Xu Hướng 2/2024 # So Sánh Điều Kiện Kết Hôn Dưới Góc Nhìn Của Đạo Công Giáo Với Các Qđpl Về Hôn Nhân Và Gia Đình Việt Nam 2000 # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết So Sánh Điều Kiện Kết Hôn Dưới Góc Nhìn Của Đạo Công Giáo Với Các Qđpl Về Hôn Nhân Và Gia Đình Việt Nam 2000 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

-Là một sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà.

Luôn là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà.

-Dựa trên nguyên tắc tự nguyện, nếu vi phạm nguyên tắc này thì hôn nhân bị đoạn tiêu (không thành).

– Hôn nhân dựa trên nguyên tắc tự nguyện.

-Những trường hợp thiếu sự tự do ưng thuận kết hôn:

+ không có đủ trí khôn.

+ thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

+ vì tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

+ vô tri, không biết hôn nhân là gì.

+ lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu.

+ giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn.

+ ưng thuận với điều kiện về tương lai.

-Phải là hai người nam, nữ

– Phải là một người nam và một người nữ, đã được rửa tội theo nghi thức của Đạo Công giáo. – Hai người có tự do để kết hôn: Không bị ép buộc và không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh. -Phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn của mình.

– Cử hành theo thể thức của Hội Thánh (cử hành tại nhà thờ có sự chứng kiến của linh mục và mọi người).

– Hai bên có sự tự do để kết hôn

-Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm của pháp luật (Điều 9,10 Luật Hôn nhân và gia đình).

1)Cấm kết hôn giữa những người đang có vợ, có chồng.(K1Đ10)

+ Còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

+ Chưa đủ tuổi kết hôn

+ Bất lực, không có khả năng sinh sản.

+ Có họ máu, quan hệ họ hàng.

+ Có quan hệ thích thuộc.

+ Về công hạnh (quan hệ thích thuộc).

+ Có quan hệ về pháp tộc.

+ Kết hôn khác tôn giáo.

+ kết hôn khi có chức thánh.

+ Kết hôn khi có khấn dòng.

+ Kết hôn trong trường hợp bị bắt cóc để ép buộc kết hôn.

2)Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn (K2Đ10 Luật HNGĐ)

-Trong mọi trường hợp vi phạm các điều kiện nói trên đều dẫn đến hậu quả pháp lý là tòa án xem xét ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Không có ngoại lệ miễn chuẩn đối với các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn

Cho phép ly hôn giữa hai bên, có thể là ly hôn thuận tình hoặc ly hôn đơn phương từ một bên.

-Nếu hôn nhân thành sự thì không được ly hôn.

– Nếu hôn nhân vi phạm các điều kiện về kết hôn hoặc các ngăn trở kết hôn thì tùy thuộc từng loại ngăn trở mà các vị có thẩm quyền trong Giáo Hội Công giáo có quyền miễn chuẩn để 2 người đó tiến tới hôn phối.

-Nếu vợ chồng không thể chung sống với nhau thì cho phép ly thân.

+ Ly hôn thuận tình :Là trường hợp giải quyết ly hôn theo yêu cầu của cả hai vợ chồng, trong đó vợ chồng thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết cả ba vấn đề: quan hệ về hôn nhân, quan hệ tài sản và quan hệ nuôi con.

+ Ly hôn đơn phương từ một bên : là trường hợp giải quyết ly hôn từ một bên theo yêu cầu của vợ hoặc chồng.

.- Cho phép ly thân

-Sau khi ly hôn: hai bên chấm dứt quan hệ vợ chồng và có thể tái hôn với người thứ ba.

*Nhận xét

Từ bảng so sánh trên, ta có thể nhận thấy sự khác biệt nhất về điều kiện kết hôn giữa quy định của pháp luật HNGĐ hiện hành với quan niệm về điều kiện kết hôn của đạo Công giáo ở chỗ là: đạo Công giáo cho rằng Hôn nhân là đơn nhất và bất khả phân ly; do đó có những quy định khác nhau về các điều kiện kết hôn cũng như các ngăn trở không thể kết hôn. Giáo hội Công giáo xác định hôn nhân là một “bí tích” và vì vậy nó có tính chất thánh thiêng, việc cử hành “bí tích hôn nhân” một cách chính thức trước mặt cộng đoàn giáo dân do một linh mục cử hành khiến nó trở nên một giao ước vĩnh cửu giữa người nam và người nữ. Người Công giáo tin rằng khi được lãnh nhận bí tích hôn nhân cách chính thức, đôi nam nữ sẽ được chúc phúc yêu thương, chung thủy với nhau suốt cả cuộc đời, trong một giao ước do chính Chúa Giêsu đã lập. Do đó, loài người không thể phân ly cuộc hôn nhân do Thiên Chúa đã chúc phúc và tạo nên.

( Viện Nguyễn, sinh viên luật của Khoa Luật-ĐHQGHN)

So Sánh Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000

Cuốn sách so sánh Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 – 2014 và các văn bản pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình mới nhất được xuất bản nhằm giúp bạn đọc hiểu sâu và chi tiết hơn trong việc áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình. Sách do tác giả Luật Gia: Nguyễn Ngọc Điệp biên soạn.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2024, ngoài việc kế thừa các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và loại bỏ những quy định không còn phù hợp, thì đồng thời cũng được bổ sung một số quy định mới mà đặc biệt là quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và được bố cục lại cho phù hợp với từng nhóm quan hệ nhằm bảo đảm tính logic, hợp lý.

Nhằm giúp bạn đọc nói chung, những người làm công tác pháp luật nói riêng thuận tiện trong việc nghiên cứu và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình mới, Nhà xuất bản Thế Giới cho xuất bản cuốn sách So sánh Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 – 2014 và các văn bản pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình mới nhất sách so sánh Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 – 2014

Cuốn sách được bố cục thành hai phần:

– PHẦN THỨ NHẤT: SO SÁNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 VÀ 2014. – PHẦN THỨ HAI: CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH MỚI NHẤT.

Ngoài ra cuốn sách còn in các văn bản pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình còn hiệu lực hoặc có thể vận dụng để bạn bạn đọc tham khảo và áp dụng trong công việc.

Sách đẹp, khổ 20*28 cm, dày416 trang, Giá:350.000đ. Nộp lưu chiểu quý II/ 2024.

Vừa qua Bộ luật Dân sự mới được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24-11-2024, Bộ luật này thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2024,

Nhằm giúp bạn đọc nói chung, những người làm công tác pháp luật nói riêng thuận tiện trong việc nghiên cứu và áp dụng Bộ luật Dân sự, Nhà xuất bảnThế Giới cho xuất bản cuốn sách

“So sánh Bộ luật Dân sự 2005 – 2024 và các văn bản pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình mới nhất” do luật gia Nguyễn Ngọc Điệp biên soạn.

