Xu Hướng 12/2022 # Thơ Đường Luật: Niêm Luật / 2023 # Top 17 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Thơ Đường Luật: Niêm Luật / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Thơ Đường Luật: Niêm Luật / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nét Đẹp Đường Thi, Tập Thơ Hay Của Chi Hội Thơ Đường Luật Gia Lương / 2023

Bắc Ninh vốn là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa của dân tộc, là cái nôi của những làn điệu Quan họ, làm say lòng kẻ ở người đi, nơi đây cũng sản sinh ra những con người hào hoa phong nhã, phong lưu. Cũng chính vì vậy nên bao trùm cả tập thơ Nét đẹp Đường thi vẫn là tình yêu quê hương đất nước, con người vạn vật…

Sáng ngày 10 -12 năm 2016 tại Trung tâm huyện đội, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, Chi hội thơ Đường luật Gia Lương giới thiệu ra mắt tập thơ Nét đẹp Đường thi, đây là một tập thơ gồm nhiều tác giả, với nhiều sáng tác ở nhiều đề tài, với nội dung đa dạng phong phú, thể hiện tâm tư, tình cảm, ý đồ nghệ thuật của nhiều tác giả. Hội nghị ra mắt tập thơ có sự tham dự của nhiều Chi hội thơ Đường luật khách mời trong cả nước như Chi hội thơ Đường luật tỉnh Hải Dương; Chi hội thơ Đường luật huyện Bắc Từ Liêm, (Hà Nội); Chi hội thơ Đường luật tỉnh Phú Yên…

Chi hội thơ Đường luật Gia Lương, bao gồm hai huyện là huyện Gia Bình, và huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Tập thơ Nét đẹp Đường thi được giới thiệu ra mắt là tập thơ có nhiều giá trị, với nội dung phong phú, đa dạng nhiều cách tân đem đến cho độc giả những cảm xúc mới lạ.

Nét đẹp Đường thi là tập thơ của 15 tác giả, bao gồm tổng công 223 bài thơ, tập thơ do NXB Hội nhà văn phát hành tháng 10 – 2016. Nét đẹp Đường thi là bài thơ hay của nhà thơ Phạm Thế Hoàn, được lấy làm tựa đề cho cả tập thơ:

Đường thi ngấm máu tự khi nao

Đất mẹ Gia Lương thật tự hào

Lớp trẻ duyên thơ tình thấm đẫm

Cánh già nét bút nghĩa thanh tao

Giao lưu khắp ngả tâm hồn sáng

Kết bạn muôn Phương lhis tựu trào

Nét đẹp Đường thi luôn quyến rũ

Gia Lương thi phẩm mãi bay cao.

Bài thơ nói nói lên tiếng lòng chung về nét đẹp của thơ Đường, và tình yêu thơ Đường của các nhà thơ thuộc Chi hội thơ Đường luật Gia Lương nói riêng và bạn hữu muôn phương nói chung. Dường như thơ Đường đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của các nhà thơ, nó ngấm vào xương vào máu. Thôi thúc các thi sỹ sáng tác, đó là nơi các thi sỹ gửi gắm tâm tình, gửi gắm những suy tư, triết lý về nhân sinh quan trong cuộc sống.

Các nhà thơ khi cầm bút họ đều có ít nhiều những bài viết về quê hương, về đất nước, mỗi người có thể viết ở một góc độ với cảm cảm xúc khác nhau, nhưng nhìn chung lại đều thể hiện tình yêu tha thiết và lòng tự hào, tự tôn dân tộc trước những cảnh sắc và con người quê hương. Với ngệ thuật và ngôn ngữ chính xác và hàm súc đã tạo nên bài thơ hay, thể hiện được cái đẹp, cái tinh tế, kỳ diệu của thơ Đường, nó đã truyền tải tới người đọc một cách tốt nhất những tâm tư tình cảm của các nhà thơ.

