Xu Hướng 12/2022 # Soạn Bài: Muốn Làm Thằng Cuội – Ngữ Văn 8 Tập 1 / 2023 # Top 16 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Soạn Bài: Muốn Làm Thằng Cuội – Ngữ Văn 8 Tập 1 / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Muốn Làm Thằng Cuội – Ngữ Văn 8 Tập 1 / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Tản Đà trong SGK Ngữ văn 8 tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài thơ Muốn làm thằng cuội nằm trong quyển Khối tình con I, xuất bản năm 1917.

* Thể thơ: Bài thơ Muốn làm thằng cuội được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Đây vốn là thể thơ thường được sử dụng để thể hiện những nội dung trang trọng. Tuy nhiên, với bài thơ này, giọng điệu ngông nghênh và tư tưởng bất đắc dĩ của tác giả lại trái ngược với tính chất của thể thơ này.

* Bố cục:

Hai câu đề: Cuộc sống trần gian nhàm chán, buồn tẻ.

Hai câu thực: Cõi mộng tưởng của tác giả

Hai câu luận: Ước mơ thoát li khỏi thực tại

Hai câu kết: Viễn cảnh cuộc sống hạnh phúc.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Hai câu thơ đầu là tiếng than và lời tâm sự của Tản Đà với chị Hằng. Tản Đà có tâm trạng “chán trần thế” là do ông cảm thấy bế tắc và bất hòa sâu sắc với xã hội lúc bầy giờ. Bởi xã hội ta thời đó rất tù hãm, uất ức, đất nước bị mất chủ quyền, người dân phải sống trong xã hội thực dân phong kiến tàn ác, bất nhân. Bên cạnh đó, Tản Đà còn buồn vì phận tài hoa mà lận đận, không đủ sức thay đổi hiện thực bi kịch.

Câu 2:

* Nhiều người đã nhận xét một cách xác đáng rằng, Tản Đà là một hồn thơ “ngông”. “Ngông” ở đây chính là thái độ bất cần đời, dám làm những điều trái với lẽ thường mà không sợ người đời đàm tiếu, đó chính là thái độ phóng túng, coi thường khuôn phép.

* Cái “ngông” của Tàn Đà trong ước muốn được làm thằng cuội:

Muốn thoát khỏi cõi trần buồn chán, xấu xa để lên cõi mộng

Xưng hô suồng sã với chị Hằng, muốn được chị coi là bạn.

Cách lên trời, lên trăng bộc lộ chất “ngông”: muốn chị Hằng ghì cành đa xuống

Câu 3 là sự ướm hỏi thì câu thơ thứ 4, Tản Đà tự tin về bản thân, khi lên được cung quế sẽ làm cho chị Hằng bớt lẻ loi, buồn tủi.

Câu 3:

Hình ảnh cuối bài thơ : “Tựa nhau trông xuống thế gian cười”. Cái cười ở đây mang nhiều ý nghĩa:

Cười thể hiện niềm vui được thỏa mãn ước mơ lên cõi mộng tưởng

Cười vì nhà thơ nhìn thấy thế gian ông từ bỏ vẫn là trần tục tầm thường, buồn chán

Cười để thể hiện sự mỉa mai, giễu cợt khi Tản Đà ở vị trí cao hơn cõi trần ông đang sống.

Câu 4:

Những yếu tố nghệ thuật đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ:

Trí tưởng tượng sáng tạo, tâm hồn bay bổng của nhà thơ

Thể thơ thất ngôn bát cú mà lời thơ tự nhiên, giản dị, phóng khoáng

Giọng điệu khi thì than thở, khi thì cầu xin, khi lại đắc ý làm cho bài thơ trở nên vui tươi, linh hoạt.

Có những cách tân mới khi thể hiện cái “tôi”, khác với những bài thơ Đường cổ điển.

2.5

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội Của Tản Đà / 2023

SOẠN BÀI: MUỐN LÀM THẰNG CUỘI

– Tản Đà là một nhà Nho lận đận trong khoa cử chuyển sang làm báo viết văn, làm thơ.

Thơ của ông tràn đầy cảm xúc lãng mạn, rất đậm đà bản sắc dân tộc và có những tìm tòi, sáng tạo mới mẻ.

Thơ của ông như một gạch nối giữa hai nền thơ cổ điển và nền thơ hiện đại Việt Nam.

Ngoài ra Tả Đà còn viết văn xuôi với giấc mộng con I, II, giấc mộng lớn.

Bài thơ Muốn làm thằng cuội nằm trong quyển khối tình con I, xuất bản 1917.