Với việc so sánh 687 Điều của Bộ luật Dân sự năm 2024 với Bộ luật Dân sự năm 2005 (có 777 Điều), cuốn sách sẽ giúp bạn đọc thuận tiện trong việc tra cứu, áp dụng khi cần thiết.

Ngoài ra cuốn sách còn in các văn bản pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình còn hiệu lực hoặc có thể vận dụng để bạn bạn đọc tham khảo và áp dụng trong công việc.

Cuốn sách được bố cục thành hai phần:

– PHẦN I: SO SÁNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VÀ 2024. – PHẦN II: CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ NHÀ Ở.

Sách đẹp, khổ 20*28 cm, dày 480 trang, Giá: 350.000đ. Nộp lưu chiểu quý III / 2024.

Sách được in trên dấy tốt, khổ 16×24, sách dày 1039 trang, giá phát hành là 350.000đ/ cuốn

Mọi chi tiết xin liên hệ về phòng phát hành:

757/29 Quang Trung, P 12, Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh

Website:https://sachluat.com.vn – Email: [email protected]

Thông tin chi tiết

Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000

Điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

BÀNH QUỐC TUẤN

khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Luật, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh

1. Khái quát về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Thứ nhất, điều kiện về độ tuổi. Theo khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ 2000 “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” mới được quyền kết hôn. Theo quy định này, không bắt buộc nam phải đủ từ 20 tuổi trở lên, nữ phải đủ từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn. Nam đã bước sang tuổi 20, nữ đã bước sang tuổi 18 mà kết hôn là không vi phạm quy định về độ tuổi kết hôn

Theo khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ 2000 “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” mới được quyền kết hôn. Theo quy định này, không bắt buộc nam phải đủ từ 20 tuổi trở lên, nữ phải đủ từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn. Nam đã bước sang tuổi 20, nữ đã bước sang tuổi 18 mà kết hôn là không vi phạm quy định về độ tuổi kết hôn [3] . Chẳng hạn anh Nguyễn Văn B sinh ngày 10/3/1991, đến ngày 10/3/2010 anh B tròn 19 tuổi, từ sau ngày 10/3/2010 là coi như anh B đã bước sang tuổi 20 và anh B có quyền kết hôn mà không bị coi là vi phạm về độ tuổi kết hôn. Cách tính về độ tuổi kết hôn này cũng được áp dụng đối với nữ.

Thứ hai, điều kiện về sự tự nguyện. Khoản 2 Điều 9 Luật HN&GĐ 2000 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Sự tự nguyện khi kết kết hôn là việc hai bên nam, nữ tự mình quyết định việc kết hôn. Mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi bên kia hay bất kỳ người thứ ba nào khác khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ.

Thứ ba, các trường hợp cấm kết hôn. Các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại Điều 10 Luật HN&GĐ 2000. Theo đó, pháp luật cấm kết hôn đối với những người thuộc các trường hợp sau: người đang có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực hành vi dân sự; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, đã từng là bố chồng với con dâu, đã từng là mẹ vợ với con rể, đã từng là bố dượng với con riêng của vợ, đã từng là mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính. Nam, nữ chỉ được quyền kết hôn khi họ không thuộc các trường hợp cấm kết hôn nêu trên.

Thứ tư, điều kiện về đăng ký kết hôn. Khi kết hôn, nam nữ ngoài việc tuân thủ các điều kiện về nội dung còn phải tuân thủ điều kiện về hình thức, đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

2. Những vấn đề đặt ra từ thực tế áp dụng điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ 2000

Ví dụ: Chị Nguyễn Thị N sinh ngày 03/01/1996 và anh Trần Văn M sinh ngày 04/9/1991 cùng đăng ký kết hôn vào ngày 04/01/1996. Sau khi đăng ký kết hôn, bố mẹ chị N cho chị một khoản tiền để trang trải cuộc sống vì chị N vẫn còn đang đi học, chị N mang tiền ra ngân hàng để gửi tiết kiệm, nhưng ngân hàng từ chối bởi vì chị N chưa đủ 18 tuổi và việc mở tài khoản tiền gửi của chị N phải thực hiện thông qua người giám hộ hoặc người đại diện. Việc ngân hàng từ chối chị N gửi tài khoản tiết kiệm dựa vào quy định tại Điều 2 Quyết định 1284/2002/QĐ-NHNN, theo đó “Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật: mọi thủ tục mở và sử dụng tài khoản tiền gửi phải thực hiện thông qua người giám hộ, người đại diện theo pháp luật”. Vì vậy, chị N không thể tự mình mở tài khoản để gửi tiết kiệm mà phải thực hiện thông qua người đại diện hoặc người giám hộ bởi vì chị chưa đủ 18 tuổi.

Luật HN&GĐ 2000 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định nào về việc hai bên nam, nữ kết hôn không có yếu tố nước ngoài khi đăng ký kết hôn phải chứng minh tình trạng sức khỏe của mình là không bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tuy nhiên, tại điểm c khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN&GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có quy định, trong hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và công dân nước ngoài phải kèm theo “Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh tâm thần nhưng chưa đến mức không có khả năng nhận thức được hành vi của mình”. Việc pháp luật hiện hành không quy định giấy chứng nhận về điều kiện sức khỏe đối với quan hệ hôn nhân trong nước, trong khi lại quy định đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam thiếu thống nhất, vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong đối xử giữa công dân Việt Nam và công dân nước ngoài.

3. Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn

Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần sửa đổi tuổi kết hôn theo hướng nam, nữ đều được kết hôn khi từ đủ 18 tuổi, việc quy định độ tuổi kết hôn của nam và nữ theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành tạo ra sự không đồng đều về quyền lợi của nam và nữ. Trước đây, người ta cho rằng, sự phát triển tâm sinh lý ở nữ thường sớm hơn so với nam. Tuy bằng tuổi, nhưng con gái thường dậy thì trước và nhận thức cũng già dặn hơn những bạn nam cùng tuổi. Vì vậy, tuổi kết hôn của nữ ít hơn của nam hai tuổi. Tuy nhiên, ngày nay, các bạn trẻ có điều kiện để hoàn thiện tri thức, học hỏi nâng cao nhân thức từ nhiều kênh khác nhau. Việc phát triển này tương đối đồng đều giữa nam và nữ, chứ không có sự chênh lệch rõ ràng như trước. Nam giới nếu lập gia đình ở tuổi 18, về mặt thể lực và sự phát triển tâm lý có thể gánh vác được trách nhiệm gia đình. Một lý do nữa để hạ độ tuổi kết hôn của nam xuống ngang bằng với nữ là, hiện nay, Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế, việc quy định độ tuổi kết hôn cũng cần tuân thủ trên nguyên tắc bình đẳng giới đã được quy định trong Công ước CEDAW (Công ước Xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ). Do đó, không nên có sự phân biệt điều kiện về tuổi kết hôn của nam và nữ. 

