Xu Hướng 3/2024 # Suy Nghĩ Của Anh (Chị) Về Ý Nghĩa Của Truyền Thuyết Truyện An Dương Vương Và Mị Châu # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Suy Nghĩ Của Anh (Chị) Về Ý Nghĩa Của Truyền Thuyết Truyện An Dương Vương Và Mị Châu được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa của truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy. – Văn Nghị Luận – Lớp 10

BÀI LÀM

Tôi kể chuyện xưa: nàng Mị Châu,

Trái tim lầm chỗ đề trên đầu.

Nỏ thần vồ ý trao tay giặc,

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

(Tố Hữu – Tâm sự)

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một truyền thuyết sinh động về sự tồn tại của nhà nước Âu Lạc xưa. Hơn thế, truyện cũng là tác phẩm tiêu biểu cho hệ thống truyền thuyết Việt Nam. Thông qua câu chuyện về một vị vua yêu nước mà cuối cùng phải gánh chịu thất bại, một người con gái có tấm lòng chân thật, trong trắng mà phải chịu một kết cục đau đớn, người đọc có thể đúc kết được những bài học sâu sắc.

Trước hết là bài học cảnh giác: trong bất kì hoàn cảnh, tình huống nào cũng phải nêu cao tinh thần cảnh giác, không được chủ quan. Đó là tư tưởng lớn xuyên suốt nhiều tác phẩm văn học dân gian thời ki dựng nước như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng. Âu Lạc tuy là nước nhỏ song lại có vị trí hiểm yếu, giàu tài nguyên nên chưa bao giờ các triều đại phong kiến phương Bắc thôi nuôi âm mưu thôn tính. Do vậy, ý chí bảo vệ độc lập dân tộc, tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu xâm lược luôn là yêu cầu hàng đầu đối với mọi người dân đất Việt. Ý thức đó càng phải được ghi nhớ sâu sắc hơn đối với những người nắm trong tay vận mệnh của cả quốc gia.

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy được ghi lại bởi người đời sau nên rất ngắn gọn nhưng cốt lõi của tấm bi kịch khá rõ ràng: mối quan hệ thông gia giữa An Dương Vương và Triệu Đà vốn dĩ đối địch đã tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương Vương lại “vô tình” gả con gái yêu cho con trai kẻ thù. Có người cho rằng hành động chấp nhận cuộc hôn nhân này của An Dương Vương có khác gì “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”. Song theo ý kiến của cá nhân tôi, đánh giá như vậy là chưa thỏa đáng. Trong buổi đầu dựng nước, đất nước ta còn nghèo, lãnh thổ nhỏ, dân còn ít, nếu phải đối đầu liên miên với một nước lớn có binh hùng, tướng mạnh, chắc chắn mất mát sẽ rất lớn. Nền kinh tế suy kiệt, nhân dân phải chịu loạn lạc, đói khổ tất sẽ mất niềm tin ở nhà vua, đó là cái hại không gí bù đắp được. Do đó, xét về mặt này, nhân vật An Dương Vương không chỉ có công trong việc dựng nước mà thông qua việc gả Mị Châu cho Trọng Thủy để mưu việc hòa hiếu thực lòng giữa hai nước, còn có ý tránh cho dân ta khỏi “họa binh đao”. Song, việc An Dương Vương chấp nhận cho Trọng Thủy ở rể ngay trong cung cấm mới thực sự là mất cảnh giác, là đầu mối của mọi thảm trạng về sau!

Mạch kể của truyền thuyết không lí giải nguyên nhân sâu xa của việc Mị Châu tiếp tay cho Trọng Thủy cướp mất nỏ thần. Mị Châu rõ ràng đã quá yêu và tin Trọng Thủy vì vậy nàng đã làm theo mọi yêu cầu của y. Nếu xét dưới góc độ của một thần tử, nàng đáng tội chết vì đã tiết lộ bí mật quốc gia. Đáng trách hơn, Mị Châu bị tình yêu làm mờ lí trí đến nỗi chẳng còn đủ tỉnh táo để nhận ra những ẩn ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng không nhận ra trong lời chồng tiềm ẩn hiểm họa binh đao: “Ta nay về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam chia cắt, ta tìm lại nàng biết lấy gì làm dấu?”. Mị Châu mê muội đến mức không hỏi nguyên cớ chia li, chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôi. Rồi ngay cả khi quân của Triệu Đà đuổi đến nơi nàng vẫn chẳng chịu trở về với thực tại, mải đắm chìm trong cơn mộng mị, vẫn còn rắc lông ngỗng làm dâu cho Trọng Thủy đuổi theo. Đặt tình riêng lên trên lợi ích quốc gia như vậy quả là vô cùng đáng trách, đáng phê phán.

Nhưng nếu nhìn dưới góc độ của một người con gái bình thường đang yêu một cách cuồng nhiệt thì đơn giản là Mị Châu đã làm theo sự mách bảo của trái tim. Dù cho có mù quáng đi chăng nữa thì tình yêu của Mị Châu thật đẹp và trong sáng. Nàng yêu hết mình và làm tất cả để được d bên người minh yêu. Mị Châu không làm tròn chữ “trung”, chữ “hiếu”, nàng chỉ để lại cho đời một chữ “tình” mà thôi.

An Dương Vương mất nước vì sự thiếu cảnh giác, khinh địch của mình. Bản thân nhà vua mong mỏi sự hòa bình giữa hai quốc gia, chấm dứt cảnh chiến tranh loạn lạc từ nên mới kết thông gia với Triệu Đà. Nhưng trớ trêu thay, chính thiện chí của An Dương Vương đã tạo nên khe hở cho những toan tính của Triệu Đà len lỏi vào. Ông đã không tỉnh táo để phân biệt rõ bạn – thù, dẫn đến bi kịch “Trái tim lầm chỗ để trên đầu” của Mị Châu như lời bình của nhà thơ Tố Hữu.

Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu bi kịch khi đất nước rơi vào tay Triệu Đà, phải rút gươm trừng phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của mình.

Đến lúc này, nhà vua dã đứng trên lập trường bảo vệ quyền lợi quốc gia mà gạt bỏ tình riêng, hành động ấy rất được nhân dân coi trọng qua cách xử lí của dân gian: Rùa Vàng rẽ nước cho vua xuống biển. Mị Châu phải trả giá cho sự nông nổi của mình nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận ra tấn bi kịch đau đớn. Một người con gái ngây thơ, trong trắng, đáng yêu lại bị phản bội, cuôì cùng đã nhận ra kẻ thù dù muộn màng. Nhân dân ta rất nghiêm khắc và cũng rất công bằng khi đánh giá công, tội. Với Mị Châu, ngay khi nàng bị chết dưới lưỡi gươm oan nghiệt của chính cha mình, lời thề của nàng vẫn linh ứng. Nếu theo tâm linh người xưa Trời là tôi thượng: “Xác Mị Châu không hóa thành tro bụi mà biến thành ngọc thạch, máu nàng biến thành ngọc trai” thì như vậy chính Trời cũng đã minh oan cho nàng rồi. Mị Châu thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương.

Từ thảm kịch nước mất nhà tan, câu chuyện đã để lại cho chúng ta một bài học cảnh giác rất sâu sắc và thấm thìa: trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân (mặc dù câu chuyện không chỉ chứa đựng duy nhất một tấn bi kịch mất nước mà có sự đan xen giữa bi kịch mất nước và bi kịch tình yêu. Chính bi kịch mất nước đã tạo nên bi kịch tình yêu và bi kịch tình yêu đã mở đường cho bi kịch mất nước).

Riêng nhân vật Trọng Thủy, đứng trên quan điểm dân tộc, chúng ta tất phải lên án hắn. Song, đứng trên phương diện tình yêu lứa đôi, nếu Trọng Thủy chỉ là tên gián điệp đơn thuần đội lốt người yêu, người chồng, giả danh làm con rể để thực hiện âm mưu hiểm độc thì khi đã chiếm và sáp nhập Âu Lạc với Nam Hải, vương quốc rộng lớn đó thiếu gì người đẹp với hàng trăm cung tần, mĩ nữ, vì sao Trọng Thủy phải một mình một ngựa lần theo dấu lông ngỗng tìm đường mong gặp lại Mị Châu? Sự kiện ngọc trai đem về rửa trong giếng nước mà Trọng Thủy đã tự vẫn trở nên “trong sáng tuyệt vời” cũng thể hiện cái nhìn bao dung độ lượng của nhân dân ta và chứng tỏ tình yêu chân thành của Trọng Thủy đô’i với Mị Châu cũng như phần nào giải thích vì sao Mị Châu lại tin, yêu chồng đến thế. Cái chết của Trọng Thủy đã đánh một đòn mạnh mẽ vào âm mưu xâm lược của Triệu Đà.

 Chính Triệu Đà cũng phải trả một cái giá rất đắt cho âm mưu xâm lược Âu Lạc bằng cái chết của chính con trai mình.

Câu chuyện ngắn gọn nhưng tập trung nhiều mâu thuẫn nội tại. Triệu Đà xâm lược mong mở rộng bờ cõi nhưng đã đẩy chính con trai mình vào chỗ chết. An Dương Vương nhận lời cầu hòa, cầu thân mong được yên ổn để giữ nước nhưng vì mất cảnh giác mà để nước mất, nhà tan, phải tự tay giết chết đứa con gái yêu của mình. Mị Châu yêu cha, theo cha đến cùng nhưng cũng vì nặng tình với chồng, mong gặp lại chồng mà không biết rằng con đường dẫn chồng đến tìm mình cũng chính là con đường dẫn mình đi vào cõi chết. Trọng Thủy làm xong mệnh lệnh tội lỗi của vua cha, tìm về với vợ, theo dấu lông ngỗng vung roi thúc ngựa mà không biết rằng mỗi bước ngựa phi càng đẩy vợ đến nhanh với cái chết thảm thương.

