Xu Hướng 12/2022 # Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Phần 1: Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu / 2023 # Top 20 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Phần 1: Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu / 2023 # Top 20 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Phần 1: Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Xin chào các em! Hôm nay, Soạn Văn sẽ hướng dẫn các em soạn văn bản: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Phần 1: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Những nét chính về cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu:

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại quê mẹ – làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), xuất thân trong một gia đình nhà nho.

Năm 1843, ông đỗ tú tài

Năm 1846, ông ra Huế học, chuẩn bị thi tiếp thì được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi để về quê chịu tang mẹ. Dọc đường về, ông bị đau mắt nặng rồi bị mù. Ông về Gia Định, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ.

Năm 1859, Pháp đánh vào Bến Nghé, ông lại chuyển về Cần Giuộc, rồi về Bến Tre. Mặc dù bị giặc Pháp dụ dỗ nhưng ông vẫn luôn giữ tấm lòng son sắt và chung thủy với đất nước.

Câu 2:

a) Lý tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng trên cơ sở tình cảm: mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho, nhưng lại rất đậm đà tính nhân văn và truyền thống dân tộc. Đó là những con người có tấm lòng nhân hậu, thủy chung, biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng, cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chống lại những thế lực bạo tàn, cứu nhân độ thế.

b) Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:

Ghi lại chân thực thời kỳ đau thương của đất nước, khích lệ lòng căm thù giặc, biểu dương tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược.

Ca ngợi những sĩ phu yêu nước

Giữ niềm tin vào tương lai tươi sáng

Tinh thần bất khuất trước kẻ thù

c) Sắc thái Nam Bộ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu được biểu hiện ở từng nhân vật trong các rác phẩm của ông. Mỗi người dân Nam Bộ có thể dễ dàng bắt gặp mình trong các nhân vật của ông, từ lời ăn, tiếng nói, sự mộc mạc, chất phác cho đến tâm hồn nồng nhiệt, cách cư xử khoáng đạt, hồn nhiên.

Câu 3:

Điều gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giữa 2 nhà thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu: Nguyễn Trãi cũng lấy cái nền tảng của nhân nghĩa là quyền lợi của nhân dân. Nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu thì tư tưởng nhân nghĩa mới thực sự phổ biến rộng rãi đến nhân dân, thực sự gần gũi với nhân dân.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) / 2023

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

Bài giảng: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Phần 2: Tác phẩm) – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu

II. Đôi nét về tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Tác phẩm được viết theo yêu cầu của Đỗ Quang – tuần phủ Gia Định, để tế nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận tập kích đồn quân Pháp ở Cần Giuộc đêm ngày 16 tháng 12 năm 1861

– Ngay khi ra đời bài văn tế đã được truyền tụng khắp cả nước, làm xúc động lòng người

2. Bố cục

– Lung khởi (từ đầu đến tiếng vang như mõ): cảm tưởng khái quát về cuộc đời những người sĩ Cần Giuộc.

– Thích thực (từ Nhớ linh xưa… đến tàu đồng súng nổ) : hồi tưởng cuộc đời và công đức của người nghĩa sĩ.

– Ai vãn (từ Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng đến cơn bóng xế dật dờ trước ngõ) : lời thương tiếc người chết của tác giả và người thân của các nghĩa sĩ.

– Kết (còn lại) : tình cảm xót thương của người đứng tế đối với linh hồn người chết.

3. Giá trị nội dung

– Tác phẩm là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc

4. Giá trị nghệ thuật

– Bài văn là thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và chất hiện thực, ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động

III. Dàn ý phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1. Lung khởi

– Mở đầu là lời than đầy ai oán, xót thương: Hỡi ôi

– Tiếp theo đó là khí thế tinh thần sôi sục của thời đại khi đất nước có giặc ngoại xâm: Súng giặc đất rền, lòng dân tỏ rõ,…

– Nghệ thuật so sánh có tính chất đối lập giữa nổi dậy và không nổi dậy khởi nghĩa đã khẳng định sâu sắc ý nghĩa sự hi sinh để lại tiếng thơm cho đời

2. Thích thực

– Xuất thân của người nghĩa sĩ:

+ là những người nông dân quanh năm côi cút làm ăn, hiền lành chất phác, ngòi bút tác giả vừa chân thực vừa sống động làm nổi lên cuộc sống bình dị khát vọng của người dân cày nghèo

+ nhấn mạnh cái gốc nông dân của người nghĩa sĩ là một bước tiến một cái nhìn tiến bộ của ông Đồ Chiểu trong nền văn học bấy giờ (văn học trung đại thường ngợi ca những anh hùng là quan tử, nho sĩ mà bỏ qua người nông dân)

+ Nguyễn Đình Chiểu chính là người đầu tiên mở đường cho hình tượng người nông dân nghĩa sĩ bước vào văn học

– Phẩm chất người nông dân nghĩa sĩ:

+ họ hiền lành chất phác, chăm chỉ cần cù, lời ăn tiếng nói mang đậm chất Nam Bộ

+ khi đất nước bị xâm lược họ mang trong mình lòng căm thù giặc sâu sắc thề không đội trời chung với giặc

+ họ có ý thức tự tôn dân tộc, lòng mến nghĩa, tinh thần tự nguyện đánh giặc

⇒ Họ là hiện thân cho hai nét tính cách của người nông dân Việt Nam: giản dị- anh hùng

3. Ai vãn

– Khóc cho những người nghĩa sĩ Cần Giuộc

– Khóc cho người thân của họ

– Khóc cho non sông đất nước đang trong cảnh ngoại xâm dày xéo

⇒ Tiếng khóc của Nguyễn Đình Chiểu đau thương mà không hè bi lụy vì nó tràn đầy niềm tự hào kính phục và ngợi ca những người nông dân đã chiến đấu hi sinh cho dân tộc

– Thay mặt nhân dân tác giả ca ngợi tấm gương các anh hùng nghĩa sĩ ấy. Qua đó tác giả khẳng địng quam niệm : Thà chết vinh còn hơn sống nhục

– Lúc này ta thấy tiếng khóc còn hướng về cuộc sống hiện tại về những kiếp người đang lầm than trong bom đạn chiến tranh