Quan điểm thứ ba cho rằng, giữ nguyên độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành. Tuy nhiên, đối với một số vùng, miền đồng bào dân tộc thiểu số nên quy định tuổi kết hôn ở vùng này là nam từ đủ 18 tuổi trở lên, nữ từ đủ 16 tuổi trở lên. Bởi lẽ, rất khó để có thể thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề kết hôn khi mà những phong tục tập quán đã ăn sâu vào tiềm thức, bên cạnh đó việc quy định độ tuổi kết hôn như hiện nay gây ra một số thiệt thòi cho người phụ nữ ở đây. Nếu sinh con khi hai người tảo hôn thì con cái họ sẽ không được đăng ký giấy khai sinh, không được đến trường, trẻ sẽ đi học chậm so với các bạn cùng năm sinh. Cho nên pháp luật hôn nhân và gia đình nên có những thay đổi để phù hợp với phong tục tập quán.

Theo chúng tôi, không nên hạ độ tuổi kết hôn của nam và nữ xuống thấp hơn độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ 2000 để phù hợp với thực tiễn ở nhiều địa phương, nam nữ không đủ tuổi theo quy định nhưng vẫn kết hôn vì phong tục tập quán. Bởi nếu hạ độ tuổi kết hôn thì cũng đồng nghĩa với việc pháp luật đang chạy theo thực tiễn. Pháp luật xuất phát từ thực tế điều chỉnh những quan hệ xã hội tồn tại, nhưng không có nghĩa là pháp luật chạy theo thực tế, pháp luật cần đưa những cái thuộc về thực tế  đó vào một quỹ đạo tốt nhất của nó. Nếu chỉ vì nguyên nhân trên mà hạ độ tuổi xuống, vô hình trung, chúng ta đang thừa nhận, pháp luật đang chịu thua sự vi phạm tồn tại trong suốt thời gian qua, vì không thể ngăn chặn, xóa bỏ được những phong tục, tập quán không phù hợp nên chấp nhận nó và nâng lên làm pháp luật. Ví dụ như sau khi hạ độ tuổi như kiến nghị trên, các vùng nông thôn, vùng núi lại cho con họ kết hôn sớm hơn nữa và rồi lại với cái lý do nhiều vùng kết hôn nên tiếp tục hạ độ tuổi, như vậy khác nào đang cổ vũ cho nạn “tảo hôn”, một trong những tập tục bị lên án và cấm đoán trong pháp luật cũng như xã hội Việt Nam ngày nay.

 Xuất phát từ thực tiễn thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình, khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể sau khi kết hôn, đặc điểm về tâm sinh lý cũng như điều kiện kinh tế – xã hội ở Việt Nam hiện nay, theo chúng tôi, nên sửa đổi độ tuổi kết hôn quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ 2000, theo đó nam phải đủ từ 20 tuổi trở lên và nữ phải đủ từ 18 tuổi trở lên mới được quyền kết hôn. Việc quy định độ tuổi kết hôn như trên dựa vào những căn cứ sau:

Thứ nhất, sự phát triển về sinh lý ở nam và nữ. Hôn nhân có chức năng rất quan trong việc duy trì nòi giống, chức năng này chỉ có thể được thực hiện khi nam và nữ đạt đến một độ tuổi nhất định, mặc dù ở độ tuổi 13 đối với nữ đã có thể sinh con, nhưng vào thời điểm này, thể chất chưa phát triển một cách hoàn thiện, nếu sinh con ảnh hưởng đến sức khỏe của chính người mẹ và đứa con. Rất nhiều nghiên cứu về sức khỏe sinh sản đã đưa ra những kết luận, nam trước 20 tuổi và nữ trước 18 tuổi không nên có quan hệ tình dục vì chưa thể hoàn thiện về thể chất. Một thống kê khác cho biết, nữ giới quan hệ tình dục trước 18 tuổi có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn gấp 3 lần những người quan hệ sau tuổi này

sự phát triển về sinh lý ở nam và nữ. Hôn nhân có chức năng rất quan trong việc duy trì nòi giống, chức năng này chỉ có thể được thực hiện khi nam và nữ đạt đến một độ tuổi nhất định, mặc dù ở độ tuổi 13 đối với nữ đã có thể sinh con, nhưng vào thời điểm này, thể chất chưa phát triển một cách hoàn thiện, nếu sinh con ảnh hưởng đến sức khỏe của chính người mẹ và đứa con. Rất nhiều nghiên cứu về sức khỏe sinh sản đã đưa ra những kết luận, nam trước 20 tuổi và nữ trước 18 tuổi không nên có quan hệ tình dục vì chưa thể hoàn thiện về thể chất. Một thống kê khác cho biết, nữ giới quan hệ tình dục trước 18 tuổi có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn gấp 3 lần những người quan hệ sau tuổi này [4] … Sự phát triển về thể chất, sinh lý ở độ tuổi 18 trở lên đối với nữ và 20 trở lên đối với nam về cơ bản đã hoàn thành, do đó nếu kết hôn từ độ tuổi này sẽ đảm bảo tốt nhất cho sức khỏe sinh sản cho cả bà mẹ và trẻ em.

Thứ hai, sự phát triển về tâm lý ở nam và nữ. Thanh niên nam, nữ ở độ tuổi 16, 17 còn chưa tốt nghiệp chương trình giáo dục phổ thông, là độ tuổi có thể nói là bồng bột và nhạy cảm nhất của giới trẻ. Do đó, việc kết hôn rất dễ chỉ là những mong muốn nhất thời, cảm tính, hay do bất mãn với gia đình, hay muốn chạy theo trào lưu. Sự thiếu cân nhắc kỹ càng như vậy sẽ khiến cho những cuộc hôn nhân khó tồn tại lâu dài. Vì vậy, việc quy định độ tuổi kết hôn ở con số 18 và 20 là muốn nam nữ hoàn thiện hơn về mặt nhận thức, có những suy nghĩ chín chắn, có trách nhiệm với bản thân cũng như cuộc hôn nhân của chính mình, không phụ thuộc vào người khác, có thể tự lo được cuộc sống sau khi kết hôn.

3.2. Hoàn thiện quy định của pháp luật về các trường hợp cấm kết hôn

Vì vây, theo chúng tôi, Luật HN&GĐ 2000 cần sửa đổi theo hướng quy định việc kết hôn của nam, nữ phải có giấy chứng nhận khám sức khỏe trước khi kết hôn. Giấy chứng nhận khám sức khỏe này sẽ thể hiện được là các bên nam, nữ mắc bệnh gì dẫn đến không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình hay không. Trên cơ sở giấy chứng nhận sức khỏe và kiểm tra các điều kiện kết hôn khác, nếu nam, nữ đáp ứng đủ thì cơ quan có thẩm quyền mới tiến hành đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Quy định về giấy chứng nhận sức khỏe của các bên nam, nữ khi kết hôn còn góp phần tạo sự thống nhất đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo sự bình đẳng đối với việc kết hôn trong nước và kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Luật HN&GĐ 2000 cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Tuy nhiên hiện nay, ngày càng nhiều người cùng giới tổ chức đám cưới và chung sống với nhau nên Nhà nước cần xem xét lại có nên thừa nhận hôn nhân đồng giới hay không. Xung quanh vấn đề này còn rất nhiều quan điểm khác nhau.

