Xu Hướng 2/2023 # Sống Chết Mặc Bay – Thực Hành Đọc Hiểu Văn Bản Ngữ Văn 7 2022 # Top 8 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sống Chết Mặc Bay – Thực Hành Đọc Hiểu Văn Bản Ngữ Văn 7 2022 # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Sống Chết Mặc Bay – Thực Hành Đọc Hiểu Văn Bản Ngữ Văn 7 2022 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đang tải…

SỐNG CHẾT MẶC BAY

(Phạm Duy Tốn)

I – GỢI DẪN

Thể loại:

Sống chết mặc bay được xếp vào thể loại truyện ngắn. Ở Việt Nam, khoảng đầu thế kỉ XX, thể loại này còn khá mới mẻ. Thời trung đại cũng đã có truyện hoặc các tác phẩm có tính chất tự sự nhưng không có tác phẩm nào thể hiện được những đặc trưng cơ bản của thể loại này.

Truyện ngắn thuộc loại hình tự sư, đặc trưng cơ bản nhất của nó là ngắn. Tuy nhiên, mức độ dài ngắn không hoàn toàn quyết định tính chất thể loại. Như trên đã nói, nhiều tác phẩm (có tính tự sự) thời trung đại nhưng không thể xếp vào loại truyện ngắn bởi ngoài tính chất về dung lượng, truyện ngắn còn có một số đặc trưng khác.

Khác với các truyện dài (ví dụ : tiểu thuyết) và truyện vừa thường tái hiện trọn vẹn cuộc đời một nhân vật, một sự kiện, hoàn cảnh,… truyện ngắn chỉ là một lát cắt, một khoảnh khắc, một hiện tượng nổi bật (cũng có thể khác thường) của cuộc sống. Để đảm bảo với một dung lượng nhỏ mà chuyển tải được những ý nghĩa lớn, ngôn ngữ truyện ngắn phải hàm súc đến mức tối đa. Các chi tiết “thừa” (đối với việc thể hiện nội dung cốt truyện), các chi tiết rườm rà đều bị lược bỏ để tập trung vào những chi tiết chủ yếu nhất. Trong truyện ngắn, dường như hiện thực đời sống đã được “nén” chặt lại nhằm muc đích khắc hoạ nổi bật một hiện tượng, một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay trong đời sống tâm hồn con người.

    Tác giả :

    Phạm Duy Tốn (1883 – 1924) là một trong số ít người có thành tựu đầu tiên về thể loại truyện ngắn hiện đại, trong đó Sống chết mặc bay là tác phẩm nổi bật nhất.

    Mặc dù còn chịu ít nhiều ảnh hưởng của xu hướng đạo đức truyền thông nhưng những truyện ngắn của Phạm Duy Tốn đã thiên về phản ánh hiện thực xã hội thối nát thời bấy giờ. Trong Sống chết mặc bay, ông tố cáo giai cấp thống trị độc ác bất nhân, chỉ ham ăn chơi phè phỡn, đê mặc dân chúng trong cảnh ngập lụt.

      Tóm tắt:

      Gần một giờ đêm, trời mưa tầm tã, nước sông Nhị Hà lên to, khúc đê làng X có nguy cơ sẽ vỡ. Hàng trăm hàng nghìn người dân ra sức chống chọi với sức nước. Thế mà tại ngôi đình trên một khúc đê gần đó, quan phụ mẫu vẫn ung dung cùng các quan đánh bài. Có người báo đê vỡ, ngài vẫn thản nhiên quát mắng. Cuối cùng, khi quan ù ván bài thật to, cũng là lúc “khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chốn”.

        Đại ý :

        Kết hợp những thủ pháp đối lập và tăng tiến, sử dụng những hình ảnh cu thể, sinh động, Phạm Duy Tôn đã lên án gay gắt giai cấp thông trị quan liêu, ăn chơi xa xỉ, không quan tâm gì đến đời sống, thậm chí là tính mạng của nhân dân. Đồng thời, tác giả cũng bày tỏ niềm cảm thương trước nỗi thống khổ của nhân dân trong cảnh thiên tai.

          Cách đọc :

          Trong một truyện ngắn, giọng điệu có ý nghĩa rất quan trọng đối với giá trị của tác phẩm. Với đặc trưng hàm súc, tác giả truyện ngắn tận dung tối đa những lợi thế của giọng điệu để thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình, đồng thời khắc hoạ đời sống một cách sâu sắc. Từ giọng điệu của tác giả cho đến giọng điệu của các nhân vật, khi đọc cần chú ý thể hiện sinh động và chính xác. Cụ thể, trong truyện ngắn này có những nhân vật chủ yếu sau :

          –        Giọng người kể chuyện (về mặt nào đó có thể coi là giọng của tác giả) :

          mỉa mai, châm biếm khi viết về nhân vật “quan lớn”, xót thương khi miêu lả thảm cảnh mà dân chúng đang gặp phải.  

          –        Giọng quan phụ mẫu : vừa hách dịch (khi sai bảo) vừa thờ ơ (khi nghe nói đến cảnh lũ lụt).

          –        Giọng nha lại, thầy đề : nịnh nọt, xun xoe,…

          II – KIẾN THỨC CƠ BẢN

          Phạm Duy Tốn là một cây bút viết truyện ngắn xuất sắc nhất của những năm đầu thế kỉ XX. Một trong số những tác phẩm ông để lại – Sống chết mặc bay – là truyện ngắn tiêu biểu hơn cả, nó được coi như một trong những tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng văn học hiện thưc phê phán sau này. Trong Sống chết mặc bay tác giả đã tái hiện khá sinh động bức tranh đối lập giữa đời sống khổ cực của nhân dân với cuộc sống phè phỡn xa hoa của lũ quan lại. Viết Sống chết mặc bay, Phạm Duy Tốn đã mạnh mẽ tố cáo thói vô trách nhiệm của bọn quan lại đương thời.