4. Kết

– Khẳng định sự hi sinh cao cả của anh hùng nghĩa sĩ

– Câu cuối trở lại hiện thực khóc thương, ngợi ca tấm lòng người nghĩa sĩ

5. Nghệ thuật

– Cảm xúc chủ đạo là bi tráng

– Nghệ thuật đối được sử dụng thành công

– Ngòi bút tác giả hoàn toàn xứng đáng với hành động cao cả của người nghĩa sĩ với những tư tưởng cực kì lớn lao mà tác giả đã phát hiện trong hành động tự nguyện giết giặc cứu nước của họ.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

tac-gia-tac-pham-lop-11.jsp

Cảm Nhận Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) / 2023

Bạn đang cần tìm những bài văn nêu cảm nhận về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc? Không cần tìm nữa. Đọc Tài Liệu sẽ lần giới thiệu tuyển chọn các bài văn hay nhất đã được sưu tầm và biên soạn kỹ lưỡng ở bài viết này. Qua các bài mẫu, bạn có thể tham khảo cách làm cùng như bổ sung vốn từ ngữ để bài làm văn của mình hay hơn.

Bài làm cảm nhận Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc mẫu

Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa đã đứng dậy chống Pháp và lựa chọn cho mình một cái chết thật oanh liệt: “thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”. Có thể nói, bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là “khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang” theo như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói.

Hơn một thế kỷ đã trôi qua, cuộc khởi nghĩa của những người nông dân Cần Giuộc đã đi vào thất bại. Họ phải ngã xuống giữa những chiến trường trong cảnh da ngựa bọc thây, xác phàm vội bỏ. Họ là những người thất thế, quả thực là như vậy. Nhưng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho họ sống lại trong những hình tượng mang đầy khí phách và hiên ngang. Những tấm gương đại nghĩa vằng vặc như trăng sao đã hiển hiện trong bài văn tế với âm hưởng của một khúc ca bi tráng. Người nghĩa quân Cần Giuộc chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung… Ấy thế mà khi giặt đến, họ liền trở thành những người dũng sĩ. Ở họ, nhà thơ nhấn mạnh tinh thần hoàn toàn tự nguyện, tự giác tham gia đánh giặc: “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”

Trong khi triều đình nhu nhược, chỉ bàn những kẻ nhượng bộ, đầu hàng quân giặc thì họ đã tự mình đứng dậy. Tinh thần: mến nghĩa làm quân chiêu mộ của những người dân cày thật là đáng khâm phục. Cuộc chiến đấu của họ rất nhiều khó khăn với những gian nan: lực lượng địch, lực lượng ta quá chênh lệch, thiếu kĩ thuật quân sự, thiếu quân trang, vũ khí. Đoàn nghĩa quân nông dân lại rất nghèo khổ, lam lũ. Họ gần như đi thẳng đến chiến trường từ những túp lều tranh rách nát và những luống cày quen thuộc, không mũ nón, không giáp trụ và cũng chẳng gươm giáo cung tên…

Tất cả trang bị của họ đều rất thô sơ, là những đồ dùng thường ngày, quen thuộc nhưng lại khiến cho kẻ thù thích điên bát đảo. Sức mạnh của họ không chỉ là sức mạnh thể lực mà đó còn là sức mạnh tinh thần. Họ đã lấy danh vàng đỏ với đạo, lấy lòng dũng cảm để chống lại những chiếc tàu sắt, tàu đồng.

“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đèn xì, muốn ra cắn cổ”

Lòng căm thù giặc ấy đã đem đến cho những người nghĩa sĩ sự dũng cảm và sức mạnh đến phi thường. Họ tả xung hữu đột, tung hoành ngang dọc như ở chỗ không người.

Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa sĩ nông dân bằng những hình tượng thật chói lọi và những lời văn đầy trang trọng, đẹp đẽ. Nhưng ông lại không thể che dấu sự thật đau lòng… Bài văn tế còn là đời ai oán, là tiếng khóc của ông trước sự thất thế và cái chết của nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ khiến cho những người đọc chúng ta cảm thấy đau lòng. Đất trời, cỏ cây cũng phải rung động:

“Đoái trông Cần Giuộc; cỏ cây mấy dặm sầu giăng, nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.”

Đó còn là tiếng khóc của chính tác giả:

“Ôi thôi thôi! Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm, đồn Lang Sa một khách đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.”

Cái bi bao trùm lên cả đoạn văn, nhưng đại bi ở đây không phải là bi thảm mà là bi tráng. Đây là nỗi đau đớn vì nước nhà, vì nhân dân. Đau mà không khiến cho người ta nản lòng thối chí, bi mà giục giã mọi người đứng dậy, hiên ngang chống lại kẻ thù. Cuộc khởi nghĩa tuy đã thất bại, nhiều người đã phải ngã xuống nhưng chết vinh còn hơn sống nhục. Họ đã để lại danh thơm muôn đời. Ra đi như những tấm gương sáng, trái lại vẫn còn sống mãi và có sức động viên lớn đối với cuộc chiến sau này…

➜ Tham khảo bài hướng dẫn soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và Sơ đồ tư duy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để nắm được kiến thức về tác phẩm

Cảm nhận 15 câu đầu bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Có thể nhận định rằng, tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một bức tượng đài nghệ thuật về những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Đặc biệt chúng ta cảm nhận được rõ nhất vẻ đẹp của những người nông dân đó trong 15 câu thơ đầu.

Mở đầu bài thơ là tiếng than “Hỡi ơi!”, đó chính là tiếng khóc cất lên giữa đất trời, khóc cho linh hồn của những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc, sống anh dũng, chết vẻ vang. “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”, câu thơ thứ nhất này tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát được hoàn cảnh lịch sử đất nước ta lúc bấy giờ: Giặc xâm lược có vũ khí hiện đại, công phá dữ dội, súng nổ rền vang cả mặt đất. Còn ta chỉ có tấm lòng và ý chí quyết tâm giữ nước của nhân dân. Câu thơ thứ hai, nhà thơ đã đánh giá người nghĩa sĩ nông dân qua hai gia đoạn cuộc đời của họ: mười năm có công vỡ ruộng chưa chắc đã nổi danh, nhưng chỉ sau một trận đánh tây, tuy phải hi sinh nhưng tiếng tăm vang như mõ.

