Xu Hướng 2/2024 # Tiểu Luận Đào Tạo Luật Và Nghề Luật Ở Trung Quốc Và Nhật Bản Dưới Góc Độ So Sánh # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tiểu Luận Đào Tạo Luật Và Nghề Luật Ở Trung Quốc Và Nhật Bản Dưới Góc Độ So Sánh được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ Nhật Bản là đất nước bắt đầu chịu ảnh hưởng của Trung Quốc từ thế kỉ thứ V, khởi đầu là chữ viết, rồi đến tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật và cả pháp luật. Tuy chịu ảnh hưởng của pháp luật Trung Quốc nhưng con người Nhật Bản là những con người luôn cần cù, say mê sáng tạo nên pháp luật của hai quốc gia này có những điểm giống và khác nhau. Qua đề tài: Đào tạo luật và nghề luật ở Trung Quốc và Nhật Bản dưới góc độ so sánh, đi từ khía cạnh nhỏ – đào tạo luật và nghề luật, chúng ta sẽ tìm hiểu sự giống và khác nhau của hai quốc gia trên. II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Sự giống nhau: – Phương pháp đào tạo luật tương tự như đào tạo luật ở các nước có hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Civil Law. – Quá trình đào tạo gồm có đại học và sau đại học. Ngoài ra còn có quá trình học nghề. – Phương pháp giảng dạy là thuyết trình, tập trung vào lý thuyết. Sinh viên được cung cấp các kiến thức chung nhiều hơn là kiến thức chuyên sâu. – Đều tổ chức kì thi luật quốc gia với mức độ khó và tỉ lệ đỗ rất thấp. Năm 1980, ở Nhật có hơn 20000 người dự thi thì chỉ có gần 500 người thi đỗ. Ở Trung Quốc, năm 2002 chỉ có 6.68% thí sinh đỗ; năm 2003, 2004, tỉ lệ này lần lượt là 8.75%, 11.22%. Những năm gần đây, hai quốc gia này đều đang cải cách quá trình đào tạo luật để nâng cao số lượng cũng như chất lượng của người hành nghề luật. – Nghề luật đều được hiểu là thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư. Và thẩm phán cũng có thể được chọn ra từ đội ngũ các luật sư giỏi. 2. Sự khác nhau: a) Đào tạo luật: – Ở Nhật Bản, đào tạo cử nhân là chủ yếu. Để trở thành sinh viên luật khoa, thí sinh phải dự thi đầu vào với các môn khoa học xã hội. Quá trình học đại học kéo dài 4 năm, hai năm đầu sinh viên học tại khoa giáo dục đại cương (College of General Studies), hai năm sau học các môn chuyên ngành và chỉ trở thành sinh viên luật khoa trong hai năm cuối. Như vậy, đây là một quãng thời gian quá ngắn để sinh viên có thể có được kiến thức chuyên sâu về luật. Sau khi có bằng cử nhân, sinh viên có thể mở mang kiến thức bằng việc học tiếp chương trình đào tạo sau đại học được chia làm hai giai đoạn. Đào tạo thạc sĩ kéo dài hai năm và đào tạo tiến sĩ kéo dài ba năm, chỉ được đào tạo tiến sĩ khi đã có bằng thạc sĩ luật học, việc đào tạo này cũng chỉ thiên về lý thuyết. Vì chương trình giảng dạy luật ở các trường đại học không đủ để trang bị kiến thức cho các cử nhân luật hành nghề luật sư, một số tổ chức dạy nghề đã được thành lập đó là Viện nghiên cứu và Đào tạo luật (Legal Training and Research Institute) được thành lập vào năm 1947. Nhưng để được vào học tại Viện, các cử nhân luật phải vượt qua kỳ thi luật quốc gia (State Law Examination) thường được gọi là “Bar Exam”, đây là kì thi khó nổi tiếng với tỉ lệ đỗ rất thấp dao động trong khoảng từ 2-3%. Đầu thập kỉ 90 của TK XX, Chính phủ Nhật bắt đầu cho phép gia tăng số lượng thí sinh vượt qua được “Bar Exam” từ 500 lên tới 1000 mỗi năm. Tuy nhiên, chính sách mới này cũng chỉ làm tăng ngạch tuyển sinh của Viện. Cần phải có bước đổi mới căn bản về công tác đào tạo luật, vì vậy, Nhật Bản đang lặng lẽ tiến hành cuộc cải cách chương trình đào tạo luật theo mô hình của Mỹ. Việc lặng lẽ này chỉ tiến hành trong các trường đại học, nó không được áp dụng trên toàn đất nước . – Khác với Nhật, ở Trung Quốc, để lấy bằng cử nhân luật, sinh viên phải theo học 3 năm tại trường đại học. Quá trình giảng dạy không chia thành các giai đoạn như ở Nhật mà ngay từ đầu sinh viên đã phải làm quen với rất nhiều loại luật khác nhau nên ít có thời gian đào sâu kiến thức. Trong vài năm gần đây, chương trình giảng dạy luật đã tăng cường nội dung mới đó là giảng dạy về những phán quyết điển hình của tòa . Sau khi có bằng cử nhân có thể học tiếp để lấy bằng thạc sĩ luật học hoặc tiến sĩ luật học hoặc có thể dành ra hai năm thực tập nghề luật, tích lũy kinh nghiệm để tham dự kì thi do đoàn luật sư tổ chức hai lần trong một năm. Việc đăng kí học nghề không yêu cầu thí sinh phải vượt qua bất kì một kì thi nào. Điều này cho thấy việc đào tạo luật ở Trung Quốc không khắt khe như ở Nhật Bản. b) Nghề luật: – Ở Nhật, các sinh viên tốt nghiệp ra trường của các khoa luật muốn trở thành các luật gia chuyên nghiệp rất khó khăn vì họ cũng phải tham gia các kì thi khắt khe như những người khác. Thực tế chỉ có số ít sinh viên luật sau đó có thể hành nghề luật, số đó là những người ưu tú và vị trí mà họ đạt được thực tế là một bậc thang được xã hội trọng vọng. Gần như tất cả những người thi đỗ kì thi quốc gia đều mất hàng năm trong trường luyện thi đặc biệt, tuổi trung bình của họ là 30. Sau khi qua kì thi, những thí sinh đó được công nhận là luật gia tập sự, hưởng lương và phải tiếp tục học hai năm tại Viện nghiên cứu và Đào tạo luật do Tòa án tối cao điều hành. Bên cạnh các bài giảng, bài thực hành, tất cả đều phải đi thực tế 4 tháng tại các tòa án, văn phòng của một công tố viên hay văn phòng luật sư nào đó. Chương trình dạy nghề này thiên về kiến thức thực tiễn. Kết thúc khóa học, học viên phải tham dự kì thi tốt nghiệp, tốt nghiệp sinh sẽ được công nhận có đủ phẩm chất để hành nghề luật. Ngoài chương trình đào tạo của Viện thì một người muốn trở thành một luật gia thực sự yêu cầu phải có 10 năm làm việc với tư cách là trợ lý thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư. – Ở Trung Quốc, trước đây, nghề luật không được coi trọng, việc thiếu luật gia đã được giải quyết bằng cách cấp tốc đào tạo các luật gia “chân đất” từ các sỹ quan quân đội mới giải ngũ, sau đó giao cho họ các công tác khác nhau trong ngành luật. Tấm bằng đại học luật chính thức không có giá trị để hành nghề. Trên thực tế, phần lớn các thẩm phán và công tố viên không có bằng luật. Sau khi gia nhập WTO, nghề luật sư đã trở thành sự lựa chọn số một ở Trung Quốc. Theo Luật luật sư của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1996, để trở thành luật sư, ứng cử viên phải có được phẩm chất nghề nghiệp bằng hai cách: vượt qua kì thi luật quốc gia hoặc được các cơ quan có thẩm quyền của ngành tư pháp công nhận. Chính phủ đứng ra tổ chức kì thi luật quốc gia, phần lớn các thí sinh phải thi lại nhiều lần mới vượt qua kì thi này. Thi đỗ, ứng cử viên phải thực tập một năm tại văn phòng hay công ti luật sau đó mới được cấp chứng chỉ đỏ để hành nghề luật sư. Như vậy, để công nhận được hành nghề luật ở Trung Quốc trải qua quá trình thi cử ít hơn và dễ dàng hơn ở Nhật. Ngoài ra, những người đã được đào tạo 4 năm hoặc lâu hơn tại khoa luật hoặc có phẩm chất nghề nghiệp tương ứng đều được cấp giấy phép hành nghề. Giấy phép này hằng năm đều phải đăng kí lại nếu không sẽ không có giá trị. 3. Đánh giá: Hai nước này có sự giống nhau là do đều chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Civil Law và quá trình học hỏi pháp luật Trung Quốc từ thời trước của Nhật Bản. Nhưng từ sau Chiến tranh thế giới lần II, công cuộc cải tổ pháp luật ở Nhật được tiến hành và đã ít nhiều chịu ảnh hưởng từ hệ thống pháp luật Mỹ. Và Trung Quốc, sự trở lại của Hong Kong và Macau đã làm cho hệ thống pháp luật Trung Quốc thêm phần phức tạp, đặc biệt với chính sách “một quốc gia, hai chế độ, ba hệ thống pháp luật”. Cho nên quá trình đào tạo luật và nghề luật của hai nước này cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình đất nước. Hơn nữa, tính cách người Nhật ôn hòa, họ luôn chủ động và sáng tạo, đòi hỏi những cái hoàn thiện nhất nên quá trình đào tạo hơi khắt khe, bù lại thì các chuyên gia về luật ở Nhật có khả năng tuyệt vời, kiến thức chuyên môn vững vàng, kinh nghiệm làm việc phong phú. Về điều này thì ở Nhật trình độ các chuyên gia luật cao hơn ở Trung Quốc. III/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ Như vậy, cùng thuộc khu vực Đông Á, cùng chịu ảnh hưởng của dòng họ Civil Law, nên đào tạo luật và nghề luật của Nhật Bản và Trung Quốc có những điểm tương đồng đáng kể. Do quá trình phát triển và hội nhập, pháp luật hai quốc gia này dần dần chịu ảnh hưởng và có sự pha trộn của dòng họ pháp luật Common Law. Tuy nhiên, sự khác biệt về kinh tế, chính trị, tôn giáo, truyền thống, phong tục tập quán đã tạo nên những điểm đặc trưng của từng nước. Trở thành mẫu để các nước khác tham khảo và học tập, trong đó có Việt Nam. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật so sánh, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008. Michael Bogdan, Luật so sánh (bản tiếng Việt), Nxb. Kluwer, Norstedts Juridik, Tano, 2002. Nguyễn Thi Ánh Vân, “Xu hướng mới trong đào tạo luật ở Nhật Bản và vài gợi mở cho đào tạo luật ở Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7 (225)/2009. Lệ Thủy, “Một số nội dung cải cách tư pháp ở Trung Quốc”, Tạp chí kiểm sát, số 15/2005.

