sư mất hết tính chủ động, sáng tạo, tự mình tước bỏ sự cảm hóa, thuyết phục lớn lao của lời nói khi kết hợp nó với biểu lộ của ánh mắt, nét mặt và cử chỉ khác.

Luật sư nên nói chứ không đọc bản luận cứ. Bản luận cứ bảo vệ chỉ dùng để nhìn qua cho khỏi quên. Nên nhìn thẳng vào HĐXX mà biện luận chứ không nên “dán mắt” vào bản luận cứ đã viết sẵn đọc nguyên văn từ đầu đến cuối vì như thế sẽ làm giảm tính thuyết phục của việc bảo vệ. Trong trường hợp xét thấy cần thiết phải đọc bản luận cứ đã chuẩn bị sẵn được sữa chữa, bổ sung tại phiên tòa để bảo đảm sự chính xác của số liệu, sự việc thì Luật sư vẫn phải kết hợp với việc giải thích để HĐXX hiểu rõ từng vấn đề, hết sức tránh đọc nhỏ và nhanh làm cho người nghe không hiểu được vấn đề Luật sư đang trình bày.

+ Phải dồn cả nhiệt huyết của mình vào việc bảo vệ; trình bày câu văn trong sáng, rõ ràng, nói to, dõng dạc để HĐXX có thể nghe rõ. Giọng nói có sự trầm bổng và cần nhấn mạnh vào những vấn đề quan trọng để thu hút sự chú ý và đồng tình của HĐXX;

+ Trong phần kết luận, cần chốt lại những vấn đề quan trọng nhất đã được phân tích ở trên thành từng điểm cụ thể để đề nghị HĐXX xem xét;

+ Trình bày lời bào chữa với thái độ nghiêm túc, lịch sự, nhẹ nhàng; tôn trọng HĐXX, KSV và những người tham gia tố tụng khác; tuyệt đối tránh những lời lẽ xúc phạm hoặc thiết tôn trọng người khác.

Đối đáp

Theo quy định của BLTTHS, Luật sư có thể đối đáp với KSV hoặc đối đáp với người bị hại (hoặc Luật sư của họ); đối đáp với những người tham gia tố tụng khác (hoặc Luật sư của họ) không hạn chế thời gian và số lần. Tuy nhiên, để tăng tính thuyết phục, lời bào chữa cần ngắn gọn, tập trung, đề cập trực tiếp tới các nội dung bào chữa, không nên vòng vo để Chủ tọa phiên tòa phải nhắc nhở. Do đó, Luật sư cần tận dụng cơ hội này để kịp thời đề nghi HĐXX bác bỏ những ý kiến không có cơ sở chấp nhận.

Khi tham gia đối đáp, Luật sư phải trả lời ngay những vấn đề mình không đồng ý mà không có nhiều thời gian suy nghĩ, chuẩn bị từ trước. Do vậy, muốn đối đáp sắc bén, kịp thời và chính xác, Luật sư phải lắng nghe ý kiến của bên kia, ghi nhanh, đánh dấu những điểm cần phải đáp lại. Tất nhiên khi đánh dấu những điểm trả lời, Luật sư dã suy nghĩ chuẩn bị ngay các lý lẽ sẽ trình bày khi đối đáp. Khi trả lời, Luật sư cần trình bày ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề cần phản bác. Ngoài công việc dùng các chứng cứ mà mình đã chuẩn bị trước hay ghi nhận được trong phần xét hỏi, Luật sư phải triệt để sủ dụng những điểm mâu thuẫn, những vấn đề do bên kia đưa ra nhưng có thể vận dụng để bảo vệ tốt cho bị cáo hay đương sự mà mình bào chữa, bảo vệ. Đảm bảo các yêu cầu này, lời đối đáp của Luật sư sẽ có sức thuyết phục cao khiến HĐXX đồng tình với những quan điểm, lập luận của mình.

