Xu Hướng 3/2024 # Quyền Dân Tộc Tự Quyết Và Quyền Của Các Dân Tộc Thiểu Số Theo Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Quyền Dân Tộc Tự Quyết Và Quyền Của Các Dân Tộc Thiểu Số Theo Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

    1. Quyền dân tộc tự quyết trong pháp luật quốc tế

    

    Tôn trọng quyền của các dân tộc được tự do lựa chọn con đường và hình thức phát triển là một trong những cơ sở quan trọng để thiết lập các quan hệ quốc tế. Quyền này được thể hiện một cách tập trung nhất trong nguyên tắc dân tộc tự quyết, dựa trên nền tảng chủ quyền dân tộc. Theo đó, quyền dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960; Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Liên hợp quốc.

    Khoản 2 Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận “phát triển quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc tự quyết”. Như vậy, khái niệm “dân tộc tự quyết” được nhắc đến trong Hiến chương Liên hợp quốc không phải là quyền đòi ly khai hay đòi độc lập của một hay nhiều nhóm sắc tộc, dân tộc thiểu số vốn đã là những thành phần trong một quốc gia – dân tộc thống nhất. Quyền dân tộc tự quyết ở đây chỉ thuộc về nhân dân theo nghĩa là tất cả dân cư thường xuyên sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định – chủ thể luật quốc tế.

    Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đã khẳng định “việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thức thể hiện quyền dân tộc tự quyết”. Nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau:

    - Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện;

    - Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội;

    - Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài;

    - Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý.

    Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng. Như vậy, “quyền dân tộc tự quyết” được hiểu là việc một “quốc gia – dân tộc” hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. 

Đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Trưởng Đoàn công tác số 3 phát biểu tại Hội nghị kiểm tra, giám sát tại tỉnh Bắc Ninh ngày 25-11-2024 (Ảnh Thu Huyền)

    2. Quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế

    Khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được chính thức ghi nhận trong hai Công ước quốc tế là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc (UDHR) năm 1948: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội” (Điều 2) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” (Điều 3). Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị mà quyền dân tộc thiểu số được coi là quyền cơ bản trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó, điều đó có nghĩa là người dân tộc thiểu số có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa như những người thuộc dân tộc đa số trong xã hội, hoàn toàn bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử.

    Bên cạnh việc ghi nhận quyền của các dân tộc thiểu số, pháp luật quốc tế còn quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên Công ước phải bảo đảm cho các cá nhân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số quyền được hưởng nền văn hóa, ngôn ngữ trong các điều kiện đặc thù của mình. Trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 ghi: “Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ và khuyến khích những điều kiện để thúc đẩy bản sắc đó; các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những mục tiêu này” (Điều 1).

    Như vậy, quyền dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của pháp luật quốc tế về quyền con người. Việc thúc đẩy và thường xuyên thực hiện quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ như là một phần gắn liền trong sự phát triển xã hội nói chung và khuôn khổ dân chủ, pháp luật nói riêng, góp phần vào việc tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc và các quốc gia.

    3. Nhận thức về quyền dân tộc tự quyết và quyền của các dân tộc thiểu số theo pháp luật quốc tế trong việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hiện nay ở nước ta

    Từ những quy định trên trong pháp luật quốc tế, có thể thấy nội hàm của quyền dân tộc tự quyết và quyền dân tộc thiểu số là không đồng nhất và hoàn toàn khác nhau. Thứ nhất, chủ thể hưởng thụ của hai nhóm quyền này là khác nhau, đối với quyền dân tộc thiểu số, chủ thể hưởng thụ quyền là các dân tộc thiểu số trong các quốc gia, đồng thời pháp luật quốc tế quy định trách nhiệm của các quốc gia bảo đảm để cho các dân tộc thiểu số trong quốc gia mình được hưởng thụ quyền dựa trên điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia; đối với quyền dân tộc tự quyết chủ thể hưởng thụ quyền là “dân tộc – quốc gia” không đồng nhất với chủ thể quyền “dân tộc thiểu số” là một bộ phận trong “dân tộc – quốc gia”, có nghĩa là tập thể một “dân tộc – quốc gia” chứ không phải là một dân tộc thiểu số trong một quốc gia; Thứ hai, quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế về nhân quyền hoàn toàn không có hàm ý là quyền dân tộc tự quyết, bởi không có bất cứ một quy định của pháp luật quốc tế cho rằng một nhóm dân tộc thiểu số ở một quốc gia nào đó có quyền được ly khai, được thành lập một quốc gia độc lập với quốc gia được quốc tế công nhận mà họ là cư dân đang tồn tại trong quốc gia đó.

    Từ phân tích trên, có thể thấy nhận diện đúng về nội hàm trong quy định của pháp luật quốc tế về hai nhóm quyền này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và công tác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hiện nay. Thực tế trên thế giới, một số vụ việc đã diễn ra từ việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết là căn cứ cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập là chủ thể của luật quốc tế, thực hiện sự nghiệp bảo vệ quyền tự quyết thiêng liêng, bất khả xâm phạm cho dân tộc mình, trong đó cuộc ly khai của người dân Đông Timor và Kosovo là điển hình, dù có sự giúp đỡ từ các thế lực bên ngoài nhưng việc bảo vệ quyền độc lập tự chủ của các dân tộc này là minh chứng về vấn đề bảo đảm quyền dân tộc thiểu số, thực hiện quyền dân tộc tự quyết trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp. Một minh chứng khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, không đơn thuần là tương trợ, hợp tác kinh tế đôi bên cùng có lợi, vì những lợi ích khác nhau mà nhiều thế lực đã lợi dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết tạo ra những cuộc chiến tranh phi nghĩa, cuộc nội chiến, ly khai lấy cớ vì mục đích cao cả chống khủng bố, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, nhưng thực chất lại mang tính vụ lợi trong đó như cuộc chiến tại Iraq, Afghanistan và Libya…

    Có thể khẳng định, trong xu thế toàn cầu hóa, các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau, có quan hệ hợp tác ngày càng rộng rãi và chặt chẽ, đồng thời  phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ càng khiến cho giá trị của độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết cần được khẳng định hơn bao giờ hết. Với tư cách là một “quốc gia – dân tộc” có chủ quyền, chủ thể của pháp luật quốc tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức đúng đắn vấn đề thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Trong Hiến pháp năm 2013, quyền dân tộc tự quyết tiếp tục được khẳng định “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị” (Điều 11). Hơn nữa, với vai trò là thành viên của các điều ước quốc tế, thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam luôn thể hiện trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm thực thi các quyền con người, trong đó quyền của các dân tộc thiểu số luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5). Cùng với việc hiến định về quyền của các dân tộc thiểu số, Việt Nam đã và đang thực hiện hiệu quả những chính sách, pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số khiến cho đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày một nâng cao, bên cạnh đó, các quyền đặc thù của các dân tộc thiểu số như quyền được giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, quyền được Nhà nước hỗ trợ phát triển đã tạo ra sự bình đẳng cho các dân tộc thiểu số khi tham gia các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Nhận thức đúng đắn về quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc thiểu số và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm thực hiện những quyền này sẽ góp phần ngăn chặn những hành vi của những kẻ phản dân, hại nước luôn có âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc thiểu số để tiến hành các hoạt động lôi kéo, kích động bạo lực, phá hoại tình đoàn kết dân tộc, thiết nghĩ đây là điều rất cần thiết trong nhận thức đối với mỗi đồng bào dân tộc thiểu số, mỗi cán bộ ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số hiện nay.