Tiểu Luận Luật So Sánh

Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Mỹ là một trong những nước hiếm hoi trên thế giới không có chương trình đại học luật (thời gian học 4 năm) nhưng lại đào tạo cao học luật (Law school) cho những người có bằng Đại học thuộc các chuyên ngành khác nhau. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng không có học viện tư pháp, nơi đào tạo chức danh tư pháp (thẩm phán, luật sư, công tố viên) như nhiều nước trên thế giới. Thế nhưng, nước Mỹ được biết đến không chỉ là cường quốc đứng đầu về kinh tế mà còn là một trong những quốc gia có nền luật pháp hàng đầu, cái nôi đào tạo ra những chính trị gia tầm cỡ không chỉ riêng ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới. Do vậy, việc nghiên cứu về đào tạo luật của họ để học hỏi và ứng dụng vào nước ta là điều hết sức cần thiết.

Khác với Việt Nam đào tạo luật ở bậc đại học như nhiều quốc gia khác, ở Mỹ, việc đào tạo luật là đào tạo sau đại học. Sinh viên luật phải là những người đã tốt nghiệp đại học – có bằng cử nhân một môn khoa học bất kì. Các khoa luật ở Mỹ tuyển sinh viên đầu vào rất khắt khe và những sinh viên được chọn đều là những sinh viên thật sự xuất sắc. Những người trúng tuyển sẽ theo học 3 năm tại khoa luật để lấy bằng J.D – ( jurist doctor ) – văn bằng luật cơ bản ở Mỹ. Ở Việt Nam, sinh viên luật được tuyển qua các kỳ thi đại học hằng năm, thời gian đào tạo là 4 năm, sau khi tốt nghiệp sinh viên được nhận bằng cử nhân luật.

Phương pháp giảng dạy luật được sử dụng ở Mỹ khá phù hợp với sự đa dạng, phức tạp và luôn luôn thay đổi của xã hội Mỹ. Nếu như việc đào tạo luật ở nhiều nước khác, trong đó có Việt Nam, thường dạy cho sinh viên những vấn đề cơ bản về luật và tìm luật ở đâu để giải quyết các vụ việc cụ thể thì hệ thống giáo dục luật ở Mỹ không trực tiếp truyền đạt những kiến thức thuộc lòng về nội dung của các đạo luật, các án lệ mà lại nhằm vào việc đào tạo ra những luật sư có khả năng thắng kiện, các giáo sư luật ở Mỹ hướng tới việc dạy cho các sinh viên mọi kĩ năng cần thiết để thắng kiện hơn là dạy luật. Việc giáo dục pháp luật ở Mỹ là nhằm đào tạo ra những người không chỉ biết luật, hiểu luật mà còn biết giải quyết các công việc đa dạng và phức tạp trong thực tế.

Đối với sinh viên từ năm thứ ba trong trường luật có thể áp dụng phương pháp thực hành trực tiếp (clinical method), theo đó một sinh viên tham gia tư vấn và đại diện cho khách hàng thực sự trong khuôn khổ trợ giúp tư pháp dưới sự theo dõi của luật sư – đồng thời là giáo sư. Các trường luật hướng tới việc đào tạo những con người có khả năng tư duy, có trình độ lý luận, có năng lực làm việc độc lập. Sinh viên phải nỗ lực trong nghiên cứu, phân tích các văn bản luật cũng như tình tiết vụ việc cụ thể để có thể đưa ra các quan điểm, ý kiến và cách lập luận thuyết phục nhất. Ở Mỹ có xu hướng kết hợp giữa đào tạo lý thuyết và đào tạo nghề trong chương trình luật để sinh viên sau khi tốt nghiệp chỉ cần qua thời gian tập sự ngắn có thể làm việc được.

Qua những nghiên cứu ở trên đã cho thấy mô hình đào tạo luật ở Mỹ có những điểm rất tiến bộ và mang tính thực tiễn cao. So với Việt Nam đang trên con đường phát triển để tiếp thu và ứng dụng vào thực tế không phải là điều một sớm một chiều. Tuy nhiên, việc làm này là rất cần thiết và cần được thực hiện dần dần từ những bước cơ bản. Có thể thấy, việc giảm bớt tính hàn lâm và đưa các vụ việc thực tiễn vào giảng dạy các môn luật, việc mời các luật sư và thẩm phán có uy tín đến giảng bài, việc tăng tỷ lệ các câu hỏi về thực tiễn pháp luật là xu hướng tất yếu trong đào tạo để cấp bằng cử nhân luật. Đây là một trong những luận cứ để đề xuất việc đào tạo cử nhân luật làm tiền đề để đào tạo luật sư ở Học viện Tư pháp.

– Giáo trình luật so sánh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2009.

– Luật So Sánh (Bản tiếng Việt), Michael Bogdan, Nxb. Kluwer, Norstedts Juridik, Tano, 2002.

– Giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ, TS. Phan Thị Kim Ngân, TẠP CHÍ KHPL SỐ 2 /2004.

– Đào tạo luật sư ở một số nước trên thế giới và những kinh nghiệm để hoàn thiện công tác đào tạo luật sư ở Việt Nam, TS. Lê Thu Hà – TS. Ngô Hoàng Oanh – TS. Phạm Trí Hùng, Tạp chí Nghề luật số 3, 2006.

Quyền Của Phụ Nữ Các Nước Asean Dưới Góc Độ So Sánh Luật

 1. Cơ sở pháp lí để bảo vệ các quyền của phụ nữ ASEAN

Cơ sở pháp lí cho việc bảo vệ sự bình đẳng giới và đảm bảo những quyền cơ bản của phụ nữ thể hiện ở các điều ước quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia.

Bên cạnh các văn kiện quốc tế, ở mỗi quốc gia thuộc khối ASEAN đều có hệ thống các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lí cho việc bảo vệ sự bình đẳng giới và đảm bảo những quyền cơ bản của phụ nữ. Văn bản pháp luật quan trọng nhất phải kể đến là hiến pháp – đạo luật cơ bản của mọi quốc gia. Tất cả các nước ASEAN đều có hiến pháp thành văn và đa số các nước này ghi nhận những quyền cơ bản của công dân nói chung trong hiến pháp. Trong Hiến pháp Indonesia(3) có Phần X – Công dân và người cư trú, trong đó Phần X(A) quy định về các quyền con người cơ bản. Hiến pháp Philippines năm 1987 ghi nhận Tuyên ngôn về các quyền tại Điều III với 22 khoản. Bên cạnh đó, trong Điều XIII – Công bằng xã hội và nhân quyền, khoản 14 quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ người phụ nữ. Hiến pháp Thailand năm 1997 mở rộng đáng kể các quyền cơ bản của con người (40 quyền con người so với 9 quyền theo Hiến pháp năm 1932). Tiếc là trong bản hiến pháp mới năm 2007, những đề xuất bổ sung quyền con người do Uỷ ban nhân quyền quốc gia đưa ra đã không được Ban soạn thảo Hiến pháp chấp nhận. Trong số các nước ASEAN, Myanmar và Campuchia là những nước được cộng đồng thế giới quan tâm đặc biệt về vấn đề vi phạm nhân quyền nhưng trong Hiến pháp các nước này đều có những quy định khá cụ thể về quyền công dân. Chương 8 Hiến pháp Myanmar với 47 điều quy định về “Công dân, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Hiến pháp Campuchia dành một chương (từ Điều 31 đến Điều 50) đề cập “Quyền và nghĩa vụ của công dân Khmer”. Ở các nước trong khu vực ASEAN, duy nhất có Hiến pháp Brunei hoàn toàn không quy định về các quyền công dân. Trong lần sửa đổi Hiến pháp vào năm 2004, khoản 3 Điều 83 mới được bổ sung quy định về hành vi “Mua bán và buôn lậu người”, coi đó là hành vi bị cấm, nếu vi phạm sẽ phải chịu chế tài hình sự.(4) Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ở Brunei luật pháp không quy định về quyền con người. Mặc dù không được ghi nhận trong Hiến pháp những những quy định về quyền con người nằm rải rác trong các luật thành văn do Nhả nước ban hành và trong luật Hồi giáo.