Một điều Luật sư cần lưu ý, đó là khi đối đáp không khí tại phiên tòa thường căng thẳng do mâu thuẫn giữa các bên. Trong mọi trường hợp, Luật sư đều phải bình tĩnh, tôn trọng sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa, tôn trọng người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác; tránh tình trạng lợi dụng quyền tranh luận để đả kích, xúc phạm hoặc “cãi nhau” tay đôi với người tham gia tranh luận.

Nếu trong quá trình tranh luận, Luật sư phát hiện những vấn đề được nêu ra nhưng chưa xét hỏi hoặc cần phải xem xét thêm chứng cứ thì Luật sư đề nghị HĐXX quay trở lại phần xét hỏi để làm rõ những vướng mắc.

Một số lưu ý trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa luật sư, luat su, văn phòng luật sư, công ty luật, hãng luật, luật sư giỏi

Luật sư cần chú ý theo dõi diễn biến của phiên tòa xem có bảo đảm các thủ tục tố tụng mà Bộ luật TTHS quy định hay không. Khi thư ký phiên tòa báo cáo danh sách những người được triệu tập, Luật sư cần ghi lại để biết những người nào TA triệu tập đã có mặt, người nào vắng mặt. Nếu thấy sự vắng mặt của một người tham gia tố tụng nào đó sẽ bất lợi cho thân chủ của mình thì Luật sư phải chuẩn bị sẵn ý kiến để khi chủ tọa phiên tòa hỏi ý kiến về việc người tham gia tố tụng vắng mặt thì trình bày được ngay ý kiến đã chuẩn bị để bảo đảm quyền lợi cho người mà mình bảo vệ.

Trong trường hợp có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, thì Luật sư cần căn cứ vào quy định tại các Điều: 187, 189, 190, 191, 192, 193 BLTTHS về sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa và xác định xem việc vắng mặt đó có bất lợi cho thân chủ hay không để đề đạt với HĐXX yêu cầu hoãn phiên tòa cho chính xác, phù hợp.

Theo quy định tại Điều 187 BLTTHS thì bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của TA; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng hoặc không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 187 BLTTHS thì phải hoãn phiên tòa. Thông thường, trong mọi trường hợp bị cáo vắng mặt tại phiên tòa thì người bào chữa cho bị cáo vắng mặt đều yêu cầu HĐXX hoãn phiên tòa.

Điều 190 BLTTHS quy định người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Nếu người bào chữa vắng mặt, nhưng có gửi trước bản bào chữa thì TA vẫn mở phiên tòa xét xử. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp để đảm bảo cho việc xét xử được chính xác, khách quan, bảo vệ quyền lợi của bị cáo, HĐXX vẫn quyết định hoãn phiên tòa. Vì vậy, nếu vì lý do khách quan mà người bào chữa cho bị cáo không thể có mặt tại phiên tòa thì cần báo trước và đề nghị hoãn phiên tòa trước khi phiên tòa được mở để TA có thể quyết định hoãn phiên tòa tránh lãng phí thời gian và chi phí tổ chức phiên tòa.

Điều 192 BLTTHS quy định người làm chứng tham gia phiên tòa để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Nếu người làm chứng vắng mặt những trước đó đã có lời khai ở CQĐT thì Chủ tọa phiên tòa công bố những lời khai đó. Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng vắng mặt thì tùy trường hợp, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử. Luật sư căn cứ từng trường hợp cụ thể vắng mặt người làm chứng mà đề nghị hoãn phiên tòa hay cứ tiếp tục xét xử. Ví dụ: nếu người làm chứng gỡ tội nghiêm trọng vắng mặt tại phiên tòa mà lời khai còn có điểm chưa rõ, rất cần sự có mặt của người này để trả lời làm rõ các tình tiết có lợi cho bị cáo thì Luật sư bào chữa cho bị cáo phải yêu cầu HĐXX dẫn giải người đó đến phiên tòa; trường hợp không dẫn giải được thì yêu cầu hoãn phiên tòa.