Có người cho rằng, người đồng tính cũng có quyền sống, quyền ăn, ở, mặc, quyền được yêu thương và mưu cầu hạnh phúc. Đứng ở góc độ quyền công dân, họ được lao động, học tập, khám bệnh, chữa bệnh, khai sinh, khai tử, kết hôn…. có quyền và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội. Vì vậy, nên cho phép kết hôn đồng tính vì nó là quyền được sống thực với gì mình có.

Quan điểm thứ hai cho rằng, quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính là không phù hợp với chức năng xã hội của hôn nhân cũng như với quan niệm truyền thống về hôn nhân và gia đình ở nước ta. Do đó, cần tiếp tục duy trì quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính như quy định Luật hiện hành, không can thiệp vào việc sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, không quy định về quyền và nghĩa vụ giữa các bên cùng giới tính trong quan hệ chung sống như vợ chồng để đảm bảo sự phù hợp về tâm, sinh lý của các cặp vợ chồng và phong tục, tập quán của người Việt Nam.

Quan điểm thứ ba cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta chưa nên thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính, nhưng trong Luật HN&GĐ 2000 cần phải có các quy định để một mặt góp phần ngăn ngừa thái độ kỳ thị đối với những người cùng giới tính, mặt khác, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các quan hệ về tài sản và con (nếu có) trong trường hợp họ sống chung với nhau như vợ chồng.

Theo chúng tôi, không nên thừa nhận hôn nhân đồng tính bởi việc thừa nhận hôn nhân đồng tính có thể dẫn đến một số hệ lụy xã hội. Một là, sẽ khó ngăn chặn được hiện tượng những người bình thường về giới tính lợi dụng để có quan hệ đồng tính vì mục đích xấu do y học không dễ dàng phân biệt được các trường hợp này. Hai là, nếu thừa nhận hai người cùng giới tính là vợ, chồng thì họ có quyền được nhận nuôi con nuôi và đứa trẻ sẽ lớn lên trong một gia đình như vậy khó tránh khỏi bị định hướng sai lệch về giới tính, về chức năng của từng loại giới tính. Ba là, việc thừa nhận hôn nhân đồng tính sẽ đi ngược lại truyền thống gia đình Việt Nam, do đó sẽ rất khó được xã hội chấp nhận. Tuy nhiên, có thể nhận thấy vấn đề xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ, trong đó các quyền con người được bảo đảm và thực thi thông qua cơ chế pháp luật hiệu quả là mục tiêu chung của toàn thể nhân loại. Người đồng tính với những đặc điểm riêng về sự hấp dẫn tình dục, quan hệ tình cảm, là đối tượng thường xuyên chịu những tác động tiêu cực từ những phân biệt đối xử, định kiến và kỳ thị dựa trên xu hướng tình dục đặc biệt của mình trong khi đó pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào để bảo vệ quyền lợi của họ. Do đó, pháp luật Việt Nam trong thời gian tới tuy không thừa nhận hôn nhân đồng tính nhưng cũng nên có quy định để bảo vệ quyền lợi của nhóm người này, đặc biệt là quyền mưu cầu hạnh phúc. Cụ thể Luật HN&GĐ 2000 cần sửa đổi theo hướng bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, thay vào đó là việc ghi nhận sự “không thừa nhận” đối với hôn nhân này. Bản chất pháp lý của cấm hôn nhân đồng tính và không thừa nhận hôn nhân đồng tính là như nhau bởi cả hai quy định này đều thể hiện quan điểm là không thừa nhận kết hôn giữa những người cùng giới tính. Tuy nhiên, việc thay từ “cấm” bằng từ “không thừa nhận” đã góp phần thể hiện một cách nhìn khác của xã hội đối với việc sống chung như vợ chồng của những người cùng giới và giải quyết các quan hệ về tài sản phát sinh trong việc sống chung giữa họ. Theo đó, tuy không thừa nhận hôn nhân đồng giới nhưng vẫn thừa nhận quan hệ sống chung như vợ chồng của họ. Nếu quá trình sống chung có phát sinh tranh chấp về tài sản thì Tòa án sẽ giải quyết theo hướng áp dụng các quy định về việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn để giải quyết tranh chấp phát sinh

[1] Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học (1999), Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.[2] Những quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình, Nxb Phụ nữ, 2001, tr.10.[3] Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[4] http://tudu.com.vn/vn/y-hoc-thuong-thuc/suc-khoe-phu-nu/benh-phu-khoa/ung-thu-co-tu-cung-can-benh-nguy-hiem-nhung-co-the-phong-ngua/

Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014

Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Luận Văn Về Điều Kiện Kết Hôn Trong Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Tiểu Luận Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Dự Thảo Luật Quy Định Bãi Bỏ Quy Định Về Điều Kiện Đăng Ký Thường Trú ở Thủ Đô, Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Văn Bản Hướng Dẫn Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Theo Qui Định Của Pháp Luật, Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Nhận Định Nào Sau Đây Chưa Chính Xác Về Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Sự Ph, Định Luật HacĐi Vanbec Không Cần Có Điều Kiện Nào Sau Đây Để Nghiệm Đúng, Điều Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều 85 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 92 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 2 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều 95 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 8 Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều 9 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Quyết Định Số 51/2014/qĐ-ubnd Ngày 31 Tháng 12 Năm 2014 Của ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, 4 Định Luật Bảo Toàn Trong Phản ứng Hạt Nhân, Khoản 2 Điều 02 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình Năm 2000, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Ngh, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, “phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp”, Phân Tích Các Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, Định Luật Nào Sau Đây Không áp Dụng Được Trong Phản ứng Hạt Nhân, Điều Khoản Và Điều Kiện Chung Dhl Ecommerce – Dịch Vụ Giao Nhận, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Điều 60 Luật Bhxh Năm 2014, Điều 77 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Điều 60 Của Luật Bảo Hiểm Năm 2014, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Năm 2014, Điều 60 Luật Bảo Hiểm 2014, Điều 34 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội Năm 2014, Điều 50 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Khoản 2 Điều 34 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Điều 44 Luật Doanh Nghiệp 2014, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014 Download, Với ánh Sáng Kích Thích Thỏa Điều Kiện Định Luật Quang Điện Thứ Nhất Ta Thấy Dòng Quang Điện, Với ánh Sáng Kích Thích Thỏa Điều Kiện Định Luật Quang Điện Thứ Nhất Ta Thấy Dòng Quang Điện Chỉ Tri, Điều 131 Dự Kiến Sửa Đổi Bộ Luật Dân Sự, Điều Lệ Mẫu Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Điều Lệ Công Ty Luật Doanh Nghiệp 2014, Những Điều Mới Của Luật Doanh Nghiệp 2014, Sửa Điều Lệ Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Sửa Đổi Điều Lệ Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Nguồn Gốc Và Điều Kiện Thành Tạo Của Corindon Trong Đá Gneis Mỏ, Điều Kiện Kết Nạp Đảng Viên Mới Trong QĐ 57- Tw Ngày 03/05/2007, Điều Khiển Thiết Bị Bằng Tin Nhắn Với ( Sim900 Và Arduino ) ứng Dụng Trong Trồng Hoa, Điều Lệ Công Ty Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Bài Thu Hoạch Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Trong Điều Kiện Hội , Nguyên Tắc Suy Đoán Vô Tội Trong Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Và Điều Kiện Bảo , Tính Nhân Văn Và Bản Địa Trong Kiến Trúc, Điều Kiện Nhận Học Bổng, Các Điều Kiện Bảo Hộ Đối Với Nhãn Hiệu, Đơn Xin Chứng Nhận Đủ Điều Kiện Kết Hôn, Thủ Tục Chứng Nhận Đủ Điều Kiện Kết Hôn, Điều Lệ Công Ty Cổ Phần Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Nội Dung Luật Công An Nhân Dân Sửa Đổi 2014, Nội Dung Luật Công An Nhân Dân Sửa Đổi Năm 2014, Điều 9 Nghị Định Số 79/2014/nĐ-cp, Điều 9 Nghị Định 47/2014/nĐ-cp, Điều 9 Nghị Định 63/2014/nĐ-cp, Điều 6 Nghị Định 47/2014/nĐ-cp, Điều 3 Nghị Định Số 45/2014/nĐ-cp, Điều 6 Nghị Định 31/2014/nĐ-cp, Điều 6 Nghị Định Số 31/2014/nĐ-cp, Điều 2 Nghị Định 63/2014/nĐ-cp, Điều 5 Nghị Định 45/2014/nĐ-cp, Điều 5 Nghị Định 65/2014/nĐ-cp, Điều 5 Nghị Định Số 65/2014/nĐ-cp, Điều 8 Nghị Định Số 03/2014/nĐ-cp, Điều 4 Nghị Định Số 65/2014/nĐ-cp, Điều 7 Nghị Định 45/2014/nĐ-cp, Điều 4 Nghị Định 65/2014/nĐ-cp, Điều 2 Nghị Định Số 03/2014/nĐ-cp, Điều 7 Nghị Định 79/2014, Điều 7 Nghị Định 79/2014/nĐ-cp, Điều 7 Nghị Định Số 79/2014/nĐ-cp, Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Quân Nhân Trong Quân Đội, Biên Bản Xác Nhận Đủ Điều Kiện Về Pccc, Bộ Luật Phát Triển Nhất Trong Thời Kỳ Phong Kiến, Khoản 6 Điều 27 Nghị Định 96/2014/nĐ-cp, Công Nhận Các Cơ Sở Đủ Điều Kiện Đào Tạo Liên Tục Ngành Y Tế, Câu Điều Kiện Trong Tiếng Anắc Ngiệm Chương Trình Phổ Thông Tổng Thể Cấp Tiểuhocj, Luận Văn Điều Kiện Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Và Hàm Lượng Histamin Trong Cá Nục Tại Các Cơ Sở Kinh D, Luận Văn Điều Kiện Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Và Hàm Lượng Histamin Trong Cá Nục Tại Các Cơ Sở Kinh D, Nguyên Nhân Điều Kiện Xảy Ra Cách Mạng Màu Việt Nam, Giấy Xác Nhận Của Ubnd Về Điều Kiện Diện Tích, Định Luật Nào Trong 3 Định Luật Newton Đề Cập Tới Sự Tương Tác Giữa Các Vật, Điều Luật Trong Bộ Luật Hình Sự, Khảo Sát ý Kiến Nhân Viên Về Mức Độ Cạnh Tranh Trong Ngân Hàng, Văn Bản Đề Nghị Cấp Giấy Chứng Nhận Đủ Điều Kiện Về An Ninh Trật Tự, Bộ Luật Nào Trong Thời Kỳ Phong Kiến Nước Ta Được Cho Rằng Phát Triển Nhất,

Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Luận Văn Về Điều Kiện Kết Hôn Trong Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Tiểu Luận Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Dự Thảo Luật Quy Định Bãi Bỏ Quy Định Về Điều Kiện Đăng Ký Thường Trú ở Thủ Đô, Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Văn Bản Hướng Dẫn Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Theo Qui Định Của Pháp Luật, Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Nhận Định Nào Sau Đây Chưa Chính Xác Về Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Sự Ph, Định Luật HacĐi Vanbec Không Cần Có Điều Kiện Nào Sau Đây Để Nghiệm Đúng, Điều Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều 85 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 92 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 2 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều 95 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 8 Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều 9 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Quyết Định Số 51/2014/qĐ-ubnd Ngày 31 Tháng 12 Năm 2014 Của ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, 4 Định Luật Bảo Toàn Trong Phản ứng Hạt Nhân, Khoản 2 Điều 02 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình Năm 2000, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Ngh, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, “phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp”, Phân Tích Các Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, Định Luật Nào Sau Đây Không áp Dụng Được Trong Phản ứng Hạt Nhân, Điều Khoản Và Điều Kiện Chung Dhl Ecommerce – Dịch Vụ Giao Nhận, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Điều 60 Luật Bhxh Năm 2014, Điều 77 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Điều 60 Của Luật Bảo Hiểm Năm 2014, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Năm 2014, Điều 60 Luật Bảo Hiểm 2014, Điều 34 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội Năm 2014, Điều 50 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Khoản 2 Điều 34 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014, Điều 44 Luật Doanh Nghiệp 2014, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2014 Download, Với ánh Sáng Kích Thích Thỏa Điều Kiện Định Luật Quang Điện Thứ Nhất Ta Thấy Dòng Quang Điện, Với ánh Sáng Kích Thích Thỏa Điều Kiện Định Luật Quang Điện Thứ Nhất Ta Thấy Dòng Quang Điện Chỉ Tri, Điều 131 Dự Kiến Sửa Đổi Bộ Luật Dân Sự, Điều Lệ Mẫu Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Điều Lệ Công Ty Luật Doanh Nghiệp 2014, Những Điều Mới Của Luật Doanh Nghiệp 2014,

Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2000

NGÀY 09/06/2000 CỦA QUỐC HỘI SỐ 22/2000/QH10 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

LỜI NÓI ĐẦU

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.Để đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xoá bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình;Để nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam;Kế thừa và phát triển pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam;Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

Điều 1. Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình

Luật hôn nhân và gia đình có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

Luật hôn nhân và gia đình quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.

