Xu Hướng 3/2024 # Quy Định Mới Về Quyền Hạn Của Luật Sư Bào Chữa Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2024, Có Hiệu Lực Từ 01/7/2024 # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Quy Định Mới Về Quyền Hạn Của Luật Sư Bào Chữa Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2024, Có Hiệu Lực Từ 01/7/2024 được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Điều 72. Người bào chữa 1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. 2. Người bào chữa có thể là: a) Luật sư; b) Người đại diện của người bị buộc tội; c) Bào chữa viên nhân dân; d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. 3. Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. 4. Những người sau đây không được bào chữa: a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó; b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc. 5. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội. Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa 1. Người bào chữa có quyền: a) Gặp, hỏi người bị buộc tội; b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can; c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này. 2. Người bào chữa có nghĩa vụ: a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; b) Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; c) Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan; d) Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; đ) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; g) Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 3. Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật. Điều 74. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Điều 75. Lựa chọn người bào chữa 1. Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn. 2. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. Trong thời hạn 24 giờ kể khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. 3. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa. 4. Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận từ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương trở lên cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. Điều 76. Chỉ định người bào chữa 1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi. 2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này: a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa; b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. Điều 77. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa 1. Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa: a) Người bị buộc tội; b) Người đại diện của người bị buộc tội; c) Người thân thích của người bị buộc tội. Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này. 2. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối. 3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trường hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người bào chữa khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Bộ luật này. Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa. Điều 78. Thủ tục đăng ký bào chữa 1. Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa. 2. Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ: a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội; b) Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội; c) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; d) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực. 3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 76 của Bộ luật này thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ: a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân; b) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; c) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. 5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp: a) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này; b) Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa. 6. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp: a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa; b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa. 7. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa và thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ khi thuộc một trong các trường hợp: a) Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này; b) Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa. Điều 79. Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa 1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này. 2. Trường hợp người bào chữa đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước mà không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 291 của Bộ luật này. Điều 80. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam 1. Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân. 2. Cơ quan quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Điều 82. Đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án 2. Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật. Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố 1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người được người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. 2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có thể là: a) Luật sư; b) Bào chữa viên nhân dân; c) Người đại diện; d) Trợ giúp viên pháp lý. 3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền: a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. 4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có nghĩa vụ: a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án; b) Giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Điều 84. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự 1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. 2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là: a) Luật sư; b) Người đại diện; c) Bào chữa viên nhân dân; d) Trợ giúp viên pháp lý. 3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền: a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản; đ) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa; e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; g) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; 4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có nghĩa vụ: a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án; b) Giúp bị hại, đương sự về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Quy Định Mới Của Luật Bhxh Có Hiệu Lực Từ 01/01/2024

18/12/2024 15:28 PM

Minh Trọng

1. Chế độ thai sản đối với nam

Lao động nam đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

– 05 ngày làm việc với trường hợp sinh thường;

– 07 ngày làm việc với trường hợp sinh phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

– Trường hợp sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh 3 trở lên cứ thêm mỗi con thì nghỉ thêm 3 ngày làm việc;

– Trong trường hợp sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.

2. Bổ sung trường hợp được hưởng chế độ thai sản đối với nữ

Theo đó, lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản.

3. Thay đổi về mức đóng BHXH

Đối với người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động.

4. Bổ sung nhiều quyền cho người lao động

Theo đó, người lao động sẽ có tất cả những quyền sau:

– Được tham gia và hưởng các chế độ BHXH theo quy định của Luật này.

– Được cấp và quản lý sổ BHXH.

– Nhận lương hưu và trợ cấp BHXH đầy đủ, kịp thời, theo một trong các hình thức chi trả sau:

+ Trực tiếp từ cơ quan BHXH hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan BHXH ủy quyền.

+ Thông qua tài khoản tiền gửi của người lao động mở tại ngân hàng.

+ Thông qua người sử dụng lao động.

– Hưởng BHYT trong các trường hợp sau đây:

+ Đang hưởng lương hưu.

+ Trong thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

+ Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.

– Được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 45 của Luật này và đang bảo lưu thời gian đóng BHXH; được thanh toán phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện để hưởng BHXH .

– Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp BHXH .

– Định kỳ 06 tháng được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng BHXH; định kỳ hằng năm được cơ quan BHXH xác nhận về việc đóng BHXH ; được yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan BHXH cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng BHXH .

– Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về BHXH theo quy định của pháp luật.

5. Điều chỉnh thông tin tham gia BHXH

– Người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản với cơ quan BHXH khi có thay đổi thông tin tham gia BHXH .

– Hồ sơ điều chỉnh thông tin cá nhân của người lao động tham gia BHXH bao gồm:

+ Tờ khai điều chỉnh thông tin cá nhân.

+ Sổ BHXH .

6. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực bảo BHXH, BHYT, BHTN

– Thẩm quyền của cơ quan BHXH bao gồm:

+ Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 4 Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

+ Giám đốc BHXH cấp tỉnh có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

+ Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quyết định thành lập có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 3 Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

– Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này có thể giao cho cấp phó thực hiện xử lý vi phạm hành chính.

7. Quy định mới về thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý

Theo đó, khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau:

– 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi.

– 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi.

– 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi.

– 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

38,688

Người Bào Chữa Theo Quy Định Tại Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Mới Nhất

06/08/2024

Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

Trong một vụ án hình sự, để quyền và lợi ích của người bị buộc tội được bảo vệ cũng như để pháp luật được áp dụng một cách chính xác nhất thì người bào chữa là một thành phần tố tụng không thể thiếu. Vậy, pháp luật quy định thế nào về người bào chữa? quyền, nghĩa vụ của người bào chữa trong phiên tòa hình sự là như thế nào? … Luật Minh Gia tư vấn các vấn đề trên như sau:

1. Luật sư tư vấn về người bào chữa trong tố tụng hình sự

Người bào chữa là người bảo vệ quyền, lợi ích cho người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự. Vai trò của người bào chữa trong vụ án hình sự thể hiện ở các quy định của pháp luật đối với chủ thể này. Nếu bạn đang có thắc mắc về điều kiện, vai trò, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự hãy gửi câu hỏi qua Email cho công ty Luật Minh Gia hoặc liên hệ Hotline: 1900.6169 để được hướng dẫn tư vấn các vấn đề như:

– Tư vấn quy định của pháp luật về người bào chữa trong tố tụng hình sự;

– Tư vấn về điều kiện của người bào chữa theo quy định của pháp luật;

– Tư vấn quyền, nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của pháp luật;

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo nội dung tư vấn sau đây để có thêm thông tin, kiến thức pháp luật về người bào chữa trong tố tụng hình sự.