Bắc Ninh vốn là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa của dân tộc, là cái nôi của những làn điệu Quan họ, làm say lòng kẻ ở người đi, nơi đây cũng sản sinh ra những con người hào hoa phong nhã, phong lưu. Cũng chính vì vậy nên bao trùm cả tập thơ Nét đẹp Đường thi vẫn là tình yêu quê hương đất nước, con người vạn vật…

Trong số 223 bài thơ của 15 tác giả, có rất nhiều bài hay, xin giới thiệu mỗi tác giả có một bài thơ hay trong tập thơ Nét đẹp Đường thi.

Tác giả Nam Nhi có bài tiêu biểu là Đá Cầu:

Quân tử cùng em đấu trận cầu

Dù cho có mệt ngại chi đâu

Chàng vung chân đá… co co gối

Thiếp ưỡn ngực tang… ngửa ngửa đầu

Hả dạ đua tài qua mấy hiệp

Thỏa lòng thử sức đã từ lâu

“Quần nhau” vài hiệp cho khuây khỏa

Xả tress vơi đi bớt nổi sầu.

Tác giả Lê Danh Dương với bài thơ: Giữ biển đảo quê hương:

Năm tư dân tộc tụ về đây

Chung sức, chung lòng quyết dựng xây

Biển đảo quê hương thề giữ vững

Máu xương tiên tổ đã bồi đầy.

Tác giả Nguyễn Văn Thụ cới bài thơ hay Quê Hương:

Mẹ chợ về bánh đa bánh đúc

Võng đưa ru con vạc, con nông

Cây cau mèo hỏi nhà anh chuột

Mỏ đất tôm rê gậy lão còng

Dậu trúc tần con chuồn giỡn lá

Cành đa khô cái kiến leo vòng

Trăng chèo thuyền tới khuya chờ sáng

Súng nở ao quê… dịu mát lòng.

Tác giả Lê Văn Dậu tiêu biểu với bài Biển đảo Việt Nam:

Biển đảo bao đời vẫn của ta

Dấu son mốc giới rõ không nhòa

Bá quyền bỗng chốc sang xâm đất

Bành trướng tự nhiên đến cướp nhà

Đảo nổi vùng trời nơi đất mẹ

Bãi Chìm hải phận chốn quê cha

Vô loài phải đuổi xua bờ cõi

Để nước non mình đẹp gấm hoa.

Tác giả Kim Tuyên với bài Quê Cha:

Quê cha Thanh Hóa đất hào hoa

Văn võ song toàn rạng nước nhà

Núi Ngọc ngọc phun Tây cuốn gói

Hàm Rồng rộng cuộn Mỹ ra ma

Dừa xanh nghĩa mẹ từ châu thắm

Cát trắng tình cha tứ mượt mà

Xướng họa Đường thi mừng đất nước

Cháu con viết tiếp bản hùng ca.

Tác giả Diễm Phúc với bài Ta:

Ta đợi nhau hoài có biết không

Tình riêng canh cánh mãi bên lòng

Đem đông giá rét chăn đơn lẻ

Sáng hạ nồng say mắt ngó trông

Mượn bút đề thơ vơi nổi nhớ

Lên trường dạy học thỏa niềm mong

Ai người thấu hiểu bèo trôi nổi?

Mừng nắng xuân sang rực nắng hông.

Tác giả Thanh Nhị với bài thơ Nổi Nhớ:

Nổi nhớ về nhau dạ vấn vương

Bao đêm trằn trọc suốt canh trường

Dạt dào sóng vỗ xô bờ nhớ

Lất phất mưa sa gội bến thương

Nhặt chút hoàng hôn vùi cõi mộng

Lượm vài ngọn gió ủ văn chương

Ngoài hiên “trăng thức” vời trông ngóng

Thấp thoáng thu gầy dưới đáy gương.

Tác giả Lê Hữu Ích với bài Bình Minh Bản Mường:

Tinh mơ tỉnh giấc vọng đầu non

Réo rắt bản xa tiếng gáy dồn

Dục bước chân người đi chợ sớm

Mở trang sách trẻ đọc bài ôn

Mấy anh xóm dưới cùng đi bộ

Các chị chòm trên lại ném còn

Yêu bản mường xinh giờ đổi mới

Bình minh lên đẹp tận lưng non.