Mở đầu bài thơ nhà thơ giải bày tâm sự buồn chán trần thế với chị Hằng

Từ xưng hô: chị – em.

Vì cuộc sống trần thế không có niềm vui nào dành cho con người.

-Tác giả ước muốn lên cung trăng với chị Hằng bằng cách chị Hằng thả cành đa nhắc tác giả lên.

-Lời đề nghị của tác giả thật mộng mơ tình tứ biểu hiện một tâm hồn lãng mạn.

-Thế giới bao la ánh sáng yên ả thanh bình và vui tươi.

-Giọng thơ nũng nịu, hồn nhiên, với giọng thơ ấy, tác giả muốn thoát ly thực tại mọi cái tầm thường và khao khát được sống một thế giới bao la, thanh bình.

-Tác giả ao ước thoát trần lên cung trăng để chơi, để được bầu bạn, rong ruỗi thả hồn cùng gió mây quên hết nỗi buồn trần thế.

-Từ ngữ trong hai câu thơ này được sử dụng một cách tự nhiên, giản dị làm cho ý thơ tự do vui vẻ.

Nhà thơ thể hiện khát vọng được sống tự do, vui vẻ, thỏa mãn dời sống nội tâm.

-Hằng (tựa nhau) cùng trông xuống trần thế. Đây là cách bầu bạn với trăng khác với các nhà thơ khác.

-Ba hoạt động đó là: Tựa nhau, trông, cười.

Hoạt động cười là trực tiếp bộ lộ thái độ của tác giả.

-Tác giả cười vì giờ đây không ai được như tác giả, được ngồi trên cung trăng bên chị Hằng khinh bỉ cõi trần bon chen đầy rẫy những bụi bặm, cái xấu, cái lố lăng.

Tác giả cười vì đã thỏa mãn khát vọng thoát ly thực tại của mình

-Ngông là bản lĩnh của con người có các tính mạnh mẽ không chịu ép mình trong khuôn khổ chật hẹp của lề thói, Cái ngông của Tản Đà thể hiện trong bài thơ là cách xưng hô với chị Hằng. Cái ngông trong ước nguyện lên cung trăng muốn làm thằng cuội và cách đề nghị lên cung trăng cũng rất ngông, rất mộng mơ, rất tình tứ với chị Hằng. Rồi cái ngông cao độ là cùng tựa vai với người đẹp trông xuống thế giầnm cười ngạo nghễ.

-Nỗi buồn chán thực tại. Muốn thoát ly cuộc sống chật hẹp trần thế lên cung trăng cùng với chị Hằng.

-Ngôn ngữ bình dị tự nhiên không bị gò bó, dùng từ thuần Việt.

Giọng thơ nhẹ nhàng, hóm hỉnh

Bộc lộ cảm xúc trực tiếp chân thành.

Ông là người có công cách tân thẻ thơ cổ điển, một nhà thơ mới ở tâm hồn.

Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1 / 2023

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 32 SBT Ngữ văn 8 tập 1. Phân tích tình cảnh của lão Hạc. Tình cảnh ấy cho ta hiểu gì về số phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 ?

1. Phân tích tình cảnh của lão Hạc. Tình cảnh ấy cho ta hiểu gì về số phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 ?

Trả lời:

Chú ý tình cảnh tội nghiệp, ngày càng túng quẫn của lão Hạc :

– Nhà nghèo, vợ đã chết, chỉ còn đứa con trai. Tât cả tài sản của lão chỉ là mảnh vườn nhỏ.

– Phẫn chí vì không có tiền cưới vợ, người con trai lại bỏ đi làm phu đồn điền cao su biền biệt, một năm nay chẳng có tin tức gì. Lão Hạc làm thuê để sống, còn tiền hoa lợi của mảnh vườn, lão dành dụm cho người con trai.

– Sau một trận ốm lão không còn làm thuê được nữa, mà tiền dành dụm cũng hết. Rồi lại gặp trận bão hoa màu bị phá sạch, giá thóc gạo lên cao,… lão rất túng quẫn.

– Dù không muốn, lão Hạc đành phải bán “cậu Vàng”, kỉ vật của anh con trai, người bạn tâm tình của lão vì lão không thể nào hằng ngày lo đủ gạo cho cả lão và con chó.