2. Quy định về người bào chữa trong tố tụng hình sự

Người bào chữa được quy định cụ thể tại Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2024/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2024, chi tiết như sau:

Người bào chữa

1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

2. Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

3. Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

4. Những người sau đây không được bào chữa:

a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;

b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

5. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội.

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2024;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2024;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2024; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2024.

2. Người bào chữa có nghĩa vụ:

a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;

b) Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

c) Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan;

d) Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;

đ) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự 2024 thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;

e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

g) Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật.

Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng

Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Lựa chọn người bào chữa

1. Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn.

2. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

Trong thời hạn 24 giờ kể khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

3. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.

4. Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận từ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương trở lên cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

Chỉ định người bào chữa

1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:

a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;

b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:

a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;

b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;

c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa

1. Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa:

a) Người bị buộc tội;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Người thân thích của người bị buộc tội.

Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự 2024.

2. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối.

3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự 2024, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.

Trường hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người bào chữa khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự 2024.

Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự 2024 và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.

Tham khảo tình huống luật sư tư vấn trực tuyến qua tổng đài: như sau:

Trả lời: Cảm ơn anh/chị đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi tư vấn như sau:

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2024, sửa đổi bổ sung 2024 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 2024):

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

Tội cố ý gây thương tích chỉ được cấu thành nếu hành vi của người phạm tội thỏa mãn những dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại Điều luật trên. Trong đó, hậu quả về thương tích của người bị hại do hành vi phạm tội gây ra là dấu hiệu bắt buộc, tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị tấn công ít nhất phải trên 11% hoặc dưới 11% nhưng rơi vào những trường hợp cụ thể được quy định tại Khoản 1, Điều 134 – Bộ luật Hình sự 2024.

Với trường hợp của chị, người hàng xóm tuy bị thương tích ở mức dưới 11% nhưng do chị sử dụng gạch để gây thương thích, nên cần điều tra xác minh, viên gạch này có được coi là hung khí nguy hiểm hay không.

Quy định về hung khí nguy hiểm dùng để xác định tội phạm với hành vi cố ý gây thương tích được thể hiện tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP:

“Dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17.4.2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác “.

Như vậy, nếu cơ quan điều tra xác định viên gạch chị sử dụng để gây thương tích cho nạn nhân là hung khí nguy hiểm dựa theo hướng dẫn tại các quy định trên thì chị có thể bị truy cứu trách nhiệm Hình sự theo quy định tại Khoản 1, Điều 134 – Bộ luật Hình sự 2024 với khung hình phạt: cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Nếu chị bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1, Điều 134, đây là trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, nên nếu có thể thỏa thuận với người hàng xóm để người này rút yêu cầu khởi tố thì vụ án sẽ bị đình chỉ, và chị sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, nếu viên gạch chị sử dụng để gây thương tích được xác định không phải hung khí nguy hiểm thì hành vi của chị chỉ bị xử lý hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

Chị có thể đối chiếu các quy định trên để tìm hướng giải quyết cho trường hợp của mình.

Mẫu Đơn Yêu Cầu Và Quy Định Về Mời Luật Sư Bào Chữa Cho Bị Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự 2024

Thủ tục mời luật sư bào chữa trong vụ án hình sự

Trong vụ án hình sự, vai trò của luật sư bào chữa vô cùng quan trọng: Đảm bảo vụ án công bằng; thu thập chứng cứ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo… Khi thực hiện nhu cầu thuê luật sư, quý khách hàng cần tìm một văn phòng luật sư uy tín và ký đơn mời Luật sư bào chữa.

Trong vụ án hình sự, vai trò của luật sư vô cùng quan trọng: Đảm bảo vụ án công bằng; thu thập chứng cứ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại hoặc bị cáo.

Quy định về mời luật sư bào chữa 

Công ty Luật Dragon xin tư vấn về trình tự thủ tục và cách mời Luật sư bào chữa vụ án hình sự như sau:

Căn cứ theo Điểm c, Khoản 1 Điều 4 Thông tư 70/2011/TT-BCA có quy định

“Trường hợp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam nhờ người bào chữa là luật sư thì Điều tra viên hướng dẫn họ viết giấy yêu cầu luật sư, nếu yêu cầu đích danh luật sư bào chữa (có họ tên, địa chỉ rõ ràng) thì trong thời hạn 24 (hai mươi bốn) giờ, cơ quan Điều tra có trách nhiệm gửi giấy yêu cầu luật sư của người bị tạm giữ, bị can cho luật sư mà họ nhờ bào chữa bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát nhanh; trường hợp người bị tạm giữ, bị can viết giấy nhờ người thân (có họ tên, địa chỉ rõ ràng) liên hệ nhờ luật sư bào chữa cho họ thì trong thời gian hạn 24 (hai mươi bốn) giờ kể từ khi người bị tạm giữ, bị can có giấy nhờ người thân, cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi giấy đó cho người thân của người bị tạm giữ, bị can bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát nhanh.”

Thủ tục yêu cầu luật sư bào chữa

Bước 1: Khi người bị tạm giam, tạm giữ hình sự có nhu cầu nhờ luật sư bào chữa (sau đây gọi là người nhờ bào chữa) thì Điều tra viên hướng dẫn họ viết giấy yêu cầu luật sư.

Bước 2: Trong vòng 24 giờ, Cơ quan Điều tra phải gửi giấy yêu cầu luật sư bào chữa đến luật sư/ văn phòng luật sư mà bị can nhờ bào chữa trong trường hợp có chỉ đích danh tên luật sư, hoặc gửi giấy nhờ người thân / giấy yêu cầu luật sư bào chữa nhưng không chỉ đích danh luật sư đến người thân của bị can để người thân bị can đi nhờ luật sư bào chữa. 