Tác giả Phạm Văn Tá với bài Chợ Chờ:

Dạo gót ngày xuân phố Chợ Chờ

Nhìn em bán lụa ngỡ rằng mơ

Tài hoa má phấn tươi đường vẽ

Khéo sửa mày ngài lộng nét tô

Dáng vóc hiền từ hình chị Nguyệt

Làn môi đỏ thắm vẻ tiên cô

Nàng từng dãi gấm đem hong gió

Ối kẻ đa tình phải ngẩn ngơ.

Tác giả Lưu Huyền Hảo với bài Thơ Đường:

Đến dự ngày thơ thể luật Đường

Mười xuân rạng rỡ nét quê hương

Bao năm luyện bút từ bừng sáng

Những tháng mài nghiên ý thắm hường

Sông núi reo ca dân tộc Việt

Mịn Sồi đón tiếp khác văn chương

Cờ hoa rợp bóng miền quan họ

Sáng mãi ngày thơ thể luật Đường.

Tác giả Nguyễn Kim Thiện với bài Lễ Cưới Vàng:

Ngoại bát thập tuần còn thích trẻ

Dù cho bách tuế vẫn chưa già

Muốn làm chú rể non trăm tuổi

Mong trọn trăm năm lễ cưới vàng.

Tác giả Trần Hảo với bài Tình thơ:

Xướng họa thi nhân bút tỏa ngời

Vịnh bình trao đổi thú vui chơi

Thi đàn rộng mở đời thanh thản

Đàm đạo giúp nhau ý tứ, tứ, lời.

Tác giả Nguyễn Đức Bàng với bài Bức Tranh Quê:

Chiều muộn đi qua thảm lúa vàng

Trời xanh còn trải nắng trang trang

Vài làn mây mỏng trôi nhè nhẹ

Mấy cái cò con lượn nhịp nhàng

Lũ trẻ chơi diều cười ngộ nghĩnh

Mấy nàng bứt cỏ nói râm ran

Gió đưa hương ngát lòng thanh thản

Ôi! Bức tranh màu tạo hóa ban.

Tác giả Ngô Ngọc Lạp với bài Hương Vị Tình Yêu:

Trời đã cho ta một cuộc tình

Ngọt ngào đằm thắm đẹp lung linh

Đêm về thao thức mơ tình bạn

Ngày đến mơ màng mộng dáng xinh

Anh cứ tỉnh say trong ảo giác

Em như hoang tưởng lúc bình minh

Giá đừng cách trở đường xa nhỉ

Thì chẳng ai ngăn được chúng mình.

Cách Làm Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật / 2023

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Thơ Tứ Tuyệt là thể thơ gì?

Thơ tứ tuyệt đã có từ lâu, trước khi có thơ thất ngôn và ngũ ngôn bát cú. Đầu tiên, thơ tứ tuyệt có nghĩa khác với nghĩa hiện tại: “tứ” là bốn và “tuyệt” có nghĩa là tuyệt diệu. Bài thơ chỉ có 4 câu mà diễn tả đầy đủ ý nghĩa của tác giả muốn trình bày nên người ta mới gọi 4 câu thơ đó là tứ tuyệt.

Tuy nhiên, sau khi có thơ thất ngôn và ngũ ngôn bát cú (luật thi) vào đời nhà Đường, thì thơ tứ tuyệt lại phải được làm theo quy tắc về niêm, vần, luật, đối của lối thơ thất ngôn hay ngũ ngôn bát cú. 

Vì vậy, sau này người ta giải thích chữ “tuyệt” là ngắt hay dứt. Nghĩa là thơ tứ tuyệt là do người ta làm theo cách ngắt lấy 4 câu trong bài bát cú để làm ra bài tứ tuyệt. Do đó niêm, vần, luật, đối của bài tứ tuyệt phải tùy theo cách ngắt từ bài bát cú mà thành.

Thơ tứ tuyệt có 2 thể là luật trắc vần bằng và luật bằng vần bằng. Mỗi thể đều có một Bảng Luật coi như ”công thức” căn bản mà người làm thơ phải tuân theo.

