Xu Hướng 6/2023 # Soạn Bài: Bức Thư Của Thủ Lĩnh Da Đỏ – Ngữ Văn 6 Tập 2 # Top 8 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 6/2023 # Soạn Bài: Bức Thư Của Thủ Lĩnh Da Đỏ – Ngữ Văn 6 Tập 2 # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Bức Thư Của Thủ Lĩnh Da Đỏ – Ngữ Văn 6 Tập 2 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1.  Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 Tập 2)

2. Tác phẩm

*  Xuất xứ: Năm 1854, Tổng thống thứ 14 của nước Mĩ là Phreng-klin Pi-ơ-xơ tỏ ý muốn mua đất của người da đỏ. Thủ lĩnh Xi-át-tơn đã gửi bức thư này trả lời. Đây là một bức thư rất nổi tiếng, từng được nhiều người xem là một trong những văn bản hay nhất về thiên nhiên và môi trường.

* Tóm tắt

* Bố cục: Văn bản có thể được chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại: Kiến nghị của người da đỏ về việc bảo vệ môi trường và đất đai.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

a) Đoạn đầu của bức thư, những phép nhân hóa và so sánh được sử dụng trong đoạn văn là:

* So sánh:

tiếng thì thầm của dòng nước chính là tiếng nói của cha ông

nước óng ánh, êm ả trôi dưới những dòng sông, con suối là máu của tổ tiên

*  Nhân hóa:

Mảnh đất này là bà mẹ của người da đỏ

Bông hoa ngát hương là người chị, người em

Người da đỏ, mỏm đá, vũng nước, chú ngựa đều “cùng chung một gia đình”

b) Tác dụng của phép so sánh và nhân hóa: cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa người da đỏ với Đất, với thiên nhiên. Họ coi thiên nhiên như máu thịt, như thành viên trong gia đình. Đó cũng chính là những điều vô cùng thiêng liêng của con người đối với mảnh đất mà mình sinh sống.

Câu 2:

Đoạn văn từ “Tối biết người da trắng không hiểu cách sống” đến “Mọi vật trên đời đều có sự ràng buộc”.

a) Đoạn văn trên đã nói lên sự khác biệt, sự đối lập trong “cách sống”, thái độ đối với “Đất”, đối với thiên nhiên giữa người da đỏ với người da trắng trên những vấn đề:

* Người da đỏ:

Mỗi tấc đất là thiêng liêng trong ký ức và kinh nghiệm

Đất là bà mẹ

Chúng tôi không thể nào quên được mảnh đất tươi đẹp này

Không khí quả là quý giá đối với người da đỏ

Ngọn gió mang lại hơi thở đầu tiên của cha ông chúng tôi và cũng là hơi thở cuối cùng của họ

*  Người da trắng:

Mảnh đất này là kẻ thù của họ, và khi họ đã chinh phục được thì họ sẽ lấn tới

Họ đối xử với mẹ đất, anh em bầu trời như những vật tước đoạt được,mua được rồi bán đi

Họ sẽ ngấu nghiến đất đai và để lại đằng sau những bãi hoang mạc

Họ chẳng để ý gì đến bầu không khí, muông thú, cây cối

Xóa bỏ cuộc sống yên tĩnh, thanh khiết, hòa đồng với thiên nhiên, để thay thế bằng cuộc sống thành thị ồn ào, ầm ĩ, lăng mạ.

b) Để nêu lên sự đối lập, sự khác biệt và để thể hiện thái độ, tình cảm của mình, tác giả đã dùng những biện pháp nghệ thuật như đối lập, so sánh, nhân hóa. Nhờ đó, cho thấy mối quan hệ của đất với con người được thể hiện gắn bó rất thân thiết, như là anh chị em, như là những người con trong gia đình, như là con cái với người mẹ. Cha ông, tổ tiên của người da đỏ vẫn còn tồn tại trong thiên nhiên, trong những dòng nước, trong âm thanh của côn trùng và nước chảy.