          Mở đầu tác phẩm, tác giả đã xây dựng một tình huống độc đáo được đặt trong sự đối lập gay gắt. Một bên là tình cảnh vô cùng nguy khốn của dân chúng : “Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá ; khúc đê làng X thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đê thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất”. Tính mạng “con dân” cả vùng đang bị đe doạ nghiêm trọng. Quang cảnh hàng trăm ngàn con người đang ra sức chống chọi lại với cơn lũ thật khẩn trương, vất vả. “Kẻ thì thuổng, người thì cuốc, người đội đất, kẻ vác tre”, “người nào người nấy lướt thướt như chuột lột”. Một bên là cảnh quan huyện “kẻ cha mẹ của dân” có trách nhiệm đốc thúc dân chúng bảo vệ đê thì lại đang chễm chệ trong đình “cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng chẳng việc gì”. Ngoài kia con dân đang chân lấm tay bùn, đem thân hèn yếu để chống chọi lại với sức nước thì trong đình “đèn thắp sáng trưng”, “nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ đi lại rộn ràng”. Dường như ngoài kia và trong này là cả hai thế giới khác biệt hoàn toàn. Nếu ngoài kia là thảm cảnh thì trong này là thú vui. Ngoài kia gấp gáp khẩn trương, trong này thong dong nhàn nhã. Cái náo loạn đặt bên cạnh cái yên ả. Trái với “con dân” đang “trăm lo ngàn sợ”, quan phụ mẫu “uy nghi chễm chện ngồi” như không hề hay biết đến tình trạng thảm thương của dân chúng. Dưng lên hai cảnh đối lập gay gắt đó, tác giả vạch trần thói vô trách nhiệm của bọn quan lại đương thời. Trong tình cảnh ấy, vô trách nhiệm chính là một tội ác.

          Người đọc không thể tưởng tượng được trong tình thế nan nguy của tính mạng hàng ngàn người dân mà quan phụ mẫu vẫn điềm nhiên đánh bạc và hưởng lạc. Trong khi “sức người khó lòng địch nổi sức trời” thì bọn nha lại tay chân chỉ mải lo hầu bài quan.

          Loading…

          Bản chất vô nhân đạo, lối sống “sống chết mặc bay” của tên quan huyện đã lộ rõ. Mưa gió và sinh mạng hàng ngàn con người không được quan chú ý bằng một trăm hai mươi lá bài. Không khí trong đình vẫn tĩnh mịch y trang, chỉ đôi khi nghe tiếng quan gọi “điếu mày”, tiếng “dạm, tiếng “bốc”, “Bát sách ! An”, “Thất văn… phỗng”,… Thú vui bài bạc, ma lực đỏ đen đã làm bọn quan lại đánh mất lương tri, nhân tính. “Nước sông dầu nguy không bằng nước bài cao thấp”, hình ảnh so sánh thể hiện sự táng tận lương tâm của lũ vô lại. Cuối cùng, đê vỡ. Quan đỏ mặt tía tai “đê vỡ rồi thời ông cách cổ chúng mày”. Đoạn, lại bình thản quay mặt hỏi thầy đề : “Thầy bốc quân gì thế ?”. Ván bài “ù to”. Quan sung sướng, cười hả hê, đắc chí và cũng chính lúc ấy “nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết”…

          Với việc sử dụng triệt để thủ pháp tương phản đối lập và nghệ thuật xây dưng tình huống truyện gay gắt ; với giọng văn khi thiết tha xúc động, khi cay độc, mỉa mai,… Phạm Duy Tốn đã trực tiếp bày tỏ thái độ cảm thông sâu sắc của mình trước thảm cảnh của dân chúng và lòng căm uất phẫn nộ bọn quan lại phong kiến.

          III – LIÊN HỆ

          1.”Nhà văn Phạm Duy Tốn (1883 – 1924) sinh ở Hà Nội, quê làng Phượng Vũ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay là Hà Tây. Sau khi tốt nghiệp Trường Thông ngôn năm 1901, làm phiên dịch tại Toà thống sứ Bắc Kì một thời gian rồi xin thôi, để viết báo. Ông đã viết các báo : Đại Việt tân báo, Nông cổ min đầm, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn, Đăng cổ tụng bảo,… dưới các bút hiệu : Ưu Thời Mần, Đông Phương Sóc, Phạm Duy Tốn. Tác phẩm : Bực mình (1914), Sống chết mặc bay (1918), Con người SỞ Khanh (1919), Nước đời lắm nỗi. Ngoài ra, ông còn soạn Tiếu lâm quảng kí, 3 tập, với bút hiệu Thọ An. Trong những năm hai mươi, sách này được in lại nhiều lần, phổ biến rộng rãi trong cả nước.

          Phạm Duy Tốn là một người “Tây học”. Ông chịu ảnh hưởng ít nhiều của xu hướng đạo đức, nhưng truyện ngắn của ông nghiêng về phản ánh xã hội hơn là “treo gương” giáo huấn. Ông không ca ngợi, khẳng định một nhân vật nào trong tác phẩm của mình ; ông tố cáo một số cảnh bất nhân, độc ác dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến ; ở thành thị, chủ nghĩa cá nhân tư sản và đồng tiền phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ra lối sống bừa bãi, lường đảo, phá phách ; ở nông thôn, cuộc sống của người nông dân rất khốn khổ, bấp bênh vì lụt lội, đói kém, vì bọn quan lại tàn nhẫn, coi khinh tính mạng của họ. Truyện ngắn Bực mình hé cho ta thấy dân thành thị lúc đó ngày càng đông thêm do người nông dân phải rời bỏ ruộng đất ra phố phường kiếm sống. Trong Sống chết mặc bay, Phạm Duy Tốn vận dụng khá thành công nghệ thuật của truyện ngắn hiện đại, kết hợp thuần thục kể chuyện, mô tả, đối thoại; mâu thuẫn của hai cảnh ngộ được tác giả đẩy lên rất cao. Phạm Duy Tốn  không phản ánh những vấn đề lớn của dân tộc và thời đại, nhưng cùng với Nguyễn Bá Học, truyện ngắn của ông phác vẽ cho thấy hiện thực xấu xa, đen tối của xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Hai nhà văn này đều là những cây bút tiên phong trong bước chuyển mình của thể truyện ở Việt Nam những năm ba mươi để đi tới hiện đại”.

