Xu Hướng 10/2023 # Soạn Bài Chiếc Lược Ngà (Trích) # Top 14 Xem Nhiều | Bac.edu.vn

Xu Hướng 10/2023 # Soạn Bài Chiếc Lược Ngà (Trích) # Top 14 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Chiếc Lược Ngà (Trích) được cập nhật mới nhất tháng 10 năm 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tóm tắt đoạn trích:Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi đến khi đứa con lên 8 tuổi ông mới được về thăm nhà. Bé Thu nhất quyết không nhận cha. Nghe bà ngoại giải thích, bé Thu nhận ra ba mình nhưng đó cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, người cha đã dồn hết tình của mình vào việc làm cho con gái một chiếc lược chải tóc bằng ngà. Trước lúc hi sinh, ông đã kịp trao chiếc lược cho người đồng đội với sự ủy thác thiêng liêng.

– Người cha trở về thăm nhà nhưng thật trớ trêu, đứa con từ chối cha quyết liệt và khi nhận ra cha cũng là lúc họ phải chia tay.

– Ở căn cứ, người cha đã dồn tất cả tình yêu thương vào việc làm chiếc lược ngà tặng con nhưng ông đã hi sinh khi chưa kịp trao món quà đó cho con.

– Tình huống thứ nhất bộc lộ tình yêu thương mãnh liệt của con với cha.

– Tình huống thứ hai thể hiện tình cảm sâu sắc của cha đối với con.

Câu 2 – trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1. Tìm hiểu và phân tích diễn biến tâm lí, hành động của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép. Qua đó hãy nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả.

Phân tích diễn biến tâm lí, tình cảm của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép:* Khi bé Thu chưa nhận ra ông Sáu là cha:

– Bé Thu xa lánh, nhất định không chịu gọi tiếng “ba”

– Bé cương quyết từ chối mọi sự quan tâm mà ông Sáu dành cho mình.

– Bé Thu thật bướng bỉnh, ương ngạnh nhưng sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách. Thái độ quyết liệt là nét đẹp trong tính cách cô bé, là biểu hiện tuyệt vời của tình cha con.

* Khi bé Thu nhận ra ông Sáu là cha:

– Tiếng gọi ba vỡ òa từ sâu thẳm tâm hồn bé bỏng của nó.

– Em khóc vì thương cha, vì ân hận đã không phải với cha, vì không biết đến bao giờ mới được gặp lại cha.

* Tác giả là người rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và khắc họa lại thật sinh động. Qua câu chuyện, chúng ta thấy được Thu là một cô bé bướng bỉnh, cứng cỏi, tình cảm của bé dành cho cha thật sâu sắc, mạnh mẽ nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi.

Câu 3 – trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1. Tình cảm sâu nặng và cao đẹp của ông Sáu đối với con đã được thể hiện qua những chi tiết, sự việc nào? Điều đó đã bộc lộ thêm nét đẹp gì trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng ấy?

Tình cảm sâu nặng và cao đẹp của ông Sáu đối với con:– Trong giây phút gặp lại con:Bồn chồn, háo hức

– Trong 3 ngày nghỉ phép: Ông chẳng đi đâu xa, chỉ tìm cách gần gũi để được nghe một tiếng gọi “ba” của con bé.

– Khi ở căn cứ: dồn tất cả tình yêu thương vào việc làm chiếc lược ngà tặng con

– Trước khi hi sinh, ông Sáu móc cây lược ra trao vào tay người bạn chiến đấuvới sự ủy thác thiêng liêng.

Câu 4 – trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1. Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật nào? Cách chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng truyện?

Ngôi kể: Truyện được kể từ ngôi thứ nhất, theo lời kể của bác Ba – người bạn, người đồng đội thân thiết của ông Sáu.* Tác dụng:

– Tạo giọng kể thủ thỉ, tâm tình.

– Người kể bày tỏ trực tiếp cảm xúc đối với sự kiện và nhân vật

– Làm câu chuyện trở nên đáng tin cậy

– Người kể chủ động điều khiển được nhịp kể.

Câu 1 – Luyện tập – trang 203 SGK ngữ văn 9 tập 1: Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật. Em hãy giải thích điều đó.

– Lúc đầu, bé Thu thật bướng bỉnh, ương ngạnh.

– Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách.

– Nó còn quá nhỏ để có thể hiểu được những tình thế éo le, khắc nghiệt

– Lí do nó không nhận cha thật đơn giản, trẻ con, bất ngờ mà hợp lí.

– Khi chia tay em khóc vì thương cha, vì ân hận đã không phải với cha, vì không biết đến bao giờ mới được gặp lại cha.

– Lúc này tất cả hành động của Thu đều dồn dập, gấp gáp, trái hẳn lúc đầu.

– Trong tâm hồn cô bé, tình yêu với cha có cả niềm tự hào, niềm kiêu hãnh vì có người cha chiến sĩ.

Câu 2 – Luyện tập – trang 203 SGK ngữ văn 9 tập 1: Viết lại đoạn truyện kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai cha con ông Sáu theo lời hồi tưởng của nhân vật bé Thu.

– Xác định ngôi kể: ngôi thứ nhất; người kể chuyện là bé Thu (xưng ” tôi “)

– Nội dung: Kể lại cuộc gặp gỡ giữa nhân vật ” tôi ” và người cha (ông Sáu)

– Chú ý thay đổi một số chi tiết cho phù hợp với ngôi kể thứ nhất với người kể chuyện là bé Thu (thay tâm trạng của nhân vật bác Ba bằng diễn biến tâm trạng, suy nghĩ của bé Thu)

Buổi sáng cuối cùng ba tôi còn ở nhà, tôi theo ngoại về nhà. Nhà tôi sáng hôm ấy rất đông họ hàng nội ngoại. Ba tôi bận bịu tiếp khách, tôi đứng nép vào góc nhà, tựa cửa và nhìn mọi người đang vây quanh ba tôi. Tôi biết ba chính là ba tôi, vết thẹo trên mặt ba là do bọn Tây mà có, tôi muốn chạy lại phía ba, gọi ba nhưng chỉ có thể đứng trân trân ở đấy. Đến lúc chia tay, sau khi bắt tay hết mọi người, ba tôi đưa mắt nhìn tôi đứng trong góc nhà. Ba nói khe khẽ ” Thôi! Ba đi nghe con!“. Tôi như vỡ òa, nỗi nhớ ba không thể kìm nén được nữa, thét lên ” Ba…a…a…ba!“. Tôi ôm cổ ba, vừa khóc vừa nói không muốn cho ba đi. Hai ba con ôm hôn nhau, tôi hôn cả vết thẹo dài bên má ba tôi. Ba tôi một tay ôm tôi, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên tóc tôi và bảo ” Ba đi rồi ba về với con“. Tôi vẫn không thể chấp nhận được sự thật rằng mình phải xa ba ngay lúc này, lỗi của tôi đã phung phí thời gian ở cạnh ba những ngày vừa rồi. Nhưng biết ba phải đi kháng chiến, chẳng đành nhưng tôi với ba cũng phải chia tay nhau. Trước khi ba đi, tôi mếu máo bảo ông: ” Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba ” rồi từ từ tuột xuống khỏi tay ba. Đó là lần cuối cùng tôi còn được gặp ba mình.