Tiếp theo, hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân đã được thể hiện qua hồi ức của nhà thơ. Họ vốn xuất thân là những người nông dân lam lũ, “Cui cút làm ăn, lo toan nghèo khó”, có thể thấy tác giả Đồ Chiểu rất thương mến đối với kiếp người nhỏ nhoi, cùng khổ ấy, dù họ có cui cút, cặm cụi làm ăn nhưng vẫn đói nghèo. Rồi họ là những người thuần nông, chất phác, ngoài những việc đồng áng, họ chẳng biết đến việc gì khác “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; Chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ” không gian sinh hoạt và làm việc của họ chỉ thu gọn lại trong ngôi làng, quẩn quanh và bé nhỏ. Những công việc “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy”, bao nhiêu công việc luôn chân tay và họ đã quen hàng ngày, còn những chuyện “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ” lại chưa từng biết đến. Nhà thơ đã nhấn mạnh đến bản chất của những người nông dân nghèo khổ, họ không hề biết tới việc quân việc lính hay chiến trận đao binh, họ chỉ cố gắng lo cho khỏi đói khổ, rách rưới.

Thế rồi giặc tới, suốt ba năm chịu khổ, họ đã đứng lên, trở thành những anh hùng nghĩa sĩ cứu nước, “Tiếng phong hạc” thể hiện cho sự hoảng loạn trước tấn công của kẻ thù, vua và quan quân triều đình e sợ, người nông dân chịu cảnh khổ, chỉ biết “phập phồng” trông chờ vào bậc quan quân của mình. Thế nhưng trông chờ trong mỏi mòn, lòng căm thù bọn giặc cướp nước đã rực lửa, hừng hực trong con người họ. Lúc đầu họ chỉ căm ghét chúng như loài dị tộc tanh hôi “mùi tinh chiên vấy vá”, ghét chúng như người nông dân “ghét cỏ” trên ruộng lúa của mình.

Nhưng rồi cứ thế ngày ngày giặc thù hiện ra ngang nhiên như đâm vào mắt “bòng bong che”, người nông dân lúc ấy chỉ còn thấy nhức nhối và gay gắt, căm thù mãnh liệt “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”. Tuy nhiên, sự căm thù đẩy lên đến đỉnh điểm khi nhắm tới một điều hết sức cao cả, thiêng liêng, đó là sự tự do và thống nhất của dân tộc, trách nhiệm trước công lí, chính nghĩa. Sự giả dối, mặt nạ nhân dạo “khai hóa”, “truyền đạo” của thực dân Pháp đã bị vạch trần, dã tâm của chúng đã được phơi bày. Từ đó người nông dân đã tự nguyện ra đánh giặc, và họ đã trở thành nghĩa sĩ:

“Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình. Chẳng ai thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”

Câu thơ thể hiện khí thế hào sảng và hăm hở, dũng mãnh của người dân binh mộ nghĩa. Một lần nữa, nhà thơ lại nhắc lại tới nguồn gốc của họ, họ là người “dân ấp dân lân”, bước vào chiến đấu nhưng không được tập luyện hay chuẩn bị gì cả, những hiểu biết tối thiểu về kĩ thuật tác chiến cũng không hay biết “Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn”, “Chín chục binh thư không chờ bày bố”. Tuy họ không có kĩ thuật, không có võ nghệ và không được tập dượt nhưng họ lại rất chủ động “không chờ”, “không nài” mà đánh giặc, tự trang bị cho mình một cách thô sơ nhất “manh áo vải”, vũ khí là “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “lưỡi dao phay”. Hai câu thơ 14 và 15 đã thể hiện một cách rất sống động và chân thực hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ trong giây phút công đồn:

“Chi nhọc quan quản trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không… Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.”

Câu văn với nhiều động từ, giới từ, đã tạo nên một không khí hết sức căng thẳng, quyết liệt, người nghĩa sĩ lao trong mưa đạn của kẻ thù như cơn cuồng phong bão táp, coi thường súng đạn tối tân, sát thương mạnh của kẻ thù. Họ xông xáo và lập nhiều chiến công vang dội.

Như vậy, qua 15 câu thơ đầu trong bài văn, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một hình tượng người nghĩa sĩ lam lũ mà cao đẹp, chân chất và vĩ đại. Đại diện cho hình tượng người nông dân trong lịch sử văn học yêu nước của Việt Nam.

➜ bình giảng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn tài ba khi đã nêu lên hình ảnh người nông dân trong văn học mà trong suốt các thời gian qua chưa được nhắc đến thông qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.Trong bài văn tế, hình ảnh người nông dân được khắc hoạ rõ ràng. Hình ảnh người nông dân nghèo khổ chỉ biết làm ăn một cách thầm lặng, quanh năm chỉ biết ruộng trâu, cần cù lao động. Họ là những người nông dân yêu ghét rõ ràng, căm thù quyết không đội trời chung với giặc khi thực dân Pháp xâm lược. Họ đã anh dũng chiến đấu và anh dũng hi sinh, trong lời văn là những lời lẽ bi thương đầy nước mắt nhưng không hề rơi nước mắt. Đó chính là cái hay của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời vào năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, Việt Nam. Sau khi chiếm được thành Gia Định vào đầu năm 1859, quân Pháp bắt đầu một quá trình mở rộng tấn công ra các vùng lân cận như Tân An, Cần Giuộc, Gò Công… Ngày 15 tháng 11 năm Tân Dậu, những nghĩa sĩ mà là nông dân, vì quá căm phẫn kẻ ngoại xâm, đã dũng cảm đứng lên chiến đấu tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc, tiêu diệt được một số quân của đối phương và viên tri huyện người Việt đang làm cộng sự cho Pháp. Khoảng mười lăm nghĩa sĩ bỏ mình. Những tấm gương đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân. Theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu làm bài ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đánh này.

Như chúng ta biết thì “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một “tác phẩm nghệ thuật” hiếm có. “Bi tráng” là tầm vóc và tính chất của tác phẩm nghệ thuật ấy: vừa hoành tráng, hùng tráng, vừa thống thiết, bi ai. Hùng tráng ở nội dung chiến đấu vì nghĩa lớn. Hùng tráng ở phẩm chất anh hùng, ở đức hi sinh quyết tử. Hùng tráng ở chỗ nó dựng lên một thời đại sóng gió dữ dội, quyết liệt của đất nước và dân tộc.