* Bằng ( huyền, không )

* Trắc ( sắc, nặng, hỏi, ngã)

Phân biệt thơ Đường luật và thơ Đường

Thơ Đường Luật và thơ Đường

– Thơ Đường luật (ĐL): là thơ làm theo Thi luật đặt ra từ đời nhà Đường bên Tàu.

– Thơ Đường hay Đường thi: là những bài thơ của các thi sĩ Trung Hoa làm dưới thời nhà Đường, nổi tiếng nhất là 300 bài được gọi là Đường thi tam bách thủ. Trong số đó có một số được làm theo thể thơ ĐL, số còn lại làm theo thể thơ khác, phần lớn là thơ Cổ phong.

Thơ ĐL chia làm 2 loại: thất ngôn mỗi câu có 7 chữ, ngũ ngôn mỗi câu có 5 chữ. Bài thơ nào có 8 câu thì gọi là bát cú, có 4 câu thì là tứ tuyệt.

Âm, thanh và vần trong tiếng Việt

Âm

Tiếng Việt có 29 mẫu tự, tạo thành 10 nguyên âm (a, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y), 2 bán nguyên âm (ă, â) và 16 phụ âm đơn (b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, r, s, t, v, x), 9 phụ âm kép (ch, gi, kh, ng, nh, ph, qu, th, tr) không kể các phụ âm gh, ngh vì chữ h thêm vào chỉ có hình thức mà không đọc.

Âm là cách đọc của một chữ, được cấu tạo bằng một mẫu tự , hoặc cụm mẫu tự, mà không kể đến phụ âm đứng phía trước. 

Thí dụ: Inh, Hình, Tình, Tính, Tịnh, Vĩnh, Khinh … các chữ này đều mang âm INH, nhưng khác các phụ âm đầu và dấu giọng.

Thanh

Tiếng Việt có 5 dấu giọng (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) cùng với tiếng không có dấu tạo thành 8 thanh, chia làm 2 nhóm:

– Thanh Bằng gồm có:

Phù bình thanh: gồm những chữ không mang dấu (thí dụ: đêm, vương)

Trầm bình thanh: gồm những chữ mang dấu huyền (thí dụ: sầu, tiền)

– Thanh Trắc gồm có:

Phù khứ thanh: gồm những chữ mang dấu ngã (thí dụ: nỗi, mỹ)

Trầm khứ thanh: gồm những chữ mang dấu hỏi (thí dụ: cỏ, chuyển)

Phù nhập thanh: gồm những chữ mang dấu sắc mà tận cùng bằng phụ âm c, t, ch hay p (thí dụ: bích, sắc)

Phù thượng thanh: gồm những chữ mang dấu sắc còn lại (thí dụ: ám, chướng)

Trầm nhập thanh: gồm những chữ mang dấu nặng mà tận cùng bằng phụ âm c, t, ch hay p (thí dụ: thiệt, mập)

Trầm thượng thanh: gồm những chữ mang dấu nặng còn lại (thí dụ: lạ, mệnh)

Vần

Những từ mang cùng âm và cùng loại thanh (trắc hay bằng) được gọi là vần với nhau. Thí dụ chữ lồng vần với chữ ông, chữ đồng và chữ sông; chữ hỗ vần với chữ cố, chữ lộ và chữ sổ; chữ mắt vần với chữ cắt, chữ chặt và chữ bặt, v.v…

Bảng luật thơ

Mỗi thể đều có một Bảng Luật coi như “công thức” căn bản mà người làm thơ phải tuân theo.

TỨ TUYỆT LUẬT TRẮC VẦN BẰNG (không đối)

BẢNG LUẬT: 

T – T – B – B – T – T – B (vần) 

B – B – T – T – T – B – B (vần) 

B – B – T – T – B – B – T 

T – T – B – B – T – T – B (vần) 

Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn (trước khó sau dễ). 

Các chữ cuối của các câu 1-2-4 bắt buộc phải cùng vần với nhau. 