Câu 3:

a) Ý chính của đoạn thư cuối:

Yêu cầu tổng thống Mĩ dạy những người da trắng phải biết kính trọng đất đai

Yêu cầu tổng thống Mĩ dạy những người da trắng coi đất mẹ là mẹ

Yêu cầu tổng thống Mĩ khuyên bảo người da trắng rằng bảo vệ đất đai là bảo vệ chính mình

b) Cách hành văn, giọng điệu của đoạn cuối cũng giống như những đoạn trên là sử dụng điệp ngữ, nhưng có phần dứt khoát và mạnh mẽ hơn. Trong đoạn này, tác giả không nêu sự khác biệt giữa người da trắng và người da đỏ, không đặt vấn đề “nếu…thì…” như ở đoạn trên. Mà tác giả khẳng định Đất là Mẹ, có điều gì xảy ra với đất đai tức là xảy ra với những đứa con của đất, con người bảo vệ đất đai là bảo vệ chính mình.

Câu 4:

Bức thư đã sử dụng rất nhiều yếu tố của phép lặp:

Lặp từ ngữ: mảnh đất, tôi biết, dòng nước, người da đỏ, người da trắng,…

Lặp kiểu câu: Nếu chúng tôi bán…ngài phải…; Ngài phải dạy…; Ngài phải bảo…; Ngài phải biết…; Ngài phải giữ gìn…

Tác dụng của những yếu tố trên:

Làm rõ tình cảm gắn bó sâu nặng, thiêng liêng với đất nước, với quê hương của người da đỏ

Phê phán, châm biếm lối sống và thái độ, tình cảm của người da trắng đối với tự nhiên, đất đai, môi trường

Thái độ kiên quyết, cứng rắn, tạo đà cho lập luận

Hơi văn nhịp nhàng, lôi cuốn thêm khí thế

Câu 5:

Một bức thư nói về việc mua bán đất đai cách đây một thế kỷ rưỡi nay vẫn được nhiều người xem là một trong những văn bản hay nhất nói về thiên nhiên và môi trường, bởi vì tác giả đã viết lá thư này bằng cả tình yêu thương, niềm kính trọng của mình cũng như của những người da đỏ đối với đất đai. Với kinh nghiệm sống gần gũi với thiên nhiên, tác giả còn chỉ rõ tầm quan trọng của đất, của nước, của không khí và muông thú đối với con người. Qua đó, tác giả cũng nêu lên trách nhiệm của con người là phải bảo vệ, phải giữ gìn môi trường sống và góp phần bảo vệ thiên nhiên.

4.8

/

5

(

264

bình chọn

)

Soạn Bài: Cô Tô – Ngữ Văn 6 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 tập 2)

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài văn Cô Tô là phần cuối của bài ký Cô Tô – tác phẩm ghi lại những ấn tượng về thiên nhiên, con người lao động ở vùng đảo Cô Tô mà Nguyễn Tuân thu nhận được trong chuyến ra thăm đảo.

* Thể loại: Văn bản Cô Tô thuộc thể loại kí. Kí là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tùy bút,…

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Bài văn Cô Tô có thể được chia thành 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại: cảnh sinh hoạt buổi sáng trên đảo Cô Tô

Câu 2:

Vẻ đẹp trong sáng của đảo Cô Tô sau khi trận bão đi qua được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh rất đặc biệt:

Một ngày trong trẻo, sáng sủa

Cây thêm xanh mượt

Nước biển lam biếc đặm đà hơn

Cát lại vàng giòn hơn

Lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi

Những từ ngữ đó có tính gợi tả, cho thấy màu sắc trong sáng, khung cảnh bao la, vẻ đẹp tươi ngời của đảo Cô Tô. Mở đầu bài kí này, ta bắt gặp sự sống trong dạng thể vừa rất quen vừa mới sinh nở, rất lạ.

Câu 3:

Đoạn tả cảnh mặt trời mọc trên biển là một bức tranh rất đẹp được tác giả thể hiện qua những từ ngữ chỉ hình dáng, màu sắc và những hình ảnh so sánh:

“Chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây, hết bụi”

“Mặt trời tròn trĩnh, phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào, thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển đông”.

