Xu Hướng 3/2024 # Thuyết Minh Về Con Bò Lớp 9 Hay Nhất # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thuyết Minh Về Con Bò Lớp 9 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hướng dẫn bài làm thuyết minh về con bò lớp 9 hay nhất có dàn ý và bài văn mẫu thuyết minh con bò hay nhất để các bạn tham khảo đặc biệt là học sinh ở những tỉnh hoặc địa phương có nuôi bò vì con bò có giá trị kinh tế khá cao

Con bò có giá trị kinh tế cao được nuôi nhiều ở vùng nông thôn tận dụng thức ăn cỏ sẵn có​

DÀN Ý THUYẾT MINH VỀ CON BÒ LỚP 9 1.MỞ BÀI Giới thiệu vật cần thuyết minh: con bò Là loài động vật gần gũi với cuộc sống của người nông dân

2. THÂN BÀI

Nêu nguồn gốc của bò: tiến hóa từ bò rừng châu u

Nêu đặc điểm của bò: thân, có màu nâu, có sừng…

Thức ăn chính của bò là cỏ non, rơm rạ,… và bò không chịu được rét sẽ rất dễ bị bệnh

Phân loại: bò nhà, bò tót, bò rừng châu u…

Vai trò: cải thiện cuộc sống và cung cấp nguồn thức ăn cho con người, ở một số nơi thì bò là điều may mắn về một cuộc sống no ấm đầy đủ…

3.KẾT BÀI Nêu suy nghĩ về loài bò: yêu quý và bảo vệ nó, chăm sóc bò chu đáo.

Cũng có nhiều giống bò khác nhau được nuôi ở nhiều vùng khác nhau​

BÀI VĂN: THUYẾT MINH VỀ CON BÒ LỚP 9 Làng quê Việt Nam với cây tre bến nước sân đình đã trở nên quen thuộc với mỗi chúng ta- bởi ở đó là nhà là nơi ta sinh ra, lớn lên và gắn bó suốt một thời gian dài. Ở đó có những thứ quen thuộc gần gũi, có những loài động vật mà ta rất yêu quý đặc biệt là con bò. Một loài động vật của làng quê Việt Nam.

Bò là loài động vật có vú nó xuất phát từ giống bò rừng ở châu u và xuất hiện từ rất lâu về trước. Là một loài động vật có vú nên bò có thân hình đồ sộ, chắc khỏe, vạm vỡ, thấp ngắn bụng to đầu vú nhỏ. Và có cân nặng từ 200-350kg. Là giống phát triển nhanh, khả năng sinh sản tốt, thích nghi cao, chịu đựng kham khổ, ít bệnh tật. Bò có cái đầu con cái thanh, sừng ngắn, nhỏ, con đực thô, sừng dài chĩa về phía trước, trán phẳng hoặc hơi lõm, trong lúc đó, ở con đực mõm ngắn, con cái tương đối dài, mạch máu và gân mặt nổi rõ, mắt to nhanh nhẹn, mắt tinh lanh lợi. Cổ bò cái thanh, cổ bò đực to, dày, lông thường đen. Yếm kéo dài từ hầu đến vú, cổ có nhiều nếp nhăn nhỏ, Yếm kéo dài từ hầu đến xương ức. Da có nhiều nếp nhăn. U vai con đực cao, con cái không có. Lưng và hông thẳng, hơi rộng. Bắp thịt nở nang. Mông hơi xuôi, hẹp và ngắn. Ngực phát triển tốt, sâu nhưng hơi lép. Bụng to, tròn nhưng không sệ. Bốn chân thanh, cứng cáp; 2 chân trước thẳng, 2 chân sau đi thường chạm kheo. Bò có khối lượng ổn định sức khỏe tốt phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Từ 24 tháng tuổi trở đi, các chiều dài phát triển chậm và ổn định vào lúc 60 tháng tuổi. Tuỳ theo điều kiện chăn nuôi, tập quán và trình độ chăn nuôi mà khối lượng, kích thước các chiều đo của bò có thay đổi ít nhiều.

Là một loại động vật có khối lượng lớn nên người nông dân dùng bò làm sức kéo trở các đồ khó trở bằng xe hay cồng kềnh… bò còn được nuôi để làm nguồn cung cấp thức ăn giàu chất dinh dưỡng cho con người. Thịt bò trên thị trường có giá từ 250-300 nghìn một kg bởi nó có nhiều protein phát triển sức khỏe cho con người. Một số nơi còn lấy thịt bò làm đặc sản đó là lễ hội chợ Viềng-Vụ Bản-Nam Định có đặc sản là thịt bò mà mỗi người dân đi đến đây đều sẽ mua bởi nó tượng trưng cho sự may mắn đầu năm.

Trên nước ta có rất nhiều giống bò khác nhau như bò lấy thịt, bò vàng, bò phương Nam… Các loại bò này đều có khả năng chống chịu tốt với thời tiết khắc nghiệt. Vì thế mà giống bò được nuôi nhiều ở các vùng quê bởi giá cả hợp lí, cách săn sóc dễ dàng mà thu nhập ổn định cho người dân mà giờ đây bò như người bạn của họ, họ coi bò như một tài sản quý giá trong gia đình.

Giá trị mà bò mang lại như thế mà mỗi chúng ta phải có ý thức chăm sóc bò để bò phát triển tốt. Hãy coi bò như là một thành viên của gia đình minh bởi nó là biểu tượng của làng quê Việt Nam giản dị.

Thuyết Minh Về Con Bò Lớp 9, Văn Mẫu Về Con Bò Sữa Việt Nam

Thuyết minh về con bò lớp 9, văn mẫu về con bò sữa Việt Nam BÀI VĂN MẪU SỐ 1 THUYẾT MINH VỀ CON BÒ

“Đàn bò vàng trên đồng cỏ xa xanh

gặm cả hoàng hôn, gặm buổi chiều sót lại

mùa rạo rực chỉ đàn bò biết được

vị cỏ râm ran đầu lưỡi ngọt mềm”

Hình ảnh những con bò đã đi vào trong những câu thơ với không khí bình yên của làng quê Việt Nam như thế. Còn bò từ lâu đã gắn bó với miền nông thôn đất nước, với những người nông dân chân lấm tay bùn, đi qua bao miền kí ức của nhiều thế hệ.