Soạn Bài: Chiếc Lược Ngà (Trích)

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014), quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1954, tập kết ra Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình.

Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị, mộc mạc, nhưng sâu sắc, viết để “phục vụ ngay. Để đánh trả lại kẻ thù từng miếng, từng nhát thật sâu”. Ông đã khắc hoạ những hình ảnh chân thực, đẹp đẽ của những con người miền Nam kháng chiến. Đó là hình ảnh những người dân Sài Gòn đánh địch ngoan cường theo “kiểu Sài Gòn” (Chị Nhung, Sài Gòn dưới tầng khói), đó là những người nông dân đồng bằng sông Cửu Long như anh Bảy Ngàn bình thản ngồi hút thuốc sau lần quần nhau hút chết với giặc (Một chuyện vuỉ), hay anh Ba Hoành trong quán rượu ven sông và âm thầm chuẩn bị lực lượng cho ngày đồng khởi,… Trong những năm tháng kháng chiến, tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng đã có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ, động viên sức chiến đấu mạnh mẽ của nhân dân miền Nam, củng cố niềm tin yêu của cả nước đối với đồng bào nơi thành đồng Tổ quốc.

Với thể loại truyện ngắn, qua nhiều tác phẩm, ông đã khẳng định một phong cách độc đáo đậm đà chất Nam Bộ từ việc xây dựng khung cảnh thiên nhiên đến khắc họa tính cách con người.

Các tác phẩm chính : Con chim vàng (1957); Người quê hương (truyện ngắn, 1958) ; Nhật kí người ở lại (tiểu thuyết, 1962); Đất lửa (tiểu thuyết, 1963); Câu chuyện bên trận địa pháo (truyện vừa, 1966); Chiếc lược ngà (truyện ngắn, 1968); Bông cẩm thạch (truyện ngắn, 1969); Cái áo thằng hình rơm (truyện vừa, 1975); Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975); Người con đi xa (truyện ngắn, 1977); Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985); Bàn thờ tổ của một cô đào (truyện ngắn, 1985); Tôi thích làm vua (truyện ngắn, 1988); Paris – Tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990); Con mèo Fujita (truyện ngắn, 1991) ; Mùa gió chướng (1977, kịch bản phim) ; Cánh đồng hoang (1978, kịch bản phim); Cho đến bao giờ (1982); Mùa nước nổi (1986) ; Dòng sông hát (1988); Câu nói dối đầu tiên (1988); Thời thơ ấu (1995); Giữa dòng (1995) ; Như một huyền thoại (1995) ;…

Tác giả đã được nhận : giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống nhất (1995), giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội (1959), Giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (1985), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1993, Huy chương Vàng liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương Vàng liên hoan phim ở Matxcơva (1981), Huy chương Bạc liên hoan phim toàn quốc (1980).

2. Truyện Chiếc lược ngà được nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong khi cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta đang diễn ra quyết liệt.

Đây là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng. Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc và xây dựng tình huống bất ngờ, tác giả đã thể hiện một cách cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu.

3. Tóm tắt: Ông Sáu đi kháng chiến, khi có dịp trở lại thăm nhà thì con gái đã lên tám tuổi. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong bức ảnh chụp chung với má mà bé Thu đã biết. Đến khi em nhận ra cha thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Vào khu căn cứ, nhớ lời con, ông Sáu đã làm được một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con nhưng ông đã bị hi sinh trong một trận càn. Trước khi nhắm mắt, ông chỉ còn kịp trao cây lược cho một người bạn.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. Tóm tắt đoạn trích :

Ông Sáu đi kháng chiến, khi có dịp trở lại thăm nhà thì con gái đã lên tám tuổi. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong bức ảnh chụp chung với má mà bé Thu đã biết. Đến khi em nhận ra cha thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Vào khu căn cứ, nhớ lời con, ông Sáu đã làm được một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con nhưng ông đã bị hi sinh trong một trận càn. Trước khi nhắm mắt, ông chỉ còn kịp trao cây lược cho một người bạn.

Tình huống bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu :

– Cuộc gặp của hai cha con sau tám năm xa cách, nhung khi bé Thu nhận ra cha và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi.

– Trong khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm cho con vào việc làm chiếc lược bằng ngà để tặng con, nhưng chưa kịp tặng thì ông đã hi sinh.

2. Diễn biến tâm lí của bé Thu trong lần cuối cùng gặp cha :

– Trước khi nhận ra ông Sáu là cha : người cha càng mừng vui, vồ vập thì người con càng ngờ vực, lảng tránh và lạnh nhạt. Đó là phản ứng tâm lí tự nhiên, bởi em kiêu hãnh về một người cha “khác”: người chụp ảnh chung với má.

– Khi nhận ra người cha : bé Thu đột ngột thay đổi, cất tiếng kêu thét lên : “Ba… a… a… ba !” rồi “vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc”, “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”, “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai của nó run run”. Giờ phút chia tay, tình yêu và nỗi mong nhớ ba dồn nén bấy lâu đã thể hiện thật mạnh mẽ.

Qua biểu hiện tâm lí và hành động, tác giả thể hiện rõ tính cách của bé Thu : rạch ròi, mạnh mẽ, sâu sắc.

3. Tình cảm sâu nặng và cao đẹp của ông Sáu với con đã được thể hiện qua :

– Biết con chưa nhận ra mình, “khổ tâm đến không khóc được” nhưng ông Sáu kiên nhẫn chờ đợi.

– Nỗi day dứt, ân hận khi trở về khu căn cứ.

– Ông đã vui mừng khi kiếm được khúc ngà, dồn hết tâm trí vào làm cây lược và tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Những chi tiết trên không chỉ nói lên tình cảm cha con thắm thiết mà còn gợi cho người đọc thấm thía những đau thương, mất mát, những tình cảnh éo le trong chiến tranh.

4. Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật là bạn thân của ông Sáu. Cách chọn vai kể là người chứng kiến khách quan có tác dụng rõ rệt trong việc vừa kể vừa có thể bày tỏ sự đồng cảm với các nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Có thể nói câu chuyện Chiếc lược ngà đã gây cho người đọc nhiều cảm xúc với nội dung nhẹ nhàng mà thấm đẫm chất nhân văn. Đó là câu chuyện của ông Ba – một trong những cán bộ được cô giao liên trẻ dẫn đường. Tuyến đường mà cô dẫn là tuyến đường đầy nguy hiểm, cạm bẫy bởi bọn giặc thường lùng quét rất gắt gao. Ông Ba với hành lí và tư trang giản dị đó là tài liệu và chiếc lược ngà – người bạn nhờ đem về cho cô con gái. Thấy chiếc lược ông lại nghĩ về câu chuyện xưa. Người bạn của ông, anh Sáu, trong một đợt được về thăm nhà sau 8 năm xa cách rất thương con mà đứa bé lại không nhận ra cha. Đứa bé đó là Thu – một cô bé bướng bỉnh, ương ngạnh, đầy cá tính nhưng cũng rất ngây thơ. Nó không nhận ra cha, lạnh lùng với anh Sáu. Mời vào ăn cơm nó nói trống không, muốn nhờ chắt nước cơm nó cũng nói trống không. Thế rồi khi nó biết lỗi lầm của mình, biết tội ác của lũ giặc gây ra vết thẹo cho ba và nhận ra ba thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. Bé Thu đã biểu hiện tình cảm quá mãnh liệt. Nó không cho ba đi, ghì chặt lấy ba và cất tiếng gọi “ba” như xé lòng, xé ruột mọi người. Đem theo nỗi nhớ con, tình yêu thương con, anh Sáu dồn công làm bằng được chiếc lược ngà tặng con.