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy muôn đời vẫn còn giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác đến lời nhắc nhở về cách giải quyết cái chung và cái riêng, việc nước và việc nhà. Tác phẩm chứa đựng những bài học sâu sắc và không bao giờ cũ đôi với muôn thế hệ sau.

Truyền Thuyết An Dương Vương Và Mị Châu

Đề bài 1: Anh chị hãy nêu cảm nghĩ của mình về truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” Bài làm

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu Trái tim lầm chỗ để trên đầu Nỏ thần vô ý trao tay giặc Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” (Tố Hữu)

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu cổ tích có “Tấm Cám”, truyện ngụ ngôn có “Thầy bói xem voi” thì truyền thuyết có “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”. Đây có thể xem là câu chuyện bi kịch đầu tiên trong văn học dân tộc, nó đã lấy đi không ít nước mắt cũng như sự căm phẫn của người đọc. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà ta đã rút ra được bài học cho chính mình: đừng quá chủ quan, khinh thường địch mà chuốc lấy thất bại.

Truyện xưa kể rằng, vua Hùng có một người con gái đẹp tuyệt trần tên là Mị Nương. Năm đó, Thục vương sai sứ đi cầu hôn Mị Nương. Vua Hùng tính đồng ý nhưng tướng Lạc Hầu cản lại, bảo rằng Thục chỉ có mưu đồ chiếm nước ta mà thôi. Không cầu hôn được vợ, Thục vương tức lắm. Di chúc để lại cho đời sau buộc phải cướp được nước Văn Lang của vua Hùng. Con cháu vua Thục mấy lần kéo binh sang đánh mà không được. Vua Hùng thấy thế đâm ra tự mãn, chỉ lo vui chơi, không lo việc binh biến, cuối cùng phải nhảy sông tự vẫn. Nước Văn Lang bị mất. Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán đã đứng lên dẹp loạn, tự xưng là An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc. Ông đã một lòng vì nước, rất thương dân. Triệu Đà đánh thua bèn rút về nước, cầu hòa và xin An Dương Vương gả con gái Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy. Mặc dù tướng Cao Lỗ đã hết sức can ngăn nhưng An Dương Vương vẫn mặc, lại còn bãi chức tướng Cao Lỗ. Và bi kịch cũng xuất phát từ đó. Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”, trích truyện “Rùa Vàng” trong “Lĩnh Nam chích quái”, đã nói lên chiến công của An Dương Vương trong việc xây thành Cổ Loa và diễn tả nỗi bi thảm của mối tình giữa Mị Châu và Trọng Thủy.

Trong buổi đầu dựng nước, An Dương Vương đã rất có công với dân tộc. Ông cho xây thành Cổ Loa với hi vọng nhân dân sẽ được ấm no hạnh phúc. Việc xây thành mãi vẫn không thành công, ông bèn cầu trời phật, giữ cho tâm mình trong sạch. Điều đó đủ để thấy tâm huyết của ông dành cho dân tộc là như thế nào. Nhờ sự giúp đỡ của sứ Thanh Giang cùng với tấm lòng yêu nước thương dân của ông, chỉ nửa tháng sau, thành đã được xây xong. Có lẽ ông đã vui mừng khôn xiết khi thấy điều đó. Ông còn lo cho vận mệnh đất nước khi tâm sự mối băn khoăn lại bị Đà xâm chiếm với thần Kim Quy. Thần đã cho An Dương Vương một cái vuốt. Ông đã làm thành nỏ, cái nỏ ấy có thể bắn ra hàng ngàn mũi tên chỉ trong một lần bắn (nhân dân gọi là nỏ thần). Nước Âu Lạc nhờ thế nên đã được sống trong thái bình thịnh trị. Ta thấy rằng An Dương Vương quả là một vị minh quân, một người biết nhìn xa trông rộng, biết lo trước những mối lo của thiên hạ.

Nhưng cũng chính vì thế cũng đã hình thành tính tự mãn nơi ông. Khi Đà sang cầu hôn, ông đã đồng ý gả con gái mình cho con trai Đà là Trọng Thủy. Cuộc hôn nhân giữa hai nước vốn đã có hiềm khích là sự dự báo cho những mối hiểm họa về sau.

“Một đôi kẻ Việt người Tàu Nửa phần ân ái nửa phần oán thương”

“Một đôi kẻ Việt người Tàu” lấy nhau như thế là một sự nguy hiểm khôn lường. Thế nhưng An Dương Vương không hề màng tới điều đó. Có lẽ ông chỉ mong hai nước sớm thuận hòa qua cuộc hôn nhân này và nhân dân sẽ không phải chịu cảnh khổ đau. Nhưng ông không biết được, kẻ thù dù quỳ dưới chân ta thì chúng vẫn vô cùng nguy hiểm. Ông nghĩ cho dân, nghĩ đến cái lợi trước mắt nhưng lại không nghĩ đến những điều nguy hiểm sắp đến. Vì thế, ông đã đưa cả cơ đồ “đắm biển sâu”.

Sự tự mãn là bạn đồng hành của thất bại. Có nỏ thần trong tay, An Dương Vương dường như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Đỉnh điểm là lúc được báo Triệu Đà sang đánh chiếm thì ông “vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười mà nói rằng: ‘Đà không sợ nỏ thần sao?'” Ông đã bước vào vết xe đổ của người xưa, để rồi lúc nguy cấp nhất, ông mới lấy nỏ thần ra bắn và biết là nỏ giả, liền dắt con gái bỏ chạy về phương Nam. Trong lúc cấp bách, ông chỉ biết mỗi việc bỏ chạy chứ không còn cách đối kháng nào khác. Khi ra đến biển Đông, ông còn không nhận ra được đâu là giặc, ông chỉ ngửa mặt kêu “trời” mà không biết phải làm gì. Đến khi thần Rùa Vàng hiện lên và nói: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” thì ông đã rút gươm chém con gái của mình. Hành động dứt khoát, không do dự ấy đã chứng minh ông là một vị minh quân. Ông đặt việc nước lên trên việc nhà, không để việc riêng làm lung lay ý chí. Thần Rùa Vàng hay chính thái độ của nhân dân lao động đã bổ sung mọi khiếm khuyết cho ông. Khi ông không xây được thành, thần hiện lên giúp đỡ, khi ông lo cho vận mệnh đất nước, thần cũng hết sức chỉ bào ông và lúc này, khi nguy cấp nhất, thần cũng hiện lên để giúp ông. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, sự tha thứ cho một vị minh quân của nhân dân? Chi tiết “vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển” đã chứng minh điều đó. Biển cả đã mở rộng tấm lòng đón ông về. Những con sóng trôi dạt vào bờ lại bị bật ra năm nào liệu có còn nhớ hình ảnh hai cha con tội nghiệp?

Nếu như kì tích xây thành Cổ Loa là một chiến thắng vẻ vang mang tính huyền thoại thì sự thất bại lần này của An Dương Vương mang tính hiện thực sâu sắc. Và bi kịch nước mất nhà tan ấy xuất phát từ mối tình duyên của Mị Châu và Trọng Thủy. Mị Châu là con An Dương Vương, là vợ Trọng Thủy và là con dâu của Triệu Đà. Nàng rất ngây thơ, yêu Trọng Thủy với một tình yêu trong sáng của con gái. Nàng đã trao cho Trọng Thủy tất cả trái tim mình. Mấu chốt chính là lúc nàng chỉ cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là việc đại sự, thế mà nàng lại “vô tư” đến mức đưa cho Trọng Thủy xem. Nàng u mê, ngu muội đến mức lầm lẫn giữa “tình nhi nữ” và “việc quân vương”. Còn gì đau xót hơn chăng? Nếu xét về khía cạnh một người vợ thì Mị Châu là một mẫu hình lí tưởng cho chữ “tòng” thời ấy. Nhưng không chỉ là một người vợ, Mị Châu còn là công chúa của nước Âu Lạc. Khi đã tráo được nỏ thần, Trọng Thủy biện cớ về thăm cha. Trước khi đi, chàng nói với Mị Châu: “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Câu nói đầy ẩn ý của Trọng Thủy thế mà Mị Châu không nhận ra. Nàng yêu Trọng Thủy đến mức còn không thèm đặt ra câu hỏi tại sao hai nước phải thất hòa, tại sao Bắc Nam phải cách biệt trong khi ta đã là “người một nhà”. Nàng chỉ hướng về hạnh phúc lứa đôi, mong đến ngày sum họp: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Câu nói của Mị Châu là lời nói của một người vợ yêu chồng tha thiết. Nhưng nàng không biết rằng hành động của nàng đã cho Triệu Đà chiến thắng vua cha, cho Trọng Thủy đuổi theo giết cha mình.

“Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn Những chiếc lông không tự biết giấu mình”

Khi bị giặc truy đuổi, Mị Châu đã mặc chiếc áo lông ngỗng trên mình. Chiếc áo hóa trang lông ngỗng là trang phục của người phụ nữ Việt xưa trong những dịp lễ hội. Thế nhưng Mị Châu lại mặc nó vào lúc nguy cấp như thế này. Điều đó cho thấy nàng đã không còn lí trí sáng suốt nữa. Mọi hành động của nàng đều bị tình cảm vợ chồng chi phối. Trước khi bị vua cha chém đầu, nàng đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng đã nhận ra được chân tướng sự việc, rằng người nàng đã yêu, đã tin tưởng bấy lâu nay chỉ là kẻ lừa bịp. Cái chết của Mị Châu là sự hóa thân không trọn vẹn, xác biến thành ngọc thạch, máu biến thành châu ngọc. Điều đó cho thấy sự cảm thông của nhân dân ta với Mị Châu, một người đã “vô tình” đưa nước Việt vào một ngàn năm nô lệ.