Những con bò ban đầu xuất hiện ở châu Âu sau đó nhờ giao thương giữa các nước và những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa đã mang những con bò đi khắp thế giới. Hiện tại, tại hầu hết các quốc gia, ta đều có thể bắt gặp những đồng cỏ xanh với bóng dáng những con bò đang gặm cỏ. Bò cũng có nhiều loại như bò nhà, bò sữa, bò tót,… Bò cũng được chia theo tên vùng miền do mỗi nước lại lao tạo được giống bò mới như bò Mỹ, bò Kobe_Nhật Bản, bò Úc,…Ở Việt Nam thì có một số giống bò khá phổ biến như bò vàng, bò H’Mông, bò Phú Yên, bò Bảy Núi,…

Bò là một loại gia súc bốn chân có hình dáng khá tương tự với trâu nên hai con vật này thường đi liền với nhau, là hình ảnh đặc trưng cho những vùng quê Việt Nam. Bò là động vật ăn cỏ, chúng có chiếc lưỡi dài để liếm các loại cỏ và có bộ hàm lớn, chắc khỏe để nhai cỏ. Bò là động vật nhai lại, sau khi đã nuốt cỏ xuống dạ dày, chúng sẽ ợ một phần thức ăn trở lại để nhai lại. Điều này cũng tương tự ở trâu, hươu, nai và một số động vật ăn thực vật khác. Dạ dày bò gồm bốn ngăn giúp cho bò có thể tiêu hóa được những loại cỏ cứng và khó tiêu nhất. Thân bò thường có màu nâu đỏ hoặc nâu vàng, chỉ có bò sữa là có thân màu đen trắng, một số giống bò có da nâu trắng hoặc trắng toàn thân, có lông, da bò khá dày. Tuy khó thấy nhưng bò là động vật có sừng song sừng của chúng không phát triển như trâu mà sừng của bò thường nhỏ, ngắn, dễ thấy ở những con trưởng thành hoặc bò già. Con bò có đuôi, lúc nào cũng phe phẩy như đang quạt với một chùm lông dài ở ngọn đuôi. Bò khi vừa sinh hay khi còn nhỏ được gọi là bê, đến khi trưởng thành thì người ta mới gọi là con bò. Bò khá hiền và lành tính hơn so với trâu.

Bò xuất hiện trên đồng ruộng với người nông dân như một công cụ lao động giúp người nông dân kéo cày xới đất. Tuy nhiên, với công cuộc hiện đại hóa nông thôn, hình ảnh những con trâu con bò cũng ít khi xuất hiện trên đồng ruộng nữa mà thay vào đó là những máy móc hiện đại, giảm bớt đi những vất vả cho người nông dân. Hiện nay, bò được nuôi chủ yếu phục vụ nhu cầu thực phẩm bởi thịt bò là loại thịt giàu chất dinh dưỡng. Thịt bò là loại thịt đỏ được nhiều người ưa chuộng bởi mùi thơm và độ ngọt. Trên thế giới, thịt bò Úc, thịt bò Mỹ và thịt bò Kobe là những loại thịt bò nổi tiếng nhất, được nhiều nước nhập khẩu với giá thành cao. Bên cạnh việc cho thịt, bò cũng cho da để làm các loại thời trang da thuộc như ví, túi xách, giày dép, thắt lưng, quần áo,… và được sử dụng như một vật liệu cho các đồ dùng nội thất như sô pha, bọc ghế ô tô,… tạo cảm giác mềm mại, êm ái và sang trọng. Tất cả những loại vật dụng sử dụng da bò đều không hề rẻ nhưng lại mang lại sự bề đẹp đúng với giá thành của nó.

Không chỉ xuất hiện trong đời sống sinh hoạt mà bò còn góp mặt vào nhiều lễ hội. Ở Tây Ban Nha rất nổi tiếng với lễ hội đấu bò tót truyền thống, là một nét văn hóa đặc trưng của vùng đất này. Ở Việt Nam cũng có một lễ hội đua bò tên là lễ hội đua bò Bảy Núi là một lễ hội của người dân tộc Khmer, Nam Bộ được tổ chức ở vùng Bảy Núi, An Giang và giống bò được sử dụng là giống bò Bảy Núi. Lễ hội được tổ chức vào các ngày từ hai mươi chín tháng tám đến mùng một tháng chín tính theo lịch âm, thu hút nhiều người tham gia và nhiều cổ động viên sôi nổi.

Con bò là hình ảnh quen thuộc của bao làng quê Việt Nam. Trong văn hóa nhiều nước, con bò là niểu tượng cho sự dũng mạnh, mạnh khỏe, còn trong bức tranh đất trời Việt Nam này, bò lại là nét phác cho chốn thanh bình yên ả. Những đàn bò thung thăng gặm cỏ dưới ánh hoàng hôn trong tiếng sáo chiều đã gắn liền với tuổi thơ bao người.

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 THUYẾT MINH VỀ CON BÒ LỚP 9

Từ những buổi đầu dựng ước, nhân dân ta đã biết tận dụng các con vật được thuần hóa như một công cụ lao động. Theo thời gian, những con vật ấy đã trở thành người bạn thân thiết gắn bó với con người, là cánh tay phải hỗ trợ đắc lực trong quý trình lao động của nhà nông. Những chú bò to khỏe, vạm vỡ là những con vật như thế.

Theo các nghiên cứu thì bò hiện đại đã tiến hóa ra từ một tổ tiên chung là bò rừng châu Âu (B.primigenius). Loài này sống sót cho tới tận thập niên 1600 nhưng chúng đã bị săn bắn đến tuyệt chủng. Bò có ba phân loài chính là Bos primigenius taurus, Bos primigenius indicus và Bos primigenius primigenius. Ở Việt Nam, bò được nuôi ở hầu hết các vùng miền, chủ yếu là bò vàng.

Bò là một loại động vật nhai lại. Bò cũng như trâu, không thể sống và tồn tại nếu không có quá trình nhai lại bởi nhai lại không chỉ có chức năng nghiền nát thức ăn mà còn có tác dụng tăng tiết nước bọt, ổn định môi trường dạ cỏ. Thời gian nhai lại khoảng 5 – 8 giờ/ngày đêm, tùy thuộc vào tính chất vật lý của thức ăn.

Bò không chỉ là gia súc ăn cỏ mà còn tự gặm cỏ trên đồng cỏ. Nhờ đặc điểm này nên bò đã giúp con người khai thác tối ưu các nguồn lợi thiên nhiên sẵn có (đồng cỏ, bải chăn thả..) và lao động dư thừa, ngoài độ tuổi. Nhờ vậy, ngành chăn nuôi bò rất thiết thực và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.

Bò cung cấp hai loại thực phẩm có giá trị cao đối với con người là thịt và sữa. Thịt bò được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao. Sữa được xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì nó hoàn chỉnh về dinh dưỡng và rất dễ tiêu hoá. Ngày nay khi mức sống càng được cải thiện thì nhu cầu của con người về thịt và sữa trâu bò càng tăng lên.

Bò được sử dụng từ lâu đời nay vào mục đích cung cấp sức kéo để làm đất phục vụ trồng trọt. Ngoài việc làm đất, bò còn được sử dụng để kéo xe vận chuyển hàng hoá và các mục đích lao tác khác như kéo gỗ, kéo nước, kéo cối xay, v.v… Lợi thế của sức kéo bò là có thể hoạt động ở bất kỳ địa bàn nào và sử dụng tối đa nguồn thức ăn tự nhiên tại chỗ và các phụ phẩm nông nghiệp làm nguồn cung cấp năng lượng.