(Bài làm của HS)

2. Khi viết lại đoạn truyện kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai cha con ông Sáu theo lời hồi tưởng của một nhân vật khác, cần chú ý :

+- Nếu vào vai ông Sáu, cần thể hiện tình cảm “nôn nao” của người cha sau mấy năm xa cách đi kháng chiến, sự hồi hộp chờ đợi lúc được gặp con và cháy lòng chờ đợi con gọi một tiếng “ba” mà “khổ tâm đến nỗi không khóc được”.

– Nếu vào vai bé Thu, cần thể hiện diễn biến tâm trạng từ xét nét đến “xôn xao” và cuối cùng “bỗng kêu thét lên : – Ba… a… a… ba !”. Đó cũng là lần cuối cùng bé Thu được gặp ba mình.

Soạn Bài Chiếc Lược Ngà : 4 Bài Soạn Chiếc Lược Ngà Đặc Sắc Nhất

Tuyển chọn các bài soạn bài Chiếc lược ngà chi tiết và những bài ngắn nhất chắc chắn giúp bạn hoàn thành bài soạn của mình.

Soạn bài Chiếc lược ngà là trả lời các câu hỏi phần Đọc – Hiểu và Luyện tập trang 202 đến 203 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 1.

Cùng tham khảo

I Soạn bài Chiếc lược ngà tác giả – tác phẩm 1. Tác giả Nguyễn Quang Sáng

– Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

– Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau năm 1954, tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn.

– Những năm chống Mĩ ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học.

2. Tác phẩm Chiếc lược ngà

– Truyện Chiếc lược ngà được viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra quyết liệt.

– Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng lại tập trung nói về tình người – cụ thể ở đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng.

– Tình cha con được miêu tả thật cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách mạng và đứa con gái nhỏ

+ Đó không chỉ là một tình cảm muôn thuở, có tính nhân bản bền vững, mà còn được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo, éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ, hi sinh của người cán bộ cách mạng.

+ Vì thế, tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người.

II Tóm tắt Chiếc lược ngà

Vì chiến tranh, anh Sáu phải xa nhà khi đi đứa con gái bé bỏng của anh còn nhỏ nên khi trở về cô bé không nhận ra ba của mình. Với bé Thu ba của mình không có vết sẹo dài trên mặt. Anh làm thế nào bé cũng không nhận, thái độ xa lạ, ngang bướng càng làm anh bực mình, trong một lần anh đã đánh Thu. Bé Thu chạy về bà ngoại kể chuyện, bà đã giải thích mọi việc rõ ràng.

Khi anh Sáu đến ngày đi, bé Thu quyến luyến nhất định không rời xa, hai cha con rất xúc động ôm nhau mà khóc. Bé Thu đòi khi trở về phải có quà là một chiếc lược ngà.

Trong lúc ở chiến khu anh dành nhiều thời gian làm chiếc lược ngà cho con gái, chiếc lược được làm bằng ngà voi rất đẹp. Anh mong mỏi ngày trở về tặng cho đứa con gái yêu. Thật không may trong một trận đánh anh bị thương nặng và hi sinh.

Chiếc lược ngà được trao lại cho anh Ba, đó cũng là tâm nguyện cuối cùng của anh Sáu, món quà cuối cùng dành cho bé Thu như lời đã hứa trước lúc ra chiến trường.

Nội dung phần tóm tắt Chiếc lược ngà các em cần ghi nhớ các chi tiết chính. Từ đó sẽ hoàn thành tốt bài soạn cùng như các đề văn phân tích hoặc cảm nhận tác phẩm này…

III Soạn bài Chiếc lược ngà chi tiết nhất Bài 1 trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Tóm tắt cốt truyện

Câu chuyện xoay quanh chiếc lược ngà do tác giả ghi lại qua lời kể của một chiến sĩ cách mạng lớn tuổi. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông Sáu thoát li đi kháng chiến lúc bé Thu, con gái ông chưa đầy một tuổi. Hòa bình lập lại, ông về thăm gia đình, con gái không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm ba em không giống người trong bức ảnh chụp mà em đã biết. Suốt ba ngày ở nhà, bé Thu tìm cách xa lánh, giận dỗi, nhất định không chịu gọi ông là ba. Mãi cho đến lúc ông Sáu lên đường, cô bé mới nhận cha và đeo chặt lấy ông…

Trong những năm tháng ở căn cứ xa nhà, ông Sáu nhớ thương con vô hạn, cặm cụi làm chiếc lược ngà voi cho bé Thu như lời hứa khi ra đi. Trước lúc hi sinh, ông chỉ kịp trao chiếc lược cho người bạn thay lời trăn trối.

Tình huống bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu

+ Cuộc gặp gỡ của hai cha con sau tám năm xa cách nhưng bé Thu không nhận ra cha mình và khi bé nhận ra và biểu lộ tình cảm thảm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi.

+ Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm cho con vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con, nhưng chưa kịp tặng thì ông đã hi sinh.

Bài 2 trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Diễn biến tâm lí của bé Thu trong lần cuối gặp cha:

– Lúc đầu, vì không nhận ra cha mình, không thừa nhận ông Sáu là cha nên bé Thu lạnh nhạt, không chịu gọi “ba”, khước từ sự chăm sóc của ông. Ông Sáu càng mừng vui, vồ vập thì bé Thu càng ngờ vực, lảng trảnh. Đó là phản ứng tâm lí tự nhiên bởi bé Thu không nhận ra ông Sáu là cha mình và kiêu hãnh về một người cha “khác” – người chụp ảnh chung với má mình.

– Khi nhận ra và tin ông Sáu là cha, tình cảm, thái độ của bé Thu đột ngột thay đổi: bé cất tiếng thét lên:

+ “Ba…a…a…ba!. “Vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc” + “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má của ba nó nữa” + “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó giang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai của nó run run. Giờ phút chia tay, tình yêu, nỗi mong nhớ ba dồn nén bấy lâu và cả sự hối hận nữa đã được bé Thu thể hiện thật mạnh mẽ, nồng nhiệt.”

Qua biểu hiện tâm lí và hành động của nhân vật bé Thu đối với người cha, tác giả thể hiện rõ tính cách của bé: cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng dứt khoát, rạch ròi, mạnh mẽ và sâu sắc. Tuy nhiên, bé Thu vẫn có nét hồn nhiên, ngây thơ của con trẻ.

