Xu Hướng 11/2022 # Soạn Bài: Bàn Về Đọc Sách – Ngữ Văn 9 Tập 2 / 2023 # Top 16 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Soạn Bài: Bàn Về Đọc Sách – Ngữ Văn 9 Tập 2 / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Bàn Về Đọc Sách – Ngữ Văn 9 Tập 2 / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Chu Quang Tiềm (1897 – 1986): nhà mĩ học và lí luận văn học nổi tiếng của Trung Quốc.

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Bàn về đọc sách là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm, dày công suy nghĩ, là những lời tâm huyết của người đi trước muốn truyền lại cho các thế hệ sau. Tác phẩm được in trong Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui, nỗi buồn của việc đọc sách.

* Bố cục: Văn bản Bàn về đọc sách có thể được chia làm 3 phần:

Phần 3: còn lại : Bàn về phương pháp đọc sách hiệu quả.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Vấn đề nghị luận của bài viết này là sự cần thiết của việc đọc sách và các phương pháp đọc sách hiệu quả.

* Các luận điểm đã có ở phần Bố cục trên.

Câu 2:

* Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, em thấy sách có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc sống của con người nói riêng và xã hội nói chung. Cụ thể là: sách giúp chúng ta ghi chép, lưu truyền mọi tri thức, thành tựu, sách chính là những cột mốc trên con đường phát triển học thuật.

* Ý nghĩa của việc đọc sách: Sách là con đường quan trọng của học vấn, sự chuẩn bị cho cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn và phát triển thế giới mới.

Câu 3:

* Muốn tích lũy học vấn, đọc sách có hiệu quả, trước tiên chúng ta cần biết chọn lựa sách mà đọc vì sách nhiều cũng có những nguy hại nhất định của nó.

Sách nhiều khiến cho người ta đọc một cách tràn lan, không chuyên sâu, không nghiền ngẫm kĩ nội dung của sách.

Sách nhiều khiến cho chúng ta khó lựa chọn, dễ bị lạc hướng và dẫn đến lãng phí thời gian.

* Theo tác giả, cách lựa chọn sách là:

Không nên tham đọc nhiều, đọc tràn lan mà phải đọc kĩ những cuốn sách thực sự có giá trị.

Nên đọc kĩ những loại sách, những tài liệu thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình, không nên đọc lệch.

Khi đọc chuyên sâu thì không nên xem thường những loại sách thường thức, gần gũi với chuyên môn của mình

Câu 4:

Lời bàn của tác giả về phương pháp đọc sách:

Không nên đọc lướt qua, phải vừa đọc vừa suy ngẫm, đặc biệt là với những cuốn sách có giá trị.

Không nên đọc một cách tràn lan, không tham đọc nhiều, quyển nào cũng đọc, mà phải đọc một cách có kế hoạch và hệ thống. Chúng ta có thể coi đọc sách là một công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ.

Câu 5:

Bài viết Bàn về đọc sách có sức thuyết phục cao. Điều này được tạo nên từ những yếu tố là:

Bố cục chặt chẽ, hợp lí, cách dẫn dắt tự nhiên

Cách viết giàu hình ảnh ví von, thú vị.

Từ nội dung cho đến cách trình bày đều thấu tình đạt lí; những ý kiến, những nhận xét đưa ra đều xác đáng, có lí lẽ chặt chẽ, vừa sinh động lại vừa dễ hiểu.

4.9

/

5

(

22

bình chọn

)

Soạn Bài: Mây Và Sóng – Ngữ Văn 9 Tập 2 / 2023

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Ta-go trong SGK Ngữ văn 9 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài thơ Mây và sóng vốn được viết bằng tiếng Ben-gan, được in trong tập thơ Si-su (Trẻ thơ), xuất bản năm 1909 và được chính Ta-go dịch ra tiếng Anh, in trong tập Trăng non, xuất bản năm 1915.

* Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

* Bố cục:

Văn bản có thể được chia làm 2 phần:

Phần 2: còn lại: Thuật lại cuộc trò chuyện với những người trong sóng.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Lời nói của em bé gồm hai phần có nhiều nét giống nhau.

a) Những điểm giống và khác nhau giữa hai phần:

* Điểm giống: về kết cấu của đoạn, số dòng thơ và cách xây dựng hình ảnh đều theo trình tự thuật lại lời rủ rê, lời từ chối và sự tưởng tượng sáng tạo trò chơi.