– Từ đó, lão chỉ còn ăn khoai, củ chuối, sung luộc, rau má,… Tuy lão vẫn còn mảnh vườn và số tiền nhỏ dành dụm, nhưng lão quyết giữ cả lại cho đứa con sau này trở về (lão hi vọng thế)…

– Cuối cùng, cảm thấy không còn có thể sống thêm được nữa, lão Hạc quyêt định tự tử bằng bả chó. Lão chết “cái chết thật là dữ dội”, đau đớn… Lão phải chết vì bị đẩy tới cùng, không còn đường sống. Ông lão nông dân suốt đời lao động cần cù, vất vả ấy đã không thể sống, kể cả sống trong nghèo khổ. Cuộc sống cùng khôn và cái chết bi thảm của lão Hạc cho thấy số phận thê thảm của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

2. Nhận xét của em về việc lão Hạc bán “cậu Vàng”. Qua đó em thấy lão Hạc là con người như thế nào ?

Trả lời:

Cần xuất phát từ tình cảnh cụ thể của lão Hạc lúc đó và nhât là từ bản chất con người của lão. Cụ thể là :

– Vì sao đối với lão Hạc, việc bán đi con chó lại quan trọng đến thế ? Vì sao việc lão quyết định bán con chó lại khó khăn, lão phải tính toán, do dự nhiều đến thế ? Đối với lão, “cậu Vàng” có ý nghĩa như thế nào ?

– Thái độ, tâm trạng của lão Hạc khi kể lại với “ông giáo” cảnh bán “cậu Vàng” như thế nào ?

– Từ những phân tích trên, có thể nhận xét về con người lão Hạc. Đó là một ông già vô cùng nhân hậu – tình cảm đặc biệt của lão dành cho “cậu Vàng” cho thấy rõ bản chất nhân hậu cao quý đó. Lão kể lại việc bán “cậu Vàng” cho “ông giáo” với tâm trạng hết sức đau đớn : “lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Khi nhắc đến việc “cậu Vàng” bị lừa rồi bị bắt trói thì “lão hu hu khóc”. Lão không thể tha thứ cho mình việc đã đánh lừa một con chó trung thành : “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó !”. Phải là người có trái tim thật nhân hậu, thật trong sạch thì lương tâm mới bị giày vò đau đớn, mới cảm thấy có lỗi không thể tha thứ đối với một con chó như vậy.

3. Em hiểu thế nào về nguyên nhân cái chết của lão Hạc ? Em có suy nghĩ gì về con người lão qua việc lão quyết định tự tử (sau khi thu xếp nhờ cậy “ông giáo” một số việc) ?

– Lão Hạc rất nghèo, lại già yếu, ốm đau, không còn có thể làm thuê kiếm ăn được nửa. Tuý có mảnh vườn và dành dụm được món tiền nhỏ từ việc bòn vườn nhưng lão quyết dành lại cả cho đứa con trai đang ở xa, còn lão chỉ ăn khoai, củ chuối, sung,… cho qua bữa.

– Trong tình thế ấy, lão quyết định tự tử, một quyết định âm thầm mà quyết liệt vì còn sống thì còn phải ăn, nhưng lão không còn có thể làm gì để kiếm ăn, trong khi lão kiên quyết không bán mảnh vườn, cũng quyết không đụng chạm tới số tiền nhỏ dành dụm được từ hoa lợi mảnh vườn đó, để dành trọn vẹn cho con khi nó trở về. Trước khi tự tử, lão đã cầu khẩn cậy nhờ “ông giáo” nhận đứng tên trông nom mảnh vườn để không còn ai tơ tưởng nhòm ngó, sau sẽ trao lại cho anh con trai… Vậy là lão Hạc quyết chết để bảo vệ mảnh vườn cho anh con trai mà lão tin sẽ trở về… Đó là sự hi sinh thật cảm động của một người cha.

– Vì rất tự trọng, lão Hạc dù chết đói vẫn không chịu nhận bố thí dù của bất cứ ai. Khi đã quyết định tự tử, cũng với lòng tự trọng rất cao và nhân cách hết sức trong sạch, lão không muốn hàng xóm phải phiền lụy về cái xác già của mình, đã gửi ông giáo toàn bộ số tiền dành dụm bằng cách nhịn ăn để nhờ ông giáo đưa ra nói với hàng xóm lo giúp sau khi lão chết.

Có thể nói, qua quyết định tự tử để rồi chết một cách đau đớn của lão Hạc, có thể thấy đó là một ông già nông dân nghèo có những phẩm chất cao đẹp : thương con tới mức hi sinh và lòng tự trọng hiếm có, thể hiện một ý thức nhân phẩm rất cao.

4. Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Lão Hạc. (Chú ý nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật.)