Như vậy, các điều ước quốc tế và các văn bản pháp luật quốc gia là những nguồn luật chủ yếu tạo cơ sở pháp lí cho việc thực hiện các quyền của phụ nữ ở khu vực ASEAN. Ngoài ra, do đạo Hồi là tôn giáo khá phát triển ở khu vực Đông Nam Á nên luật Hồi giáo có ảnh hưởng không nhỏ đến pháp luật nói chung và pháp luật về quyền phụ nữ nói riêng ở một số nước ASEAN như Brunei, Indonesia, Malaysia… Brunei với 67% dân số theo đạo Hồi, coi Hồi giáo là quốc đạo; lndonesia là nước có tín đồ Hồi giáo đông nhất trên thế giới (ước tính trên 100 triệu người) nên pháp luật được xây dựng dựa trên niềm tin vào Thánh Allah và những nguyên tắc của Hồi giáo. Vì thế, tư tưởng không coi trọng phụ nữ của Hồi giáo thể hiện trong luật Hồi giáo được áp dụng rộng rãi trong cộng đồng người Hồi giáo chiếm đa số dân cư đồng thời để lại dấu ấn trong những quy định của pháp luật những nước này. Ví dụ, Điều 8 Hiến pháp Malaysia năm 1957 trong lần sửa đổi năm 2001 đã bổ sung quy định mọi công dân được bình đẳng không phân biệt giới tính, nhưng vẫn nhấn mạnh điều này không làm mất hiệu lực của những quy định Hồi giáo vốn trọng nam khinh nữ.(5) Thậm chí những quy định Hồi giáo còn áp dụng đối với cả những người không phải là tín đồ Hồi giáo. Ví dụ: ở các trường quốc lập của Brunei, sinh viên nữ bắt buộc phải mặc trang phục đạo Hồi bao gồm cả khăn trùm đầu, cho dù họ có phải là người theo đạo Hồi hay không, bởi vì trang phục này được quy định là đồng phục nhà trường.(6) Mặc dù pháp luật chính thức không thừa nhận chế độ đa thê nhưng do luật Hồi giáo cho phép người đàn ông lấy 4 vợ với điêu kiện phải đối xử công bằng và chu cấp tài chính đầy đủ cho họ nên ở Malaysia chính quyền xem xét cho phép lấy nhiều vợ nếu thấy cần thiết.(7) Tuy không phải là các quốc gia Hồi giáo những Singapore, Thailand đều công nhận sự tồn tại của luật Hồi giáo và nó được áp dụng đối với cộng đồng tín đồ Hồi giáo ở những nước này. Vì thế, việc đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trở thành vấn đề nổi cộm ở mốt số nước thuộc khu vực ASEAN, nhất là ở những nước chịu ảnh hường của luật Hồi giáo.

2. Các quyền của phụ nữ ASEAN

Cũng như mọi công dân khác, phụ nữ các nước ASEAN được hưởng những quyền cơ bản của con người ghi nhận trong các văn bản pháp luật mỗi quốc gia, đó là các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quyền được sống và tự do, bình đẳng trước pháp luật. . . Nghiên cứu quyền của phụ nữ theo pháp luật các nước ASEAN, chúng tôi thấy rằng quyền của phụ nữ có thể được chia thành hai nhóm là nhóm quyền chung và nhóm quyền riêng của phụ nữ.

2.1. Các quyền chung

Đây là các quyền mà mọi công dân tự do đều được hưởng, trong đó quan trọng nhất là quyền được sống. Không những được ghi nhận trong Công ước CEDAW, quyền được sống còn được quy định trong hiến pháp các nước ASEAN. Điều 28A Hiến pháp Indonesia nêu rõ mọi công dân “có quyền được sống, được bảo vệ cuộc sống và sự tồn tại của mình “. Khoản 1 Điều 3 Hiến pháp Philippines quy định: “Không ai có thể bị tước đoạt tính mạng tự do hoặc tài sản ngoài quy trình, thủ tục được pháp luật quy định”. Hiến pháp Myanmar cũng công nhận công dân có quyền được sống và tự do (Điều 353). Quyền được đối xử bình đẳng, công bằng giữa các công dân là vấn đề được các nước quan tâm đặc biệt. Nội dung quyền bình đẳng bao gồm: l) Quyền bình đẳng giữa các công dân trong quan hệ với nhau và trước pháp luật nói chung; 2) Quyền bình đẳng giữa nam giới và nữ giới. Về nguyên tắc, mọi công dân đều được đối xử như nhau, không phụ thuộc vào màu da, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội . . . Sự bình đẳng phải được thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội như kinh tế, lao động, giáo dục, khoa học, văn hoá, nghệ thuật… Pháp luật hầu hết các nước ASEAN quy định rất cụ thể, chi tiết về quyền bình đẳng của công dân. Hiến pháp Myanmar “đảm bảo tất cả mọi công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau (Điều 347). Hiến pháp Indonesia quy định: “tất cả công dân đều bình đắng trước pháp luật và chính quyền mà không có bất cứ ngoại lệ nào” (khoản 1 Điều 27). Khoản 1 Điều 3 Hiến pháp Philippines khẳng định: “không ai có thể bị từ chối quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng”. Đặc biệt, Hiến pháp Philippines có hẳn một điều khoản về công bằng xã hội và nhân quyền (Điều XIII), trong đó quy định Nhà nước dành ưu tiên tối cao cho việc ban hành các biện pháp bảo vệ và nâng cao quyền của mọi công dân đối với phẩm giá con người, giảm thiểu bất bình đẳng về xã hội, kinh tế, chính trị và loại bỏ bất bình đẳng về văn hoá. Quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới cũng được ghi nhận trong Hiến pháp Thailand.

Tuy nhiên, quyền bình đẳng nam nữ ở các nước không giống nhau, nhất là ở các nước chịu ảnh hưởng của Hồi giáo. Theo Kinh Koran, phụ nữ không được quyền bình đẳng với nam giới trong một số lĩnh vực quan trọng như hôn nhân, gia đình, thừa kế. Vì thế, ở Brunei trước đây, con mới sinh ra bắt buộc phải mang quốc tịch người bố. Mãi đến năm 2002, Luật quốc tịch sửa đổi mới cho phép con được theo quốc tịch bố hoặc mẹ.(8)

Mặc dù quy định rằng mọi công dân có quyền bình đẳng, “không phân biệt đối xử công dân do màu da, tôn giáo, địa vị, văn hoá, giới tính, sức khỏe ” (Điều 348), thậm chí còn nêu rõ “phụ nữ có các quyền tương tự như nam giới” (Điều 350), “Bà mẹ, trẻ em, phụ nữ mang thai có quyền bình đẳng theo pháp luật” (Điều 351) nhưng Hiến pháp Myanmar vẫn cho phép Chính phủ được quyền chỉ định nhân sự là nam giới giữ những vị trí được coi là chỉ phù hợp với đàn ông (Điều 352). Vì thế ở đất nước này, phụ nữ không giữ các vị trí quan trọng trong xã hội, ví dụ không có quan chức cấp cao nào của Chính phủ. Toà án tối cao, quân đội là phụ nữ.(9)

Xét về mặt thực tế, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ là phổ biến ở mỗi quốc gia, đặc biệt là ở những vùng nông thôn. Vì thế, phụ nữ thế giới nói chung và các nước ASEAN nói riêng luôn đấu tranh để đòi thực thi quyền bình đẳng mà pháp luật thừa nhận.

Quyền chính trị cũng là quyền quan trọng của phụ nữ ở các quốc gia ASEAN. Điều 7 Công ước CEDAW chỉ rõ phụ nữ được đảm bảo quyền bầu cử, quyền tham gia lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước và quyền thực thi các trách nhiệm xã hội của mình. Điều 8 quy định phụ nữ có cơ hội làm đại diện cho chính phủ ở cấp quốc tế và tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế. Pháp luật của đa số các nước ASEAN đều công nhận quyền bầu cử và coi đây là quyền cơ bản của công dân, không phân biệt nam nữ. Mọi công dân đều có quyền bầu cử đại diện vào các cơ quan quyền lực nhà nước do dân bầu và có quyền ứng cử nếu đáp ứng đủ các điều kiện. Duy nhất ở Brunei, phụ nữ không có quyền bầu cử. Lí do không xuất phát từ sự phân biệt đối xử giữa nam giới và nữ giới mà ở chỗ mọi công dân Brunei, kể cả nam và nữ đều không có quyền bầu cử, bởi vì Brunei là vương quốc không có đại diện dân bầu, toàn bộ bộ máy chính quyền đều do Quốc vương chỉ định.

Phụ nữ, cũng như nam giới đều có thể được đề cử giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan quyền lực nhà nước. Trừ ngoại lệ là Myanmar và Brunei như đã nêu ở phần trên, phụ nữ các nước ASEAN đều được pháp luật đảm bảo quyền tham gia chính trường. Một số nước yêu cầu phải có tối thiểu 1/3 ứng cử viên trong các cuộc bầu cử là phụ nữ như ở Indonesia; Lào đặt chỉ tiêu đạt được 30% là đại diện nữ trong các cơ quan quyền lực nhà nước; hoặc Thailand đòi hỏi các đảng phái chính trị phải có số lượng đảng viên nữ tối thiểu như nhau trong danh sách đảng viên.(10) Trên thực tế, phụ nữ có thể đang đầu một nhà nước như Tổng thống Philippines, bà C.C. Aquino. Không những thế, phụ nữ còn có thể tham gia đại diện cho quốc gia mình trên trường quốc tế và khu vực. Thực tế cho thấy rằng nhiều phụ nữ ASEAN đã và đang thực hiện tốt nhiệm vụ đại diện cho đất nước mình tại các tổ chức quốc tế và hoạt động nhà nước cấp cao.