Bài thơ thí dụ để minh họa: 

Ví dụ 1:

Thuở ấy tuy còn tuổi ấu thơ 

Mà sao vẫn nhớ đến bây giờ 

Xuân về nũng nịu đòi mua pháo 

Để đón giao thừa thỏa ước mơ 

Hoàng Thứ Lang 

Ví dụ 2: Dõi mắt tìm ai tận cuối trời 

Thu về chiếc lá ngậm ngùi rơi 

Cay cay giọt lệ sầu chan chứa 

Mộng ước tình ta đã rã rời 

Hoàng Thứ Lang 

Ví dụ 3:

Một nửa vầng trăng rụng xuống cầu 

Đôi mình cách trở bởi vì đâu 

Canh tàn khắc lụn hồn tê tái 

Đối bóng đèn khuya nuốt lệ sầu 

Hoàng Thứ Lang

TỨ TUYỆT LUẬT BẰNG VẦN BẰNG (không đối)

BẢNG LUẬT: 

B – B – T – T – T – B – B (vần) 

T – T – B – B – T – T – B (vần) 

T – T – B – B – B – T – T 

B – B – T – T – T – B – B (vần) 

Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn (trước khó sau dễ). 

Các chữ cuối của các câu 1-2-4 bắt buộc phải cùng vần với nhau. 

Bài thơ thí dụ để minh họa: 

Ví dụ 1: Đôi mình cách biển lại ngăn sông 

Dõi mắt tìm nhau nhỏ lệ hồng 

Ngắm ánh trăng thề thương kỷ niệm 

Đêm trường thổn thức nhớ mênh mông 

Hoàng Thứ Lang 

Ví dụ 2: Đêm nghe tiếng gió nhớ miên man 

Mộng ước tình ta đã lụn tàn 

Thánh thót hiên ngoài mưa rả rích 

Mi buồn lệ ứa mãi không tan 

Hoàng Thứ Lang 

Ví dụ 3: Rừng phong nhuộm tím cả khung trời 

Lá úa lìa cành gió cuốn rơi 

Lối cũ đường xưa em đếm bước 

Miên man kỷ niệm đã xa vời 

Hoàng Thứ Lang 

Luật về Điệu thơ: 

Điệu thơ là cách xếp đặt các tiếng trong câu thơ sao cho êm tai dễ đọc để bài thơ có âm hưởng du dương trầm bổng như nhạc điệu.

Điệu thơ gồm có 3 phần chính như sau: 

Nhịp điệu: thơ ĐL nhịp chẵn, ngắt nhịp 2 hoặc 4 tiếng trọn nghĩa. 

Âm điệu: nên làm theo chính luật để bài thơ có âm điệu êm tai trầm bổng. 

Vần điệu: nên gieo vần ở cuối các câu 1-2-4-6-8 xen kẻ tiếng không có dấu và tiếng có dấu huyền để bài thơ khi đọc lên nghe du dương trầm bổng như điệu nhạc. 

Ngoài ra chúng ta nên cố gắng gieo vần chính vận. Sau này khi “nhuyễn” rồi chúng ta có thể theo thông vận và theo luật bất luận. Muốn cho bài thơ có âm điệu hay thì tiếng thứ 4 và tiếng thứ 7 của những câu luật trắc vần bằng không nên dùng trùng một thanh bằng. Nghĩa là nếu tiếng thứ 4 không dấu thì tiếng thứ 7 phải dấu huyền và ngược lại. Tuy nhiên nếu không tìm được từ nào khác có ý nghĩa hay hơn thì chúng ta dùng trùng cũng được mà vẫn không bị sai luật thơ.

Âm điệu tiết tấu bài thơ ĐL

Một bài thơ theo đúng hết quy định bằng trắc của luật thơ đôi khi đọc lên nghe vẫn không xuôi tai, đó là vì sử dụng không khéo các tiếng trầm bổng. Mặc dù chữ có dấu huyền (trầm bình thanh) và chữ không dấu (phù bình thanh) đều là thanh bằng, chúng lại không tương đương nhau về mặt cao thấp khi đặt trong câu. 

Để câu thơ đọc nghe du dương réo rắt tránh dùng chỉ toàn một loại thanh mà cần phải thay đổi, xen kẽ các thanh này với nhau trong các vần liên tiếp, hoặc trong các chữ trong câu.

Kết

Thuyết Mình Về Thể Thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật / 2023

Đề: Hãy giới thiệu, thuyết minh về đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.”Thất ngôn bát cú Đường luật làm theo luật trắc vần băng (luật trắc là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng trắc; vần băng cuối câu)..”