Bài 3 trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1

– Lần đầu gặp con, tình cảm của người cha cử nôn nao trong người ông. Không được con nhận mình là cha, ông Sáu càng đau khổ và thương con hơn, kiên nhẫn gợi tình cảm cha con, lúc nào cũng vỗ về con.

– Lúc chia tay, tình cha con lên tới điểm đỉnh. Ông nhìn con với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Khi bé Thu gọi “ba”, ông quá xúc động không muốn con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt.

– Ở đơn vị công tác, ông thương nhớ con vô vàn. Tình thương con dồn vào việc ông làm chiếc lược ngà thật thận trọng, tỉ mỉ và khổ công, gò lưng tần mẫn khắc từng nét trên sống lưng lược: “Yêu nhớ tăng Thu con của ba”. Trước lúc hi sinh, ông chỉ để lại kỉ vật đó cho đứa con yêu quý..

– Tất cả những chi tiết trong từng đoạn truyện đã thể hiện tình cảm thương yêu con của ông Sáu vô cùng sâu sắc. Câu chuyện còn gợi cho ta nghĩ đến những tình cảm gia đình cao đẹp, thấm thía những nỗi mất mát, đau thương của những người cán bộ cách mạng đã hi sinh vì tổ quốc.

Bài 4 trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1

– Truyện được kế theo lời trần thuật của người bạn thân của ông Sáu. Cách chọn vai kể là người chứng kiến sự việc một cách khách quan, có tác dụng tăng thêm tính chân thực của câu chuyện khi bày tỏ nhận xét, sự đồng cảm của người khác đối với các nhân vật trong truyện. Đồng thời đó cũng là cách thể hiện tốt nội dung tư tưởng của truyện.

Cách chọn vai kể như vậy khiến cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy, xác thực. Người kể lại hoàn toàn chủ động xen vào những suy nghĩ, ý kiến để dẫn dắt sự tiếp nhận của người đọc

Trong cuộc đời kháng chiến của tôi, tôi chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc chia tay, nhưng chưa bao giờ tôi bị xúc động như lần ấy (…) cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh.

IV Soạn bài Chiếc lược ngà ngắn gọn đặc sắc nhất 1. Soạn bài chiếc lược ngà ngắn nhất

Câu 1 Tóm tắt truyện:

Ông Sáu đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà. Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không còn giống với người trong bức ảnh chụp mà em đã biết. Em đối xử với ba như với người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương cho đứa con vào việc làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược cho người bạn.

– Tình huống: Cuộc gặp gỡ của hai cha con sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha, đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi. Đây là tình huống cơ bản của truyện.

– Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha, thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha với đứa con.

Câu 2 Thái độ và hành dộng của Thu trước khi nhận ra ông Sáu

– Bé Thu lại tỏ ra ngờ vực, lảng tránh và ông Sáu càng muôn gần con thì đứa con lại càng tỏ ra lạnh nhạt, xa cách.

– Hốt hoảng, mặt tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu, chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi là cha.

– Nhất định không chịu nhờ ông giúp chắt nước nồi cơm to đang sôi, hất cái trứng cá mà ông gắp cho; cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xu: kêu rổn rảng thật to.

Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha

– Thu cất tiếng gọi “ba”, rồi “nó vừa kêu vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chãi lấy cố ba nó”, “nó hôn ba nó cùng khắp.

Qua biểu hiện tâm lý và hành động của bé Thu, tác giả đã làm nổi rõ một số nét tính cách của nhân vật

– Tình yêu thương cha sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi.

– Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu, chứng tỏ tác giả am hiểu tâm lý trẻ em, yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ.

Câu 3

Những ngày nghỉ phép

– Xúc động mãnh liệt trong khoảnh khắc gặp lại con.

– Đau đớn vì bé Thu không đáp lại tình cảm của ông mà sợ hãi bỏ chạy.

– Ông không đi đâu, chỉ quanh quẩn bên con, ông không giận con mà chỉ khe khẽ lắc đầu, cười trước sự bướng bỉnh, xa lánh của con.

– Anh không dám lại gần con, chỉ nhìn con bằng ánh mắt trìu mến, buồn râu.

Khi ông trở lại chiến trường

– Luôn cảm thấy ân hận, khổ tâm vì đã đánh con.

– Không quên lời hứa với con. Ông tỉ mỉ cưa từng răng lược, cẩn thận khắc từng nét chữ “yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Lúc nhớ con, ông lấy cây lược ra ngắm nghía, mài lên mái tóc.

Câu 4

– Truyện được trần thuật theo lời người bạn ông Sáu, người đã chứng kiến những cảnh ngộ éo le của cha con ông. Cảnh ngộ ấy đã gợi lên bao nhiêu xúc động ở nhân vật kể

– Tác dụng:

Chọn nhân vật kể chuyện như vậy khiến cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy.

Nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan.

2. Soạn bài chiếc lược ngà cực ngắn

Câu 1

Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi cho đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có việc về thăm nhà, thăm con.

Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặng làm cha em không giống với người trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với người cha như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì ông Sáu phải ra đi.

Ở căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quý, thương nhớ con làm một chiếc lược bằng ngà cho con gái bẻ bỏng.

Trong một trận càn quét, ông hy sinh. Trước lúc nhắm mắt, ông đã trao cây lược cho người bạn nhờ gửi cho con gái mình

– Tình huống bộc lộ sâu sắc tình cảm cha con:

+ Tình huống 1: Đó là cuộc gặp gỡ giữa cha con sau 8 năm xa cách nhưng thật trớ trêu vì vết sẹo đẽ khiến bé không nhận ra Cha, đến lúc em nhận ra thì Ba phải trở về và tiếng “Ba” được em cất lên như xé lòng tiếng ba ấy đã bị đè nên bao lâu nay

+ Tình huống 2: Ở khi căn cứ, ông Sáu đã dồn hết tình yêu thương, nỗi nhớ con vào chiếc lược ngà để tặng cho cô con gái bé bỏng.

Câu 2

Diễn biến tâm lí

– Lúc đầu: từ ngạc nhiên đến hoảng sợ sau đó là cự tuyệt nhất quyết không gọi ông Sáu là ba.

– Khi nhận ra: nghiêm túc suy nghĩ về vết sẹo của cha mà bà kể lúc ba đi thì vỡ òa, chạy đến ôm, hôn không muốn để ba đi, tiếng ba đã bị chiến tranh vùi lâu bao lâu nay đã được cất lên

* Tính cách bé Thu: Là 1 đưa trẻ hồn nhiên, ngay thơ nhưng rất rạch ròi, không thể hiện tình cảm khi chưa biết ông Sáu là ba mình.

* Nghệ thuật miêu tả tâm lí: Thể hiện tác giả am hiểu tâm lí trẻ em, trân trọng những nét ngây thơ, hồn nhiên về tình cảm của chúng.

Câu 3

Tình cảm sâu nặng và cao đẹp của ông Sáu

– Nôn nóng được gặp com. Sau đó dành yeeuts tình yêu thương của mình vào chiếc lược ngà

– Nét đẹp: Họ đã gạt bỏ gia đình sang một bên, sẵn sáng chiến đấu hi sinh vì Tổ Quốc. Nhưng trong lòng người cha ấy vẫn luôn danh cho con 1 tình yêu đẹp đẽ và cao thượng.