Ths. Lừ Văn Tuyên

(Ban Nội chính Tỉnh ủy Sơn La)

Quyền Dân Tộc Tự Quyết: Ai, Ở Đâu Và Khi Nào?

Việc các cuộc trưng cầu cho thấy không giống như người Kurds, người Catalonia chịu sự chia rẽ sâu sắc trong vấn đề này có quan trọng không? Việc những nước sát khu vực người Kurd sinh sống ở Iraq có thể dùng vũ lực để chống lại phong trào ly khai có ý nghĩa gì không?

Quyền dân tộc tự quyết, nguyên tắc mà Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson đã đưa ra trong chương trình nghị sự quốc tế năm 1918, nhìn chung được định nghĩa là quyền một dân tộc được tự hình thành quốc gia của mình. Nhưng “tự quyết” là ai quyết?

Quyền dân tộc tự quyết (Self-determination)

Nhìn vào trường hợp của Somalia, người dân nước này, không giống hầu hết các quốc gia châu Phi mới độc lập khác, có nền tảng ngôn ngữ và sắc tộc khá tương đồng. Trong khi đó, nước láng giềng Kenya được hình thành từ thời thuộc địa bởi hàng tá những bộ tộc hay sắc tộc khác nhau. Người Somalia tuyên bố rằng nguyên tắc tự quyết sẽ cho phép người Somalia ở đông bắc Kenya và miền nam Ethiopia có thể ly khai. Kenya và Ethiopia đã từ chối, dẫn đến hàng loạt cuộc chiến khu vực về vấn đề quốc gia Somalia.

Phần tiếp theo của câu chuyện trớ trêu là tự bản thân Somalia lại cũng bị chia rẽ trong một cuộc nội chiến giữa các bộ tộc và các thủ lĩnh cát cứ địa phương. Ngày nay, khu phía bắc của nước này, gọi là Somaliland, trên thực tế tồn tại như một quốc gia độc lập, mặc dù không được quốc tế công nhận và không được kết nạp làm thành viên Liên Hợp Quốc.

Việc bỏ phiếu không phải lúc nào cũng giải quyết được vấn đề quyền tự quyết. Trước hết, sẽ có câu hỏi là người ta sẽ bỏ phiếu ở đâu. Ví dụ, tại Ireland, người Công giáo (ở Nam Ireland) phản đối trong nhiều năm rằng nếu việc bỏ phiếu diễn ra tại khu vực Bắc Ireland, thì đại đa số người theo đạo Tin lành chiếm hai phần ba dân số ở đó sẽ áp đảo. Còn người Tin lành (Bắc Ireland) đáp lại rằng nếu bỏ phiếu được thực hiện trên cả hòn đảo, thì đại đa số người Công giáo sẽ chiếm quyền. Cuối cùng, sau hàng thập niên xung đột, chỉ biện pháp hòa giải từ bên ngoài mới giúp mang lại hòa bình cho Bắc Ireland.

Còn một câu hỏi khác là khi nào thì người dân bỏ phiếu? Vào những năm 1960, người Somalia (tại Kenya) mong muốn được bỏ phiếu ngay lập tức; Kenya lại muốn đợi 40 hay 50 năm trong lúc nước này tái định hình sự cố kết giữa các bộ lạc và hình thành bản sắc quốc gia của Kenya.

Một vấn đề khác là làm thế nào để người ta có thể cân đong lợi ích của những người bị bỏ lại. Việc ly khai có làm hại họ bằng cách lấy đi những tài nguyên hoặc gây ra những biến động không? Người Kurd ở Iraq nắm giữ trữ lượng dầu mỏ đáng kể, và theo ước tính thì người Catalonia chiếm một phần năm GDP của Tây Ban Nha. Chính phủ Tây Ban Nha lập luận rằng cuộc bỏ phiếu đòi độc lập sắp tới tại Catalonia là bất hợp pháp theo hiến pháp Tây Ban Nha.

Lấy một ví dụ khác ở châu Phi, khi người dân miền đông Nigeria quyết định ly khai và thành lập nhà nước Biafra những năm 1960, những người Negeria khác đã phản kháng, một phần bởi Biafra là nơi sở hữu phần lớn dầu mỏ của Nigeria. Họ lập luận rằng số dầu mỏ này thuộc về tất cả người dân Nigeria, chứ không chỉ khu vực phía đông.

Sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, quyền tự quyết trở thành một vấn đề nóng tại Đông Âu và Liên Xô cũ. Tại vùng Kavkaz, người Azeri, Armenia, Gruzia, Abkhazia, và Chenya tất cả đều đòi có lãnh thổ riêng.

Tại Nam Tư, người Slovenia, Serbia và Croatia đã xoay sở để xây dựng được các nước cộng hòa độc lập, nhưng người Hồi giáo tại Bosnia – Herzegovina lại kém thành công hơn, và phải trải qua một chiến dịch “thanh lọc dân tộc” bởi các lực lượng của người Croatia và Serbia.

Quyền tự quyết hóa ra lại trở thành một nguyên tắc đạo đức mập mờ. Wilson đã từng nghĩ rằng điều này sẽ đem đến sự ổn định cho Trung Âu; thay vào đó, Hitler đã sử dụng nguyên tắc ngày để làm suy yếu các nhà nước mới thành lập còn mỏng manh trong khu vực vào những năm 1930.

Bài học này vẫn còn hiệu lực đến ngày nay. Do chưa tới 10% các quốc gia trên thế giới là đồng nhất về mặt sắc tộc, việc coi quyền tự quyết là một nguyên tắc đạo đức chính chứ không phải thứ yếu có thể gây ra những hậu quả thảm khốc tại nhiều vùng đất trên thế giới. Trên thực tế, các nhóm dân tộc thù địch nhau thường sống hòa trộn với nhau chứ không tách biệt rõ ràng. Điều này làm cho việc chia cắt các nước trở nên khó khăn, điều mà Ấn Độ đã nhận ra năm 1947. Có lẽ đó là lý do tại sao chỉ một vài quốc gia mới được kết nạp vào Liên Hợp Quốc trong thế kỷ này. Sau khi ly khai khỏi Sudan, xung đột sắc tộc tại Nam Sudan vẫn tiếp tục, trên thực tế không hề suy giảm.