* Điểm khác nhau:

Đối tượng: đoạn trên là mây và đoạn dưới là sóng.

Trò chơi: đoạn trên thì con là mây và mẹ là trăng, còn đoạn dưới thì con là sóng và mẹ là bến bờ kì lạ.

Không gian: trên trời – dưới biển.

b) Giả thiết nếu không có phần thứ hai thì ý thơ sẽ không được trọn vẹn và đầy đủ, bởi nó tác động trùng điệp, hô ứng, khẳng định những tình cảm đã được thể hiện trong thử thách thứ nhất.

Câu 2:

Dòng thơ “Con hỏi…” được đặt sau lời mời, lời rủ rê và đặt trước lời đáp của những người trên mây và người trong sóng. Chi tiết này đã chứng tỏ được tính xác thực và hấp dẫn của trò chơi. Như chúng ta đều biết, trẻ con nào cũng ham chơi, đặc biệt là trước những lời mời gọi vô cùng hấp dẫn của mây, của sóng, mặc dù vậy, tình yêu mẹ vẫn luôn chiến thắng. Chỉ cần nghĩ đến mẹ đang đợi em ở nhà, không muốn em đi chơi là em sẵn sàng từ chối những lời rủ rê ấy.

Câu 3:

* So sánh những cuộc vui chơi của những người trên mây và trong sóng của thế giới tự nhiên với những trò chơi của “mây và sóng” do em bé tạo ra: mây và sóng thực chất là những hình ảnh đẹp của thiên nhiên, của đất trời, vũ trụ bao la. Còn mây và sóng do em bé tạo ra chỉ là những âm thanh, những hình ảnh mà em bé tưởng tượng ra. Trên mây là tiếng của mây, trong sóng là tiếng của sóng. Hai hình ảnh đó có thể coi là biểu tượng của cuộc sống rộn rã, cuốn hút xung quanh và có sức cuốn hút kì lạ với con người, đặc biệt là một chú bé.

* Sự giống và khác nhau giữa các cuộc chơi đã nói lên sức mạnh của tình mẫu tử. Tình yêu thương mà mẹ dành cho con là vô bờ bến, tình mẹ gắn bó như mây với trăng, như biển với bờ, tình cảm ấy đã lên đến kích cỡ của vũ trụ, vô cùng thiêng liêng và bất diệt.

Câu 4:

Những thành công về mặt nghệ thuật của bài thơ trong việc xây dựng các hình ảnh thiên nhiên:

Những hình ảnh thiên nhiên như: mây, trăng, sóng, bờ, bầu trời,… vốn đã là những hình ảnh mơ mộng, mà ở đây lại do trí tưởng tượng của một em bé tạo ra nên càng trở nên lung linh và kì ảo hơn. Và đây chính là những hình ảnh ẩn dụ cho những cám dỗ trong cuộc sống xung quanh.

Câu 5:

Ý nghĩa của câu thơ: “Con lăn, lăn, lăn mãi… ở chốn nào”:

Lòng mẹ bao la luôn sẵn sàng đón tiếp con. Yêu mẹ, chú bé đã bày ra những trò chơi chỉ có hai mẹ con tham gia. Đó không đơn giản là ước muốn tách rời cuộc sống xung quanh mà còn là một tình yêu vô cùng sâu sắc của chú bé với mẹ của mình. Tình yêu ấy vượt lên trên cả những thú vui hằng ngày, vượt lên cả những cám dỗ của cuộc sống, mãnh liệt đến mức lấn át cả những mối quan hệ khác.

Câu 6:

Ngoài ý nghĩa ca ngợi tình mẹ con, bài thơ Mây và sóng còn gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm về cuộc sống:

Trong cuộc sống, con người thường gặp những cám dỗ (nhất là đối với trẻ con). Muốn khước từ chúng, chúng ta cần có điểm tựa vững chắc, và trong đó, tình mẫu tử chính là điểm tựa vững chắc nhất.

Hạnh phúc vốn không phải là một điều gì đó bí ẩn. Hạnh phúc luôn ở xung quanh chúng ta và do chính chúng ta tạo nên.