Với việc khai thác những vai trò nói trên của bò thì chăn nuôi bò trước kết là một hoạt động kinh tế. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò cho phép khai thác tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, kể cả những nguồn năng lượng có thể tái tạo đang bị bỏ phí gây ô nhiễm môi trường như rơm rạ và các phụ phẩm cây trồng khác, để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao cho xã hội. Chăn nuôi bò do vậy mà đã trở thành kế sinh nhai, là một phương tiện xoá đói giảm nghèo, là công cụ để góp phần phát triển bền vững. Bò đã đi vào đời sống văn hóa của con người. Ở Ấn Độ, bò như con vật thiêng của tôn giáo.

Những chú bò giản đơn nhưng lại có vị trí hết sức quan trọng trong cuộc sống. Vì vẫy mọi người hãy luôn yêu thương và chăm sóc chúng thật tốt.

Đoạn Văn Thuyết Minh Về Con Trâu Lớp 9 Hay Nhất

[Văn mẫu 9] Tuyển chọn những đoạn văn thuyết minh về con trâu hay nhất, tham khảo một số đoạn văn mẫu thuyết minh người bạn của nông dân Việt Nam ta

Em hãy viết một đoạn văn thuyết minh về con trâu

Đoạn văn hay nhấtthuyết minh về con trâu

Đối với người nông dân, con trâu là một tài sản vô cùng quý giá và quan trọng, đăc biệt là người nông dân xưa. Trong xã hội cũ, trâu đối với người nông dân là vật quý, nó quyết định đến vị thế xã hội, sự giàu, nghèo của mỗi người. Và trâu còn được người nông dân Việt yêu quý bởi những lợi ích nhiều mặt về vật chất và tinh thần. Những chú trâu lông xám, hoặc xám đen, thân hình vạm vỡ, thấp, ngắn, bụng to, mông dốc, sừng hình lưỡi liềm và hai đai trắng ở cổ và hai xương ức, chính là trâu Việt Nam, chúng được thuần hoá từ trâu rừng với sức bền dai, thân hình vạm vỡ. Những chú trâu này đã đem lại nhiều lợi ích vật chất cho người nông dân Việt. Đó là làm công cụ lao động đắc lực. Trâu thường kéo một ngày 3-4 sào ruộng. Không những thế, chúng còn là phương tiện vận chuyển hàng hoá và thóc lúa. Những chú trâu Việt vừa thân thiện vừa có lợi ích nhiều. Chính vì thế, ông bà ta xưa có câu “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Trong đời sống vật chất của người nông dân không thể thiếu những món ăn từ sữa và thịt trâu. Trâu có thể cung cấp một lượng thực phẩm dồi dào và lớn. Trâu cái cho tỉ lệ thịt xẻ 42%, trâu thiến là 45% và trâu đực hai tuổi là 48%. Ngoài ra trong một chu kì vắt sữa, trâu có thể cho 400 – 500kg sữa. Khả năng cho phân của trâu cũng rất lớn, nhờ có phân trâu mà đồng ruộng, cây cối ớ các làng quê thường xanh tốt. Có thể nói, những lợi ích từ trâu là rất nhiều, thế nên chúng luôn được người nông dân yêu quý và coi trọng. Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, nhiều người dân rất ưa dùng hàng Mĩ nghệ. Và bạn có biết những đồ vật như lược, trống, quai cập, giày dép là làm từ đâu không? Một số được gia công bằng nguyên liệu từ trâu đấy các bạn ạ. Sừng trâu được người thợ dùng làm lược, những chiếc lược giản dị và xinh xắn. Da trâu được dùng để làm trống, và còn nhiều hàng tiêu dùng khác nữa. Trâu như người bạn thân gắn bó đối với đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam.

Một số đoạn văn thuyết minh về con trâu chọn lọc

Đoạn văn mẫu 1

Con trâu là vật nuôi đứng đầu hàng lục súc. Hầu như em bé Việt Nam nào cũng thuộc bài ca dao:

“Trâu ơi, ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta”.

Con trâu là biểu tượng cho những đức tính như hiền lành, cần cù, chịu khó… Nó là cánh tay phải, là tài sản vô giá của người nông dân Việt Nam: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Mỗi con trâu có thể nặng trên ba, bốn tạ. Da trâu đen bóng, lông lưa thưa. Chiếc đuôi dài khoảng một mét, có chùm lông dài và mượt, lúc nào cũng đập qua đập lại để đuổi muỗi, đuổi ruồi. Bốn chân trâu to và dài, bàn chân có móng guốc to, dày và nhọn. Hai chiếc sừng nhọn hoắc, uốn cong rất đẹp. Ở Đồ Sơn, Hải Phòng có lễ chọi trâu:

“Dù ai buôn đâu bán đâu, Mùng chín tháng tám, chọi trâu thì về”.

(Ca dao)

Mắt trâu lồi to rất ưa nhìn. Bụng trâu khá to; có phải vì thế mà trâu bước đi chậm chạp? Trâu là loài nhai lại, nó chỉ có một hàm răng (hàm dưới). Trâu rất dễ nuôi. Thức ăn chính là cỏ tươi. Trâu cũng biết ăn rơm, ăn cám. Phân trâu màu đen, dùng để bón cây, bón lúa rất tốt. Trâu chịu rét kém, nhưng chịu nắng giỏi. Về mùa hè, nó có thể kéo cày, kéo bừa từ sáng sớm đến non trưa. Trâu tơ, trâu đực kéo cày rất khỏe. trâu cái độ 2, 3 năm đẻ một lứa, mỗi lứa một con nghé. Câu tục ngữ: “Ruộng sâu, trâu nái” nói lên chuyện làm giàu ở nhà quê ngày xưa. Thịt trâu tuy không ngon bằng thịt bò, nhưng là nguồn thực phẩm rất dồi dào và có giá trị. Sữa trâu rất bổ. Da trâu thuộc để xuất khẩu, để làm giày dép. Màu xanh mênh mông của những đồng lúa, cánh có trắng rập rờn điểm tô, và con trâu hiền lành gặm cỏ ven đê… là hình ảnh thân thuộc đáng yêu của làng quê Bắc Bộ. Câu hát: “Ai bảo chăn trâu là khổ”… của chú bé vắt vẻo ngồi trên lưng trâu, và tiếng sáo mục đồng mãi mãi in đậm trong ký ức về tuổi thơ của mỗi người dân Việt Nam.