Câu 4

– Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật “tôi” – Bạn anh Sáu

– Cách chọn vai kể như vậy giúp cho câu chuyện được diễn ra một cách khách quan, toàn cảnh.

3. Soạn bài chiếc lược ngà siêu ngắn

Câu 1

Trước khi chuẩn bị đi tập kết, anh Ba và anh Sáu về thăm gia đình. Nhưng suốt gần 3 ngày đêm ở nhà, bé Thu 8 tuổi, con gái anh Sáu nhất quyết không chị nhận anh làm cha, mặc dù anh đã dùng hết mọi cách chứng minh anh là cha nó. Thu đối xử với cha nó như người xa lạ.

Khi Thu nhận cha thì cùng là lúc chia Tay, Ở khu căn cứ, anh Sáu dùng hết tình cảm và tâm sức để làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cho con gái yêu.

Nhưng trong một trận càn, anh Sáu đã hi sinh. Trước lúc nhắm mắt anh còn kịp trao cây lược ngà cho anh Ba nhờ trao tận tay cho con gái.

Câu 2 : Diễn biến tâm lí bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng

– Trước khi nhận ông Sáu làm cha: người cha càng mừng vui, ôm hôn âu yếm thì người con càng ngờ vực lảng tránh và lạnh nhạt. Đó là phản ứng tâm lí tự nhiên bởi em kiêu hãnh về một người cha khác người chụp ảnh chung với má.

– Khi nhận Ông Sáu là cha: bé Thu đột ngột thay đổi, cất tiếng kêu thét lên “Ba…a chúng tôi vừa kêu vừa chạy xô tới nhanh như 1 con sóc, nó hôn lên cha nso cùng khắm tóc, cổ, vai và hôn lên cả vét thẹo dài trên má cha cho nó nữa, 2 tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ 2 tay không thể giữ chặt ba nó, nó dạng 2 chân ra câu chặt vào cha nó và đôi vai nó run run “Giờ phút chia tay, tình yêu và nỗi mong nhớ cha dồn nén bấy lau đã thể hiện mạnh mẽ”

Qua đó ta thấy bé Thu có 1 tình cảm thật sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi ở Thu còn có nét cá tính là sự cứng cỏi đến mức tưởng như ương ngạnh, nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên ngây thơ.

Câu 3

Tình cảm sau rộng của ông Sáu đối với con được thể hiện qua

– Biết con chưa nhận mình “khổ tâm đến mức không khóc được” nhưng ông Sáu vẫn kiên định chờ đợi

– Tìm mọi cách làm thân với con, không nén được giận đánh mắng con.

– Trong buổi chai tay đành bất lực chào con ra đi

– Về khu căn cứ luôn day dứt ân hận vì đã chót đánh mắng con.

– Sung sướng cảm động hạnh phúc, nghẹn ngào khi con gái yêu đột ngột thay đổi thái độ.

– Ông vui mừng khi kiếm được khúc ngà, dồn hết tâm chí vào làm cái lược và tẩn mẩn khắc từng nét ” yêu nhớ tặng con gái ba!”. Nhưng rồi 1 tình cảm đau thương đến với cha con ông Sáu. Ông đã hi sinh khi chưa kịp trao vào tay đứa con gái Chiếc lược ngà.

Câu 4

Truyện được kể theo là trần thuật của nhân vật bác Ba – người bạn thân của ông Sáu.

V Soạn văn bài Chiếc lược ngà phần luyện tập

Hướng dẫn soạn bài Chiếc lược ngà phần luyện tập, trả lời câu hỏi trang 203 sách giáo khoa:

1. Bài 1 trang 203 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Giải thích Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật:

– Tuy hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược nhưng lại rất nhất quán, điểm nhất quán đó chính là tình yêu thương của bé Thu dành cho ba mình.

– Trong những ngày đầu, bé Thu kiên quyết không nhận ông Sáu, vùng vằng với ông bởi bé Thu thấy ông Sáu không giống với hình ảnh người ba lâu nay in hằn trong trí nhớ của bé từ tấm ảnh chụp chung với má ➜ bé Thu luôn mong nhớ ba, ghi nhớ hình ảnh của ba trong trái tim.

2. Bài 2 trang 203 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Em hãy viết lại đoạn truyện kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai cha con ông Sáu theo lời hồi tưởng của một nhân vật khác (ông Sáu hoặc bé Thu).

Tối qua nghe lời bà giảng giải tôi đã hiểu ra tất cả mọi chuyện. Thì ra người tôi vẫn ruồng bỏ mấy ngày nay chính là ba tôi. Chỉ tại chiến tranh mà tôi đã cứng đầu không nhận ra ba. Sáng cuối cùng ba tôi còn ở nhà, tôi theo ngoại về, lòng đầy day dứt, ân hận.

Nhà tôi sáng hôm ấy rất đông họ hàng nội ngoại. Ba tôi bận bịu tiếp khách, tôi đứng nép vào góc nhà, tựa cửa và nhìn mọi người đang vây quanh ba tôi. Tôi muốn chạy lại phía ba, gọi ba nhưng chỉ có thể đứng trân trân ở đấy. Đến lúc chia tay, sau khi bắt tay hết mọi người, ba tôi đưa mắt nhìn tôi đứng trong góc nhà. Ba nói khe khẽ “Thôi! Ba đi nghe con!”.

Tôi như vỡ òa, nỗi nhớ ba không thể kìm nén được nữa, thét lên “Ba…a…a…ba!”. Tôi ôm cổ ba, vừa khóc vừa nói không muốn cho ba đi. Hai ba con ôm hôn nhau, tôi hôn cả vết thẹo dài bên má ba tôi. Ba tôi một tay ôm tôi, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên tóc tôi và bảo “Ba đi rồi ba về với con”.

Tôi vẫn không thể chấp nhận được sự thật rằng mình phải xa ba ngay lúc này, lỗi của tôi đã phung phí thời gian ở cạnh ba những ngày vừa rồi. Nhưng biết ba phải đi kháng chiến, chẳng đành nhưng tôi với ba cũng phải chia tay nhau.

Trước khi ba đi, tôi mếu máo bảo ông: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” rồi từ từ tuột xuống khỏi tay ba. Đó là lần cuối cùng tôi còn được gặp ba mình.

VI Tổng kết bài chiếc lược ngà

– Bằng việc sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí, đoạn trích truyện Chiếc lược ngà đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

– Truyện đã thành công trong việc miêu tả tâm lí và xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật bé Thu.