          LÊ CHÍ DŨNG (Từ điển văn học, tập II, Sđd)

          2.”Hai cảnh tượng cùng diễn ra ở một thời điểm nguy cấp, ở cùng trên một mặt đê, với những con người có chung bổn phận bảo vệ khúc đê xung yếu, cảnh tượng trước là cảnh tượng lầm than, bi thảm, cảnh tượng sau là cảnh tượng hưởng lạc, ăn chơi vô liêm sỉ. Tô đậm sự đối lập ấy bằng những chi tiết nghệ thuật cụ thể, sinh động, tác giả chẳng những làm nổi bật thái độ vô trách nhiệm của các “quan cha mẹ”, mà còn phơi bày, bêu riếu những bộ mặt đáng khinh, đáng ghét của lũ người “lòng lang dạ sói”. Giọng văn xót xa, thương cảm ở phần mở đầu truyện chuyển dần thành giọng giễu nhại, chỉ trích. Giọng chỉ trích, giễu nhại mở rộng thành mạch phẩm bình không thể kìm nén về nhân cách “quan phu mẫu”. “Ngài mà còn dở ván bài, hoặc chưa hết hội, thì dầu trời long đất lở, đê vỡ dân trôi, ngài cũng thây kệ”. “Mặc ! Dân, chẳng dân thời chớ ! Con bài ngon há nỡ bỏ hoài ru ! Quan lớn ngài ăn, ngài đánh ; người hầu kẻ dạ, kẻ vâng. Sướng bao nhiêu thích bao nhiêu ! Lúc quan hạ, bài ù, ai ai là người chẳng ngợi khen tấm tắc! Một nước bài cao, bằng mấy mươi đê lở, ruộng ngập. Vậy mà không hiểu, thời thật là phàm”. Những lời phẩm bình ấy sẽ được chứng minh bằng cảnh tượng diễn ra ở phần cuối câu chuyện.

          Đoạn cuối truyện giống như một màn kịch ngắn, chia thành lớp lang, có thắt nút, mở nút. Xung đột kịch được mở ra thời điểm, từ trong đình đã “nghe ngoài xa tiếng kêu vang trời dậy đất”. Có người rụt rè nhắc khéo quan : “Bẩm dễ có khi đê vỡ”. Nhưng đó cũng là lúc ván bài đang đến hồi quyết định, quan sắp “ù to” thắng lớn, ngài “chỉ lăm le chưc người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ”. Cho nên, quan vẫn “điềm nhiên”, rồi quan cau mặt, gắt “mặc kệ”. Ngài chỉ thay đổi thế ngồi và giục thầy Đề chú ý vào ván bài “Có ăn không thì bốc chứ” ! Xung đột kịch căng thẳng hơn khi ở trong đình nghe thấy càng ngày càng lớn “tiếng người kêu rầm ĩ, “tiếng ào ào như thác chảy xiết”, “tiếng gà, chó, trâu, bò kêu vang tứ phía”. Lúc bấy giờ, trừ quan ra, ai nấy “đều nôn nao sợ hãi”. Đến khi người ta nói thẳng vào mặt quan, rằng “đê vỡ mất rồi” thì quan “đỏ mặt, tía tai” quát tháo, dùng oai quyền lấp liếm, đổ vây tội cho kẻ khác và cố sức lập lại trật tự bị xáo trộn để không có gì ảnh hưởng tới ván bài: “Ông cách cổ chúng mày”, “Ông bổ tù chúng mày”, “Đuổi cổ nó ra”.

          Mâu thuẫn kịch được đẩy lên đến cao trào sau đó là mở nút, quan ù ván bài to, ngài thoả mãn, đắc ý vỗ tay xuống sập kêu to “Đây rồi !.. Thế chứ lại”, “Ừ ! Thông tôm, chi chi nảy”. Trong khi đó thì ở ngoài kia đê vỡ, “nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết” hàng trăm nghìn con người lâm vào cảnh “kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chốn”.

          Lúc quan vui nhất, sướng nhất chính là lúc “sinh ra một cảnh nghìn sầu, muôn thảm” khiến ai cũng phải “động tâm, thương xót đồng bào huyết mạch”. Đó là nội dung màn kịch ở phần cuối truyện ngắn. Các biện pháp tương phản, tăng cấp được sử dụng triệt để, làm cho kịch tính ngày càng gay gắt. Ngôn ngữ gián tiếp của người kể chuyện chỉ còn giữ vai trò dẫn truyện. Ngôn ngữ đối thoại phát huy tác dụng tối đa để các nhân vật bộc lộ tính cách và diễn biến tâm trạng.

          LA KHẮC HOÀ (Phân tích – bình giảng tácphâm Văn học 8, NXB Giáo dục, 1999)

          File PDF

          Tìm Hiểu Văn Bản: Sống Chết Mặc Bay

          – Là một trong những nhà văn đầu tiên đạt thành tựu về thể loại truyện ngắn hiện đại

          * Truyện ngắn hiện đại: thể loại văn xuôi, viết bằng chữ quốc ngữ, sáng tấc từ thế kỉ thứ XX. Cốt truyện khá phong phú, sử dụng nghệ thuật đa dạng. Nội dung chủ yếu:phản ảnh hiện thực, qua đó thể hiện tư tưởng, quan điểm của nhà văn.

          – Truyện ngắn được đăng trên tạp chí Nam Phong, số tháng 12/1918

          – Truyện lấy bối cảnh vùng nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ XX: đêm khuya, một khúc sông Nhị Hà sắp vỡ.

          – Văn bản có thể chia thành ba phần:

          + Từ đầu đến “Khúc đê này hỏng mất”: Nguy cơ đê vỡ và sự chống cự tuyệt vọng của dân phu.

          + Tiếp theo đến “Điếu, mày!”: Cảnh quan phủ cùng nha lại hộ đê ở trong đình.

          + Còn lại: Cảnh đê vỡ, nhân dân lâm vào tình trạng thảm sầu.

          – Nhan đề ngắn gọn, đặc sắc bắt nguồn từ câu tục ngữ: “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.

          Hai hình ảnh nổi bật được thể hiện trong văn bản là: dân phu ngoài đê và quan ở trong đình. Bằng cách sử dụng biện pháp đối lập – tương phản và tăng cấp, tác giả đã khắc họa rõ nét hai hình ảnh này. Từ đó thể hiện được toàn bộ nội dung, tư tưởng của tác phẩm.