Theo pháp luật các nước ASEAN, phụ nữ có các quyền dân sự được quy định trong hiến pháp, bộ luật (luật) dân sự, bộ luật (luật) gia đình như quyền sở hữu tài sản (Điều 356 Hiến pháp Myanmar, khoản 2 Điều 3 Hiến pháp Philipinnes; khoản 4 Điều 28H Hiến pháp Indonesia…), quyền kết hôn và sinh con (Điều 28B Hiến pháp Indonesia)… Do ảnh hưởng của Hồi giáo, trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, người phụ nữ một số nước ASEAN chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới. Ví dụ, ở Brunei trước đây, phụ nữ không có quyền li dị chồng và không được chia tài sản khi li hôn. Theo luật Hồi giáo, chỉ người chồng mới có quyền quyết định kết thúc cuộc hôn nhân. Bằng cách nói 3 lần câu “Tôi li dị cô”, người chồng có thể chấm dứt mối quan hệ hôn nhân và người vợ không được nhận bất cứ tài sản nào hình thành trong thời kì hôn nhân đó. Đến năm 1999, bằng việc sửa đổi Luật gia đình Hồi giáo, vai trò và vị trí của người phụ nữ trong hôn nhân mới bước đầu được khẳng định. Tới năm 2003, phụ nữ Hồi giáo Brunei li hôn mới có quyền được kiện chồng cũ ra Toà án Hồi giáo để chia nửa khối tài sản của cuộc hôn nhân. Ở Malaysia, trước năm 1999 khi chưa có Luật về trẻ em, chỉ có người đàn ông mới có thể là người giám hộ hợp pháp cho trẻ vị thành niên và tài sản của chúng. Sau năm 1999, người phụ nữ mới có được quyền này.

Bên cạnh đó, phụ nữ còn có các quyền kinh tế như quyền tự do kinh doanh, thương mại (Điều 370 Hiến pháp Myanmar), quyền sở hữu, thành lập và vận hành các doanh nghiệp kinh doanh (khoản 6 Điều 12 Hiến pháp Philippines).

Tuy nhiên, Hiến pháp một số nước như Indonesia, Brunei lại không đề cập trực tiếp tới quyền tự do kinh doanh của công dân với tư cách là quyền cơ bản của con người. Thế nhưng trên thực tế, phụ nữ những nước này có thể tham gia tích cực vào các hoạt động kinh tế, ví dụ ở Brunei, hơn nửa số doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ sở hữu.(11)

Trong lĩnh vực lao động, pháp luật các nước đều quy định công dân có quyền được lao động, có việc làm và được trả lương công bằng (Điều 28D Hiến pháp Indonesia, Điều 350 Hiến pháp Myanmar. . .). Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở phần lớn các nước, phụ nữ thường được nhận lương ít hơn nam giới trong cùng một công việc.(12)

Ngoài ra, phụ nữ còn có các quyền khác như quyền được học tập, giáo dục; quyền tự do tôn giáo; quyền tự do thông tin, ngôn luận. . .

2. 2. Các quyền riêng của phụ nữ

Bên cạnh các quyền chung của tất cả công dân, phụ nữ còn có một số quyền lợi riêng gắn liền với đặc điểm giới tính và thiên chức của mình. Đó là các quyền sinh sản, quyền chống xâm phạm và lợi dụng tình dục, quyền không bị mua bán, đặc biệt là quyền được bảo vệ chống lại bạo lực…

Sinh con là thiên chức của phụ nữ và không nước nào phủ nhận quyền làm mẹ của người phụ nữ. Điều 5 Công ước CEDAW thừa nhận sự hiểu biết đúng đắn nghĩa vụ làm mẹ như một chức năng xã hội và đòi hỏi cả hai giới phải chia sẻ trách nhiệm một cách đầy đủ trong việc nuôi dạy con. Công ước cũng khẳng định quyền quyết định sinh con của người phụ nữ. Đây là văn kiện quốc tế duy nhất về quyền con người đề cập vấn đề kế hoạch hoá gia đình. Ở khu vực ASEAN, trong khi nhiều nước coi sinh con là quyền đương nhiên của phụ nữ thì ở Indonesia, phụ nữ chỉ được quyền sinh con thông qua hôn nhân hợp pháp.

Do phụ nữ là phái yếu nên luôn tiềm ẩn nguy cơ họ bị xâm phạm, quấy rối tình dục. Bộ luật hình sự nhiều nước quy định tội danh này và các chế tài áp dụng. Thậm chí Bộ luật bảo vệ lao động Thailand cũng quy định quấy rối tình dục nơi công sở là bất hợp pháp. Đối với việc buôn bán phụ nữ, nhiều nước đã ban hành Luật chống mua bán phụ nữ và trẻ em như Thailand (1997) hoặc bổ sung vấn đề này vào văn bản pháp luật hiện hành như Brunei (Hiến pháp năm 2004). Cuộc đấu tranh chống buôn bán phụ nữ và biến họ thành nô lệ tình dục còn nhiều gian nan ở một số nước như Thailand, Campuchia. . . Những năm gần đây, bạo lực đối với phụ nữ có chiều hướng gia tăng, nhất là bạo lực từ phía gia đình. Trước đây, một số nước như Malaysia coi đó là công việc nội bộ gia đình. Nhưng đứng trước sự đe doạ bạo lực ngày càng tăng đối với phụ nữ, Chính phủ các nước đang nỗ lực chấn chỉnh tình trạng này. Theo Luật về chống bạo lực gia đình Malaysia năm 1994, cảnh sát có quyền bắt giữ người có hành vi bạo lực mang tính tội phạm trong gia đình. cưỡng chế họ rời khỏi nhà đồng thời Luật chú trọng mở rộng phạm vi bảo vệ, giúp đỡ nạn nhân của bạo lực. Bên cạnh đó, các nước cũng chú trọng giáo dục nạn nhân về quyền được bảo vệ của mình.

Tóm lại, qua nghiên cứu pháp luật các nước ASEAN về quyền phụ nữ, có thể rút ra một số kết luận sơ bộ như sau:

Thứ hai, vai trò, vị trí của người phụ nữ ở các nước ASEAN không giống nhau. Ớ một số nước như Philippines, phụ nữ bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực, thậm chí có thể nắm giữ vai trò lãnh đạo đất nước. Trong khi đó, ở một vài nước khác, phụ nữ bị hạn chế một số quyền như ở Myanmar, Brunei.

Thứ ba, pháp luật các nước ASEAN nhìn chung đều quy định về quyền phụ nữ và vấn đề bảo vệ người phụ nữ nhưng ở các mức độ khác nhau. Philippines tỏ ra là nước dành nhiều quan tâm đến việc bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ, ít nhất là về mặt pháp lí. Cụ thể bên cạnh những quyền công dân chung, Hiến pháp nước này có khá nhiều đoạn quy định rõ về vai trò, quyền lợi của người phụ nữ (khoản 2, 12, 14 Điều II; khoản 14 Điều XIII). Trong khi đó Brunei có vẻ ít quan tâm tới vấn đề này khi Hiến pháp hoàn toàn không có quy định về quyền công dân. Tuy thế có thể nhận thấy xu hướng chung là pháp luật các nước ASEAN ngày càng mở rộng phạm vi quyền của phụ nữ nhằm hướng tới sự bình đẳng hoàn toàn với nam giới.

Thứ tư, mặc dù được pháp luật bảo vệ nhưng trên thực tế ở khu vực ASEAN, quyền của phụ nữ có tính thực thi chưa cao. Nhiều phụ nữ ở các nước ASEAN vẫn tiếp tục là nạn nhân của sự phân biệt đối xử, bạo hành, lạm dụng tình dục, mua bán phụ nữ. . . Điều này có thể dễ dàng nhận thấy trong các báo cáo quốc gia về nhân quyền của từng nước trong khu vực này.(13)

Chính vì thế, cho tới thời điểm này, việc đảm bảo các quyền công dân, đặc biệt là quyền bình đẳng của phụ nữ vẫn còn là vấn đề nổi cộm của nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN. Giải quyết vấn đề này không thể chỉ đơn giản về mặt pháp lí mà còn phụ thuộc nhiều vào ý thức xã hội và ý thức công dân. Vì vậy, thiết nghĩ người phụ nữ cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa từ phía nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân, cho dù họ ở bất cứ cương vị nào trong xã hội./.

(l) CEDAW đã được 185 nước phê chuẩn. Tất cả các thành viên ASEAN đều đã phê chuẩn Công ước này.

(2). Uỷ ban được thành lập năm 1946 nhằm giám sát địa vị và nâng cao quyền lợi của phụ nữ.

(3). Hiến pháp Indonesia năm 1945 được sửa đổi, bổ sung lần thứ tư năm 2002.

(4). Theo Hiến pháp Brunei, mua bán và buôn lậu người có thể bị phạt tiền tới 1 triệu $, phạt tù từ 4 năm trở lên và phạt roi.

