Xu Hướng 2/2023 # Soạn Bài: Nước Đại Việt Ta – Ngữ Văn 8 Tập 2 # Top 10 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Soạn Bài: Nước Đại Việt Ta – Ngữ Văn 8 Tập 2 # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Nước Đại Việt Ta – Ngữ Văn 8 Tập 2 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi trong SGK Ngữ văn 7 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Nước Đại Việt ta được trích từ Bình Ngô đại cáo. Bình Ngô đại cáo là một bài cáo có ý nghĩa trọng đại như một bản tuyên ngôn độc lập, được công bố vào ngày 17 tháng chạp năm Đinh Mùi (tức đầu năm 1428), sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh của quân Minh xâm lược, buộc Vương Thông phải giảng hòa, chấp nhận rút quân về nước. Bài đại cáo này được viết theo lối văn biền ngẫu, có vận dụng thể tứ lục, kết cấu cũng gồm 4 phần như thể cáo nói chung. Đoạn trích Nước Đại Việt ta là do Bùi Văn Nguyên dịch dựa theo bản dịch của Bùi Kỉ. Nhan đề của đoạn trích là do người biên soạn SGK đặt.

* Thể loại: Cáo là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Đoạn trích là phần mở đầu bài Bình Ngô đại cáo. Đoạn này có ý nghĩa nêu tiền đề cho bài, tất cả nội dung được phát triển về sau đều xoay quanh tiền đề đó. Theo em, khi nêu tiền đề, tác giả đã khẳng định những chân lí:

Nước ta có nền văn hiến lâu đời

Nước ta có cương vực lãnh thổ riêng

Nước ta có phong tục tập quán

Nước ta có lịch sử riêng, có chế độ riêng, có thể sánh ngang hàng với các triều đại Trung Quốc.

Câu 2:

* Qua hai câu thơ:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

* Người dân mà tác giả nói đến ở đây chính là người dân Đại Việt đang bị xâm lược, còn kẻ bạo ngược chính là lũ giặc Minh cướp nước.

Câu 3:

* Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, tác giả đã dựa vào những yếu tố: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng, bình đẳng, ngang hàng với các triều đại Trung Quốc.

* Nhiều ý kiến cho rằng, ý thức dân tộc ở đoạn trích Nước Đại Việt ta là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc ở bài thơ Sông Núi nước Nam là bởi vì trong bài Sông núi nước Nam, ý thức dân tộc được xác định chủ yếu trên hai yếu tố là lãnh thổ và chủ quyền, còn đến đoạn trích Nước Đại Việt ta, 3 yếu tố nữa đã được bổ sung đó là văn hiến, lịch sử và phong tục tập quán. Như vậy, Nguyễn Trãi đã ý thức được rằng văn hiến, truyền thống lịch sử cũng là một trong những yếu tố quan trọng để xác định một dân tộc độc lập, có chủ quyền.

Câu 4:

Những nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích:

Sử dụng nhiều lớp từ ngữ diễn đạt tính chất hiển nhiên, vốn có lâu đời của nước Đại Việt

Biện pháp nghệ thuật so sánh kết hợp với liệt kê tạo hiệu quả cao trong lập luận

Những câu văn biền ngẫu chạy song song liên tiếp với nhau cũng giúp cho nội dung nghệ thuật và chân lí mà tác giả muốn khẳng định chắc chắn và rõ ràng hơn.

Câu 5:

Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn. Trong đoạn trích Nước Đại Việt ta, Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định về nền văn hiến lâu đời của dân tộc ta. Và trên thực tiễn, chúng ta – những người con đất Việt cũng luôn tự hào về những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Mặt khác, nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mĩ tục riêng làm nên hai miền Nam – Bắc. Ta cũng có nền độc lập vững vàng được xây dựng bằng những trang sử vẻ vang. Đồng thời, tác giả lấy những “chứng cớ còn ghi” để chứng minh cho sức mạnh của chính nghĩa, đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc.

Câu 6:

Trình tự lập luận của đoạn trích Nước Đại Việt ta:

5

/

5

(

5

bình chọn

)

Soạn Bài: Nhớ Rừng – Ngữ Văn 8 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Thế Lữ trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Nhớ rừng là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Thế Lữ và là tác phẩm góp phần mở đường cho sự thắng lợi của Thơ mới.

* Thể thơ: Văn bản Nhớ rừng được viết theo thể thơ 8 chữ.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Bài thơ được ngắt thành 5 đoạn:

Đoạn 1: Cảnh ngộ bị tù hãm và nỗi uất hận, ngao ngán, buông xuôi và sự bất lực của con hổ.