Bước 3: Luật sư/ văn phòng luật sư sau khi nhận được đơn yêu cầu sẽ xem xét vụ việc, cử luật sư tham gia bào chữa, và ký hợp đồng với người đại diện của bị can.

Bước 4: Luật sư được yêu cầu bào chữa, luật sư tham gia bào chữa tiến hành đăng ký bào chữa theo quy định tại điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự 2024: Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo giấy yêu cầu luật sư của bị can hoặc của người đại diện, người thân thích của bị can, kèm 01 bản sao có chứng thực.

Bước 5: Trong thời hạn 24 (hai mươi tư) giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thông báo về việc đăng ký bào chữa thành công hay thất bại. Nếu đăng ký thất bại phải nêu rõ lý do từ chối đăng ký bào chữa của luật sư bằng văn bản.

Đơn yêu cầu luật sư bào chữa

Mẫu giấy yêu cầu luật sư bào chữa cho bị cáo

Các trường hợp bị từ chối tham gia bào chữa

Để đảm bảo sự công bằng của pháp luật, các trường hợp sau đây sẽ bị luật sư từ chối tham gia bào chữa:

– Người bào chữa là người đã tiến hành tố tụng vụ án đó;

– Người bào chữa là người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;

– Người đã tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người định giá tài sản, người phiên dịch, người giám định, người dịch thuật;

– Người đang bị truy cứu về trách nhiệm hình sự

– Người đã bị kết án mà chưa được xóa án tích

– Người đang bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

Đặc biệt, pháp luật cũng quy định “Một người bào chữa được phép bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Và nhiều người bào chữa cũng có thể cùng bào chữa cho một người.”

Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự uy tín số 1 tại Hà Nội

Công ty Luật DRAGON với đội ngũ Luật sư chuyên hình sự giàu kinh nghiệm, tham gia bào chữa nhiều vụ án hình sự lớn và nghiêm trọng trong phạm vi cả nước. Công ty có chính sách hỗ trợ chi phí trường hợp khách hàng là người bị hại; hộ nghèo; gia đình chính sách…

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:  

Công ty Luật Dragon – Hotline: 1900599979

Website: http://congtyluatdragon.com

Email : [email protected]

Facebook : https://www.facebook.com/vanphongluatsudragon

Văn phòng Luật sư tại Hà Nội:

1, Phòng 14.6, Tầng 14, Tòa nhà Vimeco, đường Phạm Hùng, Q. Cầu Giấy, Hà Nội.

2, Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Long Biên, Hà Nội.

Văn Phòng Luật Sư tại Hải Phòng: Số 102, lô 14 đường Lê Hồng Phong, quận Hải An, TP Hải Phòng.

Quy Định Về Mời Luật Sư Bào Chữa Trong Vụ Án Hình Sự

Chúng tôi là hãng luật tập trung các luật sư xuất thân trong các Gia Đình yêu nghề luật. Với phương châm đặt chữ “Tâm” của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật luật cung cấp tất cả các dịch vụ pháp lý tổng hợp trên mọi lĩnh vực nhằm đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức và thân chủ.

LS TRẦN MINH HÙNG – Trưởng Hãng Luật Gia Đình

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ

Luật sư chuyên giải quyết thuận tình ly hôn tại tphcm

Luật sư chuyên đại diện ủy quyền ly hôn

Luật sư chuyên soạn thảo các loại hợp đồng

Luật sư ly hôn tại Tân Bình, Gò Vấp

Luật sư chuyên đại diện cho doanh nghiệp tại tòa án

Văn phòng luật sư tư vấn

Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất với người nước ngoài

Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất cho việt kiều tại sài gòn