          1. Sự tương phản giữa sức người, sức nước và hình ảnh dân phu

          – Thời điểm: Gần một giờ đêm. Địa điểm: tại một khúc đê sắp vỡ, trời mưa tầm tã à Làm tăng thêm khó khăn, vất vả; nhấn mạnh sự nguy cấp.

          – Tác giả sử dụng hàng loạt các câu cảm thán: Sự lo lắng, xót xa của tác giả cũng chính là nỗi lòng của những người dân.

          2. Sự tương phản giữa cảnh trong đình – ngoài đê và hình ảnh quan phủ

          – Cách giới thiệu: thế – thưa rằng à câu chuyện vừa được dẫn dắt một cách tự nhiên, vừa mang tính chất trào phúng, thể hiện thái độ của tác giả.

          + Địa điểm: đình cao, rất vững chãi, đê vỡ cũng không việc gì – khác biệt hoàn toàn với địa điểm lầy lội của những người dân phu.

          + Quan phụ mẫu có dáng ngồi oại vệ, đường bệ; cử chỉ, cách nói năng hách dịch, độc đoán của quan với đám nha lại và tay sai.

          + Cảnh đánh tổ tôm lúc mau, lúc khoan, ung dung, êm ái, khi cười, khi nói, vui vẻ, dịu dàng.

          – Thái độ trước việc đê vỡ:

          + Bọn nha lại, thầy đề: lo sợ nhưng không dám làm trái lệnh quan à vẫn còn có lương tâm, trách nhiệm nhưng lại hèn nhát, không dám làm trái ý quan.

          + Quan phủ: chỉ quan tâm đến ván bài; đổ trách nhiệm cho cấp dưới, cho dân

          – Giá trị hiện thực: Phản ánh sự đối lập gay gắt và hoàn toàn giữa cuộc sống của nhân dân với cuộc sống của bọn quan lại tiêu biểu là tên quan phủ.

          – Giá trị nhân đạo: Truyện thể hiện sự thương cảm, xót xa của tác giả trước cảnh nhân dân hộ đê và cảnh nhân dân điêu linh; sự căm thù sâu sắc bọn quan lại sâu mọt.

          – Kết hợp đối lập, tương phản và tăng cấp

          – Sử dụng ngôn ngữ sinh động

          Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 105+ 106: Sống Chết Mặc Bay

          – Phạm Duy Tốn –

          a. Về kiến thức:

          – Sơ giản về tác giả Phạm Duy Tốn.

          – Hiện thực về tình cảnh khốn khổ của nhân dân trước thiên tai .

          – Hiểu được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo cũng như thành công nghệ thuật mà truyện ngắn: sống chết mặc bay

          – Đọc hiểu một truyện ngắn hiện đại đầu thế kỉ XX.

          – Kể tóm tắt truyện.

          – Phân tích nhân vật, tình huống truyện qua các cảnh đối lập, tăng cấp.

          – Giáo dục các em thái độ cảm thông với nhân dân và lên án đối với bọn quan lại thời xưa .