Mở đầu bài văn tế là hai tiếng “Hỡi ôi!” vang lên thống thiết, đó là tiếng khóc của nhà thơ đối với nghĩa sĩ, là tiếng nấc đau thương cho thế nước hiểm nghèo:

“Súng giặc, đất rền; lòng dân trời tỏ” có ý nghĩa là Tổ quốc lâm nguy, súng giặc nổ vang rền trời đất và quê hương .

Trong cảnh nước mất nhà tan, chỉ có nhân dân đứng lên gánh vác sứ mệnh lịch sử, đánh giặc cứu nước cứu nhà. Và người nông dân chỉ biết cui cút làm ăn một cách tội nghiệp đã dũng cảm đứng lên đánh giặc giành lại nền độc lập cho Tổ quốc thân yêu mà sự dũng cảm đó xuất phát từ tấm lòng yêu nước có trong mỗi con người. Tấm lòng yêu nước, căm thù giặc của những người nông dân, của những người áo vải mới tỏ cùng trời đất và sáng ngời chính nghĩa. Hình ảnh chính của bài văn tế chính là những chiến sĩ nghĩa quân Cần Giuộc.

Nguồn gốc của họ là nông dân nghèo sống cuộc đời “côi cút” sau luỹ tre làng. Chất phác và hiền lành, cần cù là chịu khó trong làm ăn, quanh quẩn trong xóm làng, làm bạn với con trâu, đường cày, sá bừa, rất xa lạ với cung ngựa trường nhung:

“Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó”

Cui cút làm ăn: có nghĩa là làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội nghiệp. Dù mệt mỏi hay vất vả thì họ vẫn âm thầm, lặng lẽ chịu đựng một mình mà chẳng nói với ai. “Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó” đã hiện lên đầy đủ một vòng đời không lối thoát của người nông dân Việt, người “dân ấp dân lân” Nam Bộ. Bắt đầu bằng cui cút, vật lộn làm ăn, toan lo để cuối cùng kết thúc trong nghèo khó. Họ là những người nông dân mà quanh năm chỉ biết làm với làm, chưa hề biết đến cái gì gọi là cung, cái gì gọi là ngựa.

“Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”.

Họ là lớp người đông đảo, sống gần gũi quanh ta. Quanh năm chân lấm tay bùn với nghề nông, “chưa hề ngó tới” việc binh và vũ khí đánh giặc:

“Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”.

Thế nhưng khi đất nước quê hương bị giặc Pháp xâm lược, những người dân chân lấm tay bùn ấy đã đứng lên tình nguyện làm quân tự nguyện đánh giặc cứu nước cứu nhà, bảo vệ cái nghề làm lụng mà họ coi là bát cơm manh áo của họ là cái nghĩa lớn mà họ “mến” là đeo đuổi:

“Bữa thấy bong bong che trắng lốp, muốn tới an gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.

Đối với giặc Pháp và lũ tay sai bán nước, họ chỉ có một thái độ: “ăn gan” và “cắn cổ”,chỉ có một chí hướng: “phen này xin ra sức đoạn kình…, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.

Trong bài văn tế Nguyễn Đình Chiểu đã có khắc nên sự đối lập giữa đoàn dũng sĩ của quê hương và giặc Pháp xâm lược. Giặc xâm lược được trang bị tối tân, có “tàu thiếc, tàu đồng”, “bắn đạn nhỏ, đạn to”, có bọn lính đánh thuê “mã tà, ma ní” thiện chiến. Trái lại, trang bị của nghĩa quân lại hết sức thô sơ. Quân trang chỉ là “một manh áo vải”. Vũ khí chỉ có “một ngọn tầm vông”, hoặc “một lưỡi dao phay”, một súng hoả mai khai hoả “bằng rơm con cúi”. Thế mà họ vẫn lập được chiến công: “đốt xong nhà dạy đạo kia” và “chém rớt đầu quan hai nọ”.

Bài văn tế đã tái hiện lại những giờ phút giao tranh ác liệt của các chiến sĩ nghĩa quân với giặc Pháp:

“Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.” “Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho ma ní, mã tà hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ”.

Không khí chiến trận có tiếng trống thúc quân giục giã, “có bọn hè trước, lũ ó sau” vang dậy đất trời cùng tiếng súng nổ. Các nghĩa sĩ của ta coi cái chết như không, tấn công như vũ bão, tung hoành giữa đồn giặc: “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược”, “hè trước, ó sau”. Giọng văn của Nguyễn Đình Chiểu đã tô đậm tinh thần dũng cảm, kiên cường bất khuất của các nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Ông cũng thể hiện rõ lòng khâm phục đối với người nghĩa sĩ nông dân. Từ trước đến nay, đây là tác phẩm đầu tiên có đưa hình ảnh của nghĩa sĩ nông dân.

Trong bài ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” còn có tiếng khóc của mẹ già nơi quê nhà trông chờ con về, vợ thương nhớ về chồng, con ngóng cha về nghe thống thiết, bi ai. Nhiều nghĩa sĩ đã ngã xuống trên chiến trường trong tư thế người anh hùng:

“Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ”.

Đất nước, quê hương vô cùng thương tiếc. Một không gian rông lớn bùi ngùi, đau đớn:

“Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ”.

Tiếng khóc của người mẹ già, nỗi đau đớn của người vợ trẻ, nỗi nhớ thương của con cái được nói đến vô cùng xúc động:

“Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”.

Các nghĩa sĩ đã sống anh dũng chiến đấu, và hi sinh rất vẻ vang. Tấm gương chiến đấu và hi sinh của họ là để ta biết rằng đất nước nào cũng là độc lập, tự chủ, không ai được quyền xâm chiếm. Họ là tấm gương sáng rất đáng tự hào:

Một trận khói tan; nghìn năm tiết rỡ”

Sự hi sinh của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc là bài học quý báu mà họ đã để lại: Thà chết vinh còn hơn sống nhục. Họ là tấm gương sáng để dân tộc Việt Nam noi theo mà làm, là ngọn đèn soi sáng cho dân tộc Việt Nam.

“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giăc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;…”.

Công lao của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc sẽ đời đời nằm trong lòng mỗi người dân Việt Nam về tấm gương anh dũng, sẵn sàng xả thân vì độc lập Tổ Quốc.

“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”.