Ba nhân vật, ba số phận, ba vai diễn đều do Triệu Đà đứng phía sau làm đạo diễn. Nhưng có lẽ, vai diễn của Trọng Thủy là khó khăn nhất. Chàng phải hóa thân thành nhiều vai, mỗi vai một tính cách khác nhau, đòi hỏi ở con người ta phải có tài năng diễn xuất kiệt xuất. Trước mặt An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy đeo chiếc mặt nạ là một người con rể, một người chồng hết sức yêu thương vợ. Nhưng chiếc mặt nạ còn lại Trọng Thủy giấu vào trong bóng tối. Chàng diễn hay đến mức không ai có thể nhận ra. Lời chàng nói với Mị Châu khi từ biệt, những hành động âu yếm của chàng đối với Mị Châu cho ta thấy chàng là một người đàn ông mẫu mực. Thế nhưng tất cả đã hoàn toàn sụp đổ khi ta nhận ra được âm mưu của chàng. Cuối truyện, Trọng Thủy cũng không thể nào sống yên cùng với những vinh hoa phú quý mà mình chiếm được. Tâm trạng chàng rất dằn vặt. Có lẽ trước khi thực hiện mưu đồ ấy, chàng cũng đã đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Nhưng suy cho cùng chàng cũng là thân phận người Tàu, là con trai Triệu Đà và là nạn nhân của cuộc chiến tranh phi nghĩa. Chàng đã hết lòng trung thành với cha. Nhưng chi tiết chàng nhảy xuống giếng vì tưởng nhớ Mị Châu đã cho ta một cách nhìn khác về nhân vật này. Chàng đã gài một cái bẫy giúp cha mình, một cú lừa ngoạn mục để rồi chàng cũng chính là nạn nhân của cái bẫy ấy. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông lấy nước giếng này rửa thì thấy ngọc sáng thêm. Phải chăng Mị Châu đã tha thứ cho Trọng Thủy? Nhưng tin chắc rằng nàng sẽ không ngu muội nữa, vì lời nguyền của nàng là sẽ “rửa sạch mối nhục thù” chứ không cầu mong gì thêm. Ngọc sáng đã minh chứng cho tình yêu, lòng chung thủy và sự trong sáng, vô tội của nàng.

Không như cổ tích, cái kết luôn có hậu cho mọi người. Truyền thuyết buộc ta phải suy ngẫm thật nhiều sau đó. Chúng ta phải biết đặt cái chung lên trên cái riêng, nhất là phải cảnh giác, đừng như An Dương Vương “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”. Và trong tình yêu phải luôn luôn sáng suốt, đừng nên lầm đường lạc lối để rồi phải trả một cái giá quá đắt như Mị Châu. Truyện vừa mang tính triết lí vừa thấm đậm ý vị nhân sinh như Tố Hữu trong “Tâm sự” đã nói:

“Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước Nên em ơi ta đành tự nhắc mình”

Đề bài 2: Phân tích nhân vật Mị Châu Bài làm

Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu Trái tim lầm chỗ để trên đầu Nỏ thần vô ý trao tay giặc Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu (Tố Hữu) Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy là một trong những câu chuyện có sức hấp dẫn được lưu truyền trong dân gian về buổi đầu của lịch sử dân tộc – một câu chuyện vừa mang nét hiện thực vừa mang nét huyền thoại thời Âu Lạc. Hơn thế nữa, đây cũng là tác phẩm mang dấu ấn bi kịch sớm nhất trong văn chương dân tộc. Giếng Mị Châu ở Đông Anh còn đó, bên cạnh bài học về việc cần đề cao cảnh giác với kẻ thù, tấm oan tình còn để lại những bài học mang giá trị nhân văn sâu sắc. Mị Châu là con gái của Thục An Dương Vương. Người con gái trong trắng ngây thơ, tin tưởng tình yêu một cách chân thành cuối cùng đã bị chính người chồng đưa vào bẫy, làm mất nước. Câu chuyện trong sách giáo khoa chỉ tập trung vào mối quan hệ Trọng Thủy – Mị Châu nhưng cũng đủ sức giúp ta nhận ra những thủ phạm và nạn nhân đích thực của bi tình sử này. Trọng Thủy làm rể của An Dương Vương. Mọi nguyên nhân bi kịch trước hết bắt đầu từ An Dương Vương khi đã để tình riêng lấn át tầm nhìn của một đấng minh quân. Nhất là, kẻ ở rể lại phục vụ cho dã tâm của Triệu Đà – lấy bí quyết nỏ thần để cướp nước. Sự mất cảnh giác đáng trách của An Dương Vương làm mất nước đã đành , nhưng hậu quả của nó mang ý nghĩa bi kịch là làm nên cảnh sinh li tử biệt, tan vỡ tình duyên của Mị Châu – Trọng Thủy. Mặc dù truyền thuyết được ghi lại bởi người đời sau hết sức ngắn gọn, nhưng cốt lõi của bi kịch ấy vẫn thật rõ ràng: mối quan hệ thông gia của hai nhà vốn dĩ đối địch tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương lại “vô tình” gả con gái yêu của mình cho con trai kẻ thù. Theo mạch kể của truyền thuyết, không có những lí giải về nguyên nhân sâu xa khiến cho Mị Châu đã tiếp tay cho Trọng Thủy đánh cắp lẫy nỏ thần Kim Qui. Nhưng theo mạch truyện, Mị Châu rõ ràng đã tin Trọng Thủy đến với nàng bằng cả tấm chân tình. Sự ngây thơ ấy của cá nhân nàng là điều có thể tha thứ , nhưng vì tình riêng mà để lộ bí mật quốc gia thật sự là một tội lỗi khó dung tình. Đáng trách hơn, tình yêu ấy thiếu lí trí sáng suốt đế nỗi nàng không nhận ra được những ẩn ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng không đủ tỉnh táo để nhận ra trong lời chồng tiềm tàng hiểm hoạ binh đao: “Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, bắc nam cách biệt, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấu?”. Mị Châu mê muội đếm mức không thể nói một lời hỏi nguyên cớ chia lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôi. Đặt tình riêng lên trên vận mệnh quốc gia như vậy quả thật đáng phê phán. Đàng sau tình duyên Mị Châu – Trọng Thủy là cả một âm mưu thôn tính thâm hiểm của Triệu Đà, không ai khác kẻ thực hiện gian kế ấy lại là Trọng Thủy. Hắn ngay từ khi đạt chân đến Loa Thành làm rể đã đặt nhiệm vụ gián điệp lên hàng đầu. Bỉ ổi hơn, hắn đã lợi dụng ngay người vợ ngây thơ để thực hiện gian kế mĩ mãn. Xét về bản chất Trọng Thủy là một kẻ gian trá và tham lam: lừa gạt vợ để lấy vuốt Rùa Vàng, vừa âm mưu cướp được nước, vừa muốn được chiếm đoạt trọn vẹn trái tim của Mị Châu. Từ thủ phạm, hắn đã biến thành nạn nhân của chính mình. Không thể nào có sự dung hoà giữa quyền lợi quốc gia với tình yêu đôi lứa khi thù địch là cái mầm hoạ tiềm ẩn trong mối quan hệ vợ chồng. An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh địch của mình. Bản thân nhà vua mong mỏi hoà hiếu giữa hai quốc gia, chấm dứt cảnh đao binh từ duyên tình con trẻ. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là chỗ hở để kẻ dã tâm là cha con Triệu Đà lợi dụng. Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu bi kịch khi tuốt gươm trừng phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của mình, nhà vua đã đứng trên quyền lợi quốc gia mà gạt bỏ tình riêng, hành động ấy được trân trọng bằng cách xử lí của dân gian : Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển. Mị Châu phải trả giá bằng sự nông nổi của mình, nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận ra bi kịch của mình. Một người con gái ngây thơ trong trắng đáng yêu bị phản bội, cuối cùng nàng đã nhận ra bộ mặt kẻ thù dù quá muộn màng. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành cho Mị Châu khi để nàng hoá thân thành ngọc thạch, máu hoá thành hạt châu nhưng cũng thật công bằng khi từ lập trường yêu nước trừng trị kẻ có tội. Mị Châu quả thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết không còn chỉ kể lại trang sử mất nước mà chứa đựng cái nhìn thương cảm cho lứa đôi – khi tình yêu phải đối mặt với âm mưu. Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối khi hắn chỉ còn mang được xác Mị Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta không để cho hắn chiếm đoạt và tiếp tục lừa phỉnh Mị Châu. Nhưng điều đáng nói hơn là cái chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc câu chuyện: “Người đời sau mò được ngọc trai ở biển Đông, lấy nước giếng mà rửa, thì thấy trong sáng thêm”. Sự lừa dối nhơ nhớp của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh : chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng, không thể nào tình yêu đồng hành với những toan tính thấp hèn, tham vọng cướp nước.

Bài làm

Giếng Loa Thành sâu hun hút, nhìn mãi không thấy đáy. Phải một lúc lâu kể từ khi lao xuống giếng, đầu Trọng Thủy mới đập vào đáy giếng, chảy nhiều máu. Hắn cứ ngỡ mình sẽ đau lắm. Nhưng không. Sau cú va chạm mạnh ở đầu, Trọng Thủy đứng dậy, thấy mình khoẻ khoắn lạ thường. Dòng nước trong mát dưới giếng đẩy linh hồn của hắn đi đến một nơi rất xa. Nơi ấy có tiếng sóng vỗ ầm ì, có tôm, cua, trai, ốc. “Đây là thủy cung chăng?” – Hắn nghĩ thầm

Xứ sở hắn đang đến thật đẹp đẽ và lộng lẫy. Hắn lướt trên mặt nước, xung quanh hắn là hàng ngàn rong biển đang trôi dạt đầy kiêu sa. Xa xa, lấp ló ánh hào quang màu ngọc bích. Trọng Thủy tiến dần về phía ánh sáng đó. Trước mặt hắn hiện lên một tòa cung điện nguy nga, lát toàn ngọc quý. Một con sóng lớn ập vào. Tóc Trọng Thủy dựng đứng cả lên, thành những hình thù nhòn nhọn như đinh sắt. Hắn cảm thấy lạnh gai người, toàn thân run lên bần bật. – Hẳn có chuyện chẳng lành. Ta cần phải cẩn thận. – Hắn lẩm nhẩm. Ồ! Những đám rong biển kia giờ không còn trôi dạt nữa. Chúng tụ tập lại, tạo thành hai hàng dọc màu xanh dương. Tiếp đó, một chiếc kiệu màu trắng toát xuất hiện. Mấy chú cá kình biển Đông khiêng kiệu, dõng dạc nói: – Băng Thạch Mị Châu công chúa giá lâm! “Là Mị Châu ư?” – Trọng Thủy mừng rỡ “Thì ra nàng vẫn còn sống. Ta nhớ nàng khốn khổ xiết bao.” Trọng Thủy bồi hồi nhớ lại ngày nàng mới cưới hắn, vẻ trong trắng, thơ ngây của nàng, cả khúc nhạc trong trẻo nàng thường gảy cho hắn nghe.