          Ngày soạn: Ngày giảng TiÕt 105 V¨n b¶n Sèng chÕt mÆc bay - Ph¹m Duy Tèn - MỤC TIÊU Về kiến thức: - Sơ giản về tác giả Phạm Duy Tốn. - Hiện thực về tình cảnh khốn khổ của nhân dân trước thiên tai . - Hiểu được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo cũng như thành công nghệ thuật mà truyện ngắn: sống chết mặc bay Về kĩ năng: - Đọc hiểu một truyện ngắn hiện đại đầu thế kỉ XX. - Kể tóm tắt truyện. - Phân tích nhân vật, tình huống truyện qua các cảnh đối lập, tăng cấp. c. Thái độ: - Giáo dục các em thái độ cảm thông với nhân dân và lên án đối với bọn quan lại thời xưa . CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH a. Chuẩn bị của GV: - Bảng phụ, SGK, giáo án, SGV. b. Chuẩn bị của HS : - Bài soạn,SGK,... TIẾN TRÌNH BÀI DẠY a. Kiểm tra bài cũ. (4') - Kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh. * Giới thiệu bài (1') b. Dạy nội dung bài mới Hoạt động của Gv và Hs Nội dung ghi bảng ? Gv ? Gv Gv ? Hs ? Hs ? Hs Gv ? Hs Hs ? ? Hs ? Hs ? Gv ? Hs ? Gv ? ? ? Gv ? Nêu những hiểu biết của em về tác giả? Giới thiệu bổ sung về tg. Thể loại, đặc điểm thể loại của truyện? Giới thiệu nhanh các đặc điểm: - Truyện ngắn? - TNHĐ: + sự khác biệt với truyện trung đại và tiểu thuyết; + cốt truyện, kết cấu, tình huống, nhân vật, bút pháp trần thuật. + H.thành ở VN: chủ yếu từ đầu thế kỉ 20. Tp này kể về chuyện gì? Vào thời kì nào? Truyện hướng tới khắc họa hiện tượng gì trong xã hội thời đó? Truyện có thể đc chia thành mấy phân? Mỗi phần nói gì? Trả lời Gv đưa bố cục lên m/h Với bố cục này, trọng tâm miêu tả nằm ở phần nào? Theo dõi đoạn: "Từ đầu....hỏng mất" Cảnh nd hộ đê chống lũ đc diễn ra vào thời gian nào? Thời gian đó có ý nghĩa ntn? Xác định thời gian như thế nhà văn muốn nói gì với chúng ta? Trong khi đó, thời tiết ntn? Giữa cảnh trời nước như thế, công cuộc hộ đê của nd diễn ra ntn? Cùng với đó là những âm thanh gì? Cùng với những câu văn tả thực, nhà văn cũng không kìm nổi xúc động"xem chứng núng thế lắm, không khéo thì vỡ mất..Tình cảnh trông thật là thảm...Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời. Lo thay!Nguy thay!..." Qua những chi tiết ấy, tg cho chúng ta thấy đc điều gì nữa? Nhận xét cách sử dụng từ ngữ miêu tả của tác giả? (Gạch chân). Qua đó, giúp em hình dung ntn về cảnh tượng đó? Cách dùng từ ngữ, h/a miêu tả của tg khiến cho người đọc có cảm tưởng như đc trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy, và đang sống giữ một cuộc đắp đê chống bão lũ có thật. Để miêu tả cảnh này, tg đã sd rất thành công 1 phép NT của TNHĐ, đó là phép tăng cấp. Tác dụng? HẾT TIẾT 1 I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả. (sgk - 79) 2. Tác phẩm a. Thể loại - Truyện ngắn hiện đại. b. Đọc văn bản c. Bố cục: 3 phần II. Phân tích 1. Cảnh nhân dân chống bão lụt. - Thời gian: gần một giờ đêm - Mưa mỗi lúc một nhiều, nước sông mỗi lúc một dâng cao. - Hàng trăm nghìn con người: thuổng, cuốc, đội đất, vác tre, đắp, cừ...bì bõm dưới bùn lấy...ướt lướt thướt như chuột lột. - Âm thanh: trống đánh, ốc thổi, người gọi nhau mỗi lúc một ầm ĩ. - Sức người mỗi lúc một đuối. c. Củng cố và luyện tập. (2') - Hs tóm tắt lại nội dung tác phẩm d. Hướng dẫn học sinh học bài ở nhà. (3') Nắm được những nét cơ bản về tg, tp (đặc điểm của thể loại TNHĐ). Nắm chắc nội dung phân tích phần 1. Chuẩn bị cho tiết 2: Cảnh quan phủ và bọn nha lại đi hộ đê. * RÚT KINH NGHIỆM SAU KHI GIẢNG Thời gian: . . Nội dung: . . Phương pháp. - Truyện ngắn: là tp tự sự cỡ nhỏ. Nội dung bao trùm hầu hết các phương diện của đ/s: đời tư, thế sự hay sử thi... - Truyện ngắn hiện đại: Là một kiểu tư duy nghệ thuật mới (nghĩa là có khác phần nào so với kiểu tư duy đã sản sinh ra truyện trung đại): một bên viết bằng chữ Hán, một bên viết bằng văn xuôi tiếng Việt hiện đại. Một bên thiên về hư cấu, cốt truyện đơn giản, thiên về giáo huấn; một bên thiên về kể chuyện thật, việc thật, do đó còn gần với kí, với sử. Cốt truyện p.tạp hơn, tập trung khắc họa hình tượng, bản chất nhân vật....TNHĐ cũng khác tiểu thuyết: chỉ khắc họa một hiện tượng, p/a một nét bản chất nê nhân vật ít hơn, sự kiện ít phức tạp hơn. * Đặc điểm TNHĐ: - Cốt truyện: diễn ra trong 1 thời gian và không gian hạn chế nên không phức tạp, chỉ cốt làm nổi bật một vấn đề. - Kết cấu: không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà kết cấu theo nguyên tắc tương phản và liên tưởng. - Tình huống: thường đặc sắc, chỉ vừa đủ cho việc khắc họa một nét bản chất nào đó của con người. - Nhân vật: thường ít, đc kết dệt bằng những chi tiết cô đúc và thường là hiện thân cho 1 trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc một trạng thái tồn tại của con người. - Bút pháp trần thuật: thường là kể người thật, việc thật, gần với kí, với sử. Ngày soạn: Ngày giảng TiÕt 106 V¨n b¶n Sèng chÕt mÆc bay (tiếp) - Ph¹m Duy Tèn - MỤC TIÊU Về kiến thức: - Thấy được hình ảnh tên quan phủ vô trách nhiệm, táng tận lương tâm để mặc người dân chống chọi với thiên tai trong tuyệt vọng, còn hắn thì ung dung ngồi bên trong đình trên mặt đê cùng lũ tay chân đánh tổ tôm để tiêu khiển. b. Về kĩ năng: - Tiếp tục phân tích nhân vật, tình huống truyện qua các cảnh đối lập, tăng cấp. c. Thái độ: - Giáo dục các em thái độ cảm thông với nhân dân và lên án đối với bọn quan lại thời xưa . * THKNS: Tự nhận thức giá trị của tinh thần trách nhiệm với người khác. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH a. Chuẩn bị của GV: - Nội dung trình chiếu , SGK, SGV, giáo án. b. Chuẩn bị của HS : - Bài soạn,SGK,... TIẾN TRÌNH BÀI DẠY a. Kiểm tra bài cũ. (4') - Cảnh dân chúng hộ đê được tg miêu tả ntn? - Tg sd thành công phép NTN gì? Tác dụng? b. Dạy nội dung bài mới Hoạt động của Gv và Hs Nội dung ghi bảng Gv Hs ? ? ? ? Hs ? ? ? Hs ? ? Gv Gv Hs ? ? Gv ? Gv Gv ? Hs ? Gv ? Gv ? Hs ? ? ? ? Hs Gv Gv ? Gv ?g Gv ? ? ? Gv ? Hs Gv ? Gv Hs ? Hs Gv ? Hs Gv ? Gv ? - Tóm tắt khái quát lại nội dung phần 1 Trong lúc trăm nghìn người dân đang đánh đổi cả tính mạng để cứu đê, quan phủ và bọn nha lại đang ở đâu? Không khí và quang cảnh trong đó ra sao? So với cái cảnh trăm họ đang vất vả, gội gió tắm mưa như đàn sâu lũ kiến ngoài kia thì ở đây là một nơi ntn? Và nổi bật trong khung cảnh đó là h/a của nhân vật nào? Theo dõi đoạn: "Trên sập...ngồi hầu bài" H/a quan phụ mẫu hiện lên qua những chi tiết nào? Đồ dùng xung quanh chỗ quan ngồi gồm những gì? Em có nhận xét gì về những đồ dùng, vật dụng quan mang theo? Điều đó cho thấy đây là một người ntn? Theo dõi tiếp từ "Ngoài kia...vì phúc tinh" Không khí lúc này đc tg miêu tả ntn? H/a quan cùng bọn nha lại đc miêu tả ra sao? Sự say mê đánh bài của quan đc tg miêu tả qua những câu văn nào? Quan thì như vậy, còn thái độ của bọn tay chân hầu bài khi quan ù thông? Qua đó cho thấy chúng là hạng người ntn? - Người đầu cánh, kẻ cuối tay... (tạo đk...) Không khí, quang cảnh đó cùng thái độ của bọn tay chân nói lên điều gì về vị thế của quan? Ù xong ván bài, quan xơi bát yến, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi và tiếp tục bước vào ván bài tiếp theo. Đúng lúc đó điều gì đã xảy ra? Thái độ của mọi người lúc đó? Còn thái độ của quan? Vì sao? Khi có người bẩm báo : Bẩm, dễ có khi đê vỡ, quan có thái độ và hđộng gì? Thái độ cau mặt, kèm theo đó là câu gắt "mặc kệ" cho ta hiểu gì về thái độ của quan ở thời điểm này? Quan ham mê tới mức: chỉ vì chờ 1 con bài ù mà quên hết nhiệm vụ. Ngoài đánh bài ra, mọi việc đối với quan lúc này dường như không quan trọng và đều khiến quan cảm thấy khó chịu. Cho nên quan mới cáu, gắt. Gắt xong, quan lại quay gối, dựa sang bên tay phải, thái độ rất điềm nhiên như không có chuyện gì xảy ra, nghiêng mình bảo thầy đề: Có ăn không thì bốc chứ.... Trong khi đó, ngoài kia điều khủng khiếp nhất cũng đã xảy ra: Đê vỡ thật. Cảnh đê vỡ đc miêu tả bằng những h/a, âm thanh nào ? Cảnh diễn ra khi đê vỡ đc tg miêu tả bằng một loạt h/a, âm thanh, song các em chú ý vào h/a người nhà quê, mình mẩy lấm láp.... H/a này cho em suy nghĩ gì? Khi con dân vào kêu cứu, quan cha mẹ đã có thái độ và hành động ntn? Vì sao quan lại đỏ mặt, quát? Có phải vì lo đê vỡ, dân trôi không? Em có suy nghĩ gì về thái độ của quan phụ mẫu qua những chi tiết trên? Trong khi quan ù to, cũng là lúc cảnh tượng khủng khiếp nào đã xảy ra? Ở phần này, mọt lần nữa tg lại sử dụng thủ pháp nghệ thuật gì? Thủ pháp NT đó diễn tả điều gì? - Mê bài bạc do không trực tiếp chứng kiến cảnh hộ đê đã đành, nhưng ngay cả khi trước sân đình, mưa đổ xuống mỗi lúc 1 tăng mà coi như không biết gì thì độ mê mải bài bạc đã quá lớn. Nếu coi đây là 2 bức tranh đời thì tg đã sd rất thành công biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả? Cùng với phép tương phản, trong mỗi nội dung, tg sd rất thành công BPNT gì? Đó chính là một trong các giá trị NT làm nên sự thành công của tác phẩm à III MC G.trị NT - Vận dụng và kết hợp...... Thông qua 2 bức tranh đời đó, tg muốn phản ánh điều gì về cuộc sống và XHVN những năm ...thế kỉ XX? MC G.trị hiện thực Sau bức tranh về 1 cảnh đời bi hài, thấp thoáng có bóng hình tác giả. Tác phẩm thể hiện thái độ gì của tác giả (đối với người dân? Đối với bọn quan lại cầm quyền? MC G.trị nhân đạo * Học ghi nhớ sgk * Tóm tắt nội dung phần 1 (1') 2. Cảnh quan phủ và bọn nha lại (25') - Ở trong đình cao, vững chãi. - Đèn sáng trưng - Lính tráng, kẻ hầu đi lại rộn ràng. * H/a quan phụ mẫu: - Uy nghi, chễm chện ngồi - Tay trái tựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng - người nhà quỳ gãi. - Xung quanh: bát yến hấp, khay khảm, tráp đồi mồi....đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm bạc... - Trong cuộc tổ tôm: + Tĩnh mịch, trang nghiêm. + Trừ quan ra, không ai dám to tiếng. + Th/thoảng nghe tiếng quan gọi - Khi đê sắp vỡ: + Mọi người giật nảy mình + Quan: điềm nhiên, chờ bốc bài vì sắp ù. - Khi đê vỡ: + Tiếng người, tiếng nước, tiếng gà,chó,trâu, bò - tứ phía. + Trong đình, ai nấy đều nôn nao sợ hãi. + Người nhà quê lấm láp, thở không ra lời vào bẩm báo... * Hậu quả: Đê vỡ, dân trôi. III. Tổng kết (7') Giá trị nghệ thuật. 2. Giá trị hiện thực 3. Giá trị nhân đạo c. Củng cố và luyện tập. (6') ? MC: Qua bài học, em hiểu gì về nhan đề Sống chết mặc bay của văn bản? Trong đời sống xã hội Thành ngữ sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi đc dùng để chỉ những người vô trách nhiệm chỉ biết hưởng lợi, không quan tâm người ta khốn khó ra sao, như lão lang băm chữa bệnh cho người chỉ chăm chăm móc túi con bệnh, mặc người bệnh năng sống chết ra sao. - Qua bài này, cô mong các em phải biết sống có trách nhiệm, trước hết là trách nhiệm với bản thân mình, sau là trách nhiệm với mọi người: thầy cô, bạn bè, gia đình, làng xóm.... (đơn giản là người có trách nhiệm là khi bạn làm điều sa phải biết khuyên can, không bao che. Người có trách nhiệm là biết quan tâm, động viên, chia sẻ, giúp đỡ khi bạn gặp khó khăn trong học tập cũng như trong c/s. Sống có trách nhiệm là không thờ ơ trước khó khăn, hoạn nạn của người khác mà trước hết là những người ở xung quanh mình. Sống phải có nhân, có nghĩa Có như vậy c/sống của các em mới thực sự có ích. Bởi vì chúng ta ai cũng chỉ sống 1 cuộc đời, hãy sống sao cho không uổng, không phí.... Hs xem clip: Tình nghĩa xóm làng - Tự suy ngẫm về cách đối nhân xử thế(nếu còn t/gian) d. MC:Hướng dẫn học sinh học bài ở nhà. (1') Nắm được nội dung bài học. Làm bài tập sgk. Chuẩn bị cho tiết sau: Viết bài số 6 * RÚT KINH NGHIỆM SAU KHI GIẢNG Thời gian: . . Nội dung: . . Phương pháp.