Đặc điểm của thề thơ thất ngôn bát cú Đường luật:

a) Về ngắt nhịp : theo kiều phối hợp chẵn lẻ 4-3.

b) Về phối thanh:

– Luật: có sự phôi hợp các tiếng bằng và tiếng trắc.

Chú ý : tiếng thứ nhất, thứ ba, thứ năm có thế’ linh hoạt về luật băng trắc.

– Niêm: niêm có nghĩa đen là dính. Niêm là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ Đường luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ của câu thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc. Những cặp sau đây trong tho’ thất ngôn bát cú Đường luật niêm với nhau: 1-8, 2-3, 4-5, 6-7. Không niêm theo đúng luật gọi là thất niêm.

THƠ LUẬT TRẮC VẦN BẢNG

– Hiệp vần: vần chân, độc vận, vào tiếng cuối ở các câu 1, 2, 4,

+ Hai câu đề: câu 1 mở bài gọi là phá đề, câu 2 vào bài gọi là thừa đề.

+ Hai câu luận: câu 5 và 6 đối nhau, dùng đế bàn luận về đề.

+ Hai câu kết: câu 7 và 8 tóm tát ý nghĩa cả bài.

* Như vậy, bố cục trên có tác dụng:

– Thơ không chỉ có tình mà còn có ý. Thơ có miêu tả nhưng kết thúc không bằng miêu tả mà bằng bày tỏ ý và tình.

– Tính chất luận đề của thế thơ luôn sáng rõ, rành mạch.

Ví dụ 1: Thất ngôn bát cú Đường luật làm theo luật bằng vần băng (luật bằng là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng, vần bằng ở cuối câu):

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

(Hồ Xuân Hương)

a) Về ngắt nhịp: 4-3

b) Về phối thanh:

– Về luật : luật bằng vần bằng.

– Về niêm: câu 1-8; 2-3; 4-5; 6-7 niêm với nhau (tiếng thứ nhì)

– về hiệp vần: vần chân, độc vận, vào tiếng cuối ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 (dồn – non – tròn – hòn – con)

c) Về bô cục:

– Hai câu đề: Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non (câu thừa đề)

– Hai câu thực (đối nhau):

– Hai câu luận (đối nhau):

– Hai câu kết (tóm tắt ý nghĩa cả bài):

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

(Nỗi chua chát, chán ngán, nặng nề, ngậm ngùi, xót xa của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với chính cảnh ngộ trớ trêu và thân phận của mình).

Ví dụ 2: Thất ngôn bát cú Đường luật làm theo luật trắc vần băng (luật trắc là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng trắc; vần băng cuối

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm Giang gian ba lăng kiêm thiển dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,

Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

Hàn y xứ xứ thôi đao xích,

Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

CẢM XỨC MÙA THU

Lác đác rừng phong hạt móc sa,

Ngàn năm hiu hắt khí thu lòa Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ củ,

Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.

Lạnh lùng giục kề tay dao thước Thành Bạch, chàng vang bóng ác tà.

(Bản dịch của Nguyễn Công Trứ)

a) Về ngắt nhịp: 4-3

b) Về phối thanh:

– Về luật: luật trắc vần bằng.

– Về niêm: câu 1-8; 2-3; 4-5; 6-7 niêm với nhau (tiếng thứ nhì) Ví dụ:

– về hiệp vần: vần chân, độc vận, vào tiếng cuối ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 (lâm – sâm – âm – tâm – châm).

– Hai câu đề: Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm (câu thừa đề)

Hai câu thực (đối nhau):

– Hai câu kết (tóm tắt ý nghĩa cả bài)

Hàn y xứ xứ thôi đao xích Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

(Miêu tả hình ảnh một chiều thu cụ thể ở đất Quỳ Châu và bộc lộ tình cảm nhớ quê hương sâu nặng, tâm trạng buồn não nề của nhà thơ Đỗ Phủ khi sống ở nơi đất khách).

Cập nhật thông tin chi tiết về Thơ Đường Luật: Niêm Luật / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!