Soạn Bài Chiếc Lược Ngà

Soạn bài Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng

Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu… chị cũng không muốn bắt nó về): Ông Sáu trở về thăm nhà trong ba ngày nghỉ phép

– Phần 2 (tiếp… vừa nói vừa từ từ tụt xuống): Cuộc nhận cha cảm động của ông Sáu và bé Thu

– Phần 3 (còn lại): Ông Sáu và kỉ vật chiếc lược ngà

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 202 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Tóm tắt

Ông Sáu sau một thời gian đi kháng chiến xa nhà, ông được trở lại thăm gia đình và đứa con gái sau 8 năm xa cách. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong bức hình chụp chung với má. Mãi về sau khi nhận ra cha thì đã muộn. Vào chiến khu ông làm chiếc lược tặng cho con. Nhưng chưa kịp trao cho con, ông Sáu hi sinh trong một trận càn, trước khi nhắm mắt, ông chỉ kịp nhờ bác Ba trao lại cho con

– Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên. Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi bé Thu chưa đầy một tuổi.Sau tám năm xa cách, anh trở về, đứa con gái không chịu nhận ba. Đến lúc bé Thu nhận ra và gọi aanh bằng ba là lúc anh phải ra đi nhận nhiệm vụ mới.

– Tình huống thứ hai: Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.

Câu 2 (trang 202 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Diễn biến tâm lý của bé Thu trong lần cuối gặp cha:

– Bé Thu trước khi nhận ra ông Sáu:

+ Ông Sáu cố gần, vồ vập thì Thu càng lạnh nhạt

+ Thu không nhận ra ba bởi vết thẹo trên má khác với bức hình ba chụp với má

→ Bé Thu bướng bỉnh, ngang ngạnh nhưng hết sức hồn nhiên và đáng yêu

– Bé Thu khi nhận ra cha:

+ Thay đổi thái độ, đột ngột cất tiếng kêu thét lên

+ Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai, hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa

+ Nó dang hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, đôi vai của nó run run

→ Tình yêu thương ba được dồn nén bấy lâu nay được thể hiện mạnh mẽ

Qua biểu hiện tâm lí và hành động tác giả thể hiện rõ tính cách của bé Thu rõ ràng, mạnh mẽ, có tình yêu thương ba sâu sắc

Câu 3 (trang 202 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Tình cảm sâu nặng và cao đẹp của ông Sáu được thể hiện qua:

+ Khi suồng chưa cập bến nhưng đã vội nhảy lên bờ, nóng lòng muốn gặp con

+ Khi bé Thu còn chưa nhận ra ông Sáu “khổ tâm đến không khóc được” nhưng ông Sáu kiên nhẫn chờ đợi.

+ Nỗi day dứt, ân hận vì đã đánh con

+ Ông như được gỡ rối phần nào tâm trạng của bản thân khi làm cho con chiếc lược ngà

→ Những chi tiết trên không chỉ nói lên tình cảm cha con sâu nặng, cảm động mà còn gợi ra khung cảnh chiến tranh đau thương, mất mát, khiến con người rơi vào cảnh éo le.

Câu 4 (trang 202 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Truyện được kể theo lời của nhân vật bác Ba – đồng đội, bạn thân của ông Sáu

Cách chọn vai kể này, có tác dụng làm người chứng kiến khách quan có tác dụng rõ rệt trong việc vừa kể vừa bày tỏ sự đồng cảm với các nhân vật, thể hiện nội dung tư tưởng truyện

Luyện tập

Bài 1 (trang 203 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Thái độ và hành động của bé Thu trái ngược nhau trong ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông Sáu ra đi nhưng vẫn nhất quán trong tính cách:

+ Do tình yêu thương sâu đậm của bé Thu dành cho ba

+ Những ngày đầu, bé Thu kiên quyết không nhận ba do ông Sáu có vết thẹo trên má, khác với hình ảnh Thu nhìn thấy khi chụp với mẹ

+ Khi nhận ra ba tuy đã muộn nhưng Thu vẫn kịp gọi ba, và trao tình yêu thương tới ba.

Bài 2 (trang 203 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Tôi còn nhớ như in, những ngày đầu khi ba về, nhìn vết thẹo dài trên má của ba, tôi vừa sợ, vừa không tin đó là ba. Những ngày ba ở nhà, tôi bướng bỉnh không nhận ba. Cho tới khi được bà ngoại giải thích, lúc tôi nhận ra ba cũng là lúc ba phải trở lại chiến trường. Lúc chia tay ba, tôi sợ ba đi mất, tôi hét lên “ba ở nhà với con” trong tiếng nức nở, rồi tôi quắp hai chân chặt lấy người ba, tôi hôn ba cùng khắp, rồi còn đòi ba hứa tặng tôi cây lược ngà.

Bài giảng: Chiếc lược ngà – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Chiếc Lược Ngà (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 202 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Kể tóm tắt cốt truyện của văn bản đoạn trích. Tình huống nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu? Lời giải chi tiết:

– Tóm tắt truyện:

Ông Sáu đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà. Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không còn giống với người trong bức ảnh chụp mà em đã biết. Em đối xử với ba như với người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương cho đứa con vào việc làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược cho người bạn.

– Truyện đã thế hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con ông Sáu trong hai tình huống:

+ Cuộc gặp gỡ của hai cha con sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha, đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi. Đây là tình huống cơ bản của truyện.

+ Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm cây lược ngà đế tặng con, nhưng ông đã hi sinh khi chưa thể gửi món quà ấy cho con gái.

Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha, thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha với đứa con.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 202 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Phân tích diễn biến tâm lý và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép. Qua đó hãy nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả? Lời giải chi tiết: a) Thái độ và hành dộng của Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha

– Bé Thu lại tỏ ra ngờ vực, lảng tránh và ông Sáu càng muôn gần con thì đứa con lại càng tỏ ra lạnh nhạt, xa cách.

– Tâm lí và thái độ ấy của Thu đã được biểu hiện qua hàng loạt các chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: hốt hoảng, mặt tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu, chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi là cha: nhất định không chịu nhờ ông giúp chắt nước nồi cơm to đang sôi, hất cái trứng cá mà ông gắp cho; cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xu: kêu rổn rảng thật to.

b) Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha

– Lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi “ba” và tiếng kêu như xé, rồi “nó vừa kêu vừa chạy tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chãi lấy cố ba nó”, “nó hôn ba nó cùng khắp.

– Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai là hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó siết chặt lấy chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rác câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”.

c) Qua biểu hiện tâm lý và hành động của bé Thu, tác giả đã làm nổirõ một số nét tính cách của nhân vật

– Thu có tình yêu thương cha sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật dứt khóat, rạch ròi, ở Thu còn có nét cá tính là sự cứng cỏi đến mức tưởng như ương ngạnh, nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ hết mực yêu cha.

– Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu, chứng tỏ tác giả am hiểu tâm lý trẻ em, yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 202 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Phân tích tình cảm cha con sâu nặng ở ông Sáu đối với con đã được thể hiện qua những chi tiết, sự việc nào? Điều đó bộc lộ thêm nét đẹp gì trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng ấy. Lời giải chi tiết: * Những ngày nghỉ phép ở nhà cùng con

– Xúc động mãnh liệt trong khoảnh khắc gặp lại con sau 8 năm xa cách: Vội vàng, hấp tấp nhảy lên bờ gọi con; Đưa tay đón con; …

– Đau đớn vì bé Thu không đáp lại tình cảm của ông mà sợ hãi bỏ chạy: Sầm mặt lại, hai tay buông thõng như bị gãy

– Suốt 3 ngày phép ông Sáu làm mọi cách để bé Thu thay đổi: Ông không đi đâu, chỉ quanh quẩn bên con, ông không giận con mà chỉ khe khẽ lắc đầu, cười trước sự bướng bỉnh, xa lánh của con.