Nhưng bước xuống lại là một người phụ nữ có gương mặt trắng xanh, đứng bất động như đá. Mỗi cử động của nàng đều vô cùng khó khăn. Phía sau nàng là một người đàn ông mặt mày dữ tợn, cắm hai chiếc sừng trâu trên đầu. Người ấy ôn tồn bảo Mị Châu: – Trước, vì chuyện tình duyên với Trọng Thủy làm con đau khổ, hóa đá, để đến nỗi linh hồn cũng bị băng lại thành ngọc thạch. Muốn giải được điều này, con phải đích thân trừng trị Trọng Thủy. Mị Châu khiêm nhường, cúi mặt xuống, đáp: – Đa tạ Diêm Vương đã cho con cơ hội để trả mối nhục thù. Mị Châu dứt lời, Diêm Vương đã biến mất trong những làn sóng biển rì rào. Trọng Thủy chạy lại, nắm chặt tay Mị Châu. Tim nàng thổn thức. Những kỉ niệm đẹp nhất của cuộc sống vợ chồng ùa về trong trái tim nàng. Đứng trước mặt con người ấy, Mị Châu rất muốn dùng đôi tay mềm mại của mình ôm lấy Trọng Thủy. Thế nhưng, nàng rất nhẹ nhàng, bình thản bỏ tay Trọng Thủy ra. – Mị Châu đã hóa đá. Trái tim này cũng biến thành băng rồi. – Mị Châu lạnh lùng nói Nhìn người đẹp khuôn mặt lạnh tanh, vô cảm, ánh mắt nhìn vào cõi miên man, thân người nàng đông cứng như một tảng băng ngàn năm, Trọng Thủy đau đớn vô cùng. Hắn rút từ trong tà áo một con dao găm, đưa cho Mị Châu: – Hãy giết ta đi! Trái tim nàng sẽ ấm nóng trở lại. Mị Châu cầm con dao trên tay, nhìn trân trân Trọng Thủy. Ánh mắt ấy vừa chan chứa tình yêu, nỗi nhớ, vừa đầy sự than trách. – Chàng yêu thiếp vậy, sao còn hãm hại cha thiếp, đất nước của thiếp? – Vì cha ta. – Trọng Thủy nghiêm mặt nói Cướp được Âu Lạc, nước của ta sẽ mạnh lên. Ta không hối hận đâu. – Trọng Thủy nói, nhìn thẳng vào mắt Mị Châu Giờ Mị Châu mới sực tỉnh. Từ hồi cưới nàng, Trọng Thủy chưa từng một lần nhìn vào mắt nàng. Khi nói chuyện, mắt hắn thường nhìn xuống đất. – Chàng nói lại đi! Chàng có hối hận không? – Không – Trọng Thủy kiên quyết nói Năm xưa, để mở rộng quốc thổ, cha nàng chẳng đã từng xâm chiếm Văn Lang đó sao? Chiến tranh giữa các nước, mạnh được yếu thua là chuyện muôn thuở mà. – Vậy sao chàng còn tự tử? Sao không về với cha chàng rồi cưới một người vợ quý tộc khác? Lúc ấy, thiếp sẽ là ma hiện về ám ảnh chàng. – Ta có hối hận chứ. Nhưng ta chỉ hận mình khi đã gợi ý cho nàng về chiếc áo lông ngỗng, để cha nàng phát hiện và đã giết nàng. Ta hận đã đến quá muộn để chỉ còn ôm được xác nàng. Mị Châu, ta thực lòng mong được sống với nàng suốt đời suốt kiếp. – Nhưng thiếp không muốn. Thiếp không muốn sống với một người đã giày xéo đất nước thiếp. Mị Châu quay mặt đi. Những giọt nước mắt lăn dài trên má nàng. Lòng nàng như đang bị muôn ngàn mũi tên xuyên thủng. Nỗi đau này còn lớn hơn cả nhát kiếm mà phụ vương đã đâm nàng. Tình yêu và thù hận, bên nào nặng, bên nào nhẹ? Mặt Trời đã qua mấy lần đội biển. Mị Châu và Trọng Thủy vẫn chưa nói thêm với nhau câu gì. – Trọng Thủy, sao chàng lại muốn chết? – Mị Châu thầm thì hỏi – Vì ta muốn trả nợ cho nàng. Chết rồi, ta sẽ hết đau đớn, dằn vặt. – Vậy thì thiếp không để cho chàng chết đâu. Nợ của chàng sao có thể trả dễ như thế được? Thiếp muốn chàng phải đau khổ, cắn dứt lương tâm đời đời kiếp kiếp. Một ánh nến tắt màu đen tuyền chuyển động nhịp nhàng trên mặt nước. Đến gần Mị Châu, ánh nến tắt dừng lại và hiện thành Diêm Vương. – Mị Châu, đã hết thời gian rồi. Ta không thể ở lại thủy cung quá lâu. Con đã trả thù chưa? – Ngài nói – Diêm Vương, con cầu xin ngài cho Trọng Thủy bất tử, còn con sẽ là một linh hồn bình thường của dòng luân hồi. Ở bất cứ kiếp nào, Trọng Thủy cũng nhận ra con, tìm đến với con. Nhưng con thì chẳng nhớ hắn là ai, cưới chồng, sinh con với người khác. Con muốn hắn phải đau khổ, phải yêu con cả ngàn năm, cả vạn năm. – Mị Châu nói, đôi mắt nàng vẫn không rời khỏi Trọng Thủy – Vậy con có muốn Trọng Thủy cả ngàn vạn năm ấy phải sống ở Âu Lạc không? Hắn ta còn phải trả nợ với đất nước của con nữa – Diêm Vương nói – Xin theo ý ngài – Mị Châu đáp – Địa Tạng Tứ Quỷ, hãy hộ tống Trọng Thủy về Âu Lạc. Bi Cầm Linh Anh, mỗi lần Trọng Thủy gặp Mị Châu, ngươi hãy gảy khúc đàn của nước Nam Việt. Nỗi nhớ quê hương hoà quyện trong sầu thương của tình yêu vô vọng, ta muốn trái tim Trọng Thủy tan ra thành nước.

Địa Tạng Tứ Quỷ vâng lời đưa Trọng Thủy đi. Bóng hắn khuất dần sau những gợn sóng nhấp nhô. Mị Châu cảm thấy thoải mái trong người. Nàng đã không còn là một tảng băng. Cử động của nàng đã uyển chuyển như ngày nào. Nhưng có ai ngờ đâu, trái tim nàng đang rỉ máu. “Trọng Thủy, thiếp ao ước biết bao đến một lúc nào đó, chàng và thiếp sẽ gặp lại nhau ở một nơi rất xa, rất xa. Khi ấy, không còn những cuộc chiến tranh giữa các dân tộc. Chàng và thiếp sẽ không còn kẻ Nam người Bắc và rồi tình yêu sẽ trở lại giữa hai ta” …

Ngay sau khi Trọng Thuỷ tự tử ở giếng Loa Thành, vì yêu vợ da diết, xác của chàng rữa ra, ngấm qua mạch nước ngầm vào đất rồi mạch nước ngầm mang chang ra biển cả mênh mông. Về phần hồn chàng sau khi bay lên(như là một điều kì lạ) bị gió thổi bay đi ra biển rồi tạt xuống biển Đông. Camr thông cho tấm long yêu thương vợ của chàng, sự thuỷ chung, ngây thơ của Mị Châu, Rùa Thần đã hội tụ hồn và xác của Trọng Thuỷ, dung` nước tạo nên hình hài Mị Châu rồi nhập hồn nàng vào. Rùa Thần hẳn muốn hai người họ ở bên nhau nhưng sự thể ra sao thì tuỳ vào Mị Châu(hồi sau sẽ rõ).

Trọng Thuỷ, sau khi được sông lại và được Rùa Thần báo mông rằng Mị Châu đang ở thuỷ cung, đã ngày đêm bơi lặn tìm nàng. Sau bao khó khăn gian khổ, chàng đã tìm được thuỷ cung. Đến cổng, chang bị hai ngưu thuỷ thần lại và hỏi:

-Nhà nguoi là ai, xuống đây có việc gì! Đây là chốn thanh bình, không cho phép người trần mắt thịt với bản chất xấu xa xuông đây làm nhiễu loạn.

-Thưa hai vị thuỷ thần -Trọng Thuỷ đáp- sau cái chết của vợ, con vô cùng đau khổ, nhớ nàng da diết, trong lúc tuyệt vọng lầm tưởng bong nàng ở dưới giến khơi, con đã nhảy xuống giếng đuổi theo nàng. Sauk hi chết con được Rùa Thần cứu sống và báo mộng Mị Châu (vợ của con) đang ở chốn này, con khẩn thiết hai vị cho con được vào.