Đoạn 2 + 3: Nỗi nhớ nhung, niềm khao khát tự do mãnh liệt qua những hoài niệm về cảnh núi rừng bạt ngàn, kì vĩ, rất tương xứng với sức mạnh của vị chúa tể sơn lâm.

Đoạn 4: Sự khinh ghét của con hổ với vẻ đơn điệu, tầm thường của khung cảnh vườn bách thú, hoàn toàn đối lập với sự hùng vĩ nơi chốn núi rừng.

Đoạn 5: Niềm đau đớn và nỗi tuyệt vọng của kẻ anh hùng sa cơ và những hoài niệm nơi núi rừng khi xưa với giấc mộng tàn.

Câu 2:

Trong bài thơ có 2 cảnh được miêu tả đầy ấn tượng: cảnh vườn bách thú, nơi con hổ bị nhốt (đoạn 2 và đoạn 4); cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những “ngày xưa” ( đoạn 2 và 3).

a)

* Cảnh tượng ở vườn bách thú là cảnh tù túng, ngột ngạt

Đoạn 1: thể hiện tâm trạng chán ngán, căm hờn, uất ức của con hổ khi bị giam hãm trong cũi sắt, bị biến thành đồ chơi, trò tiêu khiển cho con người, bị xếp cùng với những loài thú “dở hơi”, “vô tư lự”. Mặc dù vậy, chúa sơn lâm vẫn vượt khỏi sự tù hãm bằng trí tưởng tượng, sống trong nỗi nhớ về cảnh núi rừng đại ngàn.

* Cảnh núi rừng hùng vĩ, oai nghiêm

Đoạn 2 và 3 miêu tả cảnh núi rừng đại ngàn – nơi con hổ ngự trị những “ngày xưa”. Nơi này, cái gì cũng lớn lao, cao cả và phi thường (bóng cả, cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi). Ở đoạn thơ này, chúa sơn lâm hiện lên với vẻ đẹp vừa tinh tế lại vừa dũng mãnh, uy nghi mà cũng không kém phần mềm mại, uyển chuyển.

b) Có thể nói, việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2 và đoạn 3 rất đặc biệt. Cảnh núi rừng được miêu tả với hàng loạt từ ngữ chỉ sự cao cả, lớn lao, phi thường (bóng cả, cây già, gào, hét, thét). Trong khi đó, chúa sơn lâm hiện lên với phong thái chậm rãi, khoan thai, được so sánh với sóng cuộn nhịp nhàng.

c)

* Qua sự đối lập sâu sắc giữa hai cảnh tượng nêu trên, tâm sự của con hổ ở vườn bách thú được thể hiện với những nỗi bất hòa, chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và nỗi nhớ da diết với quá khứ huy hoàng trước đây của nó.

* Tâm sự của con hổ cũng chính là tâm sự của người dân Việt Nam mất nước đang sống trong cảnh nô lệ và tiếc nhớ khôn nguôi thời oanh liệt với những chiến công chống giặc ngoại xâm vẻ vang của dân tộc ta trong lịch sử.

Câu 3:

Tác giả mượn “lời con hổ ở vườn bách thú” vì nó vừa thể hiện được thái độ chán ngán với thực tại tù túng, tầm thường và giả dối, vừa thể hiện được khát vọng tự do, khát vọng đạt tới sự cao cả, phi thường. Hơn thế nữa, khi mượn lời con hổ, tác giả cũng tránh được sự kiểm duyệt ngặt nghèo của thực dân khi đó. Nhưng dù sao, bài thơ vẫn thể hiện được niềm khao khát tự do thầm kín của những người đương thời.

Câu 4:

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế Lữ: “Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được”. Điều này nói lên việc sử dụng từ ngữ vô cùng điêu luyện của Thế Lữ đã đạt đến độ chính xác cao.

Âm thanh núi rừng, Thế Lữ cho ta nghe thấy tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, tiếng thét khúc trường ca dữ dội.

Một loạt những từ ngữ được điệp lại “nào đâu…”, “đâu những…” tạo ra sự tiếc nuối quá khứ huy hoàng.

Câu thơ nhịp nhàng, cân đối khi miêu tả dáng điệu hùng dũng, mềm mại của con hổ.

1.8

/

5

(

34

bình chọn

)

Soạn Bài: Lòng Yêu Nước – Ngữ Văn 6 Tập 2

I. Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 Tập 2)

II. Tác phẩm

* Văn bản Lòng yêu nước được trích từ bài báo Thử lửa của I-ri-a Ê-ren-bua. Tác phẩm được viết vào tháng 6 năm 1942, thời kỳ khó khăn nhất trong cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941 – 1945).