          Giáo Án Ngữ Văn Bài 26: Văn Bản Sống Chết Mặc Bay

          A: Kết quả cần đạt

          – Hiểu được giá trị hiện thực, nhân đạo và những thành công nghệ thuật của tác phẩm – một trong những truyện ngắn được coi là mở đầu cho thể loại truyện ngắn hiện đại ở VN đầu TK XX.

          – Kĩ năng: Đọc, kể tóm tắt truyện, phân tích nhân vật qua các cảnh đối lập – tương phản và tăng cấp.

          B: Tiến trình lên lớp

          – Ổn định lớp học.

          – Kiểm tra bài cũ: Trình bày những luận điểm chính của Hoài Thanh khi ông luận bản về ý nghĩa văn chương. Theo em, những luận điểm ấy đã bao quát đầy đủ, toàn diện tất cả các ý nghĩa của văn chương hay chưa? Vì sao?

          Câu tục ngữ Sống chết mặc bay (tiền thầy bỏ túi) thể hiện thói vô trách nhiệm một cách trắng trợn của một viên phụ mẫu chỉ dân trong lần hộ đê vô tiền khoáng hậu!

          Câu chuyện đặc sắc đã được ngòi bút hiện thực và nhân đạo của Phạm Duy Tốn kể lại như một màn bi kịch – hài rất hấp dẫn.