Luật sư chuyên khởi kiện tranh chấp thừa kế

Luật sư chuyên khởi kiện thu hồi nợ

Luật sư chuyên làm giấy tờ nhà đất tại tphcm

Luật sư giỏi tại thành phố hồ chí minh

Dịch vụ sang tên sổ đỏ sổ hồng

Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng

Tư vấn người nước ngoài ly hôn với người việt nam

Luật sư giỏi về thừa kế tại tphcm

Luật sư tư vấn luật đất đai

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại trong vụ án hình sự

Luật sư chuyên tư vấn chia tài sản sau khi ly hôn

Luật sư pháp chế doanh nghiệp

Phí thuê luật sư ly hôn tại tphcm

Tư vấn thủ tục nhận thừa kế nhà đất

Luật sư cho việt kiều và người nước ngoài

Luật sư giỏi chuyên tố tụng

Luật sư cho công ty tại quận 6, bình tân

Luật sư cho công ty tại quận 5, quận 11, quận 10

Luật sư tư vấn kiện đòi nhà cho thuê

Luật sư chuyên nhà đất quận 9, quận 12

Luật sư tư vấn thu hồi công nợ

Tranh Chấp Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài

Luật Sư Làm Ly Hôn Nhanh Tại Tphcm

Tư Vấn Kiện Đòi Lại Nhà Cho Ở Nhờ

Luật sư tư vấn kiện đòi nhà

Luật sư tư vấn mua bán nhà đất

Luật sư tư vấn hợp đồng vô hiệu

Tư vấn hợp đồng giả cách

Luật Sư Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai

Tư Vấn Tranh Chấp Ly Hôn

Luật Sư Chuyên Ly Hôn Nhanh Trọn Gói

Tư Vấn Chuyển Nhượng Cổ Phần Vốn Góp

Luật Sư Bảo Hộ Doanh Nghiệp

Luật Sư Giải Quyết Ly Hôn Nhanh Tại Tphcm

Tư Vấn Kiện Đòi Nợ

Luật Sư Tranh Chấp Nhà Ở

Luật Sư Chuyên Soạn Đơn Khởi Kiện/Khiếu Nại

Luật sư tư vấn soạn đơn ly hôn

Luật Sư Tư Vấn Thành Lập Doanh Nghiệp

Luật Sư Tư Vấn Tại Công Ty

Luật Sư Chuyên Nhà Đất Tại Quận 6, Bình Tân, Bình Chánh

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Nuôi Con Khi Ly Hôn

Luật Sư Tư Vấn Cho Người Hoa Tại tphcm/Hoa Kiều

Luật Sư tư Vấn Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động

Luật Sư Tư Vấn Cho Việt Kiều Úc, Mỹ, Canada

Luật Sư Tư Vấn Luật Thường Xuyên Cho Doanh Nghiệp

Công Chứng Khai Nhận Thừa Kế

Văn Phòng Luật Sư Tư Vấn Chia Tài Sản Khi Ly Hôn

Luật Sư Tư Vấn Bất Động Sản

Luật Sư Tranh Chấp Thừa Kế Tại Quận 6

Luật Sư Tranh Chấp Kinh Doanh Thương Mại

Luật Sư Chuyên Đại Diện Ủy Quyền Tại Tòa Án

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Tân

Luật Sư Ly Hôn Tại Quận 6

Luật Sư Chuyên Ly Hôn Tại Bình Thạnh, Gò Vấp

Luật Sư Hình Sự Tại Biên Hòa

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Quận 10, Quận 11

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Cố Phần Vốn Góp

Luật Sư Bảo Vệ Bào Chữa Tại Trung Tâm Trọng Tài

luật sư trả lời phỏng vấn báo chí truyền thông

Luật Sư Quận Tân Phú

Luật Sư Quận Phú Nhuận

Luật Sư Quận Gò Vấp

Dịch Vụ Hợp Thức Hóa Nhà Đất

Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất Cho Việt Kiều

Luật Sư Tư Vấn Cho Công Ty

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Chánh

Luật Sư Chuyên Khởi Kiện Án Hành Chính

Luật Sư Tư Vấn Lấn Chiếm Đất

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Chuyển Nhượng Đất

Tư Vấn Cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Nhà Đất

Luật Sư Tư Vấn Phân Chia Thừa Kế

Luật Sư Tư Vấn Cho Công Ty Bất Động Sản

Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Đất Đai Tại Bình Chánh

Luật Sư Bào Chữa Hình Sự

Luật Sư Tư Vấn Ngoài Giờ

Tranh Chấp Thừa Kế Có Yếu Tố Nước Ngoài

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Đòi Lại Tài Sản

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Đứng Tên Dùm Nhà Đất

Luật sư chuyên tư vấn doanh nghiệp

luật sư chuyên thuận tình ly hôn cho việt kiều/người nước ngoài

Luật sư tư vấn đơn phương ly hôn với việt kiều

Tư vấn ly hôn chia tài sản với việt kiều

Luật sư tư vấn kháng cáo

Luật sư chuyên về tranh chấp đất đai tại tphcm

Luật sư cho ca sĩ, diễn viên

Tư vấn thay đổi trụ sở, giấy phép công ty

Luật sư tư vấn tranh chấp nhà thuộc sở hữu chung

Luật sư tư vấn lập di chúc

Luật sư giỏi về hình sự tại thành phố hồ chí minh

Luật sư giỏi về nhà đất tại tphcm

Luật sư giỏi di chúc thừa kế tại tphcm

Luật sư chuyên tranh chấp nhà chung cư

Luật sư giỏi về hình sự tại sài gòn

Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng góp vốn

Luật sư chuyên thừa kế di chúc

Luật sư chuyên tranh chấp vay tiền

Luật sư tư vấn luật đất đai

Kê khai thừa kế

tư vấn công chứng mua bán nhà đất

luật sư tư vấn thành lập công ty

luật sư chuyên tư vấn ly hôn chia tài sản

dịch vụ luật sư di sản thừa kế

Dịch vụ luật sư nhà đất tại TPHCM

luật sư quận 1

luật sư quận 2

luật sư quận 3

luật sư quận 4

luật sư quận 5

Luật Sư Tại Quận 6

luật sư quận 7

luật sư quận 8

luật sư quận 9

Luật sư quận 10

Luật sư quận 11

luật sư quận 12

Luật sư quận bình thạnh

Luật sư huyện bình chánh

Luật sư huyện Nhà Bè

luật sư huyện hóc môn

Văn phòng Luật sư Nhà Đất

Luật sư huyện Cần Giờ

Văn phòng luật sư tại TPHCM

Luật Sư Tại Sài Gòn

luật sư việt nam

Luật sư Uy Tín

Luật sư Công Ty

luật sư quận thủ đức

Luật sư chuyên tranh chấp thừa kế

luật sư bào chữa tại tòa án

luật sư quận bình tân

Dịch thuật công chứng tại tphcm

luật sư giỏi và uy tín

luật sư tư vấn tại nhà

luật sư tư vấn hợp đồng mua bán nhà đất

mẫu hợp đồng mua bán nhà

mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán nhà

luật sư chuyên hình sự

luật sư tư vấn thu hồi nợ

luật sư chuyên nhà đất

luật sư chuyên về khiếu nại, khởi kiện

luật sư giỏi về nhà đất

luật sư chuyên hợp đồng kinh tế

luật sư tư vấn hợp đồng mua bán hàng hóa

luật sư tư vấn tại bình dương

luật sư tại biên hòa đồng nai

Văn phòng luật sư tư vấn ly hôn

Luật Sư tư vấn tại Long An

Luật sư tư vấn tại cần thơ

Văn Phòng Luật Sư Chuyên Thừa Kế

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn

Luật Sư Làm Chứng

Tư Vấn Công Chứng Nhà Đất

Luật Sư Tư Vấn Cho Người Nước Ngoài

Luật Sư Riêng Cho Công Ty

Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất

Luật Sư Tư Vấn Về Thuế Kế Toán

Tư Vấn Công Chứng Tại Nhà

Luật Sư Thừa Kế Tại Tphcm

Tư Vấn Luật Cho Việt Kiều Mỹ

Luật Sư Tư Vấn Cho Việt Kiều Mua Nhà Tại Việt Nam

Luật Sư Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Luật Sư Tư Vấn Luật Lao Động