Tóm lại, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” khẳng định tấm lòng yêu thương dân thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu. ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc đã anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập vững chắc của quê nhà, nơi họ đã sinh ra và lớn lên hay đó là Tổ quốc mà đối với họ “nó” rất quan trọng trong cuộc đời. Nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc chính là tấm gương về tinh thần dũng cảm, lòng yêu nước sâu sắc để cho các thế hệ đi sau khi đọc được bài văn tế này mà noi theo để xây dựng đất nước càng ngày giàu mạnh hơn.

Sống trong cuộc đời tránh sao được cái quy luật sống và chết. Người ta vẫn thường nói chết là hết. Nhưng có những cái chết không một tiếng vang, lại có những cái chết để tiếng thơm muôn thuở. Những người nghĩa sĩ cần Giuộc năm xưa đứng dậy chống Pháp đã lựa chọn cái chết thật: Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đến sáu tỉnh chúng đều khen. Thác mà ưng đình miếu để mà thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ. Có thể nói toàn bộ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang (Phạm Văn Đồng).

Đó là vào năm 1859, sau khi đánh chiếm Gia Định, thực dân Pháp mở rộng xâm lược ra ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Đến tháng 12/1861, Pháp đánh úp ba xứ Cần Giuộc, Tân An, Gò Công. Hai ngày sau, nghĩa quân ba xứ nhất tề nổi dậy, tập kích dồn quân Pháp, đốt nhà Dòng, nơi chúng đóng quân, giết chết một tên quan hai Pháp và một số lính thuộc địa. Nghĩa quân hi sinh khoảng 15 người. Trận thắng không lớn nhưng nó làm nức lòng những người dân yêu nước Việt Nam đang sôi sục ý chí bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài văn tế để khóc thương và biểu dương tinh thần hi sinh vì nước của nghĩa quân Cần Giuộc. Áng văn làm rung động sâu sắc tâm hồn những người dân yêu nước Việt Nam. Nhà thơ Mai Am từng có thơ đề cảm:

Điếu văn tam phục trụng đê hồi Nghị phách từ phong tận khả ai.

Nghĩa là, đọc bài văn điếu ba lần trong dạ bồi hồi khôn xiết, nghĩa khí mạnh lời văn hùng thật đáng xót thương.

Có thể thấy hình ảnh người nông dân Cần Giuộc là hình ảnh nổi cộm lên giữa những suy tư, suy ngẫm về cuộc chiến đấu của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đây cũng là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Nó đánh dấu vào lịch sử văn học dân tộc về một tượng đài bất hủ về hình ảnh người anh hùng áo vải giết giặc cứu nước.

Theo bố cục bài văn tế, chúng ta đi vào tìm hiểu và làm sáng tỏ những nét đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong cuộc chiến đấu chống Pháp.

Ở những câu đầu, Nguyễn Đình Chiểu đã tái hiện lại lịch sử khốc liệt, hào hùng: một bên là cuộc xâm lược của thực dân Pháp với tất cả sức mạnh áp đảo về vũ khí (súng giặc đất rền), một bên là cuộc chiến đấu chống quân xâm lược của nhân dân ta với khí thế ngút trời (lòng dân trời tỏ). Người nghĩa sĩ Cần Giuộc vốn chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm: Côi cút làm ăn toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung. Ấy vậy mà khi giặc đến, họ liền trở thành những dũng sĩ, Nguvễn Đình Chiểu đã khéo léo nhấn mạnh đến tinh thần tự giác:

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Ở đây bút pháp hiện thực kết hợp nhuần nhuyễn với bút pháp trữ tình. Vừa tái hiện chân thực cuộc sống con người trong một thời điểm quan trọng nhất, lại vừa bộc lộ sâu sắc niềm trân trọng tự hào lẫn sự cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Hành động tự giác xung vào đội quân chiến đấu chống Pháp cho thấy thái độ vô tư trong suy nghĩ, trách nhiệm lớn lao đối với vận mệnh đất nước của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhớ lại những câu ca dao Lính thú đời xưa. Họ cũng là những nông dân nhưng bị bắt buộc phải phục vụ cho những cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa, nên thái độ của họ thật khác xa:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Còn ở đây, mặc dù đội nghĩa binh Cần Giuộc mới được tập hợp trong vòng hai ngày trước trận tập kích đồn quan Pháp. Chỉ có hai ngày, trong hoàn cảnh phải hoàn toàn tự lực, không có sự giúp đỡ của quan quân triều đình nên họ thiếu thốn đủ thứ, vậy mà họ hăm hở biết bao:

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn, chín chục trận binh thư, không chờ bày bố. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ.

Sức mạnh của những người nghĩa quân không gì khác ngoài sức mạnh tinh thần. Họ đã lấy gan vàng đọ với đạn sắt, lấy lòng căm hờn chống lại tàu sắt, tàu đồng. Chính lòng căm hờn đã đem đến cho họ sự dũng mãnh và sức mạnh phi thường kẻ đâm ngang người chém ngược họ tả xung hữu đột, tung hoành ngang dọc như chỗ không người. Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có. Hai từ cũng được lặp lại ở câu mười ba (cũng đốt xong nhà dạy đạo kia, cũng chém rớt đầu quan hai nọ) vừa làm nổi bật thế tương phản của trận đánh, vừa vang lên như một tiếng reo vui đầy tự hào của những con người đầy lòng tự tin vào sức mạnh chính nghĩa của mình.

Nguyền Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa sĩ nông dân bằng những hình tượng thật chói lọi và những lời văn thật trang trọng đẹp đẽ, nhưng ông không che giấu sự thật đau lòng. Bài văn còn là lời ai điếu, là tiếng khóc của Đồ Chiểu trước sự thất thế và cái chết của người nghĩa quân Cần Giuộc. Cái chết của họ khiến cho đất trời, cỏ cây, con người đều động lòng.

Ôi thôi thôi! Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngỏ.

Cái bi tráng bao trùm lên cả đoạn thơ, nhưng cái bi ở đây không phải là cái thảm mà là bi tráng. Đây là nỗi đau đớn vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đau mà không khiến người ta nản lòng, thối chí, khi mà giục giã mọi người đứng dậy hiên ngang. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại. Nhiều nghĩa quân đã phải ngã xuống, nhưng chết vinh còn hơn sống nhục: Thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Chết như thế là để lại tấm gương chói lọi, có sức động viên lớn đối với cuộc chiến đấu sẽ còn tiếp tục.