Nghe những lời nói chân thành của Trọng Thuỷ và cũng được Rùa Thần dặn trước, hai vị thuỷ thần cảm động cho Trọng Thuỷ vào. Vào đến trong, chàng cảm thấy thậ ngỡ ngàng, kinh ngạc trước cảnh đẹp còn hơn cả hoàng cung, một vẻ đẹp thần tiên mà hồi nhỏ chàng đã tưng mơ ước một lần được xem. Trước mặt chàng, cá nối đuôi nhau vui đùa nhảy múa, xa xa là khu vườn đầy loài hoa kì lạ…và ở đó giữa khu vườn có một người ngồi mơ mộng (chính là Mị Châu). Vừa nhìn thấy nàng Trọng Thuỷ đã nhận ra, chàng vui mừng reo lên như đứa trẻ vội chạy đến gần nàng. Nghe lời gọi da diết của Trọng Thuỷ, tình yêu sét đánh lại trỗi dậy, nhưng nàng không tin sao chàng lại xuống được đây. Mỗi lúc tiếng gọi lại to hơn, da diết hơn, nàng không thể nhầm được nàng quay lại thì nhìn thấy Trọng Thuỷ đang ở ngay trước mặt mình. Hai người nhìn nhau lặng một hồi rồi khóc. Cảnh vật như dừng lại.

-Ôi, nàng ơi! -Trọng Thuỷ nói- Xa nàng bao nhiêu lâu mà ta vẫn nhung nhớ, ta ăn không ngon, ngày đêm tưởng nhớ nàng, vì quá yêu nàng mà ta đã lầm tưởng bong nàng dưới đáy giếng rồi nhảy xuông tự tử. Nay ta đã được gặp lại nàng, long` ta sung sướng biết bao.

-Mị Châu đáp: Chàng ơi, thiếp cũng vậy, thiếp cũng nhớ chang da khôn xiết, thiếp cũng khó ăn khó ngủ, hang ngày thiếp đều ra đây ngắm nhìn cảnh vật, nhìn những đoá hoa tươi thắm kia mà nhớ đến những bó hoa mà chàng đã tặng cho thiếp, nhìn những đoi cá tung tăng bơi lội nhảy múa mà nhớ đến những ngày chúng ta vui vẻ bên nhau. Ôi! Nhưng thật chớ true, thiếp nay đã mang danh tội đồ của đất nước, thiếp khó long mà có thể chung sống với kẻ thù của dân tộc mình. Sao chàng lại nhẫn tâm lừa dối thiếp khiến thiếp đau khổ? Thiếp thật ngơ dại, ngây ngất vì tình yêu mà nghe theo chàng!

Nghe những lời đó, Trọng Thuỷ bỗng nhói đau, xót xa ân hận.

-Nàng ơi! Tình yêu của ta thần linh có thể chứng giám. Tình yêu của ta, mọi thần dân ta đều biết. Ta thật ân hận khi nghe theo lời vua cha nhưng nàng hãy hiểu cho ta, tha thứ cho ta, phải lừa dối nàng, long ta đau như cắt nhưng đó là mệnh lệnh cua cha ta, là áp lực của của cha và của cả thần đan ta, long ta vô cùng bối rối, trong lúc tâm trí hỗn loạn, ta đã có một quyết định sai lầ, Nàng có biết ta đã chịu dày vò, bị dằn vặt như thế nào không, ta phải chịu áp lực kinh khủng không tưởng tượng nổi, trong long` ta luôn có nàng. Nếu ta có lời gì sai trái tax in chịu mọi hình phạt kinh khủng nhất:ngũ mã phanh thây hoặc hơn thế. Ta thật sự xin lỗi.

Cảnh vật. Xung quanh nhu xao động, dòng nước chảy nhẹ nhàng hơn, những đoá hoa ngừng đung đưa lay động. Mị Châu mắt ướt lệ, giọng nghen ngào:

-Thiếp tin vào tình yêu cảu chàng, tin rằng những tình cảm trước kia chàng dành cho thiếp là chân thật không giả dối. Thiếp cũng biết một đấng nam nhi phải lấy sự nghiệp, giang sơn của mình làm trọng. Nếu thiếp vẫn theo chàng thì có lẽ thiếp sẽ bị ngàn đời nguyền rủa, vạn lời phỉ nhổ, muôn đời không dung. Thiếp đã vì tình cảm mà đem đấ nước giao cho kẻ địch. Mà thiếp theo chàng thì nhỡ đâu bị chàng lừa dối lần nữa vì thiếp quá ngây thơ, yêu chàng. Ôi! Số phận người con gái như thiếp đây thật là khổ, thật bất công.

Thanh minh, thuyết phục Mị Châu một hồi mà không được. Trọng Thuỷ đi đến quyết định táo bạo.

Mị Châu hơi do dự, sợ sệt nhưng vẫn đồng ý:

-Số phận thiếp đã do trời quyết định, nay chờ vào sự an bài của ông trời vây.

Nói rồi, hai người mạnh dạn tìm gặp An Dương Vương, ông đang chơi cờ cùng với Rùa Thần. Rùa Thần thấy hai người đi cùng nhau thấy làm vui, An Dương Vương tỏ ý tức giận nhưng trong long ông vẫn thương con.

Thưa cha đáng kính! -hai người nói- xin cha hãy tha thứ cho tội lỗi của hai chúng con. Chúng con sẽ nhớ ơn, cảm kích người vô cùng. An Dương Vương tỏ ra lạnh lung định nói “không bao giờ” nhưng có cái gì đó trong ông ngăn lại. Ông nói:

-Ta khó long tha thứ cho các ngươi nhưng nếu ông Trời quyết định thì ta chẳng có gì để nói nữa cả.

Trọng Thuỷ, Mị Châu hơi vui mừng đáp: “Cám ơn vua cha” , chào tạm biệt rồi xin Rùa Thần dẫn lên Thiên Đình. Trước mặt Thượng Đế hai người cùng đồng tâm:

-Chúng con là Trọng Thuỷ và Mị Châu, chúng con biết chúng đều gây ra tội lỗi, chúng con rất ân hận và xin cam kết từ nay chúng con sẽ tu tâm tích đức bù đắp lại lỗi lầm của mình. Xin Thượng Đế tha thứ và cho chúng con được ở bên nhau.

Thượng Đế suy nghĩ hồi lâu rồi dõng dạc nói, giọng của người vừa uy nghi vừa vang rền như sấm:

-Tuy các ngươi đã có tội lỗi, nhưng đã biết hối cải. Ta cũng động long trước tình cảm của đoi ngươi nhưng tội lỗi thì khó mà xoá được. Vậy ta phạt hai ngươi xa nhau ba năm tu than tích đức rồi mới được chung sống với nhau.

Trọng Thuỷ và Mị Châu cảm tạ ân điển rồi xuống trần gian. Ba năm sau họ gặp lại nhau và chung sống vui vẻ hạnh phúc.

Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

1. a) An Dương Vương được thần linh giúp đỡ là nhờ tinh thần cảnh giác, ý chí đanh thép quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của mình. Ông lo xây thành dù nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức vẫn không bỏ cuộc. Nhà vua cũng chuẩn bị cả vũ khí từ khi giặc còn ở xa chưa đến.

Tưởng tượng về sự giúp đỡ thần kì của thần linh đối với An Dương Vương cũng là một phương cách để nhân dân ca ngợi nhà vua, thế hiện lòng tự hào với chiến công đắp thành chế nỏ chiến thắng ngoại xâm của dân tộc.

b) Sự mất cảnh giác của An Dương Vương là không suy xét kĩ, mơ hồ về bản chất ngoan cố của kẻ thù xâm lược, chẳng những đồng ý cho Trọng Thủy đi lại mà còn gả con gái yêu của mình là nàng Mị Châu cho Trọng Thủy nữa. Đây chính là cơ hội tốt mở đường cho con trai đối phương lọt vào làm nội gián trong hàng ngũ của mình mà không hề hay biết. Lúc quân Triệu Đà sang đánh, vua cậy có nỏ thần vẫn điềm nhiên đánh cờ, không phòng bị chi cả nghĩa là hết sức chủ quan khinh địch.

c) Sáng tạo ra những chi tiết về Rùa Vàng, Mị Châu, nhà vua tự tay chém con gái… nhân dân muốn biểu lộ thái đô, tình cảm của mình là:

– Tỏ lòng kính trọng đối với thái độ dũng cảm của An Dương Vương, một vị anh hùng đã chiến bại.

– Phê phán thái độ mất cảnh giác: “Trái tim lầm chỗ đặt lên đầu” cùa Mị Châu.

– Giải thích vì sao mất nước nhằm xoa dịu nồi đau mất nước.

2. Để đánh giá việc Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần cho đúng đắn phải dựa trên hai cơ sở có tính nguyên tắc:

– Đặc trưng của thể loại truyền thuyết.

– Ý thức xã hội chính trị – thẩm mĩ của nhân dân khi đến với thể loại này.

Trước tiên, truyền thuyết là một loại hình nghệ thuật đầy tính sáng tạo, phản ánh lịch sử, kể về sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử để nhằm ca ngợi, đề cao cái đẹp, cái tốt, cái tích cực và phê phán cái xấu, cái tiêu cực theo quan niệm của nhân dân. Lịch sử nước ta từ sau thời Âu Lạc đến truyền thuyết trên được cố định hóa trong văn bản Lĩnh Nam chính quái khoảng 18 thế kỉ, nhân dân ta luôn không ngừng chăm lo giữ nước và cũng không ngừng chiến đấu vì độc lập tự do. Trong bối cảnh như thế, lòng yêu nước thương nòi, tinh thần tự hào dân tộc… nhất định phải là một trong những truyền thuyết sâu rễ bền gốc nhất và phát triển liên tục nhất.

Nói như thế là đã rõ vì sao nhân dân ta phê phán Mị Châu bằng bản án tử hình một cách đích đáng. Thấu lí nhưng nhân dân cũng rất đạt tình, thấu hiểu Mị Châu mắc tội không do chủ ý mà chỉ vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ. Bởi vậy mà truyền thuyết đã “sắp xếp” để mai này chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu đúng như lời nguyền của nàng…

Trong bài thơ Tâm sự, nhà thơ Tố Hữu từng viết:

“Tôi kể người xưa chuyện Mị Châu Trái tim lầm chỗ đặt trên đầu Nỏ thần vô ý trao tay giặc Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”.