Luật Sư Riêng Cho Các Doanh Công Ty Tại Sài Gòn

Luật Sư Quận Tân Bình

Luật Sư Cho Doanh Nghiệp

luật sư riêng cho các công ty

luật sư tư vấn thừa kế nhà đất cho việt kiều

luật sư riêng cho công ty nước ngoài tại việt nam

Đoàn luật sư tphcm – VPLS Gia Đình

Tư vấn chia tài sản khi ly hôn

luật sư tư vấn tranh chấp tại toà án

ly hôn có yếu tố nước ngoài

luật sư bào chữa tại tòa án tphcm

luật sư bào chữa tại tòa án quận 1

luật sư bào chữa tại tòa án quận 2

luật sư bào chữa tại tòa án quận 3

luật sư bào chữa tại tòa án quận 4

luật sư bào chữa tại tòa án quận 5

luật sư bào chữa tại tòa án quận 6

luật sư bào chữa tại tòa án quận 7

luật sư bào chữa tại tòa án quận 8

Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất quận 9, quận 2

luật sư bào chữa tại tòa án quận 10

luật sư bào chữa tại tòa án quận 11

luật sư bào chữa tại tòa án quận 12

luật sư bào chữa tại tòa án tân bình

luật sư bào chữa tại tòa án bình chánh

luật sư bào chữa tại tòa án bình tân

luật sư bào chữa tại tòa án tân phú

luật sư bào chữa tại tòa án phú nhuận

luật sư bào chữa tại tòa án bình dương

luật sư bào chữa tại tòa án biên hòa đồng nai

Luật Sư Chuyên Về Di Chúc

luật sư bào chữa tại tòa án bình thạnh

Tư vấn du học xin visa

Luật sư tranh chấp nhà đất

Luật sư tư vấn di chúc

Luật sư tư vấn thương mại

luật sư tranh tụng tại tòa án

luật sư tư vấn hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất

luật sư chuyên tư vấn hợp đồng thuê nhà

Văn Phòng Luật Sư Chuyên Hình Sự Tại Tphcm

Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng

Luật sư tranh chấp bất động sản

Văn phòng luật sư doanh nghiệp

Luật Sư Bào Chữa Tại TPHCM

Luật sư tư vấn hợp đồng vay tiền

Thủ tục tuyên bố 1 người tâm thần

Luật sư tư vấn tranh chấp công ty

luật sư tư vấn thu hồi nợ

luật sư tư vấn thuận tình ly hôn

luật sư tư vấn đơn phương ly hôn

Luật sư tư vấn tranh chấp đất đai

Dịch vụ luật sư làm sổ hồng sổ đỏ

Luật Sư Tố Tụng

Dịch Vụ Luật Sư Ly Hôn Nhanh

Luật sư tư vấn ly hôn tại quận 5, quận 11

Luật Sư Tư Vấn Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng

luật sư tư vấn thừa kế theo di chúc

Luật sư tư vấn phân chia thừa kế quận 6, quận 11, quận 10, quận 5

Luật sư thừa kế tại quận 1, quận 2, quận 3, quận 4, quận 7

Luật sư tư vấn phân chia thừa kế tại quận 8, quận 9, quận 12

Luật sư phân chia thừa kế tại bình chánh, Tân Phú, Bình Thạnh, nhà bè

Luật Sư Cho Doanh Nghiệp

Luật Sư Chuyên Tư Vấn Thừa Kế Tại Quận 5

Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự, ly hôn, thừa kế, nhà đất, doanh nghiệp

Trung tâm tư vấn pháp luật hình sự, ly hôn, thừa kế, nhà đất, doanh nghiệp

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Mua Bán Nhà

Tư Vấn Công Chứng Thừa Kế

Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Kinh Doanh

Luật Sư Tư Vấn Soạn Thảo Hợp Đồng

Thừa Kế Nước Ngoài

Luật Sư Tư Vấn Đòi Lại Nhà Đất

Dịch Vụ Luật Sư Thu Hồi Nợ Khó Đòi

Tranh chấp Cổ Đông/Nội Bộ Công Ty

Khởi Kiện Bồi Thường Danh Dự Nhân Phẩm

Luật Sư Tranh Chấp Thừa Kế Nhà Đất

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Nhà

Luật Sư Chuyên Tư Vấn Khởi Kiện

Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình

Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng Góp Vốn

Tranh Chấp Tài Sản Chung Của Vợ Chồng

Luật Sư Giỏi Uy Tín Tại Việt Nam

Luật Sư Tại Sài Gòn Việt Nam Tư Vấn Cho Việt Kiều

Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Trọng Tài

Dịch Vụ Thành Lập Công Ty Trọn Gói Tại Tphcm

Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Doanh Nghiệp

Tổng Đài Tư Vấn Pháp Luật

Luật Sư Tư Vấn Mua Nhà Đang Thế Chấp Ngân Hàng

Quyền Thừa Kế Nhà Đất Người Việt Nam Định Cư Ở Nước Ngoài

Luật Sư Tư Vấn Tặng Cho Nhà Đất

Luật Sư Tư Vấn Đứng Tên Dùm Nhà Đất/Căn hộ Chung Cư

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Cho Việt Kiều

Luật Sư Tư Vấn Mua Bán Căn hộ

Văn Bản Thỏa Thuận Tài Sản Của Vợ Chồng

Tư Vấn Pháp Luật Thừa Kế

Luật Sư Tư Vấn Trọn Gói Cho Doanh Nghiệp

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Thạnh, Bình Tân, Quận 6, Gò Vấp

Luật Sư Sài Gòn Chuyên Bào Chữa Ở Miền Tây

Dịch Vụ Luật Sư Đòi Nợ

Luật Sư Tư Vấn Mua Đất Nền

Luật Sư Tư Vấn Đơn Phương Ly Hôn Tại Quận 6

Luật Sư Chuyên Giải Quyết Tranh Chấp Tài Sản Với Người Nước Ngoài

Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Đất

Thành Lập Chi Nhánh/Văn Phòng Đại Diện

Luật Sư Tư Vấn Công Ty Cổ Phần

Luật Sư Chuyên Tư Vấn Khai Di Sản Thừa Kế

Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Thừa Kế Nhà Đất Tại Biên Hòa

Tranh Chấp Hợp Đồng Thuê Nhà

Điều Kiện Việt Kiều Mua Nhà Sài Gòn

Tư Vấn Bồi Thường Khi Bị Thu Hồi Đất

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Nội Bộ Gia Đình/Doanh Nghiệp

Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Mua Bán Căn Hộ Chung Cư

Các Video Luật Sư Trần Minh Hùng Trả Lời Trên Đài Truyền Hình HTV Và THVL

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Lao Động

Luật Sư Tư Tranh Chấp Mua Bán Đất Nền

Luật Sư Tại Chợ Lớn

Luật Sư Tư Vấn Về Án Phí

Tư Vấn Khởi Kiện Tranh Chấp Đất Đai

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Đặt Cọc

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Ranh Giới Đất

Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Lối Đi Chung

Luật sư tư vấn giữ quốc tịch cho việt kiều

Luật sư tư vấn xác nhận nguồn gốc việt nam

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn cho việt kiều

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn tại sài gòn việt nam

Luật sư tư vấn kiện đòi nhà cho việt kiều

Dịch vụ luật sư nhà đất dành cho việt kiều

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn tại việt nam

Luật sư chuyên bào chữa cho bị can bị cáo

Luật sư tư vấn đơn phương ly hôn và thuận tình ly hôn

Cần Tìm Thuê Luật Sư Giỏi Tại Tphcm

Luật sư tư vấn ly hôn nhanh tại bình tân, quận 6

Luật sư tư vấn luật thừa kế tại tphcm

Làm sao để dành được quyền nuôi con khi ly hôn

Luật sư tư vấn lập vi bằng

Luật sư tư vấn tố cáo vi phạm hình sự

Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng do covid corona

Luật sư tư vấn ly hôn đơn phương

Luật sư tư vấn tranh chấp vì dịch virus corona covid 2024

Luật sư chuyên tranh tụng hình sự

Luật sư tư vấn tranh chấp giáp ranh nhà đất

Luật sư tư vấn kiện hủy giấy chứng nhận sổ hồng/sổ đỏ

Luật sư chuyên bào chữa/tư vấn cho người bị hiếp dâm/trẻ em

Luật sư chuyên tư vấn luật đất đai nhà ở

Luật sư tư vấn thời hiệu khởi kiện thừa kế

Luật sư tư vấn bào chữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Luật sư chuyên bào chữa hình sự tại tphcm

Luật sư chuyên về kinh tế

Luật sư chuyên tư vấn khởi kiện vụ án hành chính/quyết định hành chính

Luật sư chuyên tư vấn kiện đòi đất

Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng mua bán khẩu trang/găng tay y tế

Luật sư tư vấn nhà đất

Luật sư tư vấn làm mới và gia hạn visa – Renew and extend visa

Luật sư tư vấn làm thẻ tạm trú – Renew/extend temporary residence

Luật sư tư vấn giấy phép lao động cho người nước ngoài/Working permit

Luật sư tư vân kết hôn với người nước ngoài

Luật sư chuyên bào chữa tội mua bán sử dụng tàng trữ ma túy

Luật Sư

Luật Sư Thừa kế

Luật Sư Riêng Cho Gia Đình Và Doanh Nghiệp

Báo Chí Và Chúng Tôi

Luật Sư Doanh Nghiệp

Luật Sư Nhà Đất

Luật Sư Di Trú

Luật sư Dân sự

Luật Sư Hình Sự

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn

Luật Sư Tranh Tụng

Luật sư tư vấn luật lao động

Văn phòng luật sư tư vấn cho việt kiều

Luật sư Chuyên Kinh Tế

Luật Sư Giỏi Về Hình Sự

Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất

Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Doanh Nghiệp

Luật Sư Thi Hành Án

Luật Sư Tư Vấn Miễn Phí

Dịch Thuật Công Chứng

Luật Sư Riêng Cho Công Ty Nước Ngoài

Luật Sư Tư Vấn

Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng

Luật Sư Công Nợ

Luật Sư Chuyên Tranh Tụng Tại Tphcm

Luật Sư Kinh Tế

Luật Sư Kinh Nghiệm

Quy định về mời Luật sư bào chữa trong vụ án hình sự

Quy định về mời Luật sư bào chữa trong vụ án hình sự

Quyền bào chữa là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam. Việc thực hiện tốt các nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp hoạt động tố tụng được tiến hành đúng trình tự, đảm bảo việc xét xử công minh, kịp thời, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. Theo quy định của pháp luật, Luật sư là một trong số những người được bào chữa.

Cụ thể, khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2024 quy định người bào chữa có thể là:

– Luật sư;

– Người đại diện của người bị buộc tội;

– Bào chữa viên nhân dân;

– Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Những người sau đây không được bào chữa:

– Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;

– Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

– Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.

Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội.

Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật.

Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

Trong thời hạn 24 giờ kể khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.

Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.

Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận từ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương trở lên cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

Khi đăng ký bào chữa, Luật sư xuất trình Thẻ Luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu Luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội.

Theo Luật sư Việt Nam Online

LS TRẦN MINH HÙNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRÊN TRUYỀN HÌNH QUỐC HỘI VN

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, chúng tôi (Bên cạnh Công chứng số 7)

5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)

68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, chúng tôi

Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958

Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Hỗ trợ trực tuyến

ĐIỆN THOẠI HẸN GẶP LUẬT SƯ TƯ VẤN: 0972238006 – 028.38779958

Hỗ trợ trực tuyến: Yahoo:

Skype:

0972238006

Chúng tôi tư vấn cho tất cả các khách hàng tại quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, tân bình, phú nhuận, Bình Thạnh, bình tân, tân phú, bình chánh… và các tỉnh trong cả nước. Chúng tôi tư vấn tận nhà, tận công ty nếu quý khách có nhu cầu thì liên hệ các luật sư gần nhất địa điểm quý vị đang sinh sống.

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, chúng tôi (bên cạnh Phòng công chứng số 7).

Chi nhánh tại Biên Hòa, Đồng Nai: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh, Biên Hoà, Đồng Nai (đối diện Toà án Tp. Biên Hòa).

68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, Quận 1.

Luật Sư Trần Minh Hùng, Trưởng văn phòng, điện thoại:

0972238006 – Bàn: 028.38779958

Để thuận tiện cho quý vị muốn gặp trực tiếp luật sư, vui lòng điện thoại trước cho luật sư khi quý vị đến văn phòng chúng tôi. Trân trọng cảm ơn.