Có thể nói, dù đã ngã xuống, nhưng hình ảnh người nông dân giết giặc vẫn mãi ngời sáng. Đó chính là những trái tim ngời sáng trong cát, để lại tiếng thơm muôn đời.

Cất lên những tiếng khóc này, Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định đây là cái tang chung của mọi người, của dân tộc. Vì vậy có bi mà không có lụy. Cái bi thì thăm thẳm, nỗi đau đầy cảm hứng trữ tình lên đến tột đỉnh, tạo nên những câu văn vật vã: mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng. Đây không còn là văn mà là lệ. Phải có tài, có tình và một tinh thần dân tộc, một nhận thức đúng đắn xem mũi tên lịch sử đang đi về đâu. Điều này Nguyễn Đình Chiểu hiểu rõ và rất tâm huyết.

Như vậy, viết về hình ảnh người nông dân đánh giặc, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa họ ở ba nét chủ yếu. Thứ nhất, hình ảnh người nông dân chân chất, hiền lành quanh năm chỉ biết sống và làm việc với cày cuốc, ruộng đồng. Thứ hai, đó là tinh thần yêu nước căm giặc sâu sắc đã thôi thúc họ trở thành những chiến binh dũng cảm, vô tận sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Thứ ba, mặc dù đã ngã xuống nhưng họ vẫn là những biểu tượng đẹp về hình ảnh những anh hùng thất thế mà vẫn hiên ngang, sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…

Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được xem là một áng văn chương xuất sắc không phải chỉ của riêng Nguyễn Đình Chiểu mà còn là của văn học Việt Nam thời Trung đại. Bằng một bút pháp trữ tình kết hợp nhuần nhuyễn với bút pháp hiện thực, bằng ngôn ngừ bình dị mà gợi cảm, bài văn đã tái hiện chân thực sâu sắc và đầy xúc động cả một thời đau thương nhưng anh dũng của dân tộc, đồng thời xây dựng nên một tượng đài có một không hai trong lịch sử văn học thời trung đại về người nông dân nghĩa quân chống giặc ngoại xâm.

➜ Tham khảo một số bài văn mẫu phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

Thanh Long (Tổng hợp)

Cảm Nhận Về Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu / 2023

Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nguyễn Đình Chiểu với tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên, đã đề cao tư tưởng vì dân:

Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,

Để dân đến nỗi sa hám sẩy hang.

Ghét dời u, Lệ da doan,

Khiến dân luông chịu lầm than muôn phần.

Ghét đời Ngũ bhá phân vân,

Chuộng hề dối trá làm dân nhọc nhằn.

Đến khi giặc Pháp xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu từ tư tưởng thương dân, vì dân, đã đi tới khẳng định vai trò to lớn của nhân dân đối với lịch sử. Và văn thơ của ông từ chỗ biện luận về “lẽ ghét thương” – vì dân mà thương mà ghét – trở thành những thiên sử thi hoành tráng ca ngợi nhân dân anh hùng.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một bằng chứng tiêu biểu.

Tư tưởng ấy, tác giả không rút ra từ sách vở thánh hiền nào mà là sự phản ánh trực tiếp, chân thật và sâu sắc hiện thực của thời đại mình: thời đại đối mặt với giặc là dân, thời đại gánh tất cả trách nhiệm đối với Tổ quốc lên vai là dân.

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu nằm trọn dưới triều Nguyễn, một triều đại có đến năm trăm cuộc nổi dậy lớn nhó của nông dân. Đối lại, vua quan nhà Nguyễn chi một mực tăng cường chuyên chế, không chịu thi hành bất cứ một cải cách nào có ích cho nước, có lợi cho dân. Đã thế, chính sách ngoại giao lại vô cùng dại dột và nguy hiểm, dặc biệt là đối với bọn thực dân tư bản phương Tây. Hoạ mất nước vì thế, không thể tránh khỏi.

Tháng 9-1858, giặc Pháp nổ súng vào Đà Nẵng. Trong gần ba chục năm, vua quan nhà Nguyễn cứ lùi dần từng bước và đất nước thì mất dần từng máng: Năm 1862 cắt dâng ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Năm 1867, nộp nốt ba tính miền Tây. Năm 1882, Bắc Kì bị đánh chiếm. Năm 1884, triều đình công nhận quyền bảo hộ của giặc và thế là mất nước!

Trong khi đó, nhân dân cùng một số sĩ phu yêu nước kiên quyết đánh giặc. Sau các Hiệp ước đầu hàng 1862, 1874, sáu tỉnh Nam Kì đã cắt dâng cho giặc, nhưng phong trào chống thực dân Pháp không lúc nào ngừng: Đỗ Trình Thoại, Trần Xuân Hoà, Võ Duy Dương, Trương Quyền, Nguyễn Hữu Huân, Phan Tôn, Phan Liêm, Phan Công Tòng,… ; lớn nhất, lừng lẫy nhất là nghĩa quân Trương Định và Nguyễn Trung Trực. Từ năm 1885, sau lời kêu gọi Cần vương của Hàm Nghi thì cả nước, nhất là Trung Kì, Bắc Kì nổi lên đều khắp, kéo dài liên tục cho đến mãi sau này…

Vua đầu hàng, dân đánh giặc. Đó là đặc trưng của thời đại Nguyễn Đình Chiểu. Sự thật này không ở đâu diễn ra một cách rõ ràng, dứt khoát như sự kiện Gò Công: nhân dân tự động đứng lên chống lại chiếu chỉ nhà vua đòi Trương Định bãi binh, họ chặn đầu ngựa, suy tôn người anh hùng Gò Công là Bình Tây Đại nguyên soái và “bảo nhau quyên cúng tiền bạc, lúa gạo để giúp quân nhu, hoặc quyên đồng, sắt, chất nổ để giúp khí giới, người già, trẻ con thì coi nhà, bao nhiêu trai tráng đều ra ứng mộ”.