3. Mị Châu bị thần Rùa Vàng kết tội là giặc, lại bị vua cha chém đầu. Nhưng sau đó, máu nàng hóa thành ngọc trai, xác nàng hóa thành ngọc thạch. Hư cấu như vậy, người xưa vừa bày tỏ thái độ nghiêm khắc, đã thi hành bản án của lịch sử vừa thể hiện tình cảm bao dung, thấu hiểu cảm thông với sự vô tư trong trắng, thơ ngây vì vô tình mà mắc tội của Mị Châu.

Bài học mà người xưa ở đây muốn nhắn gửi đến thế hệ trẻ gái trai muôn đời sau là phải đặt việc nước lên trên việc nhà, đặt cái chung lên trên cái riêng. Đây là bài học đạo đức cần thiết cho cả mọi người, mọi nhà, mọi thời đại.

4. Trọng Thủy trước sau vẫn là một tên gian tế. Chính hắn đã gây nên sự sụp đồ cơ đồ Âu Lạc và cái chết của hai cha con Mị Châu. Thế mà có người lại cho rằng hình tượng ngọc trai, nước giếng là để chỉ mối tình chung thủy Mị Châu – Trọng Thủy. Hãy đọc kĩ lại văn bản: Mị Châu trước khi bị vua cha trừng phạt về tội phản nghịch có khấn: “Thiếp là phận gái, nếu cớ lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Liền đó “Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu”. Như vậy điều này đã minh chứng cho lòng trong trắng của nàng, khẳng định nàng vốn không có lòng phản nghịch, cho thấy cái chết của nàng dẫu sao cũng là một nỗi oan tình đáng thương.

Nói hình ảnh ngọc trai – nước giếng nhằm ca ngợi mối tình chung thủy MỊ Châu – Trọng Thủy là sai lầm, bởi lẽ những người dân Âu Lạc yêu nước không đời nào lại sáng tạo nghệ thuật để ca ngợi những kẻ đã đưa họ đến bi kịch thất quốc vong gia. Cũng phải hiểu là An Dương Vương tuy có góp phần dẫn đến bi kịch mất nước Âu Lạc, nhưng nhân dân Âu Lạc trước sau vẫn một lòng kính trọng suy tôn ông là anh hùng dân tộc.

5. Cốt lõi lịch sử của truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là nước Âu Lạc và thời An Dương Vương đã được kiến tạo nên với thành cao, hào sâu, với vũ khí lợi hại, đủ sức đề chiến thắng cuộc xâm lược từ phương Bắc của Triệu Đà. Nhưng rất tiếc về sau đã lại rơi vào tay kẻ thù xâm lược ấy.

Cốt lõi lịch sử vừa nói đã được dân gian thần kì hóa. Nhân vật thần Rùa Vàng xuất hiện giúp An Dương Vương xây thành cổ Loa ở đầu truyện là nhằm thần kì hóa chiến công xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của dân tộc ta mà đứng đầu là An Dương Vương. Đến cuối truyện, thần Rùa Vàng lại hiện lên kết án Mị Châu, rước An Dương Vương về thủy phủ nơi Lạc Long Quân ngự trị. Rồi nhân vật Mị Châu được hư cấu hóa với sự hóa thân kì diệu sau khi chết. Những chi tiết vừa nói này nhằm giải thích việc mất nước Âu Lạc qua trí tưởng tượng của một dân tộc rất đỗi yêu nước nay lần đầu bị mất nước. Cả đến Trọng Thủy với chi tiết nước giếng có hồn Trọng Thủy rửa ngọc ở biển Đông làm ngọc trong sáng thêm cũng là sản phẩm trừu tượng của những chi tiết thần kì hóa này, phù hợp với tình cảm của dân gian Âu Lạc. Điều này thỏa mãn được nhu cầu tâm lí rất đỗi thiêng liêng của nhân dân là khẳng định dứt khoát rằng An Dương Vương và nhân dân Âu Lạc mất nước không phải do bất tài mà chính do kẻ thù dùng thủ đoạn hèn hạ, lợi dụng tình yêu trai gái, nhằm vào cô gái ngây thơ cả tin như Mị Châu. Điều đó cũng là sự đáp ứng nhu cầu của dân gian Âu Lạc khẳng định sự bất tử của vị vua anh hùng dựng nước vang danh một thời, với thành Cố Loa hoành tráng, bề thế được bảo vệ bởi chiếc nỏ thần lợi hại khiến kẻ thù phương Bắc phải khiếp sợ.

Như thế đúng là sự thần kì hóa lịch sử truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy nhằm suy tôn dân tộc và đất nước, đồng thời cũng hạ thấp kẻ thù.

LUYỆN TẬP Câu 1.

Cả hai cách đánh giá a và b đều hời hợt, phiến diện đều chỉ đúng được một nửa.

Học sinh suy nghĩ tự tìm ra lời giải đáp toàn diện phù hợp với đạo lí của dân tộc và đạo lí của con người.

Câu 2.

An Dương Vương đã tự tay chém người con gái duy nhất của mình. Nhưng dân gian lại dựng đền và am thờ hai cha con bên cạnh nhau. Cách xử lí như vậy rất phù hợp với đạo lí truyền thông của dân tộc ta. Đó là cách xử lí thể hiện sự bao dung với đứa con trót có thời lầm lỡ gây tai họa cho nhân dân, nhưng cuối cùng đã hối hận và thọ hình xứng đáng. Đó cũng là đức nhân hậu của nhân dân ta.

Câu 3. Một vài bài thơ viết về Mị Châu – Trọng Thủy MỊ CHÂU Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn Những chiếc lông không tự biết giấu mình. Nước mắt thành mặt trái của lòng tin Tình yêu đến cùng đường cái chết Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp Tình yêu bị dối lừa vẫn nguyên vẹn tình yêu. Giá như trên đời còn có một Mị Châu Vừa say đắm yêu đương vừa luôn luôn cảnh giác Không sơ hở, chẳng mắc lừa mẹo giặc Một Mị Châu như ta vần hằng mơ. Thì hẳn Mị Châu không sống đến bây giờ Để chung thủy với tình yêu hai ngàn năm có lẻ Như anh với Đến bạc đầu bất quá chỉ trăm năm Nên chúng ta dù rất đỗi đau lòng Vẫn không thể cứu Mị Châu khỏi Lũ trai biển sẽ thay người nuôi tiếp Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu. Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước Nên em ơi ta dành tự nhắc mình. VIẾNG MỊ CHÂU Phải đâu lầm lẫn trái tim Nàng thờ chữ hiếu, duyên tin tại trời Giấy trong, lòng cạn tại người Long lanh châu ngọc để đời nỗi đau Oan đầu ngọc thạch mất đầu Trầm hương thương tiếc Mị Châu lụy tình. VIẾT BÊN CỔ LOA Mấy vòng bờ đất xoay tròn Thấp cao quãng mất, quãng còn mấp mô Là đây – dấu vết thành xưa Rùa thần giúp đắp – bây giờ tan hoang. Nơi dâu cung ngọc điện vàng Vương triều có đổ vì nàng Mị Châu? Tình yêu bị vấy mưu sâu Nghìn năm vết chém còn đau nhân tình Nơi nào Trọng Thủy trầm mình? Nỏ thần ngôi báu đã thành hư vô Ngai vàng ngự mấy đài vua Mà kê trên ngực ngây thơ đàn bà? Ơi người! Trẩy hội Cổ Loa! Con đường lông ngỗng dẫn ta về nguồn. Mai Thu chết em dẫu yêu nhau chung thủy

Tuần 4. Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

Tiết 11 – 12 Ngày soạn:…………………….

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY(Truyền thuyết)

A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT:– Hiểu được bài học giữ nước, nguyên nhân mất nước mà người xưa gửi gắm trong câu chuyện về thành Cổ Loa và mối tình Mị Châu- Trọng Thủy.– Nắm được đặc trưng cơ bản của truyền thuyết.B. TRỌNG TÂM, KIẾN THỨC, KỸ NĂNG :1. Kiến thức:– Bi kịch mất nước nhà tan và bi kịch tình yêu tan vỡ được phản ánh trong truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy.– Bài học về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa riêng với chung, nhà với nước, cá nhân với cộng đồng.2. Kỹ năng: – Đọc (kể) diễn cảm truyền thuyết dân gian.– Phân tích văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thể loại.– Phân tích văn bản sử thi theo đặc trưng thể loại.3. Phương tiện: SGV, SGK, chuản kiến thức kỷ năng, thiết kế bài giảng, tranh ảnh.C. NỘI DUNG LÊN LỚP :1. Kiểm tra bài cũ : (5 phút) Kiểm tra vở bài tập về BT3/38 bài văn bản. (Căn cứ vào phần làm bài của HS lấy điểm)2. Bài mới :Ca dao Việt Nam ta có câu:“Ai về qua huyện Đông Anh,Ghé thăm phong cảnh Loa Thành, Thục Vương”Đó là những địa danh, những di tích gắn liền với một truyền thuyết mà mỗi con người Việt Nam đề thuộc nằm lòng. Truyền thuyết đó là Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ mà ta sẽ tìm hiểu trong buổi học hôm nay.Hoạt động của GV và HSNội dung

động 1: Tạo tâm thế tiếp nhận cho học sinh– GV: Yêu cầu HS vào phần tiểu dẫn trong SGK :* Truyền thuyết thường phản ánh những vấn đề gì ? * Đặc điểm của thể loại truyền thuyết ? – HS: Đọc và trả lời.– GV: :+ Truyền thuyết là thể loại học dân gian thường kể về đề tài dựng nước và giữ nước.(, Tinh- Tinh, Con cháu Tiên…)+ Đặc điểm :* Yếu tố lịch sử kết hợp yếu tố tưởng tượng, thần kì * Không chú trọng tính chính xác, chân thực và khách quan của lịch sử – HS: Gạch dưới những phần quan trọng trong SGK.Hoạt động 2: Đọc, tóm tắt tác phẩmHS đọc văn bản. Giáo viên hướng dẫn HS giải nghĩa các từ khó theo chú thích. GV đặt câu hỏi:– Xác định vị trí của văn bản?– Yêu cầu HS tóm tắt văn bản.– Trình bày bố cục văn bản? Nội dung của từng phần?