Đoạn văn mẫu 2

Sinh ra từ làng, từ nhỏ em đã được dạy :”Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Chính vì vậy, em luôn coi con trâu như người bạn và thành viên trong gia đình mình. Chú trâu nhà em được mua về từ lúc còn là con nghé con bé bỏng và hiếu động. Lúc mới về, cậu ta nhỏ, nhút nhát và còn hơi lạ. Nhưng dần dần, cũng quen và khá nghịch ngợm. Lớn hơn thì có vẻ “nghiêm túc, người lớn” hơn. Chú trâu nhà em có bộ lông màu xám. Chú ta nặng ký lắm, tận gần 500kg, thuộc dạng bự nhất trong đám trâu trong làng. Hàng xóm thường hỏi bố mẹ em chăm sao mà khéo thế? Bốn cái chân của nó to và chắc khỏe, vì cần phải làm nhiều việc nặng như kéo xe, cày bừa phụ con người. Hai cái tai to bằng bản tay hay ve vẩy để đuổi mấy con côn trùng. Cặp sừng thì to ơi là to, cong vút và nhọn. Ai mà lạ thì nhìn cặp sừng ấy của nó thì hãi lắm, chứ em thì quen rồi với cả chú ta hiền lắm sẽ không húc ai. Cặp sừng như để trang trí thể hiện đẹp mã thôi ý mà. Mũi của nó được bố em xỏ dây để có thể buộc và điều khiển khi di chuyển, chắc nó cũng khó chịu nhưng phải làm thế để nhắc nhở chứ nó làm sao hiểu khi nào cần sang trái, sang phải đâu. Con trâu này có cái bụng căng tròn, vì lúc nào cũng được cho ăn no nê. Nó có thói quen nhai lại nữa, thường ra đồng cứ ăn nhộm nhoạm cho đầy bụng, rồi khi về nhà nằm bẹp lại nhai lại cho kĩ. Trâu vừa là công cụ sản xuất vừa của gia đình vừa là bạn của em. Khi đi thả diều em rất hay ngồi trên lưng trâu. Kể cả khi mang sách ra đồng, em cũng hay tựa vào lưng trâu để đọc sách. Chưa bao giờ em coi nó chỉ như là một con vật bình thường. Với em nó là một điều đặc biệt gắn liền với những năm tháng tuổi thơ tươi đẹp.

Giangdh (Tổng hợp)

Thuyết Minh Về Con Bò, Văn Mẫu Về Con Bò Sữa Việt Nam

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 THUYẾT MINH VỀ CON BÒ

“Đàn bò vàng trên đồng cỏ xa xanh

gặm cả hoàng hôn, gặm buổi chiều sót lại

mùa rạo rực chỉ đàn bò biết được

vị cỏ râm ran đầu lưỡi ngọt mềm”

Hình ảnh những con bò đã đi vào trong những câu thơ với không khí bình yên của làng quê Việt Nam như thế. Còn bò từ lâu đã gắn bó với miền nông thôn đất nước, với những người nông dân chân lấm tay bùn, đi qua bao miền kí ức của nhiều thế hệ.

Những con bò ban đầu xuất hiện ở châu Âu sau đó nhờ giao thương giữa các nước và những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa đã mang những con bò đi khắp thế giới. Hiện tại, tại hầu hết các quốc gia, ta đều có thể bắt gặp những đồng cỏ xanh với bóng dáng những con bò đang gặm cỏ. Bò cũng có nhiều loại như bò nhà, bò sữa, bò tót,… Bò cũng được chia theo tên vùng miền do mỗi nước lại lao tạo được giống bò mới như bò Mỹ, bò Kobe_Nhật Bản, bò Úc,…Ở Việt Nam thì có một số giống bò khá phổ biến như bò vàng, bò H’Mông, bò Phú Yên, bò Bảy Núi,…

Bò là một loại gia súc bốn chân có hình dáng khá tương tự với trâu nên hai con vật này thường đi liền với nhau, là hình ảnh đặc trưng cho những vùng quê Việt Nam. Bò là động vật ăn cỏ, chúng có chiếc lưỡi dài để liếm các loại cỏ và có bộ hàm lớn, chắc khỏe để nhai cỏ. Bò là động vật nhai lại, sau khi đã nuốt cỏ xuống dạ dày, chúng sẽ ợ một phần thức ăn trở lại để nhai lại. Điều này cũng tương tự ở trâu, hươu, nai và một số động vật ăn thực vật khác. Dạ dày bò gồm bốn ngăn giúp cho bò có thể tiêu hóa được những loại cỏ cứng và khó tiêu nhất. Thân bò thường có màu nâu đỏ hoặc nâu vàng, chỉ có bò sữa là có thân màu đen trắng, một số giống bò có da nâu trắng hoặc trắng toàn thân, có lông, da bò khá dày. Tuy khó thấy nhưng bò là động vật có sừng song sừng của chúng không phát triển như trâu mà sừng của bò thường nhỏ, ngắn, dễ thấy ở những con trưởng thành hoặc bò già. Con bò có đuôi, lúc nào cũng phe phẩy như đang quạt với một chùm lông dài ở ngọn đuôi. Bò khi vừa sinh hay khi còn nhỏ được gọi là bê, đến khi trưởng thành thì người ta mới gọi là con bò. Bò khá hiền và lành tính hơn so với trâu.

Bò xuất hiện trên đồng ruộng với người nông dân như một công cụ lao động giúp người nông dân kéo cày xới đất. Tuy nhiên, với công cuộc hiện đại hóa nông thôn, hình ảnh những con trâu con bò cũng ít khi xuất hiện trên đồng ruộng nữa mà thay vào đó là những máy móc hiện đại, giảm bớt đi những vất vả cho người nông dân. Hiện nay, bò được nuôi chủ yếu phục vụ nhu cầu thực phẩm bởi thịt bò là loại thịt giàu chất dinh dưỡng. Thịt bò là loại thịt đỏ được nhiều người ưa chuộng bởi mùi thơm và độ ngọt. Trên thế giới, thịt bò Úc, thịt bò Mỹ và thịt bò Kobe là những loại thịt bò nổi tiếng nhất, được nhiều nước nhập khẩu với giá thành cao. Bên cạnh việc cho thịt, bò cũng cho da để làm các loại thời trang da thuộc như ví, túi xách, giày dép, thắt lưng, quần áo,… và được sử dụng như một vật liệu cho các đồ dùng nội thất như sô pha, bọc ghế ô tô,… tạo cảm giác mềm mại, êm ái và sang trọng. Tất cả những loại vật dụng sử dụng da bò đều không hề rẻ nhưng lại mang lại sự bề đẹp đúng với giá thành của nó.

Không chỉ xuất hiện trong đời sống sinh hoạt mà bò còn góp mặt vào nhiều lễ hội. Ở Tây Ban Nha rất nổi tiếng với lễ hội đấu bò tót truyền thống, là một nét văn hóa đặc trưng của vùng đất này. Ở Việt Nam cũng có một lễ hội đua bò tên là lễ hội đua bò Bảy Núi là một lễ hội của người dân tộc Khmer, Nam Bộ được tổ chức ở vùng Bảy Núi, An Giang và giống bò được sử dụng là giống bò Bảy Núi. Lễ hội được tổ chức vào các ngày từ hai mươi chín tháng tám đến mùng một tháng chín tính theo lịch âm, thu hút nhiều người tham gia và nhiều cổ động viên sôi nổi.