Giấy phép số: 41.01.1999/TP/ĐKHĐ do Sở tư pháp Tphcm cấp 03/06/2013, chủ sở hữu website: Văn phòng luật sư Gia Đình

Đề Xuất Hoàn Thiện Các Quy Định Về Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự

Đề xuất hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát trong bộ luật tố tụng hình sự

ThS. NGUYỄN TẤN HẢO

Viện KSND TP. Hồ Chí Minh

Sau gần 10 năm áp dụng vào thực tiễn, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Bộ luật TTHS) đã bộc lộ một số điểm bất cập và hạn chế, đặc biệt là các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử, nên cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị.

  Bài viết trình bày một số điểm vướng mắc, bất cập lớn, điển hình của Bộ luật TTHS năm 2003 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và nêu ra một số kiến nghị, định hướng phục vụ việc sửa đổi bổ sung Bộ luật TTHS trong thời gian tới

1. Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật TTHS thì ngoài Cơ quan điều tra (CQĐT) thì các cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân cũng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Điều 100 Bộ luật TTHS xác định căn cứ khởi tố vụ án hình sự có tố giác, tin báo về tội phạm.

Quy định từ hai điều luật nêu trên khẳng định, các cơ quan như Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có nhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

Hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đòi hỏi phải có sự tham gia kiểm sát của Viện Kiểm sát để đảm bảo công tác này đúng pháp luật, chặt chẽ, kịp thời.

Tuy nhiên, Bộ luật TTHS năm 2003 không quy định hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tin báo tố giác tội phạm của các cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Thiếu sót này không chỉ ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát mà còn dẫn đến nguy cơ tố giác, tin báo về tội phạm không được xử lý đầy đủ, kịp thời, dẫn đến bỏ lọt tội phạm.

Để khắc phục hạn chế nêu trên, chúng tôi đề nghị bổ sung quy định về việc kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của các cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Cụ thể, điều chỉnh khoản 4 Điều 103 theo hướng: “Viện Kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tiếp nhận, thụ lý và giải quyết của Cơ quan điều tra, Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”.

Ngoài ra, về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định hiện nay là không quá 20 ngày, trường hợp phức tạp không quá 02 tháng theo quy định tại Khoản 2 Điều 103 Bộ luật TTHS là chưa phù hợp, do hiện nay, tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, tính chất phức tạp ngày càng cao, do đó, thời hạn nêu trên là chưa thực sự đảm bảo. Cần thiết điều chỉnh, bổ sung quy định về thời hạn giải quyết tố giác tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố theo hướng linh hoạt, phù hợp với tính chất của từng loại tố giác tin báo để giảm áp lực cho cơ quan chức năng trong công tác này.

2. Giai đoạn khởi tố

Thứ nhất, về thẩm quyền khởi tố bị can của Viện Kiểm sát, Khoản 5 Điều 126 Bộ luật TTHS quy định: “Trong trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì Viện Kiểm sát yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can.

Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án mà chưa bị khởi tố thì Viện Kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can Viện Kiểm sát phải gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra”

Trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, yếu tố kịp thời giữ một vai trò quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác này. Do đó, khi phát hiện có người thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị khởi tố thì việc xem xét quyết định khởi tố xử lý ngay là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, với quy định của khoản 5 Điều 126 Bộ luật TTHS thì trong trường hợp CQĐT không thực hiện yêu cầu khởi tố bị can của Viện Kiểm sát thì Viện Kiểm sát phải đợi đến khi vụ án kết thúc điều tra, hồ sơ chuyển sang Viện Kiểm sát thì mới có quyền ra quyết định khởi tố bị can. Trong trường hợp này sẽ không thể bảo đảm tính kịp thời hiệu quả của công tác xử lý vụ án.

Bên cạnh đó, quy định của khoản 5 Điều 126 Bộ luật TTHS không đề cập đến thời hạn CQĐT phải thực hiện yêu cầu khởi tố bị can theo yêu cầu của Viện Kiểm sát. Và trong trường hợp CQĐT không chấp nhận yêu cầu khởi tố bị can thì sẽ phản hồi cho Viện Kiểm sát như thế nào và giải quyết sự khác biệt quan điểm xử lý trong tình huống này ra sao, điều luật cũng không đề cập tới.

Ngoài ra, điều luật cũng chưa dự liệu biện pháp xử lý đối với trường hợp yêu cầu  khởi tố bị can của Viện Kiểm sát là có cơ sở, có căn cứ, nhưng CQĐT không thực hiện.

Các thiếu sót nêu trên làm giảm hiệu quả của việc yêu cầu khởi tố bị can của Viện Kiểm sát, làm giảm tính chủ động của Viện Kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Cần thiết có sự điều chỉnh sửa đổi bổ sung quy định của Điều 126 Bộ luật TTHS theo hướng quy định thời hạn cho CQĐT thực hiện yêu cầu khởi tố bị can của Viện Kiểm sát. Trong trường hợp CQĐT không thống nhất khởi tố phải có văn bản trả lời cho Viện Kiểm sát nêu rõ lý do. Nếu Viện Kiểm sát nhận thấy việc khởi tố là có cơ sở thì Viện Kiểm sát trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can. Quy định theo hướng này sẽ tăng cường tính chủ động của Viện Kiểm sát, đồng thời đảm bảo tính kịp thời của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm.

Thứ hai, Bộ luật TTHS năm 2003 chưa quy định Viện Kiểm sát có quyền được yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ để xem xét quyết định phê chuẩn. Thực tế áp dụng Bộ luật TTHS trong những năm qua đã có nhiều trường hợp hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam, bắt tạm giam… chưa đầy đủ tài liệu, căn cứ để phê chuẩn, nhưng cũng không đủ cơ sở để hủy quyết định khởi tố bị can. Trong trường hợp này, cần thiết quy định cho Viện Kiểm sát quyền yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ để xem xét phê chuẩn.

Thứ ba, về căn cứ thay đổi bổ sung quyết định khởi tố bị can, theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Bộ luật TTHS thì căn cứ để thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can là hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác.

Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian vừa qua cho thấy, có những trường hợp cần thay đổi quyết định khởi tố bị can như có sự thay đổi về họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ thường trú của bị can… Do đó, cần bổ sung thêm những điều kiện này vào căn cứ để thay đổi quyết định khởi tố bị can cho phù hợp với thực tiễn công tác.