Hoạt động 3: Phân tích cắt nghĩa văn bản* Thao tác 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu An Dương Vương xây thành chế nỏ và bảo vệ đất nước– Quá trình xây thành của An Dương Vương được miêu tả như thế nào? – An Dương Vương xây thành thành công nhờ vào yếu tố gì? (nhờ thần Kim Quy giúp đỡ, kiên trì, trọng nhân tài)– Xây thành xong An Dương Vương nói gì với Rùa Vàng? Em có suy nghĩ gì về chi tiết này? (có trách nhiệm với đất nước)– Chi tiết Rùa Vàng và nỏ thấn mang ý nghĩa gì? (kì ảo hóa sự nghiệp chính nghĩa, kì ảo hóa vũ khí bí mật quốc gia)– Sự giúp đỡ thần kì của Rùa Vàng thể hiện thái độ của tác giả dân gian đối với nhà vua như thế nào? – Qua phân tích em nhận xét An Dương Vương là một vị vua như thế nào?

* Thao tác 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bi kịch nước mất nhà tan– GV: Vì sao vua An Dương Vương nhanh chóng thất bại khi Triệu Đà mang quân sang xâm lược lần 2? (mất cảnh giác, chủ quan, không lo phòng thủ)– GV phân tích: + An Dương Vương cho Trọng Thủy ở rể ở Âu Lạc chính là tạo cơ hội cho Triệu Đà thực hiện mưu đồ thông qua nội gián → sự mất cảnh giác của ADV, tạo thuận lợi cho kẻ thù tự do vào sâu lãnh thổ Việt Nam. + Mị Châu cho Trọng Thủy xem nỏ thần → trực tiếp tiếp tay cho âm mưu của cha con Triệu Đà có điều kiện thực hiện sớm. + Hay

Soạn Bài Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

Soạn bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Bố cục

– Đoạn 1: Từ đầu đến “bèn xin hoà”: An Dương Vương được thần giúp xây thành, chế nỏ để bảo vệ đất nước.

– Đoạn 2: Tiếp đó đến “Dẫn vua xuống biển”: Cảnh mất nước nhà tan.

– Đoạn 3: Đoạn còn lại: Thái độ, tình cảm của nhân dân đối với An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy.

Tóm tắt

Vua An Dương Vương xây thành nhưng nhiều lần bị đổ, nhờ có thần Kim Quy mà dựng được Loa thành. Thần ở lại giúp vua ba năm, trước khi ra về còn tặng cho vua chiếc vuốt làm lẫy nỏ. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà xâm lược. Nhưng sau đó, Đà cầu hôn. Vua vô tình gả Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy, lại để Thủy ở rể. Trọng Thủy dỗ Mị Châu cho xem nỏ thần, rồi lén đổi trộm lẫy nỏ đem về cho cha. Có được lẫy thần, Triệu Đà đem quân đánh Âu Lạc. Vua chủ quan ngồi đánh cờ, khi quân địch tiến sát thành, lấy nỏ ra bắn, thì mới biết lẫy nỏ đã mất, đành đưa mị Châu bỏ chạy. Mị Châu giữ lời hẹn, bứt lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo. Vua đến đường cùng, gọi thần Kim Quy lên giúp. Thần kết tội Mị Châu, vua rút gươm giết con rồi theo thần đi xuống biển. Trọng Thủy đuổi tới bờ biển, ân hận mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, ngày đêm thương tiếc, nhớ mong đến nỗi lao đầu xuống giếng mà chết. Máu của Mị Châu chảy xuống biển thành ngọc trai, người đời sau mò được ngọc trai, đem rửa với nước giếng ở Loa Thành thì ngọc lại càng thêm sáng trong.

Câu 1 (trang 42 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

+ An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều bị lở.

+ Vua được thần Kim Quy giúp xây thành và cho vuốt để làm lẫy chế nỏ thần.

+ Nhờ nỏ thần, vua đánh thắng Triệu Đà lần thứ nhất.

+ Vua chủ quan khi Triệu Đà đem quân đánh lần thứ hai

+ Vua mang con bỏ chạy, nhờ thần Kim Quy cứu và chém chết Mị Châu.

a) -Do sớm có ý thức giữ gìn đất nước, lo xây thành để chống giặc ngoại xâm mà An Dương Vương được thần linh giúp đỡ.

– Kể về sự giúp đỡ thần kì đó, dân gian muốn thể hiện cách đánh giá về nhà vua: biết ơn, ca ngợi công lao xây thành, chế nỏ để chống giặc giữ nước.

b) Sự mất cảnh giác của nhà vua được biểu hiện qua các chi tiết:

– Vua đồng ý lời cầu hôn, gả con gái Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy, lại cho Thủy ở rể. ⇒ Vua mơ hồ trước âm mưu muốn xâm chiếm Âu Lạc một lần nữa của kẻ thù.

– Khi Triệu Đà đem quân đánh lần thứ hai, vua không kiểm tra lại vũ khí để đến khi quân giặc kéo sát thành, phải mang Mị Châu bỏ chạy. ⇒ Vua chủ quan khinh địch, không có cái nhìn sáng suốt với tình thế.

c) Qua các chi tiết sáng tạo, nhân dân muốn biểu lộ thái độ, tình cảm:

+ Chi tiết vua nghe theo lời kết án của thần Kim Quy, rút gươm chém Mị Châu: gửi gắm lòng kính trọng đối với vị vua anh hùng, dám hy sinh tình cảm cha con thiêng liêng để giữ tròn bổn phận với đất nước.

Phê phán thái độ mất cảnh giác, quá xem trọng tình cảm cá nhân của Mị Châu.

Giải thích nguyên nhân, xoa dịu nỗi đau mất nước một cách nhẹ nhàng.

Câu 2 (trang 43 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Cách lí giải 1: Mị Châu làm vậy chỉ là thuận theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ với đất nước. ⇒ Việc làm của Mị Châu là do quá trọng tình cảm cá nhân mà thiếu sự suy xét.

Cách lí giải 2: Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp lí ⇒ Cách lí giải này có thể được xuất phát từ luân lí của chế độ phong kiến, là khi người phụ nữ đã xuất giá thì phải nhất nhất nghe theo lời chồng.

Tuy nhiên, cả hai các lí giải trên đều chưa hợp lí và chưa được suy xét toàn diện: Mị Châu là một nạn nhân của âm mưu chính trị. Đối với chồng, nàng chỉ là người vợ trọng tình và cả tin; nhưng đối với quốc gia, nàng mang trọng tội không thể tha thứ được.

Câu nói cuối cùng của Mị Châu đã khẳng định tấm lòng không mang mưu đồ hại cha bán nước, mà chỉ là bị kẻ gian lợi dụng đã chỉ rõ bản chất đáng thương nhiều hơn đáng trách của Mị Châu.

Câu 3 (trang 43 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Chi tiết hư cấu sau cái chết của Mị Châu mang những ý nghĩa:

+ Mị Châu bị kết tội, bị chính cha của mình trừng trị là một dứt khoát. ⇒ hành động này xuất phát từ tinh thần yêu nước, căm ghét kẻ bán nước của dân tộc ta.

+ Máu của Mị Châu biến thành ngọc trai, xác biến thành ngọc thạch đã thể hiện cái nhìn cảm thông, bao dung với nàng của nhân dân.

+ Cái chết của Mị Châu là lời nhắn nhủ của tác giả dân gian đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa cái riêng với cái chung, giữa tình cảm cá nhân với lợi ích của cả quốc gia.

Câu 4 (trang 43 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Ý nghĩa của cặp hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”:

+ Ngọc trai: do máu của Mị Châu hóa thành, như lời chứng minh tấm lòng trong sạch, không có mưu đồ hại cha bán nước của Mị Châu.

+ Giếng nước: Nơi Trọng Thủy gieo mình xuống tự vẫn vì quá hối hận và thương tiếc Mị Châu.

+ Việc lấy ngọc trai đem rửa với nước giếng này lại càng sáng trong là sự khẳng định, Trọng Thủy đã tìm được lời hóa giải trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia.

+ Cặp hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là sự thể hiện niềm thương xót cho mối tình của Mị Châu – Trọng Thủy; đồng thời là kết thúc hoàn mỹ cho một mối tình nhiều đau khổ, nỗi niềm này.

Câu 5 (trang 43 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

– Cốt lõi lịch sử:

+ An Dương Vương xây thành Cổ Loa

+ Nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lược

– Sự thần kì hóa cốt lõi lịch sử của dân gian:

+ Thần Kim Quy giúp vua xây thành, chế nỏ

+ Vua An Dương Vương theo thần Kim Quy xuống biển.

+ Chi tiết “ngọc trai – giếng nước”.

– Việc tạo ra các yếu tố thần kì này có tác dụng:

+ Tái hiện một câu chuyện lịch sử dưới cái nhìn của dân gian khác lạ và hấp dẫn hơn

+ Lí tưởng hóa vua An Dương Vương. Vua không chết mà chỉ bước sang một thế giới khác.

+ Mị Châu đã được rửa tội “bán nước”, chứng minh được lòng trong sạch của mình.

+ Khẳng định tình cảm của Trọng Thủy – Mị Châu là chân thành, cuối cùng cũng có một cái kết vẹn tròn nhất.

Luyện tập

Câu 1 (trang 43 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Đánh giá về Trọng Thủy ở cả hai ý kiến a) và b) đều chưa được toàn diện và xác đáng.

+ Đối với đất nước Âu Lạc:

Trọng Thủy lấy cắp lẫy nỏ thần để giup Triệu Đà xâm lược Âu Lạc thành công

Trọng Thủy là người trực tiếp gây nên cái chết cho hai cha con An Dương Vương.