          Bài 26: Văn bản. . Phạm Duy Tốn Tiết 105 - 106: Đọc - hiểu văn bản. A: Kết quả cần đạt - Hiểu được giá trị hiện thực, nhân đạo và những thành công nghệ thuật của tác phẩm - một trong những truyện ngắn được coi là mở đầu cho thể loại truyện ngắn hiện đại ở VN đầu TK XX. - Kĩ năng: Đọc, kể tóm tắt truyện, phân tích nhân vật qua các cảnh đối lập - tương phản và tăng cấp. B: Tiến trình lên lớp Ổn định lớp học. Kiểm tra bài cũ: Trình bày những luận điểm chính của Hoài Thanh khi ông luận bản về ý nghĩa văn chương. Theo em, những luận điểm ấy đã bao quát đầy đủ, toàn diện tất cả các ý nghĩa của văn chương hay chưa? Vì sao? Bài mới: Câu tục ngữ Sống chết mặc bay (tiền thầy bỏ túi) thể hiện thói vô trách nhiệm một cách trắng trợn của một viên phụ mẫu chỉ dân trong lần hộ đê vô tiền khoáng hậu! Câu chuyện đặc sắc đã được ngòi bút hiện thực và nhân đạo của Phạm Duy Tốn kể lại như một màn bi kịch - hài rất hấp dẫn. Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt được HĐ 1: Hướng dẫn đọc - hiểu khái quát GV: Trình bày một cách ngắn gọn về tác giả PDT? HS: Trả lời. Năm sinh - năm mất. Quê quán. Bản thân. GV: Dựa vào phần chuẩn bị ở nhà, em hãy nêu xuất xứ của truyện ngắn Sống chết mặc bay? HS: Trả lời theo phần chuẩn bị. GV: Gọi 1 học sinh có giọng đọc tốt lên đọc truyện. GV: Yêu cầu. Chú ý phân biệt các giọng đọc. - Giọng - kể tả của tác giả, quan phụ phụ mẫu luôn hách dịch, hống hách, nạt nộ, giọng sợ sệt, khúm núm của thầy đề, dân phu giọng càng khẩn thiết, lo sợ của họ cùng với giọng càng bẳn gắt và sung sướng vì được ù to của quan phụ mẫu. HS: 1 học sinh đọc diễn cảm, cả lớp chú ý cách đọc, nhận xét cách đọc của bạn. GV: Theo em, truyện ngắn này có thể chia ra làm mấy đoạn? Mỗi đoạn nói gì? HS: Trả lời: Truyện ngắn này có thể chia ra làm 2 hoặc 3 phần. - P1: Từ đầu đến "khúc đê này hỏng mất". - P2: Tiếp theo đến "Điếu, mày!". - P3: Còn lại. GV: Em hãy cho biết truyện được kể theo ngôi thứ mấy và tình tự của truyện như thế nào? HS: Trả lời. GV: Nêu vấn đề bằng câu hỏi. Đọc kĩ toàn truyện, theo dõi mạch truyện từ đầu đến cuối, chúng ta thấy tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật chủ yêu nào? Cụ thể như thế nào? HS: Trả lời. - Hai biện pháp NT chủ yếu là: Đối lập và tăng cấp. + giữa sức trời và sức người. + giữa cảnh hộ đê ngoài đình của dân phu và cảnh hộ đê trong đình của quan phụ mẫu và đám nha lại HĐ 2: Hướng dẫn đọc - hiểu chi tiết truyện GV: Đoạn văn gồm mấy đoạn nhỏ? Mỗi đoạn nói gì? HS: Quan sát các đoạn và trả lời. - Giới thiệu hoàn cảnh thời gian, địa điểm, thế nước to quá và nguy cơ vỡ đêà tình huống căng thẳng ở phần đầu truyện. - Cảnh dân phu kéo đê. - So sánh sức nước và sức người, nguy cơ vỡ đê. GV: Những cảnh ấy được đối lập tương phản và tăng cấp như thế nào, tạo được hiệu quả nghệ thuật gi? HS: Trả lời. Thời điểm Mưa gió Đê Nước sông Không khí, cảnh tượng hộ đê Những âm thanh và tiếng động. HS: Đọc đoạn văn từ: Thưa rằngcùng ngồi hầu bài. HS: Phát hiện sắp xếp chi tiết và nêu nhận xét. GV: Phép tăng cấp được thể hiện như thế nào trong hai cảnh tương phản: Mưa gió nước dâng - dân phu hộ đê và cảnh trong đình? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó là gi? HS: Liệt kê, so sánh, phát biểu. GV: Hệ thống bằng bảng so sánh sau. Trong đình Ngoài đê - Quang cảnh, không khí tính mịch, nghiêm trang, xa hoaàcác quan hộ đê bằng việc chơi tổ tôm từ nhịp nhàng, vui vẻ đến say sưa cao trào. - Sự đam mê thái quá à vô trách nhiệm. - Không ngó gì đến việc hộ đê, cứ ở trong đình ăn yến, chơi bài - Mưa càng to vẫn không để ý, tiếng reo hò, kêu thét từ ngoài đê vọng vào cũng không để vào tai. - Khi có người vào báo tin đê vỡ vẫn cứ ngồi chơi bài, không hề lo lắng mà lại ra sức quá nạt, dọa dẫm, đuổi người báo tin ra ngoài và tiếp tục chơi đến lúc ù to trong niềm vui sướng cực độ. - Mưa tầm tã ànước sông Nhị Hà lên caoàkhúc sống núng thếàhai ba đoạn thẩm lậuàtrống đánhàốc thổiàtừng người xao xác gọiàai ai cũng mệt lửàvẫn mưa tầm tãàduới sông nước cứ cuồn cuộn bốc lếnàkhúc đê hỏng mấtàtrăm họ vất vả lấm láp, gội gió tắm mưaàgà, chó, trâu, bò kêu vang tứ phíaànước tràn lênh lángàxoáy thành vựcànhà trôi, lúa ngậpàkẻ sống không chỗ ở, người chết không nơi chônkể xao xiết. HĐ 3: Hướng dẫn tổng kết và luyện tập. GV: Qua cảnh đắp đê, đê vỡ - đánh tổ tôm và ù to, em hãy khái quát giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Sống chết mặc bay. HS: Khái quát lại. GV: Về nghệ thuật, truyện hấp dẫn người đọc nhờ những yếu tố nào? HS: Trả lời. I: Tìm hiểu chung về văn bản. 1: Tác giả. Là nhà văn hiện thực đầu tiên của nền văn học hiện đại Việt Nam. 2: Xuất xứ. Sống chết mặc bay ra đời trong buổi đầu hình thành thể loại truyện ngắn hiện đại VN đầu thế kỉ XX, được coi là bông hoa đầu mùa của truyện ngắn hiện đại Việt Nam. 3: Đọc và giải nghĩa từ khó. Đọc Từ khó: 40 từ 4: Bố cục. - Nguy cơ vỡ đê và sự chống đỡ của người dân phu. - Cảnh quan phủ cùng lũ nha lại hộ đê ở trong đình. - Cảnh vỡ đê, nhân dân lâm vào tình trạng thảm sầu. * Nhận xét Truyện được kể theo ngôi thứ 3, theo trình tự thời gian và sự việc. II: Đọc - hiểu chi tiết. 1: Đối lập tương phản và tăng cấp giữa sức người, nguy cơ đê vỡ và nhân dân cứu đê. - Thời điểm: Gần một giờ đêm - khuya khoắt, càng làm tăng thêm khó khăn, khi mọi người đều cố sức, mệt mỏi cao độ. - Đê yếu ớt, hai ba đoạn thẩm lậu thấm qua thân đê sang phía trong đồng, rất nguy hiểm. - Nước sông cuồn cuộn bốc lên. - Không khí, cảnh tượng hộ đê cả hàng trăm dân phu trong đói khát, mệt, cố gắng từ chiều, trong mưa gió, ướt như chuột lột, nhốn nháo, căng thẳng, sôi động và lộn xộn, sợ hãi và bất lực. - Những âm thanh và tiếng động gợi không khí khẩn cấp, nguy hiểm của thiên tai đang từng lúc đe dọa cuộc sống con người nơi đây. è Điều tác giả muốn tô đậm là sự bất lực của sức người trước sức sức trời, sự yêu kém của thế đê trước thế nước. 2: Đối lập - tương phản và tăng cấp giữa cảnh trong đình và ngoài đề. + Địa điểm: Đình cao, rất vững chãi, đê vỡ cùng không sợ gì. + Quang cảnh: Tĩnh mịch, trang nghiêm, nhàn nhã, đường bệ, nguy nga. - Đò dùng sinh hoạt khi đi hộ đê: gối, quạt lông, điếu đóm, khay khảm, tráp đồi mồi chữ nhật, ống thuốc bạc, đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm, ví thuốc à cuộc sống quý phái, rất cách biệt với đám dân đen. - Cảnh tượng người hầu kẻ hạ khúm núm, sợ sệt. Ai cũng chỉ muốn làm vừa lòng quan, mặc dù cũng có phần sợ hãi, lo lắng vì tình hình đê ở ngoài kia. - Quang cảnh đánh tổ tôm lúc mau, lúc khoan, ung dung, êm ái, khi cười, nói, vui vẻ dịu dàng - Sự đam mê tổ tôm đến quên tất cả trách nhiệm của mình. - Thái độ của bọn nha lại khi có người báo tin đê vỡ: thầy đề run run, nhưng vẫn phải theo lệnh quan chơi bài. - Thái độ của quan phủ khi có người báo tin đê vỡ: Đổ trách nhiệm cho cấp dưới, cho dân, đe dọa, bỏ tù, đuổi người báo tin ra ngoàivẫn say sưa với ván bài sắp được ù to. * Phép đối lập - tương phản và tăng cấp có tác dụng: - Làm câu chuyện càng thêm hấp dẫn, nút truyện càng thắt chặt, mâu thuẫn càng bị đẩy tới cao trào. - Tâm lí, tính cách nhân vật càng thêm rõ nét. III: Tổng kết 1: Giá trị hiện thực Phản ánh sự đối lập giữa cuộc sống của nhân dân lao động với cuộc sống của bọn quan lại, mà kẻ đứng đầu là tên quan phủ lòng lang dạ thú. 2: Giá trị nhân đạo Thể hiện niềm cảm thương của tác giả trước cuộc sống cơ cực, lầm than của nhân dân do thái độ vô trách nhiệm của bọn cầm quyền đưa đến. 3: Giá trị nghệ thuật - Kết hợp các biện pháp đối lập - tương phản và tằng cấp. - Kể chuyện, miêu tả cụ thể, gọn gàng. - Đối thoại ngắn, sinh động.

          Cập nhật thông tin chi tiết về Sống Chết Mặc Bay – Thực Hành Đọc Hiểu Văn Bản Ngữ Văn 7 2022 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!