3. Giai đoạn truy tố

Vướng mắc hiện nay trong giai đoạn truy tố là vấn đề quyền thay đổi quyết định truy tố của Viện Kiểm sát.

 Bộ luật TTHS hiện nay chỉ quy định việc Viện Kiểm sát rút quyết định truy tố nhưng không quy định về việc thay đổi quyết định truy tố.

Xét về bản chất và cách thức quy định của Bộ luật TTHS hiện nay thì rút quyết định truy tố và thay đổi quyết định truy tố là hai khái niệm khác biệt độc lập với nhau.

Việc rút quyết định truy tố là việc Viện Kiểm sát nhận thấy việc truy tố là không phù hợp và không tiếp tục thực hiện việc truy tố. Kết quả của việc rút quyết định truy tố là vụ án sẽ bị đình chỉ điều tra.

Trong khi đó, thay đổi quyết định truy tố là việc Viện Kiểm sát nhận định quyết định truy tố trước đó không phù hợp về tội danh, về khung hình phạt hoặc các tình tiết chứng cứ khác của vụ án nhưng vẫn có thể tiếp tục truy tố xử lý bằng một tội danh khác, hoặc khung hình phạt khác phù hợp hơn.

Thực tiễn hiện nay, trong trường hợp nhận thấy quyết định truy tố không phù hợp, cần phải điều chỉnh thì Viện Kiểm sát phải ra quyết định rút hồ sơ vụ án về hoặc đợi Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Quá trình này dẫn đến tình trạng thời gian giải quyết hồ sơ bị kéo dài, phải trả bổ sung qua lại nhiều lần.

Để khắc phục hạn chế này, chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật TTHS quy định quyền được thay đổi quyết định truy tố của Viện Kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

5. Giai đoạn xét xử

Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, bên cạnh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, Viện Kiểm sát còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án. Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử bao trùm tất cả các hình vi tố tụng trong đó có cả việc nghị án của Hội đồng xét xử.

Bộ luật TTHS năm 2003 quy định rất cụ thể trình tự, thủ tục nghị án và tương ứng với quy định đó đòi hỏi Viện Kiểm sát phải thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo quy định này.

6. Một số vấn đề khác

Thứ nhất, trong bố cục của Bộ luật TTHS hiện nay, việc quy định chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát trong các điều luật còn chưa thực sự rõ ràng, chưa thể hiện được tính tương ứng giữa hoạt động tố tụng và hoạt động kiểm sát. Việc quy định chức năng kiểm sát trong một khoản của điều luật như hiện nay vừa không rõ ràng, vừa không đảm bảo hiệu lực pháp lý.

 Bộ luật TTHS nên quy định theo hướng, có điều luật quy định về hoạt động tố tụng thì có một điều luật tương ứng quy định về hoạt động kiểm sát.  Đặc biệt, trong hoạt động điều tra, nhất thiết nên quy định có sự tương ứng giữa các hoạt động điều tra và công tác kiểm sát để thực hiện có hiệu quả định hướng tăng cường công tố trong hoạt động điều tra theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp. Cách quy định này vừa đảm bảo tính rõ ràng, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật, vừa đảm bảo cơ sở hiệu lực pháp lý cho công tác kiểm sát.

Thứ hai, bổ sung quy định về đảm bảo thực hiện quyền năng của Viện Kiểm sát trong TTHS.

Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian vừa qua cho thấy, Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định khá chi tiết, cụ thể và đầy đủ các quyền hạn, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hình sự.

Vấn đề cần chú trọng bổ sung hiện nay là xây dựng và hoàn thiện về cơ chế đảm bảo việc thực hiện những thẩm quyền đã có và quy định về trách nhiệm và chế tài đối với các trường hợp không thực hiện yêu cầu của Viện Kiểm sát. Bên cạnh đó, cần xây dựng quy định ràng buộc trách nhiệm của Viện Kiểm sát khi đề ra các yêu cầu nhằm đảm bảo tính chính xác, căn cứ của các yêu cầu của Viện Kiểm sát trong TTHS. Nên bổ sung quy định về quyền thực hiện hành vi tố tụng của Viện Kiểm sát đối với các yêu cầu tố tụng nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện theo đúng yêu cầu.

Đặc biệt, cần xây dựng quy trình điều tra riêng cho các vụ án do Viện Kiểm sát khởi tố, yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra. Thực tế những vụ việc Viện Kiểm sát khởi tố và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra là những trường hợp giữa CQĐT và Viện Kiểm sát không thống nhất quan điểm xử lý. Đối với những vụ án này, việc giao quyền chỉ đạo điều tra cho Viện Kiểm sát là hết sức cần thiết để đảm bảo vụ án được xử lý đúng pháp luật, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm.

Thứ ba, cần tăng cường tính độc lập cho các chức danh tư pháp, đặc biệt là kiểm sát viên trong thực hiện các chức năng tố tụng.

Tính độc lập trong thực hiện các hoạt động tố tụng của thẩm phán đã được Bộ luật TTHS năm 2003 quy định cụ thể. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho thẩm phán thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách chủ động và góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án. Riêng đối với điều tra viên và kiểm sát viên, các quyền năng tố tụng cũng như tính độc lập vẫn chưa được đề cao trong các quy định của pháp luật.

Điển hình về thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung, Điều 168  Bộ luật TTHS quy định Viện Kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung, theo quy định này, người ký quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung là lãnh đạo Viện Kiểm sát. Trong khi đó, Điều 179 Bộ luật TTHS quy định quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung là của thẩm phán. Tính độc lập của kiểm sát viên so với thẩm phán trong trường hợp này là rất hạn chế.

Cần mở rộng thẩm quyền và tăng tính độc lập trong thực hiện hoạt động tố tụng cho kiểm sát viên. Cụ thể, nên quy định quyền áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn, phê chuẩn các quyết định, trưng cầu giám định, thực nghiệm điều tra và một số hoạt động tố tụng khác để nâng cao tính chủ động cho kiểm sát viên trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự./.

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Định Mới Về Quyền Hạn Của Luật Sư Bào Chữa Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2024, Có Hiệu Lực Từ 01/7/2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!