4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

5. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú.

6. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Điều 3. Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình

1. Nhà nước có chính sách, biện pháp tạo điều kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và gia đình thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hoá; thực hiện tư vấn về hôn nhân và gia đình; kịp thời hoà giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình.

3. Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình cho thế hệ trẻ.

Điều 4. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.

Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Cấm ngượ đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Điều 5. Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự

Điều 6. Áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy.

Điều 7. Áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

2. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn;

3. Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định;

4. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật;

5. Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ;

6. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn;

7. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân;

8. Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;

9. Cưỡng ép ly hôn là hành vi buộc người khác phải ly hôn trái với nguyện vọng của họ;

10. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này;

11. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này;

12. Những người cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu nội và cháu ngoại;

13. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba;

14. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:

a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;

b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;

Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;

2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;

3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này.

Điều 10. Những trường hợp cấm kết hôn

Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1. Người đang có vợ hoặc có chồng;

2. Người mất năng lực hành vi dân sự;

3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

5. Giữa những người cùng giới tính.

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này.

Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý.

Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.

2. Chính phủ quy định việc đăng ký kết hôn ở vùng sâu, vùng xa.

Điều 12. Thẩm quyền đăng ký kết hôn

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn.

Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài.

Điều 13. Giải quyết việc đăng ký kết hôn

1. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật về hộ tịch, cơ quan đăng ký kết hôn kiểm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn tổ chức đăng ký kết hôn.

2. Trong trường hợp một bên hoặc cả hai bên không đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản; nếu người bị từ chối không đồng ý thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Tổ chức đăng ký kết hôn

Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn. Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên.

Điều 15. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này.

2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này:

a) Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn;

b) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

c) Hội liên hiệp phụ nữ.

4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

Điều 16. Hủy việc kết hôn trái pháp luật

Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 15 của Luật này, Toà án xem xét và quyết định việc hủy kết hôn trái pháp luật và gửi bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. Căn cứ vào quyết định của Toà án, cơ quan đăng ký kết hôn xoá đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn.

Điều 17. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.

3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

Điều 18. Tình nghĩa vợ chồng

Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

Điều 19. Bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng

Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

Điều 20. Lựa chọn nơi cư trú của vợ, chồng

Nơi cư trú của vợ, chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.

Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng

1. Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.

2. Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.

Điều 22. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng

Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Điều 23. Giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt

Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người.

Điều 24. Đại diện cho nhau giữa vợ, chồng

1. Vợ chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản.

2. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Toà án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó.

Điều 25. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện

Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.

Điều 26. Quan hệ hôn nhân khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về

Khi Toà án ra quyết định huỷ bỏ tuyên bố một người là đã chết theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật dân sự mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục; trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

Điều 28. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Điều 29. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.

Điều 30. Hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng

Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

Điều 31. Quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng

1. Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thoả thuận cử người khác quản lý di sản.

3. Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế.

Điều 32. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.

Điều 33. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

2. Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không uỷ quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng.

5. Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng.

Điều 34. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 35. Nghĩa vụ và quyền của con

Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.

Điều 36. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Điều 37. Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.

2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con.

3. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con.

Điều 38. Nghĩa vụ và quyền của bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng

1. Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 34, 36 và 37 của Luật này.

2. Con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 35 và Điều 36 của Luật này.

3. Bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng không được ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau.

Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.

Điều 40. Bồi thường thiệt hại do con gây ra

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định tại Điều 611 của Bộ luật dân sự.

Điều 41. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng trường hợp cụ thể Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Toà án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Điều 42. Người có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ, người thân thích của con chưa thành niên theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:

a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Điều 43. Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

1. Trong trường hợp một trong hai người là cha hoặc mẹ bị Toà án hạn chế một số quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

2. Trong trường hợp cha mẹ đều bị Toà án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này.

3. Cha, mẹ đã bị Toà án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Điều 44. Quyền có tài sản riêng của con

1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác.

2. Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên còn sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Điều 45. Quản lý tài sản riêng của con

1. Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

2. Tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự thì do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể uỷ quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con.

3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 46. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên

1. Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.

2. Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ.

Điều 47. Nghĩa vụ và quyền của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 48 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

2. Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại.

Điều 48. Nghĩa vụ và quyền của anh, chị, em

Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Điều 49. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình

1. Các thành viên cùng sống chung trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mình.

Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.

Điều 50. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Luật này.

Điều 51. Một người cấp dưỡng cho nhiều người

Trong trường hợp một người cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và những người được cấp dưỡng thoả thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 52. Nhiều người cùng cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người

Trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người thì những người này thỏa thuận với nhau về phương thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 54. Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thoả thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 55. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Điều 56. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn

Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 57. Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ

Con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 58. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em

1. Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 59. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 58 của Luật này.

2. Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 60. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Điều 61. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động;

2. Người được cấp dưỡng có thu nhập hoặc tài sản để tự nuôi mình;

3. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

4. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;

5. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;

6. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn với người khác;

7. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 62. Khuyến khích việc trợ giúp của tổ chức, cá nhân

Nhà nước và xã hội khuyến khích các tổ chức, cá nhân trợ giúp bằng tiền hoặc tài sản khác cho các gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, túng thiếu.

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác định.

Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định.

Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Toà án xác định người đó là con mình.

Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Toà án xác định người đó không phải là con mình.

Điều 65. Quyền nhận cha, mẹ

1. Con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

2. Con đã thành niên xin nhận cha, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của mẹ; xin nhận mẹ, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha.

Điều 66. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mấtnăng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự

1. Mẹ, cha hoặc người giám hộ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.

2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.

3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự:

a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.

1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.

Một người có thể nhận một hoặc nhiều người làm con nuôi.

Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật này.

2. Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn tật làm con nuôi.

3. Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác.

Điều 68. Người được nhận làm con nuôi

1. Người được nhận làm con nuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở xuống.

Người trên mười lăm tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn.

2. Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng.

Điều 69. Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi

Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

2. Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên;

3. Có tư cách đạo đức tốt;

4. Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

5. Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 70. Vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi

Trong trường hợp vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì vợ chồng đều phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều 69 của Luật này.

Điều 71. Sự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ và người được nhận làm con nuôi

1. Việc nhận người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ đẻ của người đó; nếu cha mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được cha, mẹ thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ.

2. Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

Điều 72. Đăng ký việc nuôi con nuôi

Việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào Sổ hộ tịch.

Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, giao nhận con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Điều 73. Từ chối việc đăng ký nuôi con nuôi

Trong trường hợp một bên hoặc các bên không có đủ các điều kiện nhận nuôi con nuôi hoặc làm con nuôi thì cơ quan đăng ký việc nuôi con nuôi từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản; nếu cha mẹ đẻ, người giám hộ và người nhận nuôi con nuôi không đồng ý thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

Điều 74. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định tại Luật này, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi.

Con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng được người khác nhận làm con nuôi vẫn được tiếp tục hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng.