Trả lời:

Cần thấy đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của nhà văn lớn Nam Cao. Tài nghệ bậc thầy của nhà văn thể hiện một cách toàn diện, ở đây chỉ nêu lên mây khía canh nổi bật nhất:

– Đặc sắc của nghệ thuật kể chuyện (trần thuật) : Người kể chuyện là nhân vật “tôi” (ông giáo). Qua nhân vật “tôi”, tác giả có thể biểu lộ những cảm xúc, ý nghĩ của mình. Câu văn vì vậy thấm đậm chất trữ tình, giàu sức truyền cảm. Chú ý sự thể hiện chất trữ tình đó của tác phẩm trong giọng văn, qua những câu cảm thán, khi tác giả không nén được cảm xúc dâng trào, đã gọi nhân vật lên để nói chuyện “Lão Hạc ơi ! Hỡi ơi lão Hạc”. Chât trữ tình còn thể hiện ở những lời tâm sự của nhân vật “tôi” , ở những suy nghĩ có tính châ’t triết lí của tác giả : “Chao ôi ! Đôi với những người ở quanh ta…”. Những câu văn trữ tình triết lí đó làm cho tác phẩm có chiều sâu cảm xúc và chiều sâu tư tưởng đặc biệt.

Cũng với cách dùng nhân vật “tôi” làm người kể chuyện, tác giả đã vào truyện, dẫn dắt câu chuyện một cách linh hoạt, thoải mái mà vẫn chặt chẽ, liền mạch. Chẳng hạn, mở đầu đi thẳng vào giữa truyện, rồi mới ngược thời gian kể về cảnh ngộ nhân vật, từ chuyện bán con chó sang chuyện anh con trai bổ đi phu… Cách dẫn dắt câu chuyện như thế là rất mới mẻ, tưởng như lỏng lẻo mà thật ra rất chặt chẽ, tập trung.

– Đặc sắc trong xây dựng nhân vật : Nhân vật lão Hạc không hành động nhiều, nhưng đã gây ấn tượng thật sâu đậm trong lòng người đọc. Đáng chú ý là việc thể hiện tính cách nhân vật lão Hạc của tác giả không hề đơn giản, phiến diện. Bề ngoài, lão Hạc cồ chút gì như lẩm cẩm, gàn dở, thậm chí như trái tính, mà kì thực đó là một con người thánh thiện, hết sức cao quý, phải nhìn thấu mới thấy được. Chính tác giả (qua nhân vật “tôi”) đã nhận xét “cái bản tính tốt” của con người thường bị “che lấp mất”, phải cố tìm mà hiểu” những người nông dân nghèo khổ chung quanh để phát hiện ra “cái bản tính tốt” thường bị “che lấp” đó của họ. Cần chú ý phân tích những đoạn cho thấy những nét cao quý tiềm tàng trong tính cách lão Hạc. Chẳng hạn, đoạn lão kể cho ông giáo nghe về việc bắt con chó với giọng vô cùng đau đớn ; đoạn lão trình bày với ông giáo những việc lão sẽ nhờ cậy ông giáo trước khi tự tử…

– Có thể nhận xét những điểm, những khía cạnh khác về nghệ thuật tác phẩm mà em thấy rất hay. cần chú ý : Lão Hạc thuộc loại truyện ngắn vừa giản dị, hấp dẫn, vừa rất sâu sắc, nhiều dư vị, đọc xong cứ vương vấn suy nghĩ không dứt. Đó chính là dấu hiệu của một tác phẩm có trình độ nghệ thuật cao.

5. Sau khi lão Hạc mất một thời gian, người con trai trở về làng. Ông giáo đã giạo lại cho anh ta ngôi nhà, mảnh vườn mà người bố tội nghiệp bấy lâu nhờ trông nom, gìn giữ và kể lại quãng đời lão Hạc từ khi anh phẫn chí bỏ làng đi. Em hãy viết một đoạn văn diễn tả tâm trạng của anh con trai lão Hạc ở thời điểm ấy.

Trả lời:

Đây là bài tập rèn luyện trí tưởng tượng và năng lực cảm thụ văn học, nhằm phát huy tính chủ động của cá nhân. Có thể viết đoạn văn miêu tả tâm trạng anh con ữai lão Hạc lúc ấy từ hai góc độ :

– Diễn tả tâm trạng ấy một cách khách quan (người viết ở vị trí người kể, miêu tả). Cách viết này có thể vừa diễn tả nội tâm, cảm xúc vừa miêu tả bộ dạng, hành động của nhân vật anh con trai lão Hạc.