Điều 193 BLTHHS quy định người giám định tham gia phiên tòa khi được TA triệu tập. Nếu người giám định vắng mặt thì tùy trường hợp, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì HĐXX bắt buộc phải hoãn phiên tòa trong một số trường hợp, còn các trường hợp khác thì HĐXX có quyền lựa chọn xem xét để quyết định hoãn phiên tòa hay vẫn tiến hành xét xử. Tùy vào từng vụ án, vào lợi ích của bị cáo hay của đương sự mà Luật sư đề nghị hoãn phiên tòa hoặc phản đối ý kiến đề nghị hoãn phiên tòa của người khác cho phù hợp. Ví dụ: Nếu thấy vắng mặt người bị hại nhưng chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường và ý kiến của Luật sư bảo vệ cho người bị hại đề nghị hoãn phiên tòa, nếu xét thấy việc hoãn phiên tòa là không cần thiết chỉ kéo dài thời gian bị cáo bị tạm giam thì Luật sư bào chữa cho bị cáo cần đề nghị với HĐXX vẫn tiến hành xét xử và tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bị cáo chưa nhận được bản cáo trạng hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Luật sư phải yêu cầu HĐXX hoãn phiên tòa. Nếu bị cáo hoặc đương sự không được chủ tọa giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa hoặc không hỏi họ có đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch hay không thì Luật sư phải đề nghị HĐXX cho họ được thực hiện các quyền đó theo quy định của pháp luật. Nếu thấy cần đưa thêm tài liệu, chứng cứ ra xem xét tại phiên tòa mà trước đó Luật sư chưa có hoặc chưa muốn cung cấp cho TA, hoặc thấy cần đề nghị triệu tập thêm người làm chứng quan trọng của vụ án thì Luật sư phải đề nghị với HĐXX những vấn đề đó.

Khi thấy sự có mặt của người làm chứng là cần thiết cho việc xét xử. Người làm chứng này biết được nhiều tình tiết của vụ án có lợi cho bị cáo và có khả năng cung cấp cho TA những tình tiết đó những họ lại không được TA triệu tập thì Luật sư phải đề nghị HĐXX triệu tập thêm người làm chứng. Luật sư cần nói rõ lý do đề nghị triệu tập người làm chứng để TA biết. Nếu có các tài liệu chứng cứ quan trọng cần được xem xét tại phiên tòa, nhưng trước đó chưa cung cấp cho TA thì Luật sư phải đưa ra tài liệu chứng cứ và đề nghị HĐXX xem xét lại phiên tòa.

Trước khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa thường hỏi các luật sư có ý kiến gì không. Nếu đồng ý thì trả lời không có ý kiến; nếu thấy cần yêu cầu thủ tục nào đó theo quy định của BLTTHS để đảm bảo quyền lợi của người mà mình bảo vệ thì đề nghị HĐXX xem xét.

Liên hệ luật sư để tư vấn thêm: luật sư, luat su, van phong luat su, văn phong luat su, cong ty luat, công ty luật, hãng luật, hang luat

HÃNG LUẬT PHÚ & LUẬT SƯ Điện thoại: (08) 2223 7476 – 0922 822 466 Luật sư Nguyễn Văn Phú Email: phu.lawyers@gmail.com Website: www.phu-lawyers.comwww.phuluatsu.com

Dịch vụ luật sư : luật sư hình sự, luat su hinh su, luật sư bào chữa, luat su bao chua, luat su ly hon, luật sư ly hôn, luật sư thừa kế, luat su thua ke, luật sư dân sự, luat su dan su, luật sư đất đai, luat su dat dai, luật sư nhà đất, luat su nha dat, dich vu thu no, dich vu doi no, dịch vụ đòi nợ, dịch vụ thu nợ, tu van giay phep, tư vấn giấy phép, luat su gioi, luật sư giỏi, van phong luat su, văn phòng luật sư, cong ty luat, công ty luật, luat su, luật sư, mua ban du an, mua bán dự án, luat su kinh te, luật sư kinh tế, luat su doanh nghiep, luật sư doanh nghiệp

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Định Mới Về Quyền Hạn Của Luật Sư Bào Chữa Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022, Có Hiệu Lực Từ 01/7/2016 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!