*  Tóm tắt:

Lòng yêu nước bắt đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất. Nhớ đến quê hương, người dân Xô Viết ở mỗi vùng đều nhớ đến vẻ đẹp tiêu biểu của quê mình. Nỗi nhớ của người vùng Bắc, người xứ U – crai – na, người xứ Gru – di – a, người ở thành Lê – nin – grat không giống nhau nhưng lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê của họ đều trở thành lòng yêu tổ quốc. Người ta càng hiểu sâu sắc hơn về tình yêu đó khi kẻ thù đến xâm lược tổ quốc mình.

III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Đại ý của bài văn:

Bài văn lý giải ngọn nguồn của lòng yêu nước. Lòng yêu nước bắt đầu từ tình yêu, từ những gì thân thuộc, gần gũi, tình yêu gia đình, xóm làng, miền quê. Và lòng yêu nước càng được bộc lộ một cách sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất khi đất nước có giặc ngoại xâm.

Câu 2:

a) Câu mở đầu đoạn văn trên là: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh”.

Câu cuối đoạn là: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

b) Trình tự lập luận trong đoạn văn trên của tác giả rất linh hoạt, sáng tạo, kết hợp giữa diễn dịch và tổng – phân – hợp trong từng đoạn nhỏ. Ví dụ như:

Câu 1: Nửa đầu nêu ý khái quát, nửa sau tác giả lấy ví dụ cụ thể để chứng minh cho nhận định trên

Câu 3: Vừa triển khai ý của hai câu trên, tác giả vừa nêu tiếp một nhận định mới về lòng yêu quê hương, yêu đất nước.

Câu 3:

Nhớ đến quê hương, người dân Xô – viết ở mỗi vùng đều nhớ đến vẻ đẹp tiêu biểu của quê hương mình, đó là những vẻ đẹp:

Người vùng Bắc thì nhớ đến cánh rừng bên dòng sông Vina hay miền Xu – cu – nô, thân cây mọc là là mặt nước, nghĩ đến những đêm tháng sáu sáng hồng và tiếng “cô  nàng” gọi đùa người yêu.

Người xứ U-crai-na thì nhớ bóng thùy dương tư lự bên đường, cái bằng lặng của trưa hè vàng ánh,…

Người xứ Gru-di-a thì ca tụng khí trời của núi cao, những tảng đá sáng rực, vị mát của nước đóng thành băng rượu vang cay sẽ tu trong bọc đựng rượu bằng da dê,…

Người ở thành Lê-nin-grat nhớ dòng sông Nê-va rộng và đường bệ như nước Nga, nhớ những tượng bằng đồng tạc những con chiến mã lồng lên, nhớ công viên, phố phường,…

Người Mát-xcơ-va nhớ những phố cũ chạy ngoằn ngoèo, điện Krem-li, tháp cổ,…

Có thể nói, tác giả đã chọn lọc những chi tiết giản dị, miêu tả được cái thần của sự vật. Những vẻ đẹp này đã gắn liền với nét riêng của từng vùng, đồng thời, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ của những người ở vùng đó.

Câu 4:

Bài văn nêu lên một chân lý phổ biến và sâu sắc về lòng yêu nước. Câu văn trong bài văn thâu tóm được chân lý ấy là: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

4.1

/

5

(

37

bình chọn

)

Soạn Bài: Sông Nước Cà Mau – Ngữ Văn 6 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 Tập 2)

2. Tác phẩm

Văn bản Sông nước Cà Mau được trích từ chương thứ XVIII của truyện Đất rừng phương Nam – một truyện dài nổi tiếng của Đoàn Giỏi.

3. Tóm tắt

Văn bản Đất rừng phương Nam miêu tả cảnh quan thiên nhiên, sông nước vùng Cà Mau – mảnh đất tận cùng phía nam của tổ quốc. Cảnh thiên nhiên ở đây thật rộng lớn, hoang dã và hùng vĩ, đặc biệt là những dòng sông và rừng đước. Cảnh chợ Năm Căn là hình ảnh trù phú, độc đáo, tấp nập về sinh hoạt của con người ở vùng đất ấy.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bài văn miêu tả cảnh sông nước Cà Mau – một tỉnh nằm ở cực nam của Tổ quốc.

* Trình tự miêu tả của bài văn là: bắt đầu từ cảm tưởng chung, thông qua sự quan sát thiên nhiên Cà Mau, tác giả đi đến những nét đặc tả kênh rạch, sông ngòi và nét độc đáo của cảnh chợ Năm Căn họp trên mặt nước.