Qua cách chọn lọc chính xác những hình ảnh, từ ngữ so sánh, tác giả đã cho người đọc thấy thiên nhiên nơi đây thật rực rỡ, tráng lệ. Với tài năng quan sát và miêu tả tinh tế của tác giả, cảnh mặt trời mọc ở Cô Tô được thể hiện trong một khung cảnh rộng lớn bao la, đồng thời, thể hiện niềm giao cảm hân hoan giữa con người và vũ trụ.

Câu 4:

Trong đoạn cuối bài văn, cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo đã được miêu tả qua những chi tiết, hình ảnh:

Cái giếng nước ngọt…cái sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát mẻ hơn mọi cái chợ trong đất liền

Không biết bao nhiêu là người đến gánh và múc. Từng đoàn thuyền, lũ con lành

Đặc biệt, hình ảnh người anh hùng lao động Châu Hòa Mãn đi quảy nước cùng mọi người, hòa lẫn vào không khí náo nức, khẩn trương của một chuyến ra khơi. Chính hình ảnh đầy chất thơ về người mẹ trẻ địu con đã truyền cho độc giả hơi ấm nóng của sự sống, của tình yêu với con người.

4.9

/

5

(

182

bình chọn

)

Soạn Bài: Lòng Yêu Nước – Ngữ Văn 6 Tập 2

I. Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 Tập 2)

II. Tác phẩm

* Văn bản Lòng yêu nước được trích từ bài báo Thử lửa của I-ri-a Ê-ren-bua. Tác phẩm được viết vào tháng 6 năm 1942, thời kỳ khó khăn nhất trong cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941 – 1945).

*  Tóm tắt:

Lòng yêu nước bắt đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất. Nhớ đến quê hương, người dân Xô Viết ở mỗi vùng đều nhớ đến vẻ đẹp tiêu biểu của quê mình. Nỗi nhớ của người vùng Bắc, người xứ U – crai – na, người xứ Gru – di – a, người ở thành Lê – nin – grat không giống nhau nhưng lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê của họ đều trở thành lòng yêu tổ quốc. Người ta càng hiểu sâu sắc hơn về tình yêu đó khi kẻ thù đến xâm lược tổ quốc mình.

III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Đại ý của bài văn:

Bài văn lý giải ngọn nguồn của lòng yêu nước. Lòng yêu nước bắt đầu từ tình yêu, từ những gì thân thuộc, gần gũi, tình yêu gia đình, xóm làng, miền quê. Và lòng yêu nước càng được bộc lộ một cách sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất khi đất nước có giặc ngoại xâm.

Câu 2:

a) Câu mở đầu đoạn văn trên là: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh”.

Câu cuối đoạn là: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

b) Trình tự lập luận trong đoạn văn trên của tác giả rất linh hoạt, sáng tạo, kết hợp giữa diễn dịch và tổng – phân – hợp trong từng đoạn nhỏ. Ví dụ như:

Câu 1: Nửa đầu nêu ý khái quát, nửa sau tác giả lấy ví dụ cụ thể để chứng minh cho nhận định trên

Câu 3: Vừa triển khai ý của hai câu trên, tác giả vừa nêu tiếp một nhận định mới về lòng yêu quê hương, yêu đất nước.

Câu 3:

Nhớ đến quê hương, người dân Xô – viết ở mỗi vùng đều nhớ đến vẻ đẹp tiêu biểu của quê hương mình, đó là những vẻ đẹp:

Người vùng Bắc thì nhớ đến cánh rừng bên dòng sông Vina hay miền Xu – cu – nô, thân cây mọc là là mặt nước, nghĩ đến những đêm tháng sáu sáng hồng và tiếng “cô  nàng” gọi đùa người yêu.

Người xứ U-crai-na thì nhớ bóng thùy dương tư lự bên đường, cái bằng lặng của trưa hè vàng ánh,…

Người xứ Gru-di-a thì ca tụng khí trời của núi cao, những tảng đá sáng rực, vị mát của nước đóng thành băng rượu vang cay sẽ tu trong bọc đựng rượu bằng da dê,…

Người ở thành Lê-nin-grat nhớ dòng sông Nê-va rộng và đường bệ như nước Nga, nhớ những tượng bằng đồng tạc những con chiến mã lồng lên, nhớ công viên, phố phường,…

Người Mát-xcơ-va nhớ những phố cũ chạy ngoằn ngoèo, điện Krem-li, tháp cổ,…

Có thể nói, tác giả đã chọn lọc những chi tiết giản dị, miêu tả được cái thần của sự vật. Những vẻ đẹp này đã gắn liền với nét riêng của từng vùng, đồng thời, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ của những người ở vùng đó.