Con bò là hình ảnh quen thuộc của bao làng quê Việt Nam. Trong văn hóa nhiều nước, con bò là niểu tượng cho sự dũng mạnh, mạnh khỏe, còn trong bức tranh đất trời Việt Nam này, bò lại là nét phác cho chốn thanh bình yên ả. Những đàn bò thung thăng gặm cỏ dưới ánh hoàng hôn trong tiếng sáo chiều đã gắn liền với tuổi thơ bao người.

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 THUYẾT MINH VỀ CON BÒ LỚP 9

Từ những buổi đầu dựng ước, nhân dân ta đã biết tận dụng các con vật được thuần hóa như một công cụ lao động. Theo thời gian, những con vật ấy đã trở thành người bạn thân thiết gắn bó với con người, là cánh tay phải hỗ trợ đắc lực trong quý trình lao động của nhà nông. Những chú bò to khỏe, vạm vỡ là những con vật như thế.

Theo các nghiên cứu thì bò hiện đại đã tiến hóa ra từ một tổ tiên chung là bò rừng châu Âu (B.primigenius). Loài này sống sót cho tới tận thập niên 1600 nhưng chúng đã bị săn bắn đến tuyệt chủng. Bò có ba phân loài chính là Bos primigenius taurus, Bos primigenius indicus và Bos primigenius primigenius. Ở Việt Nam, bò được nuôi ở hầu hết các vùng miền, chủ yếu là bò vàng.

Bò là một loại động vật nhai lại. Bò cũng như trâu, không thể sống và tồn tại nếu không có quá trình nhai lại bởi nhai lại không chỉ có chức năng nghiền nát thức ăn mà còn có tác dụng tăng tiết nước bọt, ổn định môi trường dạ cỏ. Thời gian nhai lại khoảng 5 – 8 giờ/ngày đêm, tùy thuộc vào tính chất vật lý của thức ăn.

Bò không chỉ là gia súc ăn cỏ mà còn tự gặm cỏ trên đồng cỏ. Nhờ đặc điểm này nên bò đã giúp con người khai thác tối ưu các nguồn lợi thiên nhiên sẵn có (đồng cỏ, bải chăn thả..) và lao động dư thừa, ngoài độ tuổi. Nhờ vậy, ngành chăn nuôi bò rất thiết thực và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.

Bò cung cấp hai loại thực phẩm có giá trị cao đối với con người là thịt và sữa. Thịt bò được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao. Sữa được xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì nó hoàn chỉnh về dinh dưỡng và rất dễ tiêu hoá. Ngày nay khi mức sống càng được cải thiện thì nhu cầu của con người về thịt và sữa trâu bò càng tăng lên.

Bò được sử dụng từ lâu đời nay vào mục đích cung cấp sức kéo để làm đất phục vụ trồng trọt. Ngoài việc làm đất, bò còn được sử dụng để kéo xe vận chuyển hàng hoá và các mục đích lao tác khác như kéo gỗ, kéo nước, kéo cối xay, v.v… Lợi thế của sức kéo bò là có thể hoạt động ở bất kỳ địa bàn nào và sử dụng tối đa nguồn thức ăn tự nhiên tại chỗ và các phụ phẩm nông nghiệp làm nguồn cung cấp năng lượng.

Với việc khai thác những vai trò nói trên của bò thì chăn nuôi bò trước kết là một hoạt động kinh tế. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò cho phép khai thác tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, kể cả những nguồn năng lượng có thể tái tạo đang bị bỏ phí gây ô nhiễm môi trường như rơm rạ và các phụ phẩm cây trồng khác, để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao cho xã hội. Chăn nuôi bò do vậy mà đã trở thành kế sinh nhai, là một phương tiện xoá đói giảm nghèo, là công cụ để góp phần phát triển bền vững. Bò đã đi vào đời sống văn hóa của con người. Ở Ấn Độ, bò như con vật thiêng của tôn giáo.

Những chú bò giản đơn nhưng lại có vị trí hết sức quan trọng trong cuộc sống. Vì vẫy mọi người hãy luôn yêu thương và chăm sóc chúng thật tốt.

Nguồn chúng tôi

Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Con Trâu Lớp 9

Lập dàn ý thuyết minh về con trâu là dàn bài văn mẫu lớp 9 hay về con trâu làng quê Việt Nam. Đề bài: Lập dàn ý thuyết minh về con trâu mẫu 1 A. Tìm hiểu đề:

– Kiểu văn bản/ Thể loại: Thuyết minh.

– Đối tượng thuyết minh: Con trâu.

– Phạm vi kiến thức: Con trâu ở làng quê Việt Nam.

– Yêu cầu chung: Vận dụng linh hoạt các phương pháp thuyết minh, một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả.

B. Lập dàn ý: I – Mở bài:

– Giới thiệu chung về hình ảnh con trâu trên đồng ruộng, làng quê Việt Nam.

II – Thân bài:

1. Nguồn gốc, đặc điểm của loài trâu:

– Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy.

– Là động vật thuộc lớp thú, lông trâu có màu xám, xám đen; thân hình vạm vỡ, thấp, ngắn; bụng to; mông dốc; đuôi dài thường xuyên phe phẩy; bầu vú nhỏ; sừnghình lưỡi liềm…

– Trâu mỗi năm chỉ đẻ từ một đến hai lứa, mỗi lứa một con…

2. Lợi ích của con trâu:

a. Trong đời sống vật chất:

– Trâu nuôi chủ yếu để kéo cày, bừa, giúp người nông dân làm ra hạt lúa, hạt gạo.

– Là tài sản quý giá của nhà nông.

– Cung cấp thịt; cung cấp da, sừng để làm đồ mĩ nghệ…

b. Trong đời sống tinh thần:

– Trâu là người bạn thân thiết với tuổi thơ của trẻ em ở nông thôn một buổi đi học, một buổi đi chăn trâu: Thổi sáo, đọc sách, thả diều, đánh trận giả khi chăn trâu…

*Bổ sung hai câu thơ của nhà thơ Giang Nam viết về tuổi thơ chăn trâu:

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

– Con trâu với lễ hội ở Việt Nam:

+ Hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng.

+ Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên.

+ Là biểu tượng của Sea Game 22 Đông Nam Á được tổ chức tại Việt Nam.

+…

III – Kết bài:

– Khẳng định lại vai trò của con trâu trong đời sống người nông dân ở làng quê Việt Nam.

– Nêu suy nghĩ, tình cảm của bản thân.