Tất nhiên Nguyễn Đình Chiểu đứng về phía nhân dân. Vì ông chính là nhân dân. Từ ngày bị mù loà, ông trớ thành một trí thức nhân dân với nghĩa đầy đủ nhất: sống giữa lòng dân, dạy học, làm thuốc, được dân cưu mang, quý trọng. Cho nên ông thường có quan hệ với nghĩa quân quanh vùng, và khi Trương Định hi sinh, ông làm liền 12 bài thơ điếu và một bài văn tế hết sức cảm động.

2.Văn tế là một loại biền văn thường viết theo thể phú Đường luật, bố cục bốn phần:

-Lung khởi (lời than chung trước vong linh người chết).

-Thích thực (hồi tưởng về công đức, sự nghiệp của người chết).

-Ai vãn (than tiếc người chết).

-Kết (phát biểu cảm nghĩ và hứa hẹn trách nhiệm của người sống trước vong linh người chết).

Phân tích văn tế cần theo trình tự của bố cục này.

Đây là thể văn kết hợp loại bút pháp trữ tình và tự sự: tự sự để thuật kể công trạng của người quá cô (thích thực) ; trữ tình để giãi bày tình cảm của người đứng tế (lung klìởi, ai vãn).

Nguyễn Đình Chiểu được giao viết bài Văn tế ngay sau cuộc tập kích của nghĩa quânn đánh úp đồn giặc ớ Cần Giuộc. Sự kiện diễn ra như sau:

Năm 1858, giặc Pháp tấn công Đà Nang. Đầu năm 1859, chúng quay vào đánh chiếm Gia Định. Nguyễn Tri Phương xây công sự Đại Đồn bao vây. Năm 1861, giặc tấn công Đại Đồn rồi toả ra chiếm Tân An, Cần Giuộc, Gò Công,… Ở Cần Giuộc, chúng đóng đồn ở huyện lị, giáp sông Cần Giuộc, gần chợ Trường Bình, cách chùa Tông Thạnh chừng hai cây số.

Đêm 16-12-1861, đúng rằm tháng 11 Tân Dậu, nghĩa quân tập hợp ở chùa Tổng Thạnh rồi kéo lên huyện lị đánh đồn Lang Sa, tiêu diệt một số quan quân của giặc và một tên tri huyện tay sai. Bên ta có 27 người hi sinh. Tuần Vũ Gia Định ra lệnh tổ chức truy điệu. Nguyễn Đình Chiểu, lúc bấy giờ đang ở quê vợ (xã Thanh Ba, thuộc Cần Giuộc), được giao làm bài văn tế.

3.Như thế là bài văn tế được viết ngay sau cuộc tập kích. Không khí bao quanh trận đánh đang còn nóng bỏng. Sự kiện lại nổ ra ngay trong vùng cư trú của tác giả. Vậy chắc hẳn ông đã cầm bút trong một lâm trạng vô cùng kích động, mọi cảm xúc đều được đẩy đến cao độ.

Tác giả vốn là một tâm hồn gắn bó máu thịt với nhân dân, nay đứng trước tấm gương anh hùng chói lọi của nghĩa quân ngay tại quê hương mình, lòng ngưỡng mộ của ông càng được đẩy đến tột cùng. Vì thế, mở đầu bài Văn tế, ông liền tô đậm bằng những nét uy nghiêm và trang trọng nhất hình ảnh lòng dân ngời sáng giữa đất trời:

Súng giặc đất rền ; lòng dân trời tỏ.

Súng giặc và lòng dân. Giặc đến, dân đứng dậy. Chỉ có dân với giặc. Bên trên là trời cao chứng kiến. Không thấy những người quản lí đất nước, không thấy binh tướng nhà vua. Họ đi đâu cả? Nguyễn Đình Chiểu từng nhiều lần ném ra câu chất vân giữa trời như vậy: “Chúa Xuân ơi hỡi có hay không “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng”. Lần này cũng thế: “Trông tin quan như trời hạn trông mưa”,… Quả là chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã đến lúc quá tồi tệ, hoàn toàn vứt bỏ trách nhiộm với dân, với nước. Trong tình hình đó, đại diện cho nước chính là dân, chỉ là dân. Dân là nước, nước là dân.

Sau này Phan Bội Châu sẽ nói rõ điều đó (“Dân là dân nước, nước là nước dân” (Hải ngoại huyết thư). Đồ Chiểu lúc bấy giờ chưa thể ý thức được như vậy, nhưng bước đầu đã cảm thấy điều này, nhờ gắn bó với thực tế và đứng hẳn trên lập trường nhân dân.

b)Bài Văn tế chuyển sang phần thích thực với một đoạn văn đầy ấn tượng mãnh liệt. Chắc chắn người viết phải có một trí tưởng tượng khác thường. Có lẽ chính vì mắt không nhìn thấy mà các giác quan khác của tác giả càng sắc nhọn hơn và trí tưởng tượng càng phát triển hơn. Những người nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu thường nghĩ đến những trang viết của ông về thiên đường và địa ngục trong Dương Từ – Hà Mậu mà có người đã so sánh với Thần khúc của Đăng-tơ về sức tướng tượng. Bài Văn tế cũng thổ hiện rất rõ điều đó: phải có một trí tưởng tượng khác thường, tác giả mới có thể dựng lên được một quang cảnh chiến trường dữ dội, sát khí ngất trời, tưởng nghe rõ tiếng chân bước rầm rập, tiếng hò, tiếng hét, tiếng súng rền đạn nổ, tiếng sắt thép đâm ngang chém ngược.

Một điều rất thú vị là nhà văn tuy mù loà mà mô tả rất đúng một cuộc tập kích có phần xô bồ, ô hợp của một tập thể dân cày chưa được tổ chức chặt chẽ, chẳng được trang bị, tập luyện gì, kẻ dao phay, người gậy gộc, cứ “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “coi giặc như không”, “liều mình như chẳng có”,…

Trong lịch sử văn học viết thời trung đại, không phải người dân lao động chưa từng bao giờ được đưa vào trang sách, nhưng thường chỉ là những hình ảnh chung chung, mờ nhạt, hoặc khoác áo ước lệ ngư, tiều, canh, mục. Những nhân vật này cũng từng có mặt trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu (Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hù Mậu, ông Ngư, ông Tiều hói đáp vềê thuật chữa bệnh). Nhưng ở Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thì hình ảnh nhân dân không còn mơ hồ như thế nữa mà hiện lên hột như trong một cuốn phim quay cận cảnh, về người nông dân với dáng vóc rất cụ thể, hơn nữa rất Nam Bộ:

Nhớ linh xưa:

Cui cút làm ăn ; toan lo nghèo khó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung ; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm ; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Nhà văn không chỉ quan sát từ bên ngoài, ông còn đặt mình vào tâm lí của người dân cày, nhìn bằng con mắt của họ, nghĩ suy bằng kinh nghiệm của họ, yêu ghét, căm hờn bằng tình cảm của họ và diễn đạt bằng ngôn từ của họ (“trông tin quan như trời hạn trông mưa”, “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan ; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”,…). Đúng là cách nói thật thà, bộc trực, trần trụi của người dân cày Nam Bộ.