⇒ Về phương diện này, Trọng thủy là kẻ đáng trách, đáng lên án.

+ Đối với tình cảm vợ chồng với Mị Châu:

Trọng Thủy tiếc thương tình cảm vợ chồng, biết được chiến tranh sắp diễn ra, cố gắng tìm cách để vợ chồng sau này được đoàn tụ.

Trọng Thủy vì quá ân hận, thương tiếc, đau đớn cho Mị Châu mà nhảy xuống giếng tự vẫn.

⇒ Về phương diện này, Trọng thủy là kẻ si tình đáng thương.

Câu 2 (trang 43 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

An Dương Vương đã tự tay giết chết người con gái duy nhất của mình nhưng lại được dân gian dựng đền và am thờ hai cha con ngay cạnh nhau. Cách xử lí như vậy nói lên truyền thống nhân đạo, bao dung và nhân hậu của nhân dân ta.

Câu 3 (trang 43 sgk Ngữ văn 10 Tập 1):

Bài thơ “Tâm sự” rút trong tập thơ “Ra trận” của nhà thơ Tố Hữu:

… Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu,

Trái tim lầm lỡ để trên đầu.

Nỏ thần vô ý trao tay giặc,

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu …

Nội dung chính

Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thuỷ là một cách giải thích nguyên nhân việc mất nước Âu Lạc. Qua đó, nhân dân ta muốn nêu lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng với chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân với cộng đồng.

Hình tượng nhân vật và những chi tiết hư cấu trong truyện cho thấy mối quan hệ giữa phần cốt lõi lịch sử với phần tưởng tượng của dân gian.

Bài giảng: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Truyện An Dương Vương Và Mị Châu, Trọng Thủy

Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

Bài giảng: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

I. Đôi nét về tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

1. Xuất xứ

Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quá – một sưu tập truyện dân gian ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XV.

2. Bố cục (2 phần)

– Phần 1 (từ đầu đến bèn xin hòa): Quá trình An Dương Vương xây thành, chế nỏ, bảo vệ đất nước.

– Phần 2 (còn lại): Bi kịch tình yêu của Mị Châu, Trọng Thủy ggawsnvoiws bi kịch nước mất, nhà tan

3. Tóm tắt văn bản

Sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, thần Kim Quy còn tặng cho chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược. Triệu Đà cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thuỷ, vua An Dương Vương đồng ý. Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm đổi mất lẫy thần mang về phương Bắc. Sau đó, Triệu Đà phát binh đánh Âu Lạc. Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu chạy về phương Nam. Thần Kim Quy hiện lên kết tội Mị Châu, vua chém chết con rồi đi xuống biển. Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai. Trọng Thuỷ mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch. Vì quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thuỷ lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc trong sáng thêm.

4. Giá trị nội dung

Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy giải thích nguyên nhân mất nước Âu Lạc và nêu lên bài học lịch sử về việc giữ nước, tinh thần cảnh giác với kẻ thù cùng cách xử lí đúng đắn trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng với cái chung, giữa nhà và nước.

5. Giá trị nghệ thuật

– Kết hợp nhuần nhuyễn giữa cốt lõi lịch sử với các chi tiết hư cấu

– Kết cấu chặt chẽ, xây dựng chi tiết hàm đọng, cô đúc, nhiều ý nghĩa cùng với những chi tiết tưởng tượng, hư cấu có giá trị nghệ thuật cao

II. Dàn ý phân tích Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về thể loại truyền thuyết: Truyền thuyết là những câu chuyện kể dân gian, kể lại những câu chuyện trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha ông ta, có sự kết hợp giữa cốt lõi lịch sử với yếu tố tưởng tượng, kì ảo.

– Giới thiệu xuất xứ, khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện an Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy: Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái. Truyện kể về quá trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của An Dương Vương và nguyên nhân mất nước Âu Lạc.

II. Thân bài

1. An Dương Vương xây thành, chế nỏ, bảo vệ đất nước

– Vua An Dương Vương xây thành ở đất Việt Thường nhưng gặp rất nhiều khó khăn, “hễ đắp tới đâu là lại lở tới đấy”. Vì vậy, vua lập đàn tai giới, cầu đảo bách thần. Sau đó, đón tiếp cụ già từ phương Đông tới và ra tận của đông chờ đợi đón Rùa Vàng.

→ An Dương Vương là người quyết tâm, kiên trì, không ngại khó khăn, dồn hết tâm huyết cho việc xây thành, luôn suy nghĩ cho vận mệnh của đất nước và biết trọng người hiền tài.

– An Dương Vương cho xây thành “rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc”

→ Tài năng và tầm nhìn xa trông rộng của An Dương Vương.

– Khi Rùa Vàng từ biệt trở về, An Dương Vương lo lắng hỏi: “Nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?”

→ Ý thức, trách nhiệm của người đứng đầu và tinh thần cảnh giác cao độ.

– Lấy vuốt rùa làm lẫy, nhờ Cao Lỗ chế nỏ đánh thắng mọi kẻ thù, giặc xâm lược.

⇒ Thông qua các chi tiết hư cấu, tưởng tượng (cụ già, Rùa Vàng) truyện đã xây dựng thành công hình tượng vua An Dương Vương – một vị vua anh minh, sáng suốt, luôn suy nghĩ cho vận mệnh của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, biết trọng người tài, được sự đồng tâm, giúp đỡ của cả trời đất và nhân dân. Vị vua ấy luôn nhận được sự tôn trọng, ngợi ca của toàn thể nhân dân.

2. Những sai lầm của An Dương Vương, bi kịch tình yêu của Mị Châu, Trọng Thủy và bài học từ bi kịch mất nước. a) Những sai lầm của An Dương Vương

– Chủ quan, mất cảnh giác: Nhận lời cầu hòa của Triệu Đà, đồng ý gả con gái cho Trọng Thủy và đồng ý cho Trọng Thủy ở rể.

– Ỷ lại vào vũ khí mà không đề phòng, lơ là cảnh giác, xem thường kẻ địch: lúc giặc đến chân thành vẫn mải đánh cờ, cười nhạo kẻ thù.

– Chi tiết An Dương Vương tự tay giết chết con gái thể hiện hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và lợi ích chung của cả dân tộc, để cái chung lên trên tình riêng đó cũng là sự thức tỉnh muộn màng của An Dương Vương

– Chi tiết An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển đã huyền thoại hóa, bất tử hóa hình tượng vua An Dương Vương, qua đó, thể hiện sự traan trọng, cảm mến của nhân dân với nhà vua.

b) Bi kịch tình yêu của Mị Châu và Trọng Thủy

– Nhân vật Mị Châu:

+ Hết lòng yêu thương, tin tưởng chồng: cho Trọng Thuỷ xem nỏ thần, khiến bảo vật giữ nước bị đánh tráo mà hoàn toàn không biết.

+ Nhẹ dạ cả tin, chỉ nghĩ đến hạnh phúc cá nhân: bị giặc đuổi, đánh dấu đường cho Trọng Thủy lần theo

+ Bị kết tội là giặc, bị vua cha chém chết. Đó cũng là sự trừng trị nghiêm khắc cho sai lầm của Mị Châu

+ Lời thề của Mị Châu trước lúc chết cũng chính là lời thanh minh của nàng cho tấm lòng trong trắng của mình.

+ Mị Châu chết, máu hóa thành ngọc trai, xác hóa thành ngọc thạch. Nàng không hóa than trọn vẹn trong một hình hài duy nhất mà nàng hóa thân – phân thân: máu chảy xuống biển, trai ăn phải hóa thành ngọc trai, xác hóa thành ngọc thạch. Hình ảnh đó vừa thể hiện sự bao dung, thông cảm với sự trong trắng, ngây thơ, vô tình phạm tội; vừa thể hiện thái độ nghiêm khắc trừng trị cùng bài học lịch sử vể giải quyết quan hệ giữa nhà với nước, chung với riêng.

– Nhân vật Trọng Thủy:

+ Thời kì đầu: Trọng Thủy đóng vai trò là một tên gián điệp theo lệnh của vua cha sang làm rể → điều tra bí mật.

+ Thời gian ở Loa Thành: lừa Mị Châu để thực hiện âm mưu, chính sự chủ quan lơ là mất cảnh giác của An Dương Vương, sự ngây thơ cả tin, toàn tâm toàn ý với chồng của Mị Châu đó giúp y hoàn thành kế hoạch đen tối.

+ Khi Mị Châu chết, y ôm xác vợ khóc lóc, thương nhớ rồi tự tử. Đây chính là sự hối hận muộn màng của Trọng Thủy, đồng thời cho thấy Trọng Thủy cũng là một nạn nhân của cha mình.

+ Hình ảnh ngọc trai – giếng nước ở cuối chuyện là cách kết thúc hợp lí nhất cho câu chuyện và cho số phận đôi trai gái. Hình ảnh này chứng tỏ sự trong sáng của Mị Châu, sự hóa giải tình cảm của Mị Châu, Trọng Thủy ở thế giới bên kia và đó cũng chính là tấm lòng bao dung, thông cảm của nhân dân dành cho Mị Châu và Trọng Thủy.

c) Bài học từ bi kịch mất nước

– Đề cao tinh thần cảnh giác với kẻ thù, không chủ quan khinh thường trước bất cứ hoàn cảnh nào.

– Luôn luôn đặt quan hệ riêng, chung cho đúng mực, phải đặt quyền lợi của dân tộc, đất nước lên trên quyền lợi cá nhân, gia đình.

III. Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản

– Mở rộng: Bài học dựng nước và giữ nước trong bối cảnh hiện nay.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

tac-gia-tac-pham-lop-10.jsp

Cập nhật thông tin chi tiết về Suy Nghĩ Của Anh (Chị) Về Ý Nghĩa Của Truyền Thuyết Truyện An Dương Vương Và Mị Châu trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!