(5). Salim, Arskal chúng tôi 2003, The State andsharia in the Perspective ofindonesian Legal Politics in Sharia and Politics in Modern lndonesia, Salim, Arskal chúng tôi eds. ISEAS, p. 1- 16.

(6). Nguồn: http://www.state.gov/g/drl/rls/irf/2004/35392.htm

(7). Xem: Gender equality im Malaysia, Nguồn: http://www.Wikigenda.com

(8).Xem: Voula Papas, Islam and Women’s rights, Nguồn:http://www.atheistfoundation.org.au/articles/islam-and-womens-rights

(9). Nguồn: http://www.state.gov/g/drl/rls/hrrpt/2000/eap/index.cfm?docid=678

(10).Nguồn: http://www.iknowpolitics.org/en/node/5880

(11). Xem: Báo cáo về nhân quyền của Brunei. Nguồn: http://www.mulabi.org/epu/6ta%20ronda/guides%20women/Brunei%20Darussalam%20QG%20Women% 20_6_pdf.

(12). Theo kết quả khảo sát của Bộ lao động Thailand năm 2001, trung bình nam giới kiếm được nhiều hơn nữ giới 17% trong cùng một công việc. Nguồn: http://www.law.unimelb.edu.au/db/ueful_links.alc/ListURLs.cfm?Level2=53

(13). Xem: http://www.law.unimelb.edu.au

Đặc Điểm Nổi Bật Của Hai Hệ Thống Common Law Và Civil Law Dưới Góc Độ So Sánh

Đặc điểm nổi bật của hai hệ thống Common Law và Civil Law dưới góc độ so sánh. Bài tập học kỳ Luật So sánh 9 điểm.

Đặc điểm nổi bật của hai hệ thống Common Law và Civil Law dưới góc độ so sánh. Bài tập học kỳ Luật So sánh 9 điểm.

Nói đến sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật thế giới không thể không nhắc đến thông luật (Common law) và luật lục địa (Civil law). Đây là hai hệ thống pháp luật lớn nhất trên thế giới hiện nay còn được áp dụng và có ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia các châu lục (trong đó có Việt Nam). Chính vì thế việc tìm hiểu và so sánh hai hệ thống pháp luật này là rất cần thiết trong việc nghiên cứu pháp luật quốc tế nói chung và nghiên cứu pháp luật Việt Nam nói riêng.

Có nhiều cách để phân loại các họ pháp luật trên thế giới tùy vào quan điểm, tiêu chí của từng người. Tuy nhiên trong bài tiểu luận chỉ đưa ra ba yếu tố cơ bản nhất để phân loại các họ pháp luật trên thế giới: lịch sử, cấu trúc hệ thống và nguồn. Từ đó, hy vọng sẽ góp phần tạo nên cái nhìn tổng quan, khái quát nhất về đặc điểm nổi bật của hai hệ thống pháp luật: Common law và Civil law dưới góc độ so sánh. Qua đó có được cái nhìn chính xác và khách quan hơn về vị trí pháp luật Việt Nam và những vấn đề còn tồn tại để có biện pháp cụ thể, kịp thời sửa đổi và định hướng phát triển trong tương lai.

1. Quy phạm pháp luật (QPPL): là một loại qui phạm XH (các qui tắc mang tính xuất phát điểm và khuôn mẫu về hành vi các chủ thể), quan trọng là nó có tính pháp lý như: tính cưỡng chế chung cho mọi cá nhân, tổ chức, được ban hành theo thủ tục, trình tự mà pháp luật qui định. QPPL là phần tử cấu thành nhỏ nhất của hệ thống pháp luật.

2. Văn bản QPPL: là tập hợp các QPPL được ban hành theo những hình thức và thủ tục nhất định dưới dạng thành văn.

3. Nguồn luật: là hình thức biểu hiện sự tồn tại của QPPL.

4. Hệ thống cấu trúc pháp luật: là tổng thể các QPPL có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được phân định thành các chế định luật và các ngành luật.

5. Tập quán pháp: là những cách xử sự giữa con người với con người, hình thành và tồn tại từ đời này qua đời khác, được một cộng đồng XH thừa nhận và tự nguyện tuân theo.

6. Tiền lệ pháp (án lệ): là các văn bản, quyết định của tòa án, cơ quan pháp luật, lời giải thích các QPPL của thẩm phán được thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự.

Common law hay còn được gọi bằng các tên khác: luật chung, luật Anglo – Saxon, luật Anh Mỹ hay thông luật.

Trên thế giới hiện nay có 3 cách hiểu về Common law:

– Loại luật có nguồn gốc từ hoạt động của các Tòa án Hoàng gia Anh, áp dụng chung cho toàn bộ nước Anh thay thế cho luật địa phương (local law).

Đào Tạo Luật Và Nghề Luật Ở Cộng Hòa Liên Bang Đức

Từ thế kỷ XIV, các trường đại học tổng hợp đầu tiên của Đức, trong đó có khoa luật đã được thành lập. Đến nay, các khoa luật này vẫn là những cơ sở đào tạo pháp luật chính thức của Đức. Đây cũng là đặc điểm chung trong truyền thống về đào tạo pháp luật của nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa như: Pháp, Bỉ, Hà Lan… Nhưng, ở Đức có điểm đặc trưng là, chế độ đào tạo luật và nghề luật là một quy trình toàn diện, thống nhất trên phạm vi toàn liên bang (bao gồm 16 bang). Theo đó, quy trình đào tạo này kéo dài khoảng năm năm rưỡi đến sáu năm. Toàn bộ thời gian đào tạo được chia làm hai giai đoạn:

– Giai đoạn thứ nhất: đào tạo pháp luật ít nhất là ba năm rưỡi tại trường đại học.

2. Các giai đoạn đào tạo luật và nghề luật ở Đức Giai đoạn đào tạo luật

– Giai đoạn thứ hai: đào tạo thực hành nghề luật kéo dài ít nhất là hai năm.

Đây là giai đoạn thứ nhất trong quy trình đào tạo luật tại Đức. Bất kỳ ai, nếu muốn trở thành luật sư, công chứng viên, thẩm phán, công tố viên… đều phải thi tuyển hoặc được xét tuyển vào học tại các trường Đại học luật hoặc khoa luật tại các trường đại học tổng hợp (hiện nay, trên toàn nước Đức có khoảng 50 khoa luật trực thuộc các trường đại học nằm rải rác trong phạm vi 16 bang).

Các môn học

Theo quy định, các trường luật, các khoa luật thuộc các trường đại học tổng hợp chỉ phải tuân thủ khung chung về đào tạo pháp luật do luật liên bang quy định. Trên cơ sở đó, mỗi bang có thể quy định các chương trình đào tạo chi tiết khác nhau dựa trên thế mạnh trong nghiên cứu, đào tạo của các trường đại học của bang mình.

Trong giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ phải học trong một khoảng thời gian ít nhất là ba năm rưỡi với các môn học mang tính cơ sở về khoa học luật như: lịch sử các học thuyết pháp luật, lịch sử pháp luật, triết học, xã hội học pháp luật và các môn luật mang tính chất bắt buộc như: luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, luật hành chính, luật tố tụng dân sự…

Phương pháp đào tạo

Bên cạnh các môn học mang tính bắt buộc thì sinh viên luật ở Đức cũng có các môn học tự chọn, đó có thể là môn luật về thuế, luật về cộng đồng châu Âu, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ… Việc thiết kế các môn học bắt buộc và tự chọn tùy thuộc vào chương trình của mỗi trường. Ví dụ như, theo chương trình đào tạo của trường North – Rhine Westphalia, các môn học tự chọn là luật thuế, luật kinh doanh, luật quốc tế…

Tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và đánh giá kết quả học tập

Đối với phương pháp đào tạo luật ở Đức thì hiện nay đang xuất hiện hai quan điểm khác nhau, đó là: quan điểm cải cách và quan điểm bảo thủ. Nhóm quan điểm cải cách cho rằng, nước Đức cũng như nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa cần phải tiếp nhận phương pháp thực tiễn trong đào tạo luật của các nước Anh – Mỹ. Nghĩa là, cần giảm bớt tính hàn lâm và phải đưa các vụ việc thực tiễn vào giảng dạy các môn luật. Nhóm quan điểm bảo thủ lại cho rằng, chế độ đào tạo pháp luật của nước Đức theo truyền thống vẫn rất hiệu quả. Bởi việc đào tạo pháp luật trong giai đoạn thứ nhất gắn với việc đào tạo kiến thức pháp luật cơ bản, tổng hợp, với mục đích cung cấp các kiến thức toàn diện cho sinh viên. Còn các kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành mang tính chất nghề luật là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn hai. Tuy nhiên, các kết quả khảo sát gần đây cho thấy, nhiều khoa luật trên lãnh thổ của Đức đã chú trọng đến việc cân đối giữa hàm lượng lý thuyết và thực tiễn pháp luật trong cơ cấu các môn học. Điều này được minh chứng bằng việc ngày càng có nhiều luật sư và thẩm phán có uy tín được các khoa luật mời đến giảng bài cho sinh viên. Bên cạnh đó, trong hệ thống câu hỏi của các kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất, tỷ lệ các câu hỏi về thực tiễn pháp luật ngày càng tăng.