Hy vọng tốt nhất cho tương lai là câu hỏi điều gì được quyết định cũng như ai quyết định nó. Trong các trường hợp khi mà các nhóm sắc tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ không hòa hợp, có thể cho phép một mức độ tự trị nhất định nhằm định đoạt các vấn đề nội bộ. Những nước như Thụy Sĩ hay Bỉ cho phép các nhóm dân cư cấu thành nên quốc gia có quyền tự chủ về văn hóa, kinh tế và chính trị đáng kể.

Khi mà tự chủ là không đủ, thì có thể sắp xếp một vụ “ly hôn thân thiện”, giống như khi Tiệp Khắc phân tách một cách hòa bình thành hai quốc gia có chủ quyền (CH Czech và Slovakia). Nhưng những đòi hỏi quyền tự quyết một cách tuyệt đối sẽ nhiều khả năng trở thành một nguồn cơn bạo lực, và đó là lý do tại sao chúng phải được xử lý một cách cực kỳ cẩn thận. Trước khi viện dẫn quyền tự quyết như là một nguyên tắc đạo đức, người ta phải chú ý tới phiên bản ngoại giao của Lời thề Hippocrates: Primum non nocere (trước hết, không gây ra tổn hại nào).

Joseph S. Nye, cựu Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng và chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ, là Giáo sư tại Đại học Harvard. Ông là tác giả của cuốn Is the American Century Over?.

Copyright: Project Syndicate 2024 – The who, where and when of secession

Các Quyền Dân Tộc Cơ Bản Của 3 Nước Việt Nam, Lào, Campuchia Lần

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN – Association of Southeast Asian Nations) ra đời trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều chuyển biến to lớn vào nửa sau những năm 60 của thế kỷ XX.

Sau khi giành được độc lập, các nước Đông Nam Á bước vào thời kỳ phát triển kinh tế trong điều kiện rất khó khăn, nhiều nước trong khu vực thấy cần có sự hợp tác với nhau để cùng phát triển. Đồng thời, họ cũng muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực, nhất là khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Đông Dương đang bị sa lầy.

Những tổ chức hợp tác mang tính khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều và những thành công của Khối thị trường chung châu Âu có tác động cổ vũ các nước Đông Nam Á tìm cách liên kết với nhau.

Ngày 8 – 8 – 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của 5 nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan và Phi-líp-pin.

Mục tiêu của ASEAN là phát triển kinh tế và văn hóa thông qua những nỗ lực hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hòa bình và ổn định khu vực.

Trong giai đoạn đầu (1967 – 1975), ASEAN là một tổ chức non trẻ, sự hợp tác trong khu vực còn lỏng lẻo, chưa có vị trí trên trường quốc tế. Sự khởi sắc của ASEAN được đánh dấu từ Hội nghị cấp cao lần thứ nhất họp tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a) tháng 2 – 1976, với việc kí Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (gọi tắt là Hiệp ước Ba-li).

Hiệp ước Ba-li đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực với nhau; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; hợp tác phát triển có hiệu quả trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội.

Quan hệ giữa các nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia) với ASEAN được cải thiện sau thời kỳ căng thẳng giữa hai nhóm nước (từ cuối thập kỉ 70 đến giữa thập kỉ 80) về “vấn đề Cam-pu-chia”. Việt Nam và ASEAN bắt đầu quá trình đối thoại, hòa dịu.

Kinh tế các nước ASEAN bắt đầu tăng trưởng.

ASEAN tiếp tục mở rộng thành viên: Năm 1984, Bru-nây gia nhập ASEAN. Năm 1992, Việt Nam và Lào tham gia Hiệp ước Ba-li và ngày 18 – 7 – 1995, Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN. Tiếp đó, nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á đã gia nhập vào ASEAN như Lào và Mian-ma (năm 1997) và Cam-pu-chia (năm 1999).

Tháng 11 – 2007, các nước thành viên đã kí bản Hiến chương ASEAN nhằm xây dựng ASEAN thành một cộng đồng vững mạnh.

Quyền Tự Do Tín Ngưỡng, Tôn Giáo Theo Luật Nhân Quyền Quốc Tế Và Trong Pháp Luật Việt Nam

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo luật nhân quyền quốc tế và trong pháp luật Việt Nam

TS. VŨ CÔNG GIAO

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

ThS. LÊ TÚY HƯƠNG

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo luật nhân quyền quốc tế

 UDHR lần đầu tiên đã ghi nhận quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo trong một văn kiện quốc tế, trong đó tập trung chủ yếu vào việc cấm phân biệt đối xử về tôn giáo. Điều 18 UDHR quy định: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm (conscience), và tôn giáo; quyền này bao gồm cả tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình, và tự do bày tỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình bằng các hình thức truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, theo hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc riêng tư”.

Quy định trên sau đó được khẳng định và cụ thể hóa trong các Điều 18 và 20 Công ước quốc tế về Các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR). Khoản 2 Điều 18 Công ước này quy định: “Không ai phải chịu ép buộc dẫn đến làm tổn hại quyền tự do lựa chọn có hoặc tin theo tôn giáo hay tín ngưỡng của họ”. Khoản 3 Điều 18 xác định quyền này có thể bị giới hạn bởi luật khi cần thiết để “bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xãhội, hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Khoản 4 Điều 18 yêu cầu các quốc gia thành viên ICCPR phải tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ hoặc những người giám hộ hợp pháp “để đảm bảo việc giáo dục về đạo đức và tôn giáo của con cái họ phù hợp với ý nguyện riêng của họ”. Khoản 2 Điều 20 nghiêm cấm mọi hành động cổ vũ hằn thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo dẫn đến kích động, phân biệt đối xử và bạo lực.

1. Các quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tín ngưỡng bao gồm tự do suy nghĩ và thể hiện sự gắn kết cá nhân với tôn giáo hay tín ngưỡng dưới tư cách cá nhân hay tập thể. Tự do tư tưởng, tự do niềm tin lương tâm cần được bảo vệ tương tự như với tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Đặc điểm cơ bản của những quyền tự do này là nó không thể bị đình chỉ thực hiện, kể cả trong những tình trạng khẩn cấp được nêu trong Điều 4 khoản 2 của ICCPR.

2. Các thuật ngữ “tín ngưỡng” và “tôn giáo” trong Điều 18 cần được giải thích theo nghĩa rộng nhằm bảo vệ cả những niềm tin hữu thần và vô thần, bất kể gắn với những tôn giáo lâu đời hay mới, những tôn giáo, tín ngưỡng có tính chất thể chế, hoặc những tập tục tương tự như tôn giáo truyền thống.