2.5

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài: Mùa Xuân Nho Nhỏ – Ngữ Văn 9 Tập 2 / 2023

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu về tác giả Thanh Hải trong SGK Ngữ văn 9 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài thơ Mùa xuân  nho nhỏ được viết không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời, thể hiện niềm yêu mến thiết tha với cuộc sống, với đất nước và ước nguyện của tác giả.

* Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ.

* Bố cục: Bài thơ có thể được chia làm 4 phần:

Phần 1: Khổ thơ đầu: Cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên đất trời.

Phần 2: Khổ 2 và 3: Cảm xúc về mùa xuân đất nước, con người.

Phần 3: Khổ thơ 4 và 5: Suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ.

Phần 4: Khổ thơ cuối: Lời ca ngợi quê hương đất nước qua điệu ca Huế.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Mạch cảm xúc của bài thơ là: từ cảm xúc trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất nước, tác giả thể hiện khát vọng được dâng hiến “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung.

Bố cục của bài thơ ở mục trên.

Câu 2:

Trong khổ thơ đầu, hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên, đất nước đã được miêu tả qua hình ảnh, màu sắc, âm thanh là:

Hình ảnh: có sự chọn lọc: dòng sông, bông hoa, chim chiền chiện.

Màu sắc: tươi thắm, đặc trưng: xanh, tím.

Âm thanh: rộn rã, tươi vui: tiếng chim hót.

Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân đất nước được diễn tả qua hai câu thơ:

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng.

Qua hai câu thơ này, chúng ta có thể thấy tác giả như đang say sưa, ngây ngất, cảm nhận hình ảnh, âm thanh không chỉ bằng thính giác, thị giác mà còn bằng cả xúc giác.

Câu 3:

Đoạn thơ: “Ta làm con chim hót… Dù là khi tóc bạc”

Từ mạch cảm xúc về vẻ đẹp của mùa xuân đất nước, thiên nhiên đất trời, nhà thơ đã chuyển sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm về mùa xuân đất nước. Đó là khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống, được cống hiến phần tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước dù là nhỏ bé như “con chim hót”, “một cành hoa” hay “một nốt trầm” trong một bản nhạc.

Như vậy, đoạn thơ đã gợi cho chúng ta những suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống của mỗi con người. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết sống, biết chăm lo cho cuộc đời chung và có thể đóng góp những gì của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước.

Câu 4:

Bài thơ có nhạc điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca. Những yếu tố góp phần tạo nên nhạc điệu ấy là:

Thể thơ 5 chữ nhẹ nhàng, tha thiết, gắn liền với các giai điệu dân ca, nhất là dân ca miền Trung, cách gieo vần liền tạo sự liền mạch cho cảm xúc.

Sự hài hòa giữa những hình ảnh tự nhiên, giản dị với những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng. Ngôn ngữ thơ trong sáng, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc với các ẩn dụ, điệp ngữ.

Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, dựa trên sự phát triển của hình ảnh mùa xuân.

Giọng điệu của bài thơ thể hiện đúng tâm trạng của tác giả, biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn.

Câu 5:

* Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo rất độc đáo của tác giả. Khác hoàn toàn với những mùa xuân của các nhà thơ khác, mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải không chỉ là mùa xuân đất trời mà còn là mùa xuân đời người, nhỏ bé với khát khao cống hiến cho cuộc đời chung, cho đất nước.

* Chủ đề của bài thơ: Những rung cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời và khát vọng cống hiến cho đất nước, góp một “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc.

4

/

5

(

8

bình chọn

)

Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Sách Bài Tập Ngữ Văn 10 Tập 2 / 2023

1. Bài tập 1, trang 71, SGK.

Đọc phần tiểu dẫn bài Thơ hai-cư của Ba-sô ( Ngữ văn 10, tập một) và thực hiện các yêu cầu sau :

a) Xác định đối tượng thuyết minh của văn bản. b) Tìm bố cục của văn bản. c) Viết đoạn văn tóm tắt phần thuyết minh về thơ hai- cư.

Trả lời:

a) Đối tượng thuyết minh của văn bản là nhà thơ Ma-su-ô Ba-sô và thơ hai-cư – một thể thơ độc đáo của Nhật Bản.

b) Bố cục của văn bản :

– Từ đầu đến “M. Si-ki (1867 – 1902)” : Sơ lược tiểu sử và sự nghiệp nhà thơ Ma-su-ô Ba-sô.