Nếu nhìn vào quy trình tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và việc đánh giá kết quả học tập qua các kỳ thi, đặc biệt là thi tốt nghiệp cho giai đoạn thứ nhất thì có thể khẳng định rằng, việc đào tạo pháp luật ở Đức có chất lượng rất cao. Pháp luật của Đức quy định: Bộ Tư pháp của mỗi bang có trách nhiệm giám sát, quản lý, đánh giá kỳ thi này, thậm chí cả việc ra câu hỏi thi. Các câu hỏi thi thường dài và phức tạp, chẳng hạn như, kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất ở bang Bavarian có tới tám câu hỏi, sinh viên phải hoàn thành bài thi trong thời gian năm tiếng. Đây thực sự là một áp lực đối với bất cứ sinh viên luật nào. Theo tài liệu thống kê được công bố năm 2003, thì chỉ có khoảng 65% sinh viên đạt yêu cầu, còn 35% sinh viên phải thi lại trong các lần thi tiếp theo. Ngoài hình thức thi viết, các trường còn có thể cho sinh viên thi tốt nghiệp bằng hình thức vấn đáp. Theo đó, sinh viên sẽ phải trả lời câu hỏi trước một hội đồng bao gồm: hai giáo sư, hai thẩm phán, một luật sư hoặc một chuyên viên pháp luật. Thời gian thi vấn đáp có thể kéo dài tới bốn tiếng cho một nhóm khoảng năm sinh viên. Nếu sinh viên bị trượt trong lần thi lại thì coi như họ đã bỏ phí mấy năm học tại trường. Những sinh viên đã vượt qua kỳ thi này thì được quyền học tiếp giai đoạn thứ hai.

Giai đoạn đào tạo nghề luật

Một vấn đề không thể không nhắc đến trong thực tế học tập và thi cử của sinh viên luật ở Đức là sự hiện diện của các ” Repetiter” có thể tạm dịch là ” thầy dạy kèm” (xuất hiện từ thế kỷ thứ XIII và XIV trong việc dạy và học luật ở trường đại học tổng hợp Bologna, sau đó lan rộng ra khắp châu Âu và tồn tại cho đến nay). “Thầy dạy kèm” tuy không phải là các giáo sư dạy luật của các trường đại học, nhưng họ có trình độ, kiến thức pháp luật uyên thâm, giúp các sinh viên cách học và tích lũy kiến thức để vượt qua các kỳ thi. “Thầy dạy kèm” tận tụy với việc truyền đạt những kiến thức mà các giáo sư trong trường chưa làm cho sinh viên thỏa mãn. Giả sử như, khi giảng bài trong một lớp học có khoảng 100 sinh viên, giáo sư khó có thể trả lời được tất cả những thắc mắc của từng sinh viên và cách tốt nhất đối với các sinh viên luật trong trường hợp này là đến với các “thầy dạy kèm”. Theo thống kê, có tới 95 % sinh viên luật ở Đức đã từng đến với “thầy dạy kèm”. Các “thầy dạy kèm” sống bằng những khoản phí do sinh viên trả, họ có thể hoạt động đơn lẻ hoặc hoạt động trong một hiệp hội, một công ty. Pháp luật của Đức coi hoạt động dạy kèm là hợp pháp.

Sau khi đã vượt qua kỳ thi của giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ được tiếp tục theo học giai đoạn thứ hai – giai đoạn đạo tạo nghề luật, nghĩa là, đào tạo các kiến thức pháp luật thực hành. Việc đạo tạo nghề luật của giai đoạn thứ hai kéo dài hai năm và cũng được kết thúc bằng một kỳ thi. Nếu không vượt qua kỳ thi này thì sinh viên luật sẽ không nhận được học vị cử nhân, điều đó cũng đồng nghĩa với việc, họ không thể bước vào con đường nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán, hay nghề công tố viên…

Đào tạo nghề luật ở Đức có điểm giống với nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu ở chỗ, đây là giai đoạn đào tạo kiến thức về các nghề luật như: nghề luật sư, nghề thẩm phán, nghề công tố … Nhưng khác biệt là: (1) Đây là một phần không thể thiếu trong đào tạo luật ở bậc đại học. (2) ở Đức không tồn tại mô hình đào tạo nghề thẩm phán như ở Pháp (sinh viên luật ở Pháp, sau khi tốt nghiệp đại học, nếu có tham vọng trở thành thẩm phán thì phải tiếp tục thi và theo học trong trường đạo tạo thẩm phán), mà pháp luật của Đức quy định một quy trình chung cho đào tạo mọi nghề luật, nghĩa là, các sinh viên luật, sau khi tốt nghiệp đại học có đủ tư cách hoạt động ở mọi nghề luật. Trong thời gian hai năm gắn với thực hành, sinh viên luật ở Đức vẫn phải tham gia các giờ học mang tính chất lý thuyết. Thông thường, thầy giáo giảng trong các giờ học này là những thẩm phán hay các chuyên viên pháp lý có kinh nghiệm. Những sinh viên luật dù đã định hướng nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán… thì vẫn phải tham gia tập sự ở tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp cao trong thời gian sáu tháng; ở cơ quan công tố ba tháng; ở hội đồng địa phương bốn tháng và bốn tháng tập sự cùng với một luật sư thực thụ. Như vậy, trong thời gian thực tập, sinh viên luật sẽ làm quen với các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực, từ dân sự, hình sự đến hành chính… Mức độ tiếp cận với thực tiễn nghề luật sẽ phụ thuộc vào số lượng công việc nơi thực tập và khả năng học tập của sinh viên. Khi đã hoàn thành nhiệm vụ tập sự ở các cơ quan nói trên, trong thời gian bảy tháng còn lại, họ có thể tùy chọn tập sự lại ở một trong các vị trí nói trên, nhằm tăng thêm khả năng chuyên sâu nghề nghiệp. Trong bảy tháng này, những sinh viên có định hướng làm nghề thẩm phán thường sẽ chọn tòa án là nơi tăng cường thực tiễn. Còn những sinh viên có tham vọng theo nghề luật sư, thì địa chỉ mà họ thực tập là các công ty luật hoặc các đoàn luật sư. Giai đoạn thực hành nghề luật của sinh viên cũng được kết thúc bằng một kỳ thi tốt nghiệp. Kỳ thi này còn được coi là quan trọng và khó hơn kỳ thi tốt nghiệp trong giai đoạn thứ nhất. Theo thống kê của bang Bavarian, có tới 15% trong tổ số sinh viên luật tại bang thi trượt trong kỳ thi này. Khi những sinh viên đã thi lại lần hai mà vẫn không qua, thì con đường bước vào nghề luật của họ coi như đã bị khép lại. Còn những sinh viên luật đã hoàn thành việc học tập trong cả hai giai đoạn và vượt qua cả hai kỳ thi nói trên sẽ được nhận bằng luật, và họ có đủ tư cách để tìm những vị trí làm việc thích hợp.

Hiện nay ở Đức, các sinh viên luật sau khi tốt nghiệp có rất ít cơ hội được tuyển vào làm thẩm phán, do công việc này ít có nhu cầu bổ sung. Bên cạnh đó, biên chế trong các cơ quan công tố và cơ quan hành chính nhà nước cũng luôn có giới hạn. Tình trạng này làm cho số người chọn nghề luật sư để kiếm sống ngày càng tăng. Theo con số thống kê năm 2001, toàn liên bang Đức có khoảng 110.367 luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư. Đến tháng 1/2003, số luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư đã lên tới 121.420 người, tăng khoảng 4,4% so với 12 tháng trước đó. Nghề luật sư ở Đức cũng như ở nhiều nước trên thế giới, tính cạnh tranh ngày càng cao, do đó hình thành xu hướng ngày càng có nhiều luật sư hoạt động chuyên sâu trong một lĩnh vực pháp luật như: luật hôn nhân gia đình, luật thuế, luật hình sự, luật hành chính, luật sở hữu trí tuệ…

3. Đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ luật học

Như vậy, việc quy định hai bước trong quy trình đào tạo pháp luật ở Đức vừa có những điểm tương đồng với các nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, đồng thời, cũng có những đặc điểm riêng, thể hiện rõ nét ở việc đào tạo nghề luật trong giai đoạn thứ hai.

Đào tạo sau đại học trong lĩnh vực pháp luật ở Đức cũng rất phát triển so với nhiều nước châu Âu, bởi nếu ai muốn khẳng định vị trí của mình nơi công tác hoặc có ước muốn trở thành giáo sư giảng dạy pháp luật trong các trường đại học, thì học tập và nghiên cứu sau đại học là con đường không thể bỏ qua.

– Đào tạo thạc sĩ: phần lớn các chương trình đào tạo cao học luật ở Đức bắt buộc học viên phải có trình độ cử nhân luật, phải tham gia học tập và nghiên cứu theo thiết kế chương trình của các trường đại học. Kết thúc khóa cao học luật, học viên sẽ phải bảo vệ luận văn, nếu luận văn đạt yêu cầu, họ sẽ được nhận học vị thạc sĩ luật học.

– Đào tạo tiến sĩ: Cũng giống như nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, quy trình đào tạo tiến sĩ luật học ở Đức phản ánh tính chất hàn lâm. Theo thống kê, có khoảng 1/10 các luật gia ở Đức làm luận án tiến sĩ và để nhận được học vị tiến sĩ đòi hỏi các nghiên cứu sinh phải học tập trung tại các cơ sở đào tạo từ một đến hai năm, khi bảo vệ thành công luận án, họ sẽ được nhận tấm bằng: Dr.jur.(viết tắt của từ tiến sĩ luật trong tiếng Đức).