3. Cần phân biệt giữa tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng với tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng. Không cho phép áp đặt bất kỳ sự giới hạn nào đối với tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tự do được tin hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng theo lựa chọn của các cá nhân. Những quyền tự do này được bảo vệ vô điều kiện, tương tự như với quyền được giữ ý kiến mà không bị can thiệp (khoản 1 Điều 19). Không ai có thể bị ép buộc phải tiết lộ những suy nghĩ của mình hoặc bị bắt buộc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng nào đó (khoản 2 Điều 18 và Điều 17).

5. Quyền tự do “tin hoặc theo” một tôn giáo hoặc tín ngưỡng cần thiết phải bao gồm quyền tự do lựa chọn tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có quyền cải đổi niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng hiện tại sang một tôn giáo, tín ngưỡng khác; hoặc quyền tin theo các quan điểm vô thần; quyền giữ tôn giáo, tín ngưỡng của mình. Khoản 2 Điều 18 cấm việc cưỡng ép làm ảnh hưởng tới quyền tin hoặc theo tôn giáo, tín ngưỡng, bao gồm việc đe doạ bằng vũ lực hoặc hình phạt để buộc những tín đồ hoặc người không phải tín đồ phải trung thành với tín ngưỡng, tôn giáo và giáo đoàn, hoặc chính thức từ bỏ tín ngưỡng, tôn giáo, hay cải đạo. Những chính sách hoặc hành động có mục đích hoặc gây ảnh hưởng tương tự, chẳng hạn như hạn chế sự tiếp cận với giáo dục, chăm sóc y tế, việc làm hoặc với các quyền được bảo đảm bởi Điều 25 và những điều khác của ICCPR, đều trái với khoản 2 Điều 18. Tất cả mọi người, dù vô thần hay hữu thần, cũng đều được hưởng sự bảo vệ như nhau.

7. Điều 20 nghiêm cấm việc thực hành tôn giáo hoặc tín ngưỡng có tính chất tuyên truyền cho chiến tranh hoặc cổ vũ hận thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, hay kích động sự phân biệt đối xử, thù địch hoặc bạo lực. Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ ngăn chặn những hành động đó bằng pháp luật.

9. Việc một tôn giáo được công nhận là quốc giáo, hay được thành lập một cách chính thức hoặc theo truyền thống, hay có số lượng tín đồ chiếm đa số trong dân chúng, sẽ không làm tổn hại đến việc được hưởng các quyền theo Công ước, kể cả các quyền quy định trong các Điều 18 và Điều 27, cũng như không được tạo ra sự phân biệt đối xử với tín đồ của các tôn giáo khác, hoặc với những người không theo tôn giáo nào. Đặc biệt, những biện pháp có tính chất phân biệt đối xử đối với tín đồ của các tôn giáo khác hay với những người không theo tôn giáo nào đều là trái với nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về tín ngưỡng, tôn giáo và với quy định bảo đảm việc bảo vệ quyền bình đẳng theo Điều 26.

10. Kể cả khi một tôn giáo, tín ngưỡng được coi là hệ tư tưởng chính thức trong hiến pháp, điều lệ, tuyên ngôn của các đảng cầm quyền, hay trong hoạt động thực tiễn thì nó cũng không được dẫn đến việc vô hiệu hóa các quyền và tự do theo Điều 18 hay bất cứ các quyền khác được ghi nhận trong Công ước, cũng như không được tạo ra sự phân biệt đối xử đối với những người không chấp nhận hoặc phản đối tư tưởng đó.

11. ICCPR không quy định cụ thể về quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự vì lý do lương tâm nhưng theo Uỷ ban, quyền đó có thể suy ra từ nội dung Điều 18, vì nghĩa vụ sử dụng vũ lực gây chết người có thể mâu thuẫn gay gắt với niềm tin lương tâm và quyền biểu thị tôn giáo và tín ngưỡng của một cá nhân. Khi quyền này được luật pháp hoặc thực tế công nhận thì không được phân biệt đối xử với những người phản đối và từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự vì lý do lương tâm dựa trên bản chất của những tín ngưỡng đặc biệt của họ.

2. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, gồm cả tôn giáo nội sinh và ngoại nhập. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được ghi nhận ngay trong Hiến pháp đầu tiên (1946) và tiếp tục được tái khẳng định trong các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013 của nước ta, với những quy định càng về sau càng có xu hướng chi tiết hơn. Cụ thể như sau:

Hiến pháp

Nội dung quy định

1946

Chương 2 Điều 10: Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.

1959

Chương 3 Điều 26: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

1980

Chương 5 Điều 68: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.

1992

Chương 5 Điều 70: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.

2013

Chương 2 Điều 24: 1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Ngoài Hiến pháp, trong từng thời kỳ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng khác. Ví dụ, ngay sau khi hòa bình lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 234-SL ngày 14/6/1955 ghi rõ: “việc tự do, tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện” (Điều 15). Một số Thông tư hướng dẫn thi hành Sắc lệnh này sau đó đã được ban hành, bao gồm: Thông tư số 593-TTg (năm 1957) và Thông tư số 60-TTg (11/6/1964) quy định chi tiết về việc thi hành chính sách tôn giáo… Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ đã thông qua Nghị quyết số 297-CP ngày 11/11/1977 về “Một số chính sách đối với tôn giáo”, trong đó nêu các nguyên tắc về tự do tôn giáo. Bước vào thời kỳ Đổi mới, vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bảo vệ quyền này tiếp tục được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, bao gồm: Nghị định số 69-HĐBT ngày 21/3/1991 ban hành “Quy định về các hoạt động tôn giáo”; Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày19/4/1999 quy định về các hoạt động tôn giáo; Bộ luật Dân sự 1995 (Điều 43), Bộ luật Hình sự 1999 (Điều 47), Luật tổ chức Chính phủ 2001 (Điều 13), Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 (Điều 5); Luật Giáo dục 2005 (các Điều 9 và 16)… Tuy nhiên, quan trọng nhất là Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (Pháp lệnh TNTG) ban hành năm 2004.

Pháp lệnh TNTG năm 2004 đã thể chế hóa quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó xác định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” [2] . Pháp lệnh lần đầu tiên giải thích các thuật ngữ “hoạt động tín ngưỡng”, “cơ sở tín ngưỡng”, “tổ chức tôn giáo”, “hoạt động tôn giáo”, “hội đoàn tôn giáo”, “cơ sở tôn giáo”, v.v… đồng thời quy định cụ thể về hoạt động tín ngưỡng của người có tín ngưỡng; hoạt động tôn giáo của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc; tổ chức tôn giáo và hoạt động của tổ chức tôn giáo; tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động xã hội của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc; quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc. Những vấn đề này sau đó được cụ thể hóa trong các Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 (thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP) của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thực hiện Pháp lệnh TNTG.