– Đoạn còn lại : Những đặc điểm và giá trị của thơ hai-cư.

c) Viết đoạn văn tóm tắt : Dựa vào bố cục trên, đọc lại văn bản, anh (chị) hãy viết một đoạn văn tóm tắt phần thuyết minh về thơ hai-cư.

2. Bài tập 2, trang 72 – 73, SGK.

Đọc văn bản ” Đền Ngọc Sơn và hồn thơ Hà Nội ” và thực hiện các yêu cầu sau :

a) Xác định văn bản Đền Ngọc Sơn và hồn thơ Hà Nội thuyết minh vấn đề gì. So với văn bản thuyết minh ở phần trên, đối tượng và nội dung thuyết minh của Lương Quỳnh Khuê có gì khác ?b) Viết tóm tắt đoạn giới thiệu cảnh Tháp Bút, Đài Nghiên.

Trả lời:

a) Câu hỏi gồm hai ý:

– Xác định đối tượng thuyết minh : vẻ đẹp văn hoá, nghệ thuật của thắng cảnh đền Ngọc Sơn, Hà Nội.

– So sánh với các văn bản thuyết minh khác đã dẫn trong SGK (Nhà sàn, Tiểu sử, sự nghiệp của nhà thơ Nhật Bản M. Ba-sô), ta thấy được nét riêng của văn bản Đền Ngọc Sơn và hồn thơ Hà Nội là : vừa thuyết minh kiến trúc của đền Ngọc Sơn vừa ca ngợi nét đẹp, thơ mộng của danh thắng ấy.

b) Viết tóm tắt đoạn giới thiệu cảnh Tháp Bút, Đài Nghiên.

– Đọc lại văn bản, từ “Đến thăm đền Ngọc Sơn” đến “thể hiện tinh thần của Đạo Nho”. Chú ý những cụm từ miêu tả hình ảnh Tháp Bút ( Tháp Bút dựng trên núi Ngọc Bội, đỉnh Tháp có ngọn bút trỏ lên trời xanh cao vút), miêu tả Đài Nghiên ( Gọi là “Đài Nghiên” bởi cổng này là hình tượng “cái đài” đỡ “nghiên mực”). Đồng thời, lưu ý câu văn khái quát: “… Tháp Bút – Đài Nghiên thể hiện tinh thần của Đạo Nho”.

– Từ những ý trên, anh (chị) hãy tự tóm tắt đoạn văn theo yêu cầu của bài tập.

3. Đọc phần Tiểu dẫn về tác phẩm Đại cáo bình Ngô ( Ngữ văn 10, tập hai, trang 16) và thực hiện các yêu cầu sau :

a) Xác định đối tượng thuyết minh của văn bản.

b) Tìm bố cục của văn bản.

c) Viết đoạn văn tóm tắt phần thuyết minh những đặc điểm của thể cáo (từ ” Cáo là thể văn nghị luận” đến “chính nghĩa”).

Trả lời:

a) Đối tượng thuyết minh của văn bản Tiểu dẫn bài Đại cáo bình Ngô : Nói rõ hoàn cảnh ra đời của Đại cáo bình Ngô, thuyết minh ngắn gọn đặc điểm của thể cáo và kết cấu tác phẩm Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.

b) Bố cục của văn bản :

– Mở bài (từ đầu đến “riêng của Nguyễn Trãi”) : Nêu hoàn cảnh ra đời của Đại cáo bình Ngô.

– Thân bài (tiếp theo đến “gợi cảm”): Thuyết minh ngắn gọn đặc điểm của thể cáo và tác phẩm Đại cáo bình Ngô.

– Kết bài (đoạn còn lại): Nêu bố cục của văn bản Đại cáo bình Ngô.

c) Viết đoạn văn tóm tắt: Tham khảo các đoạn văn sau :

” Đại cáo bình Ngô – được coi như bản tuyên ngôn độc lập của nước ta năm 1428 – vừa mang đặc trưng của thể cáo, vừa có sáng tạo riêng của Nguyễn Trãi.” (Mở bài)

“Cáo là thể văn nghị luận cổ nêu chiếu biểu của vua, hoặc nêu những vấn đề trọng đại của xã hội. Cáo thường viết bằng văn biền ngẫu, ngôn ngữ, lí lẽ đanh thép. Cáo là thể văn hùng biện.

Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi nhân danh vua Lê Lợi ban bố chiến thắng giặc Ngô – giặc Minh – bằng một kết cấu chặt chẽ, mạch lạc…” (Thân bài)

4. Đọc văn bản sau và viết một đoạn văn tóm tắt (khoảng 10 câu) phần thân bài.

TRANH ĐÔNG HỒ

Ca dao xưa có câu :

Làng Mái có lịch có lề, Có ao tắm mát có nghề làm tranh.

Ca từ mang nội dung như một lời tự giới thiệu dẫn ta về làng Mái. Đó là làng Đông Hồ – tên cũ là Đông Mái – được người dân gọi bằng cái tên nôm na : Làng Hồ. Là quê hương của dòng tranh Đông Hồ nổi tiếng, nó nằm ở phía bên phải con sông Đuống, trong huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Tranh Đông Hồ cũng gọi là tranh Tết làng Hồ phục vụ nông dân lao động. “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong – Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Câu thơ của thi sĩ Hoàng Cầm đã khái quát vẻ đẹp mộc mạc, dân dã của tranh Đông Hồ. Nó là loại tranh khắc gỗ in trên giấy dó, nền được quét điệp với những thớ khoẻ lấp lánh bạc, hoặc rực rỡ màu vàng cam, vàng quýt bởi được phủ thêm nước gỗ vang hay nước hoa hoè. Tranh được in cả nét lẫn màu, màu in trước nét in sau, tranh có bao nhiêu màu là có bấy nhiêu lần in. Bảng màu của tranh đều là những màu lấy trong tự nhiên gần gũi với đời sống con người, như trắng của sò điệp, đen của than lá tre, đỏ từ thỏi son, xanh của lá chàm, vàng của quả dành dành,… Khi sản xuất tranh, người ta lấy hồ nếp trộn với màu tạo độ quánh cho dễ in, màu bền khó phai. Những màu đó được in thành các mảng cạnh nhau, cuối cùng là in ván nét đen to đậm mềm mại bao quanh các mảng màu thành một tờ tranh hoàn chỉnh.

Hầu hết tranh Đông Hồ đều có thơ hoặc phương ngôn bằng chữ Nôm hay chữ Hán. Trong thơ có hoạ và trong hoạ có thơ đã thể hiện mĩ cảm của người phương Đông. Thơ và hoạ gắn bó với nhau vừa tạo nên vẻ đẹp hoàn chỉnh của bố cục, vừa nói lên tâm tư, tình cảm của người nghệ sĩ dân gian “đối cảnh sinh tình”.

[…] Di sản tranh Đông Hồ là tiếng nói tự tâm hồn gửi đến tâm hồn từ đời xưa truyền lại, cũng là một kho tri thức, một phương tiện giáo dục phản ánh của một xã hội ấm áp tình người, một thành tựu đáng kể của mĩ thuật cố có sức sống trường tồn trong tâm thức người dân Việt. Nó hàm chứa một hệ thống giá trị từ nội dung giàu tính nhân văn, vẻ đẹp của bố cục, màu sắc, đường nét, tới những đặc điểm về lịch sử văn hoá dân tộc. Nó được đông đảo nhân dân Việt Nam ưa chuộng, bảo vệ, lưu truyền và đứng ở vị trí quan trọng trong nền mĩ thuât tạo hình dân tộc.

(Theo Đặng Thế Minh, trong Thuyết minh

Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam, 2000)

Trả lời:

Cần thực hiện các bước như sau :

a) Xác định đối tượng thuyết minh của văn bản.

b) Tìm bố cục của văn bản :

– Mở bài (từ đầu đến “tỉnh Bắc Ninh”): Giới thiệu quê hương của tranh Đông Hồ.

– Thân bài (từ “Tranh Đông Hồ” đến “đối cảnh sinh tình”): Thuyết minh những đặc điểm, chất liệu, màu sắc, đường nét và nội dung của tranh Đông Hồ.

– Kết bài (đoạn còn lại) : Nhấn mạnh giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa giáo dục của tranh Đông Hồ.

c) Viết một đoạn văn tóm tắt phần thân bài : Dựa vào những gợi ý trên, anh (chị) hãy tự thực hiện.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Bàn Về Đọc Sách – Ngữ Văn 9 Tập 2 / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!