– Khi chia tay, ông bộc lộ tình yêu con sâu nặng: Anh không dám lại gần con, chỉ nhìn con bằng ánh mắt trìu mến, buồn râu.

* Khi ông trở lại chiến trường

– Luôn cảm thấy ân hận, khổ tâm vì đã đánh con.

– Không quên lời hứa với con. Ông hiểu mơ ước ngây thơ của con. Cô bé muốn có 1 vật dụng để luôn nhớ về cha: Ông tỉ mỉ cưa từng răng lược, cẩn thận khắc từng nét chữ “yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Lúc nhớ con, ông lấy cây lược ra ngắm nghía, mài lên mái tóc.

– Thậm chí, cái chết cũng không cướp đi được tình yêu thương con của ông Sáu: Vết thương nặng trong một trận càn khiến ông kiệt sức, không trăng trối được điều gì nhưng ông vẫn dồn hết tàn lực móc cây lược trao cho đồng đội và gửi gắm đồng đội mình qua ánh mắt.

* Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu, mà còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những đau thương mất mát, éo le mà chiến tranh mang đến cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 202 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Truyện được kể theo lời trần thuật của nhân vật nào? Cách chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện? Lời giải chi tiết:

– Truyện được trần thuật theo lời người bạn ông Sáu, người đã chứng kiến những cảnh ngộ éo le của cha con ông. Cảnh ngộ ấy đã gợi lên bao nhiêu xúc động ở nhân vật kể chuyện: “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng, xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cô đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng ba như vỡ tung ra từ đáy lòng nó”. Lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu những hy sinh mà bạn mình phải chịu đựng khiến cho ông bỗng thấy khó thở như có bàn tay nắm lấy trái tim”.

– Tác dụng:

+ Chọn nhân vật kể chuyện như vậy khiến cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy.

+ Nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan.

Luyện tập Trả lời câu 1 (trang 203 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược, trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật. Trả lời:

– Tuy hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược nhưng lại rất nhất quán, điểm nhất quán đó chính là tình yêu thương của bé Thu dành cho ba mình.

Trả lời câu 2 (trang 203 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Viết lại đoạn truyện kể về cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai cha con ông Sáu theo lời hồi tưởng của một nhân vật khác Trả lời:

Tối qua nghe lời bà giảng giải tôi đã hiểu ra tất cả mọi chuyện. Thì ra người tôi vẫn ruồng bỏ mấy ngày nay chính là ba tôi. Chỉ tại chiến tranh mà tôi đã cứng đầu không nhận ra ba. Sáng cuối cùng ba tôi còn ở nhà, tôi theo ngoại về, lòng đầy day dứt, ân hận. Nhà tôi sáng hôm ấy rất đông họ hàng nội ngoại. Ba tôi bận bịu tiếp khách, tôi đứng nép vào góc nhà, tựa cửa và nhìn mọi người đang vây quanh ba tôi. Tôi muốn chạy lại phía ba, gọi ba nhưng chỉ có thể đứng trân trân ở đấy. Đến lúc chia tay, sau khi bắt tay hết mọi người, ba tôi đưa mắt nhìn tôi đứng trong góc nhà. Ba nói khe khẽ “Thôi! Ba đi nghe con!”. Tôi như vỡ òa, nỗi nhớ ba không thể kìm nén được nữa, thét lên “Ba…a…a…ba!”. Tôi ôm cổ ba, vừa khóc vừa nói không muốn cho ba đi. Hai ba con ôm hôn nhau, tôi hôn cả vết thẹo dài bên má ba tôi. Ba tôi một tay ôm tôi, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên tóc tôi và bảo “Ba đi rồi ba về với con”. Tôi vẫn không thể chấp nhận được sự thật rằng mình phải xa ba ngay lúc này, lỗi của tôi đã phung phí thời gian ở cạnh ba những ngày vừa rồi. Nhưng biết ba phải đi kháng chiến, chẳng đành nhưng tôi với ba cũng phải chia tay nhau. Trước khi ba đi, tôi mếu máo bảo ông: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” rồi từ từ tuột xuống khỏi tay ba. Đó là lần cuối cùng tôi còn được gặp ba mình.

Bố cục Bố cục (3 phần)

– Phần 1 (từ đầu đến “chị cũng không muốn bắt nó về”): Ông Sáu trở về thăm nhà trong ba ngày nghỉ phép nhưng bé Thu không nhận ông là ba.

– Phần 2 (tiếp theo đến “vừa nói vừa từ từ tuột xuống”): Bé Thu nhận ra ba và cuộc chia tay của hai cha con.

– Phần 3 (đoạn còn lại): Ông Sáu hi sinh ở chiến trường và chuyện chiếc lược ngà.

ND chính

Đoạn trích truyện Chiếc lược ngà đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

chúng tôi

Hướng Dẫn Soạn Bài Chiếc Lược Ngà

Nguyễn Quang Sáng

1.Tác giả :

– Nguyễn Quang Sáng, sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới,tỉnh An Giang.

– Trong kháng chiến chống Pháp,ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ.

– Từ sau năm 1954, tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn..

– Những năm chống Mĩ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học.

– Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình.

– Năm 2000, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

2.Tác phẩm : a. Hoàn cảnh sáng tác:

– Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966-khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ những năm kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

– Nói về hoàn cảnh viết truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, Nguyễn Quang Sáng tâm sự:

“Năm 1966, tôi từ miền Bắc trở về miền Nam. Vùng Đồng Tháp Mười mênh mông nước trắng. Tôi đi ghe vào sâu trong rừng và sống ở một nhà sàn treo trên ngọn cây.Lúc đó, đoàn giao liên dẫn đường toàn là nữ. Tôi rất có ấn tượng với câu chuyện của một cô gái giao liên có chiếc lược ngà trắng. Sau khi nghe cô kể chuyện, tôi ngồi viết một ngày, một đêm là hoàn thành tác phẩm này”.

( Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ )

– Văn bản trong sách giáo khoa là đoạn trích phần giữa của truyện.

b. Bố cục: 2 đoạn:

c.Chủ đề: Diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.

d. Tóm tắt :

Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến.Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm ba em không giống với người cha trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với ba như người xa lạ. Đến khi Thu nhận ra cha,tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường trở về khu căn cứ. Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con. Trong một trận càn, ông Sáu hi sinh. Trước lúc ra đi mãi mãi, ông đã kịp trao cây lược cho bác Ba, nhờ bạn chuyển cho con gái.

II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

1. Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng đ­ược một cốt truyện đầy tính bất ngờ, có sức cuốn hút ng­ười đọc. Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên. Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh ch­a đầy một tuổi. Từ đó hai ba con ch­ưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như­ trong bức ảnh chụp ngày c­ới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe đư­ợc tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây l­ược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc l­ược bằng ngà cho con gái. Chiếc l­ược đã làm xong như­ng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.