Pháp lệnh TNTG 2004 đã tạo sự thông thoáng đáng kể về sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trong xã hội so với thời kỳ trước đó; đồng thời xác lập những định hướng chính sách rõ ràng hơn cho công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực này. Việc phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo đã góp phần phục hồi, công nhận nhiều tín ngưỡng đã và đang tồn tại trong dân gian. Quy định về việc công nhận tổ chức tôn giáo đã làm tăng số lượng các tổ chức công giáo được công nhận trên thực tế. Việc chia tách, sáp nhập các tổ chức tôn giáo được thực hiện thuận lợi hơn. Các yêu cầu về đất đai, cơ sở vật chất của một số tôn giáo từng bước được Nhà nước xem xét giải quyết. Hoạt động in ấn, xuất bản, đào tạo của các tôn giáo ngày càng phát triển. Việc sửa chữa, nâng cấp, cải tạo các công trình tôn giáo cũng có những chuyển biến quan trọng, do chính quyền cơ sở được trao quyền giải quyết với các công trình tôn giáo không thuộc diện phải xin giấy phép xây dựng (Điều 35 Nghị định số 92/2012/CP). Quy định về việc đăng ký dự tu cũng thông thoáng, rõ ràng hơn trước, với các thủ tục, giấy tờ đơn giản hơn, thời gian giải quyết các vụ việc có quy định thời hạn cụ thể, nhờ vậy số người đăng ký tu tập theo các tôn giáo ngày càng tăng. Đặc biệt, nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật quốc tế đã được ghi nhận. Điều 38 Pháp lệnh TNTG 2004 quy định: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Pháp lệnh này thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó”. Điều này mở ra triển vọng tiếp tục nội luật hóa và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong ICCPR và một số văn kiện nhân quyền quốc tế khác vào bối cảnh của Việt Nam.

Tuy nhiên, về quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, pháp luật Việt Nam hiện vẫn còn khoảng cách so với luật nhân quyền quốc tế, thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:

– Pháp luật Việt Nam chưa phân biệt giữa tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, với tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng. Theo luật nhân quyền quốc tế, quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng có thể bị hạn chế (không phải là quyền tuyệt đối), song các quốc gia không được phép áp đặt bất kỳ giới hạn nào đối với tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tự do được tin hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng theo lựa chọn của mình. Những quyền tự do này được bảo vệ vô điều kiện, tương tự như với quyền được giữ ý kiến mà không bị can thiệp.

– Luật quốc tế cho phép hạn chế quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng chỉ với điều kiện những hạn chế đó được pháp luật quy định và là cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác. Trong khi đó, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 và Điều 15 Pháp lệnh TNTG 2004 quy định một phạm vi rộng hơn nhiều các hành vi có thể dẫn đến đình chỉ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, đó là: xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường; tác động xấu đến đoàn kết nhân dân, đến truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác; có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác… Các khái niệm này nội hàm quá rộng và trừu tượng, dẫn đến nguy cơ tùy nghi diễn giải và hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong thực tế.

– Pháp luật chưa quy định quyền tự do của bố mẹ hoặc những người giám hộ pháp lý được quyết định việc giáo dục đạo đức và tôn giáo cho con cái họ phù hợp với đức tin của họ.

Pháp lệnh TNTG 2004 còn bộc lộ một số hạn chế khác cần khắc phục, cụ thể như sau:

– Tương tự, quy định tổ chức tôn giáo phải đăng ký chương trình hoạt động hàng năm và phải xin phép UBND cấp xã nếu muốn tổ chức hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đã đăng ký (Điều 12), cũng như quy định tổ chức tôn giáo khi tổ chức các cuộc lễ ở ngoài cơ sở tôn giáo phải xin phép UBND cấp huyện hoặc cấp tỉnh (Điều 25 Pháp lệnh, Điều 31 Nghị định số 92/2012/NĐ-CP) là không phù hợp và khả thi, bởi trên thực tế, không thể hạn chế, kiểm soát việc tín đồ tham gia các hoạt động tôn giáo, bao gồm các buổi lễ, cho dù các hoạt động/buổi lễ đó được tổ chức chính thức hay phi chính thức (xin phép hay không xin phép).

Quan trọng hơn, việc tổ chức và tham gia các hoạt động và buổi lễ tôn giáo về bản chất thuộc về quyền tự do hội họp hòa bình của người dân được Hiến pháp bảo vệ, mà theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013, các quyền hiến định chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Như vậy, việc yêu cầu các hoạt động và cuộc lễ tôn giáo phải xin phép trước theo như Điều 25 Pháp lệnh 2004 có thể coi là một hình thức hạn chế quyền nhưng không đáp ứng các yêu cầu tại khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013, vì Pháp lệnh không được coi ngang bằng với luật.

Để phù hợp với thực tiễn cuộc sống, với Hiến pháp năm 2013 và luật nhân quyền quốc tế, nên thay thế quy định về việc xin phép trong các Điều 12 và Điều 25 Pháp lệnh TNTG năm 2004 bằng quy định về việc thông báo tổ chức các hoạt động tôn giáo. Việc xin phép chỉ là bắt buộc khi các hoạt động tôn giáo đó được tổ chức tại những nơi công cộng (ngoài các cơ sở tôn giáo được Nhà nước thừa nhận), vì khi đó mới nảy sinh yêu cầu bảo đảm lợi ích của cộng đồng với nghĩa bao gồm cả những người là tín đồ và không là tín đồ của tổ chức tôn giáo sẽ tổ chức hoạt động đó.

– Công tác tôn giáo được coi là nhiệm vụ của các ngành các cấp, nhưng vì không quy trách nhiệm cụ thể cho chủ thể nào nên dễ dẫn đến chồng chéo, hoặc bị bỏ trống. Hiện tại Pháp lệnh TNTG năm 2004 chỉ quy định trách nhiệm của chính quyền và MTTQ các cấp có trách nhiệm phối hợp giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân (Điều 7) nhưng không nêu vấn đề vi phạm và xử lý các hành vi vi phạm Pháp lệnh của các cơ quan, cán bộ nhà nước, trong khi trên thực tế, những vi phạm như vậy về mặt lý thuyết có thể xảy ra.