Điều 75. Thay đổi họ, tên; xác định dân tộc của con nuôi

1. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ chín tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Việc xác định dân tộc của con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật dân sự.

Điều 76. Chấm dứt việc nuôi con nuôi

Theo yêu cầu của những người quy định tại Điều 77 của Luật này, Toà án có thể quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp sau đây:

1. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi;

2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;

3. Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 của Luật này.

Điều 77. Người có quyền yêu cầu Toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi

1. Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ đẻ, người giám hộ của con nuôi, cha, mẹ nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại Điều 76 của Luật này.

2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật này.

3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật này:

a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật này.

Điều 78. Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt nuôi con nuôi

1. Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt; nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng.

2. Trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Khi việc nuôi con nuôi chấm dứt, theo yêu cầu của cha mẹ đẻ hoặc của người đã làm con nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.

Điều 79.Áp dụng pháp luật về giám hộ trong quan hệ gia đình

Khi trong gia đình có người cần được giám hộ thì việc giám hộ được thực hiện theo các quy định về giám hộ của Bộ luật dân sự và Luật này.

Điều 80. Cha mẹ giám hộ cho con

Trong trường hợp cha mẹ cùng giám hộ cho con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì họ đều phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ. Cha, mẹ thoả thuận với nhau về việc đại diện theo pháp luật cho con trong các giao dịch dân sự vì lợi ích của con.

Điều 81. Cha mẹ cử người giám hộ cho con

Trong trường hợp cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì cha mẹ có thể cử người khác giám hộ cho con; cha mẹ và người giám hộ thoả thuận về việc người giám hộ thực hiện một phần hoặc toàn bộ việc giám hộ.

Điều 82. Con riêng giám hộ cho bố dượng, mẹ kế

Trong trường hợp bố dượng, mẹ kế không có người giám hộ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật dân sự thì con riêng đang sống chung với bố dượng, mẹ kế làm người giám hộ, nếu có đủ điều kiện làm người giám hộ.

Điều 83. Giám hộ giữa anh, chị, em

1. Trong trường hợp anh, chị, em ruột cần được giám hộ thì anh, chị, em đã thành niên có năng lực hành vi dân sự thoả thuận cử một người trong số họ có đủ điều kiện làm người giám hộ.

Điều 84. Giám hộ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Trong trường hợp cháu cần được giám hộ mà ông bà nội, ông bà ngoại có đủ điều kiện làm người giám hộ thì những người này thoả thuận cử một bên làm người giám hộ.

2. Cháu có đủ điều kiện làm người giám hộ thì phải giám hộ cho ông bà nội, ông bà ngoại, nếu ông bà không có con phụng dưỡng.

Điều 85. Quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn.

2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

Điều 86. Khuyến khích hoà giải ở cơ sở

Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hoà giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hoà giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hoà giải ở cơ sở.

Điều 87. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

Toà án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật này.

Điều 88. Hoà giải tại Toà án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

Điều 90. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Điều 91. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án xem xét, giải quyết việc ly hôn.

Điều 92. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

Điều 93. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.

Điều 94. Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 95. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 96. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn

1. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.

Điều 97. Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thoả thuận của hai bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định tại Điều 95 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này;

d) Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.

3. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 96 của Luật này.

Điều 98. Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.

Điều 99. Giải quyết quyền lợi của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

Điều 100. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

3. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế.

4. Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.

Điều 101. Áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có quy định hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc quy định trong Luật này.

Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Điều 102. Thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân ViệtNam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do Chính phủ quy định.

3. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài, xem xét việc công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

2. Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để buôn bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác.

Điều 104. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

4. Bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài được công nhận tại ViệtNam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 105. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1. Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc nhận trẻ em nước ngoài thường trú tại Việt Nam làm con nuôi phải tuân theo quy định của Luật này và quy định trong pháp luật của nước mà người đó là công dân về điều kiện nhận nuôi con nuôi.

Việc công dân Việt Nam nhận trẻ em là người nước ngoài làm con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam.

Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác.

2. Trong trường hợp việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của con nuôi.

Điều 106. Giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam, việc giám hộ được đăng ký tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác cuả pháp luật Việt Nam.

2. Trong trường hợp việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa người giám hộ và người được giám hộ được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của người giám hộ.

Điều 107. Xử lý vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Người nào vi phạm các điều kiện kết hôn; cản trở việc kết hôn đúng pháp luật; giả mạo giấy tờ để đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi; hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 108. Xử lý vi phạm pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn để đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi, xác định cha, mẹ, con trái pháp luật; vi phạm thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi; không thực hiện yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình hoặc có các hành vi khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 109. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001.

Luật này thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.

Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày 02 tháng 12 năm 1993 hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001.

Điều 110. Hướng dẫn thi hành

Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000.

Sự Khác Biệt Trong Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014 Với Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2000

Tiêu chí Luật hôn nhân và gia đình 2000 Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều kiện kết hôn – Tuổi kết hôn: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên

– Những trường hợp cấm kết hôn: Có quy định cấm kết hôn đồng giới tính

– Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

– Bỏ quy định cấm kết hôn đồng giới tính và nhà nước không thừa nhận hôn nhân của những người cùng giới tính

Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật Bỏ quy định đề nghị Viện Kiểm sát mà cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật

Xử lí việc kết hôn trái pháp luật Theo Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì chia làm 3 trường hợp:

– Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà một bên hoặc cả hai bên vẫn chưa đến tuổi kết hôn thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. – Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên tuy đã đến tuổi kết hôn, nhưng cuộc sống của họ trong thời gian đã qua không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. – Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.

Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 11 như sau: Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Như vậy, nếu cả 2 bên đủ điều kiện kết hôn nhưng không có yêu cầu Tòa án công nhận thì Tòa án sẽ không công nhận.

Về đại diện giữa vợ và chồng Quy định một cách chung  chung và không quy định trường hợp một bên bị mất năng lực hành vi dân sự thì khi bên còn lại yêu cầu ly hôn thì ai sẽ là người đại diện.    Quy định cụ thể rõ ràng và bổ sung quy định: Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

Quy định này sẽ tháo gỡ nhiều vướng mắc về vấn đề ly hôn với người bị mất năng lực hành vi dân sự, bởi lẽ pháp luật trước đây quy định đối với ly hôn thì không được đại diện.

Chế độ tài sản chung của vợ và chồng – Có 7 điều quy định về tài sản vợ chồng (từ Điều 27 đến Điều 33) 

 – Tài sản chung của vợ chồng sở hữu chung hợp nhất. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng, có quyền được chia tài sản chung để đầu tư kinh doanh hoặc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, được quyền thừa kế tài sản của nhau.

– Việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân: Phải được lập thành văn bản.- Không quy định ngày có hiệu lực của văn bản thỏa thuận phân chia tài sản

– Hậu quả việc chia tài sản: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người

– Chia tài sản bị vô hiệu khi: Trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản, nuôi dưỡng cấp dưỡng

-Thỏa thuận tài sản trước hôn nhân: Không quy định

– Có 23 điều quy định về tài sản vợ chồng (Từ Điều 28 đến Điều 50), trong đó nhiều điều khoản mới quy định cụ thể về tài sản chung, riêng, việc sử dụng tài sản vợ chồng…- Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.

– Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.- Quy định cụ thể ngày có hiệu lực của văn bản thỏa thuận phân chia tài sản

– Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Thỏa thuận của vợ chồng không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

– Mở rộng các trường hợp vô hiệu, bên cạnh việc nhằm trốn tránh tài sản thì Luật cũng quy định việc phân chia tài sản bị vô hiệu khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

– Thỏa thuận tài sản phải được lập trước khi kết hôn, phải có công chứng hoặc chứng thực

Quyền ly hôn – Vợ hoặc chồng hoặc cả 2 vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn

– Trường hợp người chồng không được yêu cầu ly hôn: Vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi

   Nguyên tắc chia tài sản- Do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

– Tài sản chung  của vợ chồng về nguyên tắc là chia đôi nhưng có tính đến công sức và hoàn cảnh của mỗi bên

 – Đối với nhà ở thuộc sở hữu riêng nhưng đưa vào sử dụng chung: Khi ly hôn thì bên sở hữu nhà phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị căn nhà căn cứ vào công sức sửa chữa, nâng cấp…

– Luật mới bên cạnh đảm bảo quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng thì đã mở rộng đối tượng được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn,cụ thể: Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.Quy định mới này sẽ khắc phục được tình trạng một bên vợ chồng mất năng lực hành vi dân sự nhưng theo luật cũ thì không thể yêu cầu ly hôn

– Luật mới ngoài 2 trường hợp đã được quy định trong luật cũ thì bổ sung trường hợp người vợ sinh con thì chồng cũng không có quyền yêu cầu ly hôn

Chia làm 2 trường hợp:- Trường hợp thứ nhất giống luật Hôn nhân gia đình năm 2000

– Trường hợp thứ hai: Nếu vợ chồng có thỏa thuận tài sản trước hôn nhân thì thực hiện theo thỏa thuận đó.

– Luật mới vẫn giữ quan điểm nay, tuy nhiên có bổ sung thêm căn cứ vào lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

– Khi ly hôn mà vợ, chồng có khó khăn về chổ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Chấm dứt hôn nhân khi vợ hoặc chồng chết Chỉ quy định tại Điều 26 trong trường hợp một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về mà vợ hoặc chồng chưa kết hôn với người khác thì hôn nhân đương nhiên được khôi phục, trường hợp đã kết hôn thì hôn nhân sau có giá trị.Luật không quy định về chế định chia tài sản, nhân thân

– Luật mới bổ sung thêm quy định về chấm dứt hôn nhân khi một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.- Bên cạnh việc quy định khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về như luật cũ thì luật mới bổ sung trường hợp người vợ hoặc chồng đã ly hôn thì quyết định cho ly hôn vẫn có giá trị. Điều này đồng nghĩa là 2 người muốn là vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn trở lại.

– Luật bổ sung thêm quy định về xử lý tài sản trong thời gian tuyên bố đã chết đến lúc hủy tuyên bố đã chết là tài sản riêng của bên còn sống

Quan hệ cha mẹ và con – Về quyền và nghĩa vụ của con:Luật cũ chủ yếu quy định về nghĩa vụ chỉ đề cập đến quyền chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ

– Về định đoạt tài sản riêng của conLuật cũ quy định con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn  hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ.

– Luật mới quy định nhiều quyền hơn, cụ thể như quyền được cha mẹ thương yêu tôn trọng, được học tập, phát triển lành mạnh, lựa chọn nghề nghiệp…

– Luật mới quy định cụ thể, rõ ràng hơn và bổ  sung trường hợp có người giám hộ thì phải có sự đồng ý của họ bằng văn bản, cụ thể: Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người  giám hộ.

Việc chăm sóc nuôi dưỡng con sau khi ly hôn   Luật cũ quy định trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được người nuôi con mà yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con là ở với ba hay với mẹ

Luật cũ quy định nguyên tắc: Con dưới 3 tuổi thì giao cho mẹ trực tiếp nuôi nếu các bên không có thỏa thuận khác

   Thay đổi người trực tiếp nuôi con:Luật cũ quy định chỉ vợ, chồng mới co quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con

  Luật mới giảm độ tuổi của con được xem xét nguyện vọng ở với cha hay với mẹ từ 9 tuổi xuống còn 7 tuổi

Luật mới vẫn giữ quy định này nhưng quy định 3 tuổi thành 36 tháng và bổ sung việc xem xét điều kiện nuôi con của người mẹ có đảm bảo không, nếu người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Tòa án sẽ không giao con cho người mẹ nuôi.

Luật mới quy định ngoài vợ, chồng thì: Người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con

Xác định cha mẹ Luật cũ quy định: Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

Khoản 2 Điêu 21 của Nghị định 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình thì: Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người.

Luật mới vẫn giữ quy định như luật cũ, tuy nhiên quy định luôn việc xác định con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân

Quyền nhận con Luật cũ chỉ quy định con có quyền nhận cha  mẹ kể cả trường hợp cha mẹ đã chết, không quy định trường hợp cha mẹ nhận con  – Luật mới ngoài việc quy định con có quyền nhận cha mẹ thì cũng quy định cha mẹ có quyền nhận con kể cả trường hợp con đã chết. Trước đây các quy định về hộ tịch như Nghị định 158/2005/NĐ-CP không quy định việc cha mẹ nhận con khi con đã chết.Tuy nhiên, quy định này lại không phù hợp với Luật Hộ tịch, theo Điều 24, 25 Luật Hộ tịch thì khi làm thủ tục nhận cha mẹ con các bên phải có mặt, tức là phải còn sống, trong khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định trong được nhận cha mẹ con kể cả trường hợp đã chết.

– Luật mới cũng bổ sung quy định Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người có yêu cầu chết; trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Quy định về mang thai hộ Luật cũ không quy định về vấn đề mang thai hộ   Luật mới quy định cụ thể chỉ được mang thai hộ vì mục đích nhân đạo khi: Người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; Vợ chồng đang không có con chung; Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Và người mang thai hộ phải là người thân thích

Quy định về cấp dưỡng   Nghĩa vụ cấp dưỡng: Theo luật cũ thì nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; ông bà ngoại, nội và cháu; giữa vợ và chồng   Luật mới ngoài các đối tượng trên thì bổ sung nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

Cập nhật thông tin chi tiết về So Sánh Điều Kiện Kết Hôn Dưới Góc Nhìn Của Đạo Công Giáo Với Các Qđpl Về Hôn Nhân Và Gia Đình Việt Nam 2000 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!