Dàn ý thuyết minh về con trâu mẫu 2 I. Mở bài: Giới thiệu về con trâu Việt Nam

“Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cất cày vốn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy ai mà quản công…”

Con trâu gắn liền với người nông dân Việt Nam từ xa xưa, bao đời nay. Con trâu như một người bạn thân thiết với người nông dân Việt Nam. Chính vì thế mà con trâu đi vào thơ ca Việt Nam rất đỗi tự nhiên. Để biết rõ hơn về con trâu thân thiết với người nông dân như thế nào, chúng ta cùng đi tìm hiểu con trâu Việt Nam.

II. Thân bài 1. Nguồn gốc của con trâu

– Con trâu Việt Nam là thuộc trâu đầm lầy

– Con trâu Việt Nam là trâu được thuần hóa

2. Đặc điểm của con trâu Việt Nam

– Trâu là động vật thuộc lớp thú, lông trâu có màu xám, xám đen

– Trâu có thân hình vạm vỡ, thấp, ngắn; bụng to; mông dốc; đuôi dài thường xuyên phe phẩy; bầu vú nhỏ; sừng hình lưỡi liềm…

– Trâu có sừng

– Trâu rất có ích với người nông dân Việt Nam

– Mỗi năm trâu đẻ một lứa và mỗi lứa một con

3. Lợi ích của con trâu Việt Nam

a. Trong đời sống vật chất thường ngày

– Trâu giúp người nông dân trong công việc đồng án: Cày, bừa,

– Trâu là người gián tiếp là ra hạt lúa, hạt gạo

– Trâu là một tài sản vô cùng quý giá đối với người nông dân

– Trâu có thể lấy thịt

– Da của trâu có thể làm đồ mĩ nghệ,…

b. Trong đời sống tinh thần

– Trâu là người bạn thân thiết của người nông dân Việt Nam

– Trâu là tuổi thơ trong sáng, tươi đẹp của tuổi thơ: Chăn trâu thổi sáo, cưỡi lưng trâu,…

– Trâu có trong các lễ hội ở Việt Nam:

+ Hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng.

+ Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên.

+ Là biểu tượng của Sea Game 22 Đông Nam Á được tổ chức tại Việt Nam.

+…

4. Tương lai của trâu

Những tác động khiến trâu mất đi giá trị của mình:

– Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

– Máy móc kĩ thuật hiện đại: Máy bừa, máy cày,….

– Phát triển đô thị, quy hoạch hóa, xây dựng khu đô thị,….

III. Kết bài:

– Khẳng định vai trò của con trâu ở làng quê Việt Nam

– Nêu cảm nhận với ý nghĩ của mình về con trâu ở làng quê Việt Nam

Biết bao thế kỉ con người trôi qua, trâu luôn gắn với cuộc sống đồng ruộng Việt Nam, là người bạn thân biết của nông dân Việt Nam. Trâu là một thành phần quan trọng để Việt Nam trở thành một nước có nền văn minh lúa nước lâu đời. khi nhắc đến cảnh làng quê Việt Nam, bên cạnh cảnh đồng lúa, lũy tre luôn có sự hiện diện của con trâu. Chúng ta bảo vệ và chăm sóc trâu là đang bảo vệ nền văn minh lúa nước của nước ta.

Dàn ý thuyết minh về con trâu mẫu 3 Mở bài:

– Giới thiệu chung về hình ảnh con trâu trên đồng ruộng, làng quê Việt Nam.

Thân bài:

– Nguồn gốc, đặc điểm của loài trâu

– Lợi ích của con trâu:

+ Trong đời sống vật chất

+ Trong đời sống tinh thần

+ Trâu là người bạn thân thiết

+ Con trâu với lễ hội ở Việt Nam

Kết bài:

– Khẳng định lại vai trò của con trâu trong đời sống người nông dân ở làng quê Việt Nam.

– Nêu suy nghĩ, tình cảm của bản thân.

Dàn ý thuyết minh về con trâu mẫu 4 I. Mở bài:

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

Đây là những câu ca rất hay viết về loài trâu, một loài vật nuôi rất quen thuộc của người dân Việt Nam. Con trâu đối với người nông dân Việt Nam rất quan trọng. Nó gắn với rất nhiều hoạt động của con người như kéo cày, bừa, gắn với tuổi thơ, với lễ hội. Vậy con trâu có đặc điểm như thế nào, nguồn gốc của nó ra sao, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu.

II. Thân bài: * Nguồn gốc, đặc điểm của loài trâu.

+ Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng được thuần hoá, thuộc nhóm trâu đầm lầy.

+ Lông trâu có màu xám hoặc xám đen, cặp sừng hình lưỡi liềm.

+ Trâu có cân nặng trung bình từ: 350- 450 kg.

* Con trâu với công việc nhà nông

+ Nhà nông nuôi trâu để lấy sức kéo. Mỗi con trâu có sức kéo trung bình từ 0.36- 0.40 mã lực (70-075 kg dưới ruộng)

+ Trâu kéo cày, bừa, kéo than đá, gỗ gúp người nông dân.

+ Thức ăn của trâu chủ yếu là rơm và cỏ.

+ Trong kháng chiến chống Pháp, trâu gúp bộ đội ta kéo pháo vào trận địa…

* Con trâu với tuổi thơ ở nông thôn Việt Nam

+ Được chăn trâu trên những cánh đồng quê, những con đường làng.

+ Được đua diều thổi sáo, đọc sách, đánh trận giả khi chăn trâu.

Tuổi còn thơ ngày hai buổi đến trường.

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ,

Ai bảo chăn trâu là khổ.

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.

* Con trâu với những lễ hội.

+ Hội chọi trâu ở Đồ Sơn- Hải Phòng

Dù ai buôn đâu bán đâu,

Mồng chín tháng tám trọi trâu thì về.

+ Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên.

+ Lễ hội thể thao Đông nam á được tổ chức tại Việt Nam đã lấy con trâu làm biểu tượng cho sức mạnh và tinh thần đoàn kết.

III. Kết bài:

Ý nghĩa, tương lai của loài trâu ở nước ta

Dàn ý thuyết minh về con trâu mẫu 5 MB:

– Trâu là một loại động vật chủ yếu dùng vào việc kéo cày.

– Trâu là người bạn của nhà nông từ xưa đến nay.

TB: * Ngoại hình:

Trâu đực tầm vóc lớn, câu đối, dài đòn, trước cao phía sau thấp, rất khoẻ và hiền. Trâu cái tầm vóc vừa cũng to nhưng chưa bằng con đực, rất linh hoạt và hiền lành không kém.

* Các bộ phận:

Trâu to lớn, khoẻ mạnh, thân hình cân đối.

– Đầu: Trâu đực đầu dài và to nhưng vừa phải, trâu cái đầu thanh và dài. Da mặt trâu khô, nổi rõ các mạch máu. Trán rộng phẳng hoặc hơi gồ. Mắt to tròn, lanh lẹ, có mí mắt mỏng, lông mi dài rất dễ thương. Mũi kín, lúc nào cũng bóng ướt. Mồm rộng, có răng đều, khít, không sứt mẻ. Tai trâu to và phía trong có nhiều lông. Đặc biệt là cặp sừng thanh, cân đối, đen, ngấn sừng đều.