2. Những sự việc chính của câu chuyện trong đoạn trích là như vậy. Nhưng độ căng và tính bất ngờ của nó chỉ đư­ợc đẩy lên đỉnh điểm khi trong từng sự việc tác giả đã miêu tả những diễn biến tâm lí của nhân vật một cách tinh tế, sinh động. Tình cha con sâu nặng bộc lộ trong những tình huống éo le, ngặt nghèo của bom đạn chiến tranh. Bản thân cốt truyện của đoạn trích Chiếc l­ược ngà đã có giá trị tố cáo tội ác chiến tranh đối với cuộc sống con người. Cha con tám năm trời không gặp nhau là do chiến tranh. Vết thẹo làm biến dạng khuôn mặt anh Sáu, khiến con bé không nhận ra ba là do chiến tranh. Và thật đau xót, ng­ời cha ch­ưa kịp trao cho đứa con hết mực yêu thương của mình kỉ vật như­ lời hứa thì chiến tranh đã c­ướp đi sinh mạng anh. Tuy nhiên, cái mà tác giả tập trung thể hiện là những con ngư­ời, là nhân vật.

3. Tác giả đã chứng tỏ tài năng của mình trong việc xây dựng nhân vật một bé gái tám tuổi bư­ớng bỉnh và gan góc. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một ngư­ời ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày c­ưới. Nó nhất quyết không chịu nhận ba, không gọi ba vì thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn ngư­ời cứ gọi nó là con, bắt nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má. Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Chi tiết gọi “trổng” và chi tiết chắt n­ước cơm đã khắc hoạ nổi bật sự đáo để hồn nhiên của bé Thu. Đặc biệt là chi tiết bé Thu hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, t­ưởng đâu “con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nh­ưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bư­ớc ra khỏi mâm.”. Đành rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, như­ng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bư­ớng bỉnh, gan góc đến kì lạ của bé Thu sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu. Nhưng lẽ nào ở bé Thu chỉ là sự bư­ớng bỉnh, gan góc đến đáo để? Không hề giản đơn như­ vậy, trong buổi sáng cha nó lên đường:

“Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi ng­ời đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không b­ướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và nhưhông bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.”

Cho đến khi nghe tiếng kêu thét lên: “- Ba.. a… a…ba!” thì mọi ng­ười mới vỡ lẽ ra rằng nó thèm được gọi ba nh­ thế nào, “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như­ vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh nh­ một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.”. Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát đ­ợc có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi “ba” lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như­ xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, th­ơng yêu con vô hạn của ngư­ời cha.

4. Người đọc sẽ nhớ mãi hình ảnh một người cha, ng­ời cán bộ cách mạng xúc động dang hai tay chờ đón đứa con gái bé bỏng duy nhất của mình ùa vào lòng sau tám năm xa cách. Mong mỏi ngày trở về, nóng lòng đ­ược nhìn thấy con, đ­ược nghe tiếng gọi “ba” thân thư­ơng từ con, anh Sáu thực sự bị rơi vào sự hụt hẫng: “anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng th­ương và hai tay buông xuống nh­ư bị gãy”. Mong mỏi bao nhiêu thì đau đớn bấy nhiêu. Anh cũng không ngờ rằng chính bom đạn chiến tranh vừa là nguyên nhân gián tiếp, vừa là nguyên nhân trực tiếp của nỗi đau đớn ấy. Tám năm xa vợ xa con, ở nhà đ­ợc ba ngày rồi lại lên đường, và ra đi mãi… Ba ngày anh đư­ợc ở nhà anh chẳng đi đâu xa, để đư­ợc gần gũi, vỗ về bù đắp những ngày xa con. Lòng người cha ấy đau đớn biết như­ờng nào khi đứa con là máu mủ của mình gọi mình bằng “ng­ười ta”: “Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cư­ời. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc đ­ược, nên anh phải c­ười vậy thôi.”. Cử chỉ gắp từng miếng trứng cá cho con cho thấy anh Sáu là ng­ời sống tình cảm, sẵn sàng dành cho con tất cả những gì tốt đẹp nhất. Và chao ôi là hình ảnh hai đôi mắt của hai cha con trong thời khắc chia xa: “Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Ngư­ời cha ấy sẽ ra đi khi chư­a đ­ược gọi bằng “ba” lấy một lần. Đến tận giây phút cuối cùng, khi không còn thời gian để chăm sóc vỗ về nữa, anh mới thực sự đ­ược làm cha. Đó là sự thiệt thòi, là sự hi sinh không thể xem là nhỏ của ng­ời chiến sĩ cách mạng. Dầu sau này anh Sáu có hi sinh cả tính mạng của mình.

5. Câu chuyện đ­ược kể từ ngôi thứ nhất, ng­ười kể chuyện x­ưng “tôi” có mặt và chứng kiến toàn bộ câu chuyện giữa cha con anh Sáu. Đoạn trích bắt đầu với hình ảnh chiếc lược ngà, khép lại cũng với hình ảnh chiếc l­ược ngà. Ngư­ời kể chuyện kể lại câu chuyện cảm động đã xảy ra, khi anh còn ch­ưa thực hiện đ­ợc ý nguyện cuối cùng của anh Sáu trư­ớc lúc hi sinh: trao lại tận tay con gái kỉ vật của ng­ười cha. Ngư­ời cha ấy đã vui mừng “hớn hở như­ trẻ được quà” khi kiếm đ­ược khúc ngà để làm l­ược tặng con gái như­ lời hứa lúc ra đi. Anh “cưa từng chiếc răng l­ược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như­ người thợ bạc.[…] anh gò lư­ng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba””. Nơi rừng sâu, tất cả nỗi nhớ, tình thương yêu con của anh dồn cả vào công việc ấy, chiếc l­ược ấy. Ng­ười cha nâng niu chiếc lược ngà, ngắm nghía nó, mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm m­ượt, “Cây l­ược ngà ấy ch­ưa chải đ­ược mái tóc của con, nh­ưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”. Chiếc l­ược ngà như là biểu tượng của tình thư­ơng yêu, săn sóc của ng­ười cha dành cho con gái, cho dù đến khi không còn nữa anh chư­a một lần đư­ợc chải tóc cho con. Ngư­ời kể chuyện, đồng đội của ông Sáu đã bộc lộ một sự đồng cảm và xúc động thực sự khi kể lại câu chuyện. Có lẽ, không ai hiểu nhau hơn những ngư­ời đồng đội, gần nhau hơn những ng­ười đồng đội. Cho nên, sau này, khi trao tận tay Thu chiếc l­ược, giữa thu và người đồng đội của cha mình nảy nở một tình cảm giống như­ tình cha con.

6. Đoạn trích Chiếc lư­ợc ngà đã đạt đư­ợc giá trị sâu sắc cả về nội dung và hình thức biểu đạt. Hình tượng chiếc l­ợc ngà và câu chuyện giữa hai cha con ngư­ời cán bộ cách mạng sẽ còn gây được xúc động lâu bền trong lòng ng­ười đọc.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Chiếc Lược Ngà (Trích) trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!