*  Dựa vào trình tự miêu tả trên, chúng ta có thể chia bài văn làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại: Đặc tả cảnh chợ Năm Căn

Qua bài văn, chúng ta có thể hình dung vị trí quan sát của người miêu tả chính là người đang ngồi trên con thuyền. Và đây cũng là vị trí phù hợp nhất để tác giả có thể quan sát và miêu tả một cách chân thực, chính xác nhất những cảnh vật thiên nhiên đang hiện ra trước mắt mình. Với vị trí quan sát này, những hình ảnh được hiện ra trong bài văn giống như một cuốn phim sống động, có nhiều màu sắc, cảnh trí đan cài và giàu cảm xúc.

Câu 2:

Kênh rạch càng bủa vây chăng chít

Trên thì…dưới thì…chung quanh…cũng chỉ…

Những ấn tượng ấy được tác giả cảm nhận qua những giác quan là: thị giác, thính giác và vị giác. Đặc biệt là cảm giác đơn điệu về màu xanh và…tiếng rì rào bất tận…của rừng, của sóng. Ấn tượng ấy được thể hiện qua những câu văn dài ngắn xen kẽ, biến hóa linh hoạt, vừa tả vừa kể, tạo ra một mạch văn trữ tình lôi cuốn.

Câu 3:

* Qua  đoạn nói về cách đặt tên cho những dòng sông, con kênh ở vùng Cà Mau đã cho ta thấy cách đặt tên các địa danh ở đây rất giản dị, gần gũi, cứ theo những đặc điểm riêng mà gọi thành tên chứ không theo một quy luật nào cả.

* Những địa danh này đã thể hiện được những đặc điểm rất riêng biệt của thiên nhiên vùng Cà Mau so với những vùng đất khác.

Câu 4:

a) Những chi tiết thể hiện sự hùng vĩ, rộng lớn của dòng sông và rừng đước:

Nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác

Con sông rộng hơn ngàn thước

Cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người ếch bơi giữa đầu sóng trắng

b) * Trong câu “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông cửa lớn, xuôi về Năm Căn” có những hoạt động: chèo thoát, đổ ra, xuôi về chỉ cùng một hoạt động của con thuyền.

* Nếu thay đổi trình tự những động từ ấy trong câu trên thì sẽ không thể hiện được những trạng thái hoạt động rất phong phú của con thuyền trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

*  Theo em, trong câu này, tác giả đã dùng từ một cách chính xác và rất tinh tế, vì:

Thoát ra: diễn đạt sự khó khăn mà con thuyền phải vượt qua

Đổ ra: chỉ trạng thái con thuyền từ sông nhỏ đến dòng sông lớn

Xuôi về: diễn tả trạng thái nhẹ nhàng của con thuyền xuôi theo dòng nước

c) Những từ miêu tả màu sắc của rừng đước: màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ. Qua những từ đó, vừa thấy được khả năng quan sát và phân biệt những sắc độ của tác giả rất tinh tế, đồng thời, cũng thấy được sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của loài đước.

Câu 5:

Những chi tiết, hình ảnh về chợ Năm Căn thể hiện sự tấp nập, đông vui, trù phú, độc đáo của chợ vùng Cà Mau là:

Những túp lều lá thô sơ bên cạnh những căn nhà hai tầng

Những đống gỗ cao như núi

Những cột đáy, thuyền chài, thuyền buôn dập dềnh trên sóng

Dọc theo sông là những lò than hầm gỗ đước

Những ngôi nhà ban đêm sáng rực đèn măng – sông

Đặc biệt nhất là người ta mua bán, ăn nhậu trên thuyền, trên sông nước

Nơi đây cũng là nơi quần tụ của một cộng đồng người sống hòa hợp: người Hoa Kiều, người Chà Châu Giang, người Miên với đủ giọng nói líu lô, đủ kiểu ăn mặc sặc sỡ.

Câu 6:

Qua bài văn Sông nước Cà Mau, qua cách miêu tả từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, cùng với việc sử dụng những từ ngữ gợi cảm tinh tế của tác giả, người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp trù phú của vùng sông nước Cà Mau. Đó là một nơi có khung cảnh thiên nhiên hoang dã và hùng vĩ, nơi có những dòng sông rộng lớn và rừng được bạt ngàn, đồng thời, nơi đây cũng có những cảnh chợ Năm Căn đặc sắc, tấp nập và đông vui.

4.7

/

5

(

80

bình chọn

)

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Nước Đại Việt Ta – Ngữ Văn 8 Tập 2 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!