Học vị tiến sĩ luật không phải là đòi hỏi chính thức với bất kỳ nghề luật nào, nhưng nó tạo ra một vị trí xã hội đáng kể và rất hữu ích với cả những người không mong muốn trở thành giáo sư dạy luật trong trường đại học. Trong các công ty tư nhân, nếu một luật sư có học vị tiến sĩ thì anh ta sẽ có cơ hội được đề bạt ở những vị trí cao nhất.

Tuy nhiên, sự đào tạo bài bản và rất nghiêm túc trong quy trình kiểm tra, đánh giá thực sự là một thử thách rất lớn cho những ai muốn đạt được học vị tiến sĩ luật ở Đức, bởi một luận án tiến sĩ thường đòi hỏi phải có độ dày từ 200 đến 400 trang và phải đảm bảo tính khoa học rất cao, phải kết hợp được cả giá trị lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, với những tiến sĩ luật học có nguyện vọng trở thành giáo sư, thì họ nhất thiết phải in luận án của mình thành sách sau khi đã bảo vệ thành công.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 8/2005

=============================

So Sánh Quá Trình Cải Cách Kinh Tế Trung Quốc Và Ấn Độ

So sánh quá trình cải cách kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ

Các yếu tố lịch sử, chính trị và chính sách kể trên đã góp phần làm cho quá trình cải cách kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ, tuy có vài điểm giống nhau, nhưng khác nhau rất nhiều, cuối cùng mang đến kết quả khác nhau.

Trong khi GDP của Trung Quốc tăng trưởng nhanh và tương đối ổn định, trung bình khoảng 9,3% một năm trong thập kỷ 1980 và 9,7% từ 1991 đến 2003, thì Ấn Độ tăng trưởng chậm hơn với biên độ dao động lớn hơn – GDP tăng trung bình 5,6% và 5,8% trong hai giai đoạn nói trên.[5] Dân số của Ấn Độ lại tăng nhanh gấp đôi Trung Quốc – 1,6% một năm so với 0,8% ở Trung Quốc (ước tính đến năm 2035 Ấn Độ sẽ qua mặt Trung Quốc để trở thành nước đông dân nhất thế giới). Vì thế, GDP trên đầu người tính theo tỷ giá tương đương sức mua của đồng tiền tăng 8,5% một năm ở Trung Quốc, hơn gấp hai lần suất tăng trưởng ở Ấn Độ trong suốt giai đoạn 1990-2003. Đến năm 2004, GDP trên đầu người ở Trung Quốc ước tính khoảng 5,200 đôla, so với 3,000 đôla ở Ấn Độ.

Do tăng trưởng kinh tế chậm hơn, các tiêu chí về phát triển con người (Human Development Index HDI, do UNDP công bố) của Ấn Độ cũng kém hơn của Trung Quốc. Trong thời gian 2000-2004, HDI của Trung Quốc là 0,755 (đứng thứ 94 trên 146 nước) so với Ấn Độ chỉ có 0,602 (đứng thứ 127/146). Cụ thể hơn, tỷ lệ người nghèo (thu nhập dưới 1 đôla một ngày) ở Trung Quốc là 16,6% dân số, so với 34,7% dân số ở Ấn Độ. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh là 30/1,000 ở Trung Quốc, trong khi lên đến 65/1,000 ở Ấn Độ. Tuổi thọ trung bình (life expectancy) ở Trung Quốc là 71,5 năm, so với 63,3 năm ở Ấn Độ. Tỷ lệ biết chử trong số dân trưởng thành (adult literacy) là 90% ở Trung Quốc so với 61% ở Ấn Độ – nhất là tỷ lệ trong phụ nữ lại càng chêng lệch: 87% so với 45%.

So sánh kinh nghiệm khác nhau của Trung Quốc và Ấn Độ sẽ rút ra nhiều bài học bổ ích cho Việt Nam.

1. Tăng trưởng kinh tế hết sức quan trọng: không tăng trưởng, hoặc tăng trưởng chậm so với gia tăng dân số, thì không thể phát triển, không thể xóa đói giảm nghèo, và không thể thực hiện các mục tiêu xã hội khác. Kinh nghiệm cho thấy kinh tế tăng trưởng nhanh sau khi có cải cách để thay đổi cơ chế bất hợp lý. Tuy nhiên, sau một thời gian thì cuộc cải cách ban đầu dần dà bớt hiệu nghiệm. Muốn duy trì mức tăng trưởng thì phải tiếp tục cải cách để làm cho nền kinh tế trở nên hữu hiệu hơn. Hiện nay, thách thức lớn đối với cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ là cải cách doanh nghiệp quốc doanh có tính chất độc quyền – thành phần kinh tế này rất lãng phí và kém hiệu năng, thu hút tín dụng nhiều nhất nhưng tạo ra giá trị gia tăng ít hơn các thành phần kinh tế khác.

Tất nhiên, tập trung vào việc tăng trưởng kinh tế có thể dẫn đến việc lãng phí hay kém chất lượng trong tăng trưởng. Nó cũng gây ra nhiều tiêu cực xã hội, như nới rộng khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân chúng, hay làm hư xấu môi trường thiên nhiên. Vấn đề giảm lãng phí và nâng cao chất lượng của tăng trưởng nói chung có thể được giải quyết khi kinh tế tiếp tục phát triển và cơ chế kinh tế thị trường ngày càng hoàn chỉnh. Hơn nữa, nếu không tăng trưởng, đất nước ở trong tình trạng nghèo đói, thì các tiêu cực xã hội vẫn xảy ra và môi trường thiên nhiên cũng bị đe dọa. Có tăng trưởng thì nhà nước mới có tài nguyên ngân sách để giải quyết các tiêu cực xã hội. Vấn đề là nhà nước có đề ra và thực hiện các chính sách xã hội thích hợp hay không – điều này tùy thuộc vào khả năng của bộ máy nhà nước.

2. Muốn có hiệu quả, cải cách kinh tế phải được áp dụng một cách rốt ráo, rộng rãi và có tính liên tục, không bị thay đổi bất chợt. Đây là kinh nghiệm của Trung Quốc. Cải cách kinh tế ở Trung Quốc nói chung gồm có hai giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ 1978 đến 1988, chủ yếu nhằm giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng – qua việc xóa bỏ hệ thống hợp tác xã nông nghiệp và thay bằng khoán sản phẩm, và thành lập các khu kinh tế đặc biệt và các xí nghiệp hương trấn. Đến cuối thập kỷ 1980, cải cách đợt I bắt đầu bớt tác dụng. Ông Đặng Tiểu Bình trong chuyến Nam Du năm 1988 đã đẩy mạnh chủ trương mở cửa và hội nhập vào kinh tế thế giới, chủ yếu nhẳm thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) để hiện đại hóa kinh tế Trung Quốc – đồng thời đẩy mạnh cải cách ngân sách, tài chánh và thuế quan. Tuy có một số chênh lệch và thiếu đồng bộ trong một số chính sách và biện pháp, cải cách đợt II đã được thực hiện một cách nhất quán từ đó đến nay và đã trải qua ba đời lãnh đạo là Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào. Chủ trương này đã thúc đẩy Trung Quốc năng nổ trong việc thương lượng để sớm gia nhập và thực hiện các cam kết với WTO. Sự liên tục trong chủ trương cải cách đã tăng sự tin tưởng của giới kinh doanh và đầu tư thế giới cũng như ở trong nước vào tiến trình cải cách và hội nhập của Trung Quốc (“không thể đổi ngược”). Sự tin tưởng này cộng với tính cạnh tranh ngày càng tăng do các biện pháp cải cách và mở cửa đã trở thành động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc.

3. Chính sách kinh tế đúng đắn hết sức là quan trọng. Từ khi ý thức được là cần phải đổi mới, Trung Quốc chủ trương mạnh dạn mở cửa và hội nhập vào kinh tế thế giới, thu hút vốn FDI để xây dựng các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Nói chung chính sách này đã thành công vượt bực. Trung Quốc đã thu hút được khối đầu tư FDI khổng lồ (khoảng gần 600 tỷ đôla – tương đương với 14,9% GDP), hàm chứa sự chuyển giao công nghệ rất lớn. Thêm vào đó, Trung Quốc cũng đã tích lũy dự trữ ngoại tệ khoảng 900 tỷ đôla – đây là số dự trữ lớn nhất thế giới. Ngành xuất khẩu của Trung Quốc đã phát triển rất mạnh mẽ, tiến dần từ chỗ trị giá gia tăng ít, chủ yếu lắp ráp hàng tiêu dùng thô sơ, đến chỗ trị giá gia tăng cao hơn, với hàng hóa phong phú, tiên tiến hơn – thậm chí bắt đầu xuất hiện các thương hiệu của Trung Quốc trên thị trường thế giới. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đã lên tới gần 1 triệu tỷ đôla, chiếm tỷ trọng gần 5% của tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới, và Trung Quốc đã trở thành cường quốc xuất khẩu đứng hàng thứ tư sau Mỹ, EU và Nhật. Xuất khẩu vì vậy đã là đầu máy thúc đẩy sự tăng trưởng và hiện đại hóa kinh tế Trung Quốc trong hơn ¼ thế kỷ vừa qua. Nó không những làm thay đổi bộ mặt của Trung Quốc, mà của cả nền kinh tế toàn cầu -chủ yếu qua việc toàn cầu hóa dây chuyền sản xuất và cung cấp rất nhiều mặt hàng chế biến.