– Cổ và thân: Cổ trâu dài vừa phải, liền lạc, ức rộng, sâu. Lưng trâu dài thẳng nhưng cũng có con hơi cong. Các xương sườn to tròn, khít và cong đều. Mông trâu to, rộng và tròn.

– Chân: Bốn chân thẳng to, gân guốc, vững chãi. Hai chân trước của trâu thẳng và cách xa nhau. Bàn chân thẳng, tròn trịa, vừa ngắn và vừa to. Các móng khít, tròn, đen bóng, chắc chắn. Chân đi không chạm khoeo, không quẹt móng và hai chân sau đi đúng dấu bàn chân trước hoặc hơi chồm về phía trước.

– Đuôi: To, thon ngắn, cuối đuôi có một túm lông để xua ruồi muỗi.

– Da trâu mỏng và bóng láng.

– Lông đen mướt, thưa, cứng và sát vào da.

* Khả năng làm việc:

– Trâu rất khoẻ và siêng năng, cần cù, thông minh, kéo cày giúp người nông dân ngoài đồng suốt cả ngày từ sáng sớm tinh mơ. Trâu chẳng nề hà công việc nặng nhọc.

* Đặc tính, cách nuôi dưỡng:

– Trâu rất dễ nuôi, hay ăn, chóng lớn, tính nết lại hiền lành.

– Nếu trâu làm việc ban ngày nên cho trâu ăn đủ ba bữa chính sáng, trưa và tối. Sau khi đi làm về không nên cho trâu ăn ngay mà nên cho trâu nghỉ ngơi, sau đó tắm rửa sạch sẽ, khoảng 30 phút sau cho trâu uống nước có pha ít muối rồi mới cho ăn.

– Mùa nắng, khi làm việc xong thì không cho trâu uống nước ngay, cho nghỉ ngơi khoảng 15 đến 20 phút rồi cho từ từ uống.

– Trong thời gian làm việc nếu thấy trâu có dấu hiệu mệt, sức khoẻ giảm sút, nên cho trâu nghỉ 4 – 5 ngày và bồi dưỡng cỏ tươi, cám, cháo …

KB:

Ngày nay, nước ta tuy có máy móc nhưng trâu vẫn là một con vật rất cần thiết cho nhà nông. Trâu vẫn là người bạn không thể thiếu của nhà nông không gì có thể thay thế. Ông cha ta đã nhận xét “Con trâu là đầu cơ nghiệp” là như thế.

Theo chúng tôi

Bài Văn Mẫu Lớp 9: Thuyết Minh Về Con Trâu

Trong đời sống tinh thần, trâu là một trong 12 con giáp, gọi là “sửu”. Con trâu trở thành con vật gắn liền với tuổi tác của con người. Người mang tuổi trâu thường chăm chỉ cần cù. Trâu là con vật thiêng liêng dùng để tế lễ thần linh trong ngày lễ cơm mới, lễ xuống đồng. Bài làm tham khảo

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”

Nước ta vốn là quốc gia có nền văn minh lúa nước lâu đời. Chính vì thế, từ rất lâu trước kia, con trâu đã trở thành người bạn thân thiết, quen thuộc trong cuộc sống của nhân dân ta.

Trâu có nguồn gốc từ trâu rừng, nhiều thế kỉ sau được thuần hóa, trở nên hiền lành hơn. Trâu nước ta thuộc nhóm trâu đầm lầy, phân bố rộng rãi khắp cả nước. Trâu gắn liền với sự ra đời của nền văn minh lúa nước. Người Việt cổ không những biết săn trâu mà còn thuần hóa nó, sử dụng sức khỏe của chúng trong việc đồng áng.

Trâu thược lớp thú có vú, chia thành trâu đực và trâu cái. Chúng sở hữu một thân hình vô cùng vạm vỡ. Cân nặng trung bình của trâu cái là từ 350-400 kg thì trâu đực nặng từ 400-450kg. Da nó màu đen, dày, bóng loáng và được phủ bởi một lớp lông mềm bên ngoài gọi là lông mao nên có cảm giác rất mượt mà. Hai cái tai trâu to như hai cái lá đa, lúc nào cũng ve vẩy đuổi ruồi. Tai trâu rất thính, giúp nó nghe rõ mọi động tĩnh xung quanh. Mũi trâu to, miệng trâu rộng, sừng có hình lưỡi liềm. Mắt trâu to tròn như hai hòn bi ve. Giống như bò, trâu thuộc nhóm động vật nhai lại, miệng chỉ có hàm răng dưới. Đuôi trâu ngắn, có một túm lông ở cuối lúc nào cũng phe phẩy. Cái bụng nó rất to chống đỡ bởi bốn chân. Hai chân trước cách xa nhau, thẳng. Bàn chân ngắn, vừa phải. Hai đùi sau to dài, bàn chân sau xuôi, ngắn. Bốn móng rất cứng, khít tròn, đen bóng và chắc chắn. Mỗi năm trâu chỉ đẻ từ 1 đến 2 lứa, mỗi lứa một con, Trâu con mới sinh ra gọi là nghé.

Trâu trong đời sống con người có giá trị rất lớn. Trâu là người bạn thân thiết của nhà nông, quanh năm suốt tháng trâu vất vả quần quật cùng con người, kéo cày, kéo bừa,… “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, khi khoa học còn chưa phát triển, trâu chính là cơ nghiệp của mỗi nhà nông. Người nông dân khi ấy nếu thiếu đi con trâu thì sẽ không thể cấy cày, trồng lúa. Dù ngày nắng hay ngày mưa, chỉ cần người cần đến, trâu sẵn sàng cùng con người cầy cấy thửa ruộng, đem lại sự no ấm cho cả gia đình.

Đồng thời, trâu cũng là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm cho con người. Thịt trâu có hàm lượng đạm khá cao, hàm lượng chất béo thấp. Sữa trâu cung cấp chất đạm, chất béo. Da trâu làm mặt trống, làm giày. Sừng trâu có thể làm đồ mĩ nghệ như lược, tù và,..

Trong đời sống tinh thần, trâu là một trong 12 con giáp, gọi là “sửu”. Con trâu trở thành con vật gắn liền với tuổi tác của con người. Người mang tuổi trâu thường chăm chỉ cần cù. Trâu là con vật thiêng liêng dùng để tế lễ thần linh trong ngày lễ cơm mới, lễ xuống đồng. Trâu đi vào ca dao, tục ngữ, trở thành hình tượng trong thơ ca, phản ánh lịch sử phát triển của nền văn minh lúa nước quê hương.