– Diễn tả bằng dòng độc thoại nội tâm của nhân vật (người viết nhập thân vào nhân vật anh con trai lão Hạc và đứng ra kể, tâm sự). Cách viết này dễ giàu cảm xúc, trữ tình.

chúng tôi

Bài tiếp theo

Soạn Bài: Hai Cây Phong – Ngữ Văn 8 Tập 1 / 2023

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Ai-ma-tốp trong SGK Ngữ văn 8 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Văn bản Hai cây phong là phần đầu của truyện Người thầy đầu tiên – một tác phẩm nổi tiếng của Ai-ma-tốp khá quen thuộc với bạn đọc Việt Nam.

* Tóm tắt

Truyện kể về Làng Ku-ku-rêu nằm ven chân núi. Phía trên làng, giữa một ngọn đồi, có hai cây phong to lớn. Hai cây phong hùng vĩ như những ngọn hải đăng trên núi, như biểu tượng của tiếng nói riêng, tâm hồn riêng của làng. Năm học cuối, bọn trẻ chạy ào lên phá tổ chim, leo lên hai cây phong cao vút để thấy bao vùng đất chưa từng biết và những con sông chưa từng nghe qua. Thuở ấy, nhân vật “tôi” chỉ cảm nhận sự gắn bó tuổi thơ mình với hai cây phong được gọi là “Trường Đuy-sen”.

* Bố cục:

Văn bản Hai cây phong có thể được chia làm 2 phần:

Phần 2: còn lại : Những thước phim quay chậm về kỉ niệm thời thơ ấu gắn bó với hai cây phong.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Căn cứ vào đại từ nhân xưng của người kể chuyện, hai mạch kể phân biệt lồng vào nhau trong Hai cây phong là:

“Tôi” là người kể chuyện, là một họa sĩ đứng ở hiện tại và kể về hai cây phong

“Chúng tôi” là người kể đang nhân danh cho “cả bọn con trai” ngày trước, người kể cũng là một trong những đứa trẻ đó.

* Mạch kể của người kể chuyện xưng “tôi” quan trọng hơn vì “tôi” có mặt ở cả hai mạch kể và “tôi” xuất hiện cả ở phần đầu và phần cuối văn bản. Toàn bộ bức tranh thiên nhiên được vẽ qua bằng sự ngắm nhìn cả tâm hồn và cảm nhận của “tôi”.

Câu 2:

Trong mạch kể chuyện của người kể xưng “tôi”, điều thu hút người kể chuyện cùng bọn trẻ và làm cho chúng ngây ngất là:

Kỉ niệm bọn trẻ chạy ào lên phá tổ chim, chân đất, bám vào các mắt mấu,… làm chấn động cả vương quốc loài chim. Ngồi dưới cành cây suy nghĩ… lắng nghe tiếng gió.

Hai cây phong khổng lồ, đung đưa như muốn chào mời chúng tôi đến với bóng râm mát rượi và tiếng lá xào xạc dịu hiền.

Có thể nói, người kể chuyện (một họa sĩ) đã miêu tả hai cây phong và quang cảnh nơi đây bằng ngòi bút đậm chất hội họa vì:

Đường nét phóng khoáng: đất, dải thảo nguyên, dòng sông, đám mây, đồng cỏ.

Màu sắc vừa chứa đầy sức sống vừa huyền ảo, thơ mộng: sương trắng mờ đục, xanh thắm biếc, sông bạc lấp lánh.

Câu 3:

Trong mạch kể chuyện của người kể chuyện xưng “tôi” , nguyên nhân khiến cho hai cây phong chiếm vị trí trung tâm và gây xúc động sâu sắc cho người kể chuyện vì hai cây phong đã gắn bó với “tôi” từ thời ấu thơ, gắn với quê hương, gắn với nơi chôn rau cắt rốn của “tôi”. Và đặc biệt, hai cây phong là nhân chứng cảm động về tình thầy trò giữa cô bé An-tư-nai và thầy Đuy-sen.

Có thể nói, trong mạch kể xen lẫn tả này, hai cây phong đã được miêu tả hết sức sống động, như hai con người, và không chỉ thông qua sự quan sát của người nghệ sĩ vì nhân vật “tôi” đã hóa thân vào hai cây phong để hiểu được linh hồn của nó chứ không phải chỉ là sự quan sát của người nghệ sĩ bình thường.

Câu 4:

4.4

/

5

(

36

bình chọn

)

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Muốn Làm Thằng Cuội – Ngữ Văn 8 Tập 1 / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!