Nhưng ngợi ca nghĩa quân Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ nêu cao tính cách anh hùng, hành động xả thân của họ. Ông đặc biệt nhấn mạnh ở họ tinh thần hoàn toàn tự nguyện xuất phát từ ý thức trách nhiệm rất cao đối với vận mệnh của Tổ quốc. Một loạt câu văn được cấu tạo theo luật đối ngẫu, tập trung diễn tả tinh thần chiến đấu vô điều kiện của nghĩa quân: không phải việc của mình cũng làm ; không phải trách nhiệm được giao cũng xung phong gánh vác ; không ai động viên, thúc giục cũng hăng hái xông lên ; không súng, không gươm cũng xốc tới bằng dao phay, gậy gộc: “Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh ; chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ” ; “Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không” ; “Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi ; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ”, v.v.

Nhưng đừng nghĩ, hành động của họ là liều lĩnh, dại dột, “điếc không sợ súng”. Họ không sợ chết, đúng thế, nhưng không hề muốn chết một cách vô ích. Họ tin ở chính nghĩa, ở sức mạnh tinh thần. Có sức mạnh ấy thì sẽ có cách đánh, và đánh được, đánh thắng. Niềm tin ấy đừng tưởng là vu vơ, nó có căn cứ vững chắc ở truyền thống đánh giặc giữ nước lâu đời của dân tộc. Phát huy truyền thống ấy, Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Ọuang Trung đã dẹp được giặc Tống, đã bình được quân Nguyên, rồi đuổi được Minh, diệt được Thanh, toàn những kẻ thù hết sức hùng mạnh và vô cùng tàn bạo. Đối với giặc Pháp cũng vậy thôi, cuộc tập kích của nghĩa quân Cần Giuộc chỉ hoàn toàn trông cậy ở sức mạnh tinh thần, vậy mà cũng lập được chiến công “làm cho mã tà, ma ní hồn kinh”: “Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia ; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ”.

Tiếc là vua quan nhà Nguyễn đã cắt đứt, thậm chí phản bội truyền thống đó, nên đã để đất nước rơi vào tay giặc.

c)Bài Văn chuyển sang phần Ai vãn. Giọng văn từ chỗ bừng bừng khí thế, đổi sang đau đớn xót thương:

Những lăm lòng nghĩa lâu dùng ; đâu biết xác phàm vội bỏ.

Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây ; trâm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

Cái tôi trữ tình – tác giả xuất hiện trực tiếp với tiếng khóc lớn. Đây không phải nỗi đau của một người, mà là sự chất chứa hàng trăm, hàng nghìn nỗi đau của nhân dân Cần Giuộc, của “Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều”, của “Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”, của đồng bào nơi chợ Trường Bình “già trẻ hai hàng luỵ nhỏ”. Một nỗi đau trùm lên cả non sông, phủ lên cả đất trời, nên muôn vật dường như đều biến sắc, đổi sang màu ủ dột: “Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng” ; “Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm ; đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ”,…

Tuy nhiên, trên cái nền chung của âm hưởng bi thương ấy, lắng tai nghe ta vẫn có thể phân biệt nhiều chất giọng khác nhau, diễn tả những sắc thái tình cảm khác nhau trong bài Văn tế.

Có giọng xót xa nức nở, chứa đầy nước mắt: “Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều ; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”.

Có giọng vì giận triều đình vô trách nhiệm, mà càng thương cho những dân cày, lẽ ra không đáng chết mà phải chết: “Chẳng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm ; vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số “.

Có giọng căm hờn giận dữ muốn biến thành tiếng chửi ném vào quân cướp nước: “Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta ; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó”.

Có giọng đầy xót thương, lo lắng cho số phận những người dân ở quanh đồn giặc: “Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen ; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ”.

Có giọng vỗ về, an ủi bằng triết lí “chết vinh hơn sống nhục”, chết mà danh thơm còn mãi cùng đất nước và lòng người: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh ; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”;

“Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen ; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”,…

Có giọng đầy khí thế hào hùng, như động viên, cổ vũ kẻ khuất, người còn cùng tiếp tục xông lên giết giặc: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh”,… – lời văn tế bỗng trở thành tiếng ca chiến đấu, lời hịch xuất quân.

Viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã cắm một cột mốc sừng sững trong lịch sử văn học trung đại nước ta vào cuối thế kỉ XIX đang tiến mạnh trên đường dân tộc hoá, dân chủ hoá. Tinh thần vì dân, lòng ngưỡng mộ vai trò vĩ đại của nhân dân trong công cuộc giữ nước đã khiến ngòi bút Đồ Chiểu vượt qua được lớp lớp hàng rào ước lộ, để sử dụng bút pháp hiện thực. Ông đã sáng tạo ra hình tượng một tập thể dân cày tung hoành ngang dọc, làm chủ chiến trường, vô cùng dũng mãnh, tuy vẫn mang dáng vẻ lấm láp, lam lũ của những người dân hàng ngày vẫn lầm lũi làm ăn nơi đồng ruộng:

Súng giặc đất rền ; lòng dân trời tỏ.

Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

Tiếng khóc của Đồ Chiểu đúng là tiếng khóc của một tâm hồn chiến sĩ – “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo” – vì vậy, văn tế mà thành một bản hùng ca, giọng ai vãn mà khiến người người đứng dậy. Một bài văn vừa tôn vinh nhân dân, vừa có tác dụng rửa nhục cho triều đình – có lẽ vì thế mà Tự Đức đã lệnh cho Bộ Lễ truyền đi khắp nước, và bài Văn tế trở thành bài hịch đánh giặc của toàn dân tộc.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Phần 1: Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!