Chọi trâu là một trong những lễ hội nổi tiếng ở nước ta mỗi dịp xuân về, đặc biệt là lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng. Trong những năm gần đây, chú trâu đã vượt ra khỏi lũy tre làng, tham gia vào các hoạt động văn hóa thể thao. Hình ảnh “trâu vàng” trong SEA GAMES 22 chính là niềm tự hào của đất nước ta trước bạn bè thế giới. Con trâu đã trở thành biểu tượng cho sự trung thực, cho sức mạnh và tinh thần thượng võ. Hình ảnh những chú bé vắt vẻo trên lưng trâu đã trở thành một biểu tượng của làng quê Việt Nam. Trâu trở thành một phần tuổi thơ của biết bao người cùng tiếng sáo diều du dương.

Năm tháng qua đi, dù trong cuộc sống hiện đại ngày nay, rất nhiều loại máy móc đã xuất hiện thay thế vai trò của trâu trong lao động nhưng con trâu mãi là loài vật gắn bó với con người Việt Nam. Trâu trở thành một nét đẹp văn hóa, mang bản sắc dân tộc, là niềm tự hào của nhân dân ta. Để rồi bao năm trôi đi chăng nữa, người ta mãi ngân nga:

“Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta. Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công. Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.”

Đối với người nông dân thì con trâu chính là cơ ngơi mà họ có nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ là cực kì cần thiết. Người nông dân nếu thiếu đi con trâu thì sẽ không làm được gì vì nó có sức kéo, sức cày bừa, sinh đẻ…Bên cạnh đó trâu còn là con vật linh thiêng trong các lễ hội chọi trâu lớn. Bài làm tham khảo

Họ nhà trâu chúng tôi quanh năm suốt tháng chăm chỉ làm lụng cày quốc quanh năm. Hình ảnh những chú trâu là hình ảnh gắn liền với làng quê Việt Nam, với những khóm tre, với đồng ruộng và với người nông dân chân lấm tay bùn. Từ bao đời nay, họ nhà trâu chúng tôi luôn tự hào rằng chúng tôi à bạn của nà nông, là loài có vai trò vô cùng quan trọn với nông nghiệp Việt Nam, là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ, chất phác của con người đất Việt.

Cha ông ta vẫn truyền tai nhau rằng “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Đối với những người nông dân quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời thì trâu chúng tôi chính là gia tài đáng giá hơn cả. Về nguồn gốc xuất xứ của trâu tại Việt Nam có rất nhiều tài liệu, tuy nhiên chưa có một tài liệu nào chính xác nói đến sự ra đời của trâu là như thế nào. Tùy vào điều kiện thiên nhiên địa lí mà trâu ở mỗi vùng miền lại có những đặc tính sinh trưởng khác nhau. Ở Việt Nam khí hậu nhiệt đới gió mùa nên trâu có nguồn gốc là trâu rừng thuần hóa, hay còn gọi là trâu đầm lầy. Trâu có hai loại : trâu đực và trâu cái. Chúng có đặc tính giống nhau nhưng về hình dáng, kích thước thì khác nhau một chút, tuy nhiên không đáng kể. Trâu đực thường to và cao hơn trâu cái, sừng to và dày hơn, đôi chân chắc nịch, lúc chạy rất nhanh. Đầu của trâu đực nó hơn trâu cái một chút.

Tuy với những sự khác nhau như vậy nhưng đặc tính của trâu là hiền lành, chậm chạp, nặng nề. Mỗi con trâu trưởng thành có khối lượng từ 200kg đến 500kg tùy vào sức khỏe của mỗi con. Một đặc điểm rất dễ nhận dạng của trâu chính là không có hàm răng trên. TRâu thuộc động vật nhai lại, sức nhai của trâu rất bền.

Sừng của trâu dài và cong cong, rất chắc chắn nhưng cấu tạo bên trong đều rỗng tuếch. Chân của trâu rất chắc, ngắn, mập, lúc bước đi thường chệnh choạng ra hai bên. Sức chịu đựng của trâu rất dẻo dai, nó có thể chở được rất nhiều đồ đạc. Tấm thân của trâu dường như rất chắc chắn, da của nó rất dai. Ngày xưa cha ông ta vẫn làm áo bằng da trâu. Thường thì longo trâu thường có màu đen, nhưng có một số con trâu có màu vàng nhạt, đó là do giống lai.

Trâu là người bạn thân thiết của nhà nông, từ công việc cày bừa, kéo lúa, kéo ngô, chở hoa màu…đều đến “lượt” của nó. Sức trâu rất dẻo dai, nó có thể làm quần quật cả ngày không biết mệt. Nhưng sức ăn của nó cũng rất nhiều, ăn cỏ, ăn cám…và đặc biệt khi uống nước thì trâu uống rất nhiều. Thời tiết thay đổi cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của trâu nên vào mùa hè người nông dân thường cho trâu ra ao tắm tầm 30 phút hằng ngày, vào mùa đông thì giữ ấm cho trâu bằng việc lót rơm rạ ở chuồng cho trâu nằm. Trâu là động vật sinh con và nuôi con bằng sữa, mỗi năm nó sẽ sinh ra một con nghé con.

Đối với người nông dân thì con trâu chính là cơ ngơi mà họ có nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ là cực kì cần thiết. Người nông dân nếu thiếu đi con trâu thì sẽ không làm được gì vì nó có sức kéo, sức cày bừa, sinh đẻ…Bên cạnh đó trâu còn là con vật linh thiêng trong các lễ hội chọi trâu lớn. Thịt trâu ăn rất ngon, thơm và bổ dưỡng. Sừng trâu, da trâu còn dùng để làm các trang sức, quần áo cho con người.

Đặc biệt sự xuất hiện của trâu trong Seagame 22 tại Việt Nam thực sự là biểu tượng, là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam. Nó mang ý nghĩa biểu trưng cho sự cần cù, chăm chỉ, cần mẫn, hiền lành của người nông dân. Một hình đáng đáng trân trọng. Trâu cũng gắn liền với nhiều kỉ niệm tuổi thơ của trẻ em nông thôn, theo các em lớn lên từng ngày. Bên cạnh hình ảnh con trâu gắn liền với ruộng lúa làng mạc, chúng tôi còn là biểu tượng của lễ hội trọi trâu Đồ Sơn. Những chú trâu tham gia đều được tuyển chọn chăm sóc kĩ càng, có sức chiến được tham gia. Cuộc thi trọi trâu được diễn ra hằng năm với mong muốn một vụ mùa bội thu của bà con nhà nông cần cù chất phác.

Có thể khẳng định rằng mặc dù hiện nay xuất hiện nhiều loại máy móc, phương tiện hiện đại nhưng trâu vẫn luôn là hình ảnh không thế thay thế được của người nông dân. Nhà trâu chúng tôi luôn là người bạn đáng tin cậy và hiền lành nhất. Hơn hết chúng tôi cũng chính là nét đẹp của con người Việt Nam.

Cập nhật thông tin chi tiết về Thuyết Minh Về Con Bò Lớp 9 Hay Nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!