– Quy định điều kiện phải có sinh hoạt ổn định từ 20 năm trở lên và không vi phạm pháp luật thì một tổ chức tôn giáo mới được công nhận (Điều 16 Pháp lệnh, Điều 8 Nghị định số 92/2012/NĐ-CP) là chưa hợp lý, vì một tổ chức tôn giáo mới khó có thể đảm bảo những điều kiện như vậy để được công nhận là một tôn giáo hợp pháp. Sự giới hạn này cũng không phù hợp với tinh thần của luật nhân quyền quốc tế về tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Thêm vào đó, việc phân cấp thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo còn chung chung, dẫn đến tình trạng tôn giáo ‘mẹ’ do Trung ương công nhận, tôn giáo ‘con’ do địa phương công nhận.

4Văn kiện hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội 2003, tr. 45-46.

Về pháp nhân của các tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tại http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/241/0/1370/Ve_phap_nhan_cua_to_chuc_ton_giao_trong_khuon_kho_phap_luat_Viet_Nam_hien_hanh[3] Xem Nguyễn Khắc Huy,tại http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/241/0/1370/Ve_phap_nhan_cua_to_chuc_ton_giao_trong_khuon_kho_phap_luat_Viet_Nam_hien_hanhBản góp ý xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP của Tòa Tổng Giám mục TP.Hồ Chí Minh, ngày 20/5/2011, tại http://vietcatholic.org/News/Html/90073.htm[4] Xem,của Tòa Tổng Giám mục TP.Hồ Chí Minh, ngày 20/5/2011, tại http://vietcatholic.org/News/Html/90073.htmPháp lệnh TNTG: 10 năm nhìn lại, tại [5] Xem, Phạm Huy Thông,, tại http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/4786/Phap_lenh_tin_nguong_ton_giao_10_nam_nhin_lai

Quyền An Tử Theo Luật Nhân Quyền Quốc Tế, Pháp Luật Ở Một Số Quốc Gia Và Gợi Mở Cho Việt Nam

Quyền an tử theo luật nhân quyền quốc tế, pháp luật ở một số quốc gia và gợi mở cho Việt Nam

PGS,TS. VŨ CÔNG GIAO

Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

ThS. NGUYỄN MINH TÂM

Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Nhận thức về an tử, quyền an tử

Ngược lại, những tranh luận phản đối an tử cho rằng việc này: (i) làm giảm giá trị cuộc sống của con người; (ii) có thể trở thành một phương tiện dẫn đến hạn chế chi phí chăm sóc sức khỏe cho người bị bệnh nan y; (iii) xung đột với quy tắc chỉ cứu người chứ không tước bỏ tính mạng con người của bác sĩ và nhân viên y tế; (iv) có thể xảy ra hệ quả/xu hướng “trượt dốc” (slippery slope) – tức an tử ban đầu chỉ được coi là hợp pháp cho người bị bệnh nan y, sau đó luật được thay đổi cho phép [an tử] cả trong những trường hợp khác, kể cả khi không có sự tự nguyện.

Nhìn chung, mỗi luồng quan điểm nêu trên đều có những yếu tố hợp lý, và cũng như nhiều vấn đề nhân quyền khác, để đạt được sự đồng thuận tuyệt đối với vấn đề an tử gần như là điều không thể ở mọi xã hội. Quyết định cấm hay hợp pháp hóa an tử là một quá trình cần nhiều thời gian và chịu tác động của nhiều yếu tố như trình độ nhận thức, kinh tế, khoa học kĩ thuật, truyền thống văn hóa,…. Tuy nhiên, xu hướng đang diễn ra trên thế giới là an tử ngày càng được nhiều quốc gia thừa nhận hơn.

2. Quyền an tử theo luật nhân quyền quốc tế

Cần phân biệt an tử với việc tước đi tính mạng của cá nhân mà không vi phạm luật NQQT (không tùy tiện). Nhìn chung, theo pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia, có 3 trường hợp mà tính mạng của cá nhân có thể bị tước đi “hợp pháp”, đó là: (i) hình phạt tử hình; (ii) trong xung đột vũ trang; và (iii) phòng vệ chính đáng. Trong các trường hợp này, mục đích của việc tước đi mạng sống của nạn nhân được coi là “cần thiết” để bảo vệ cá nhân khác, cộng đồng và xã hội; và thuật ngữ “bị tước” cho thấy nó không phụ thuộc vào “ý chí” của nạn nhân. Do đó, quyền an tử (thể hiện ý chí của bệnh nhân, vì mục đích nhân đạo đối với bệnh nhân) hoàn toàn khác biệt với khía cạnh “không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện” của quyền sống.

Bản đồ các quốc gia/vùng lãnh thổ đã hợp pháp hóa an tử và trợ tử[16] Hà Lan[17]:

Đạo luật [thủ tục xem xét] Chấm dứt cuộc sống theo yêu cầu và trợ tử (Termination of Life on Request and Assisted Suicide [Review Procedures] Act) năm 2001 có hiệu lực vào ngày 01/4/2002. Đạo luật này hợp pháp hóa an tử và trợ tử trong những trường hợp và hoàn cảnh rất đặc biệt và phải thỏa mãn các điều kiện sau: (i) nỗi đau của bệnh nhân là không thể chịu đựng được và không có triển vọng cải thiện; (ii) yêu cầu an tử của bệnh nhân phải tự nguyện (không chịu ảnh hưởng của người khác, tâm lý bệnh tật hoặc của thuốc) và kiên trì theo thời gian; (iii) bệnh nhân phải nhận thức được đầy đủ về tình trạng của mình, triển vọng và các lựa chọn; (iv) phải có sự tham vấn với ít nhất một bác sĩ độc lập khác là người mà cần xác nhận các điều kiện nêu trên; (v) cái chết phải được thực hiện theo cách phù hợp về mặt y tế bởi bác sĩ hoặc bệnh nhân và bác sĩ phải có mặt; (vi) bệnh nhân ít nhất 12 tuổi (bệnh nhân từ 12 đến 16 tuổi đòi hỏi có sự chấp thuận của cha mẹ).