Câu 4:

Bài văn nêu lên một chân lý phổ biến và sâu sắc về lòng yêu nước. Câu văn trong bài văn thâu tóm được chân lý ấy là: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

4.1

/

5

(

37

bình chọn

)

Soạn Bài: Cây Tre Việt Nam – Ngữ Văn 6 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

2. Tác phẩm

*  Xuất xứ: Bài Cây tre Việt Nam là lời bình cho bộ phim cùng tên của các nhà điện ảnh Ba Lan. Thông qua hình ảnh cây tre,  bộ phim thể hiện vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam, ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta.

* Tóm tắt

Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam. Tre (và những loại cây cùng họ) xuất hiện ở khắp mọi nơi trên đất nước ta. Cây tre có nhiều vẻ đẹp giản dị và nhiều phẩm chất đáng quý. Tre gắn bó lâu đời với con người (nhất là người nông dân) trong cuộc sống hằng ngày, trong lao động sản xuất và trong chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước. Tre chính là người bạn đồng hành của dân tộc ta trên con đường đi tới ngày mai.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

*  Đại ý của bài văn: Cây tre Việt Nam nói lên sự gắn bó thân thiết và lâu đời của cây tre và con người Việt Nam trong đời sống, sản xuất và chiến đấu. Cây tre có vẻ đẹp bình dị và nhiều phẩm chất quý báu. Cây tre đã trở thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

*  Bố cục: Văn bản được chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại: Khẳng định cây tre là biểu tượng của con người và dân tộc Việt Nam.

Câu 2:

Để làm rõ ý: “Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam”, bài văn đã đưa ra hàng loạt những biểu hiện cụ thể.

a) Những chi tiết, hình ảnh thể hiện sự gắn bó của tre với con người trong lao động và cuộc sống hằng ngày:

Bóng tre trùm lên bản làng, thôn xóm

Tre là cánh tay của người nông dân

Tre là người nhà

Tre gắn bó tình cảm gái trai, là đồ chơi trẻ con, nguồn vui tuổi già

Tre với người sống có nhau, chết có nhau, chung thủy

Tre là đồng chí chiến đấu

Tre là vũ khí (gậy tầm vông, chông tre)

Tre xung phong vào xe tăng, đại bác

b) Hình ảnh nhân hóa cây tre giống như một người bạn, với tất cả những đặc tính của con người. Nhờ nhân hóa mà hình ảnh cây tre hiện ra thật sống động trong đời sống, sản xuất và chiến đấu. Cây tre đã trở thành anh hùng lao động và anh hùng chiến đấu. Tre cũng như con người Việt Nam, là biểu tượng của con người và dân tộc Việt Nam.

Câu 3:

Trong đoan kết, tác giả hình dung về vị trí của cây tre khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa. Khi đó, sắt, thép và xi măng sẽ dần trở nên quen thuộc, sẽ thay thế một phần cho những cây tre, họ nhà tre. Tuy vậy, nứa tre cũng vẫn sẽ còn mãi, làm bóng mát, làm cổng chào và hóa thân vào trong âm nhạc, vào những nét văn hóa trong chiếc đu ngày xuân ngày xuân dướn lên bay bổng.

Câu 4:

Bài văn miêu tả vẻ đẹp của cây tre, một loài cây giàu sức sống, thanh cao mà giản dị. Cây tre gắn bó với con người từ rất lâu, trong sinh hoạt, sản xuất cũng như trong chiến đấu. Hình ảnh cây tre cũng giống như những con người Việt Nam, sống ngay thẳng, chung thủy và can đảm. Cây tre mang phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam.

4.2

/

5

(

58

bình chọn

)

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Bức Thư Của Thủ Lĩnh Da Đỏ – Ngữ Văn 6 Tập 2 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!