Về số lượng các trường hợp đã thực hiện an tử ở Hà Lan, theo nguồn số liệu thống kê cho thấy, trong khoảng thời gian 07 năm, con số đã tăng lên gấp gần 2,5 lần và dự đoán xu hướng sẽ tiếp tục tăng, thể hiện qua biểu đồ sau:

Số lượng các trường hợp đã thực hiện an tử ở Hà Lan (2006-2013)[18]

Bỉ:

Đạo luật về An tử của Bỉ (The Belgian Act on Euthanasia) được thông qua vào ngày 28/5/2002 và được sửa đổi bởi Luật ngày 13/02/2014, trong đó có một số nội dung đáng chú ý sau [19] : bác sĩ thực hiện an tử không phạm tội hình sự khi họ đảm bảo rằng: (i) bệnh nhân là một người trưởng thành có năng lực pháp lý, trẻ vị thành niên sống tự lập (emancipated minor) có năng lực pháp lý, hoặc trẻ vị thành niên có năng lực về nhận thức và ý thức tại thời điểm đưa ra yêu cầu; (ii) yêu cầu là tự nguyện, được xem xét thận trọng và được lặp lại và không là kết quả của bất kỳ áp lực bên ngoài nào; (iii) bệnh nhân là người trưởng thành hoặc trẻ vị thành niên sống tự lập ở trong tình trạng y tế vô vọng không thay đổi, và đau khổ thể xác hoặc tinh thần không chịu đựng nổi mà không thể giảm bớt, và là kết quả từ một rối loạn nghiêm trọng và không thể cứu chữa gây ra bởi bệnh tật hoặc tai nạn; (iv) trẻ vị thành niên có năng lực nhận thức ở trong tình trạng y tế vô vọng không thay đổi và đau khổ thể xác không chịu đựng nổi mà không thể giảm bớt và sẽ gây ra cái chết trong thời gian ngắn, và là kết quả từ một rối loạn nghiêm trọng và không thể cứu chữa gây ra bởi bệnh tật hoặc tai nạn.

Đạo luật này cũng yêu cầu quá trình đưa ra yêu cầu của bệnh nhân cần có sự tham vấn của một bác sĩ khác là bác sĩ tâm thần hoặc một chuyên gia; với trẻ vị thành niên sống tự lập cần tham vấn một bác sĩ tâm thần trẻ em hoặc một nhà tâm lý học và thông báo về lý do được tham vấn. Mọi yêu cầu phải được đưa ra bằng văn bản, và với bệnh nhân là trẻ vị thành niên sẽ cần sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.

Về số lượng các trường hợp an tử đã thực hiện ở Bỉ, theo thống kê sau 10 năm Đạo luật có hiệu lực, con số luôn có chiều hướng tăng (xem biểu đồ). Trong 02 năm tiếp theo (2012 và 2013), con số lần lượt là 1.432 và 1.816 trường hợp [20]

Số lượng các trường hợp đã thực hiện an tử ở Bỉ (2002-2011)[21]

Ở Mỹ, Chính phủ Liên bang và tất cả 50 bang và Quận Columbia đều nghiêm cấm an tử theo luật về tội giết người nói chung. Chính phủ Liên bang không có luật về trợ tử mà những luật này thường chỉ được sử dụng ở cấp bang. Hiện tại, có 03 bang là Oregon, Vermont và Washington thông qua luật hợp pháp hóa trợ tử; 01 bang là Montana hợp pháp hóa trợ tử qua phán quyết của Tòa án Tối cao (của bang). Điểm chung là bệnh nhân phải cư trú trên lãnh thổ của các bang và phải thỏa mãn các điều kiện: (i) độ tuổi tối thiểu của bệnh nhân là 18; (ii) bệnh nhân có khả năng thực hiện và truyền đạt các quyết định chăm sóc y tế cho mình; (iii) thời gian dự kiến cái chết sẽ xảy ra trong 06 tháng hoặc ít hơn; (iv) yêu cầu được thực hiện 02 lần bằng miệng (cách nhau ít nhất 15 ngày) và 01 lần bằng văn bản.

Số lượng các trường hợp trợ tử ở Oregon (1998-2014)[23] Số lượng các trường hợp trợ tử ở Washington (2009-2013)[24]

Qua các biểu đồ trên cho thấy, tỷ lệ số bệnh nhân thực hiện cái chết/được kê đơn ở Oregon (trong 17 năm) dao động trong khoảng từ 55% đến 70% và xu hướng thực hiện cái chết là tăng nhẹ. Ở Washington, tỷ lệ này là cao hơn (từ 92% đến 99%) và xu hướng tăng cũng rõ hơn.

Thụy Sỹ[25]:

Ở Thụy Sỹ, không có luật về an tử hay trợ tử. Mọi dạng an tử chủ động đều bị cấm, và luật chỉ cho phép trợ tử. Sự cho phép này được suy ra từ Điều 115 Bộ luật Hình sự của Thụy Sỹ (có hiệu lực từ năm 1942), trong đó quy định rằng: “Xúi giục và hỗ trợ tự tử: Bất kỳ người nào vì động cơ ích kỷ xúi giục hoặc trợ giúp người khác thực hiện hoặc cố gắng thực hiện tự tử mà sau đó người này thực hiện hoặc cố gắng thực hiện tự tử thì sẽ phải chịu án tù không quá 05 năm hoặc bị phạt tiền”. Như vậy, trợ tử chỉ bị coi là tội phạm khi động cơ thực hiện là “ích kỷ” (ví dụ: thu lợi cá nhân).

Về số lượng các trường hợp thực hiện trợ tử ở Thụy Sỹ, số liệu thống kê cho thấy một xu hướng tăng mạnh; và có một điểm đáng chú ý đó là do luật của Thụy Sỹ về trợ tử là không rõ ràng, do đó, ngày càng có nhiều du khách đến quốc gia này chỉ với mục là để kết thúc cuộc sống của mình (tự tử), chiếm từ 25% đến 30% số trường hợp được hỗ trợ tự tử mỗi năm (tính từ năm 2008 đến năm 2012) [26]

Số lượng các trường hợp trợ tử ở Thụy Sỹ (1998-2010)[27]

4. Những gợi mở với Việt Nam

Về vấn đề trên, có tác giả đã nêu ra 05 điều kiện để một quốc gia có thể ban hành Luật về An tử, đó là [30] : (i) số lượng bệnh nhân giai đoạn cuối, mắc bệnh vô phương cứu chữa xin được chết lớn; giới bác sỹ tồn tại nhiều bức xúc về vấn đề này; (ii) quốc gia có hệ thống pháp luật chặt chẽ, đồng bộ, nghiêm minh; kỹ thuật lập pháp của quốc gia đó đủ để có thể xây dựng luật ít bị lạm dụng nhất; (iii) người dân quốc gia đó có ý thức tuân thủ pháp luật cao; (iv) tại thời điểm muốn ban hành Luật về An tử không có quá nhiều người của quốc gia đó phản đối (thông qua thăm dò dư luận); (v) quyền an tử cần được ghi nhận trong các đạo luật gốc với tư cách là quyền nhân thân, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng luật chuyên ngành (Luật về An tử).

Đối chiếu với các điều kiện trên, Việt Nam có lẽ chỉ mới thỏa mãn điều kiện thứ nhất về nhu cầu xã hội [31] , nhưng hiện vẫn chưa có những cuộc điều tra và số liệu thống kê cụ thể. Các điều kiện còn lại Việt Nam hầu như chưa đáp ứng được. Nói cách khác, để luật hóa quyền an tử ở Việt Nam, cần có thêm những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này.

Như vậy, với cách tiếp cận khoa học và thận trọng thì thời điểm hiện nay chưa thực sự phù hợp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không có khả năng hợp pháp hóa quyền an tử ở Việt Nam. Như đã trình bày ở trên, xu hướng cho thấy an tử đang ngày càng được nhiều quốc gia thừa nhận hơn, trong khi cũng như ở các nước khác, nhu cầu về an tử ở Việt Nam là có thật. Bởi vậy, có thể trong một vài năm tới, an tử lại tiếp tục được đặt ra như một vấn đề xã hội bức xúc, từ đó dẫn tới việc luật hóa quyền an tử ở Việt Nam. Để chuẩn bị cho bối cảnh ấy, việc cần làm hiện nay là tiếp tục nghiên cứu sâu về vấn đề an tử, cả trên phương diện luật học, xã hội học, tâm lý học và đạo đức. Thêm vào đó, cần phổ biến thông tin cho công chúng và nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia đã và chuẩn bị hợp pháp hóa an tử./.

Triển Khai Nghị Quyết Về Phát Triển Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi

TIN ĐỌC NHIỀU TIN MỚI NHẬN

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: TTXVN

Cùng tham dự có các Ủy viên Bộ Chính trị: Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng; Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính. Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn; các Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội: Uông Chu Lưu, Phùng Quốc Hiển, Đỗ Bá Tỵ; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành hữu quan; Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội 63 tỉnh, thành phố, đại diện thường trực các Ủy ban của Quốc hội, thành viên Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số; đại diện các Đại sứ quán và tổ chức quốc tế tại Việt Nam… cùng tham dự.

Tại hội nghị, Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đã công bố nội dung Nghị quyết số 88/2024/QH14 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2024-2030.

Đây là Nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua vào ngày 18/11/2024 với 89,44% đại biểu Quốc hội tán thành. Đề án vừa được Quốc hội thông qua sẽ tập trung ưu tiên đầu tư cho địa bàn đặc biệt khó khăn, trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đối tượng được hưởng lợi là các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; hộ gia đình, cá nhân người dân tộc thiểu số; hộ gia đình, cá nhân người dân tộc Kinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, sinh sống ở xã, thôn đặc biệt khó khăn và doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế, xã hội hoạt động ở địa bàn vùng đặc biệt khó khăn…

Đề án đã đưa ra mục tiêu tổng quát, đồng thời xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2025, trong đó đáng chú ý là phấn đấu mức thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng hơn 2 lần so với năm 2024.

Định hướng mục tiêu đến năm 2030 là thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%, cơ bản không còn các xã, thôn đặc biệt khó khăn, 70% số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt chuẩn nông thôn mới…

Đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi là đầu tư cho phát triển bền vững

Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo Đề án, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến đã trình bày dự thảo Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2024-2030, đồng thời cho biết sau hội nghị, bản dự thảo sẽ được hoàn chỉnh, xin ý kiến các thành viên Chính phủ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định để ban hành chính thức.

Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh, Quốc hội đang trong Kỳ họp thứ 8 nhưng với tinh thần khẩn trương, đúng pháp luật, với sự chuẩn bị chu đáo, phối hợp với Chính phủ, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Ủy ban Dân tộc, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Thư ký Quốc hội phối hợp tổ chức công bố Nghị quyết của Quốc hội về nội dung này.

“Đây là một nét mới trong hoạt động của Quốc hội, đồng thời cũng là một diễn đàn quan trọng nhân dịp kỷ niệm ngày truyền thống vinh quang của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôn vinh sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,” Chủ tịch Quốc hội nói.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, việc ban hành Nghị quyết về nội dung quan trọng này là một quyết định đúng chủ trương, đường lối của Đảng, đúng Hiến pháp; tiếp tục thực hiện lời dặn của Bác Hồ đối với công tác dân tộc, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng rẻo cao, miền núi, biên giới và khu căn cứ cách mạng; để ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, từng bước vững chắc, để miền núi tiến kịp miền xuôi, đồng bào ngày càng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Ảnh: TTXVN

Việc Quốc hội có chủ trương cùng với Chính phủ hệ thống lại, tích hợp lại tất cả chính sách đã ban hành nhằm tập trung cho việc đầu tư phát triển, có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, phân tán, hiệu quả thấp.

Từ đổi mới cách ra Nghị quyết, Quốc hội đã chỉ rõ phạm vi, đối tượng điều chỉnh, rõ quan điểm xuyên suốt, bao trùm của Đề án là đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi là đầu tư cho phát triển bền vững, phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, tạo cơ chế, chính sách để tập trung nguồn lực, đồng thời động viên, hướng dẫn để đồng bào vươn lên, ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất và cuộc sống, không cam chịu đói nghèo.

Chủ tịch Quốc hội cho biết, sau khi rà soát lại, đã có 118 chính sách đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Tuy nhiên, những chính sách này không tập trung, nằm rải rác ở các lĩnh vực, các bộ, ngành, các chương trình, đề án…

Do đó, đây là dịp để tích hợp lại 118 chính sách để trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư phát triển bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Nghị quyết đã chỉ rõ các chỉ tiêu, những trọng tâm, trọng điểm cần ưu tiên, mục tiêu quốc gia được ban hành, tránh chồng chéo, trùng lắp, thất thoát, lãng phí và minh bạch cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện.

Chủ tịch Quốc hội hoan nghênh sự quan tâm với trách nhiệm cao của các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban Dân tộc và các bộ, ngành, các địa phương đã phối hợp chặt chẽ, chuẩn bị để Quốc hội thông qua Nghị quyết.

Tại Hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nêu rõ, Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện có trách nhiệm việc đầu tư phát triển bền vững ở cả 3 trụ cột: Phát triển kinh tế – xã hội bình đẳng, công bằng và môi trường được bảo vệ, trong đó coi trọng vai trò quyết định, giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, đồng hành cùng Chính phủ trong thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm nguyên tắc công bằng – đoàn kết – tương trợ giúp nhau để phát triển trong đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị sau kỳ họp này, Chính phủ sớm hoàn thiện, ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; tiến hành nhanh việc phân công nhiệm vụ tới các cơ quan hữu quan để đưa Nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật sớm đi vào cuộc sống, đồng thời hướng dẫn các bộ, ngành, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Quốc hội và Chương trình hành động của Chính phủ.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong tiếp xúc cử tri tuyên truyền, vận động, giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về dân tộc, công tác dân tộc trong thời kỳ mới.

Chủ tịch Quốc hội bày tỏ tin tưởng rằng, với truyền thống đoàn kết, trách nhiệm cao, sự phối hợp chặt chẽ giữa Quốc hội, Chính phủ, các cấp, các ngành, sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2024-2030.

Cập nhật thông tin chi tiết về Quyền Dân Tộc Tự Quyết Và Quyền Của Các Dân Tộc Thiểu Số Theo Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!