Kinh nghiệm của Ấn Độ thì phức tạp hơn. Từ khi độc lập cho đến gần đây, nói chung có sự đồng thuận trong chính quyền và giới trí thức, tin tưởng vào mô hình kế hoạch hóa kinh tế, tập trung xây dựng công nghiệp nặng qua các xí nghiệp quốc doanh, nhằm thay thế nhập khẩu. Việc sản xuất hàng tiêu dùng như bông vải v.v. thì lại dành gần như độc quyền cho khu vực cá thể, hộ gia đình với quy mô nhỏ bé, theo truyền thống “dệt vải của thánh Gandhi”. Doanh nghiệp tư nhân từ nhỏ, vừa cho đến lớn thì bị hạn chế gắt gao qua nhiều hình thức, từ việc phải xin đủ loại giấy phép đầu tư và kinh doanh (đó là cho những ngành nghề không thuộc bảng cấm tư nhân kinh doanh vốn đã rất dài) cho đến luật lệ lao động khắt khe và khó xin tín dụng từ các ngân hàng quốc doanh. Kinh nghiệm cho thấy chính sách kinh tế này đã thất bại, tuy nhiên vì nó không gây ra thảm họa như hậu quả của Bước Tiến Nhảy Vọt của Trung Quốc, cho nên mãi cho đến bây giờ, vẫn còn một số thành phần trí thức ở Ấn Độ tin tưởng vào nó vì cho rằng nó bảo đảm công bằng xã hội. Chính thái độ và cách suy nghĩ này đã làm Ấn Độ nghi ngờ và dè dặt khi mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới–phản ánh qua tình trạng khối đầu tư FDI ở Ấn Độ hiện nay chỉ chiếm 5,9% GDP, thuộc hàng thấp nhất thế giới. Nói chung, tình trạng này góp phần làm trì trệ nền kinh tế Ấn Độ, và hiện nay làm giảm sự đồng thuận trong xã hội đối với chủ trương cải cách. Vì thế, giới đầu tư quốc tế vẫn còn chút ít nghi ngờ về khả năng “không thể đổi ngược” của chính sách cải cách ở Ấn Độ.

Một cách cụ thể, chương trình cải cách của chính phủ Rao gồm có 7 điểm quan trọng như sau:

· Cải cách ngân sách để giảm thiếu hụt bằng cách giảm chi tiêu, nhưng giảm thuế suất để khuyến khích sản xuất. Thu suất lợi tức biên tế tối đa giảm xuống còn 80% và thuế suất doanh nghiệp giảm còm 35%. Cải cách ngân sách tiếp tục là thử thách quan trong đối với Ấn Độ, vì tỷ lệ thu thuế trên GDP ở Ấn Độ rất thấp, chỉ có 11% so với 16% ở Trung Quốc – tỷ lệ thu thuế thấp như thế làm cho ngân sách nhà nước luôn luôn thiếu hụt và không có khả năng đầu tư vào hạ tầng cơ sở hay giải quyết các vấn đề xã hội. · Cải cách chính sách công nghiệp, chủ yếu là bãi bỏ chế độ xin/cho giấy phép và mở cửa 15 ngành công nghiệp, từ trước dành riêng cho quốc doanh, cho các doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay chỉ còn một số ngành công nghiệp vẫn do quốc doanh độc quyền: quốc phòng, phi cơ và tàu chiến, năng lượng hạt nhân và đường sắt. Ngoài ra, cũng bãi bỏ chế độ giấy phép đầu tư đối với doanh nghiệp, và thay vào đó là luật lệ và cơ quan chống độc quyền (anti trust). Tuy nhiên, việc tự do hóa danh sách các ngành dành riêng cho khu vực sản xuất nhỏ tiến hành rất chậm: trong danh sách 800 ngành nghề, đến năm 2001 chỉ mở cửa cho 14 nghề, và đến 2002 thì mở thêm 50 ngành nghề nữa. · Cải cách chính sách thương mại, chủ yếu là bãi bỏ chế độ giấy phép đối với việc nhập máy móc và hàng trung gian dùng trong sản xuất. Ngoài ra cũng cắt giảm suất thuế quan, từ trung bình 72,5% xuống còn 24,6% (năm 1996/97). Hiện nay, suất thuế quan cao nhất cho các loại hàng phi nông nghiệp là 12,5%. Tuy nhiên thuế suất ở Ấn Độ vẫn còn cao hơn thuế suất trung bình 10% ở Trung Quốc. · Tự do hóa chế độ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư 51% trong mọi ngành công nghiệp, trừ ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, hàng không và cửa hàng bách hóa. Ngoài ra, nhà đầu tư có tổ chức (institutional investors) ở nước ngoài được phép đầu tư vào thị trường chứng khoán Ấn Độ từ 1993. · Xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành viễn thông, góp phần vào sự thành công vượt bậc của công nghiệp tin học Ấn Độ. · Cải cách lãnh vực tài chánh bằng cách bỏ việc các ngân hàng thương mại phải xin phép Ngân Hàng Trung Ương trước khi thực hiện các vụ cho vay lớn. Từ năm 2000, cho phép công ty bảo hiểm tư nhân hoạt động, nhưng phần đầu tư nước ngoài phải dưới 26%. · Trong lãnh vực nông nghiệp không có cải cách nào đáng kể, tuy nhiên các cải cách nói trên đã góp phần giảm tỷ giá so sánh giữa hàng công nghiệp và nông nghiệp, mang lại phần nào lợi ích cho nông dân.

Chủ trương cải cách nói trên phần lớn được tiếp tục thực hiện dưới các chính phủ kế nhiệm, tuy có lúc bị dừng lại hay đảo ngược chút ít. Dưới chính phủ hiện tại của Thủ Tướng Manmohan Singh (từ năm 2004), cuộc cải cách được hâm nóng lại và đẩy mạnh lên. Kinh tế Ấn Độ vì thế đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt tốc độ trung bình 8% một năm trong nửa đầu thập kỷ 2000. Nếu chương trình cải cách này được tiếp tục áp dụng và phát triển thêm một cách liên tục trong thời gian tới, Ấn Độ sẽ có khả năng phát triển mạnh hơn nữa.

4. Cạnh tranh cũng quan trọng không kém. Nền kinh tế không có hoặc kém tính cạnh tranh sẽ không hữu hiệu và năng động để đáp ứng với nhu cầu thay đổi của xã hội. Vì thiếu cạnh tranh nên kinh tế Ấn Độ tăng trưởng chậm cho mãi đến những năm gần đây. Trung Quốc tăng trưởng nhanh hơn nhiều, nhưng cũng vì kém tính cạnh tranh nên bị nhiều lãng phí và kém chất lượng trong quá trình tăng trưởng.

Lãnh vực mà cả Ấn Độ và Trung Quốc đều đã phát triển thành công – công nghệ phần mềm và khoán dịch vụ ở Ấn Độ hay xuất khẩu hàng chế biến ở Trung Quốc – đều đòi hỏi phải có tính cạnh tranh rất cao để đáp ứng đòi hỏi khe khắc của thị trường thế giới. Ngay cả ở Nhật Bản lãnh vực xuất khẩu cũng hữu hiệu hơn nền kinh tế trong nước rất nhiều vì phải cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Nhưng cạnh tranh đây không có nghĩa là cạnh tranh của luật rừng, mạnh được yếu thua. Cạnh tranh phải diễn ra trên cơ sở sân chơi bình đẳng và có luật lệ minh bạch, ít có tình trạng độc quyền. Các nước tư bản phát triển như Mỹ và Liên Hiệp Âu Châu đều có luật lệ và cơ quan chống độc quyền (anti-trust) rất chặt chẽ. Vì thế, tuy ở Âu Châu và một số nước khác vẫn có doanh nghiệp quốc doanh, nhưng chúng hoạt động trong môi trường kinh tế thị trường có cạnh tranh, nên nói chung có hiệu năng hơn các doanh nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc hay Ấn Độ.

5. Phát triển cơ sở hạ tầng và công nghiệp chế biến. Một bài học quan trọng khác là cần phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, bến cảng, hệ thống điện, điện thoại v.v.vì chúng tăng cường khả năng sản xuất và phân phối của nền kinh tế. Trong lãnh vực này, Trung Quốc cũng tiến hơn Ấn Độ rất xa. Thí dụ Trung Quốc đã xây dựng hệ thống đường cho xe ôtô, tổng cộng dài gấp 6 lần so với Ấn Độ (ước tính có khoảng 150,000 dặm). Hệ thống điện thoại dây cố định và di động của Trung Quốc nhiều hơn của Ấn Độ cũng gấp 6 lần.

Cơ sở hạ tầng ở Trung Quốc đã góp phần quan trọng trong việc phát triển công nghiệp chế biến phục vụ cho xuất khẩu và thị trường trong nước. Trong lãnh vực công nghiệp chế biến thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân chiếm phần quan trọng – các doanh nghiệp này sản xuất 52% GDP, và đã là động cơ phát triển ở Trung Quốc. Mặt trái của việc đầu tư một cách đại trà vào các chương trình cơ sở hạ tầng là sự lãng phí và kém hiệu năng của vốn đầu tư. Điều này được thể hiện rõ qua tỷ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio) ở Trung Quốc lên tới 4,5-5, so với khoảng 3,5-4 ở Ấn Độ (tỷ số trung bình ở các nước OECD là 3).

Kinh nghiệm của Ấn Độ thì ngược lại. Tình trạng thiếu thốn và yếu kém của cơ sở hạ tầng đã hạn chế sức phát triển của các doanh nghiệp trong nước và cản trở sự đầu tư trực tiếp của các công ty đa quốc gia.[6] Hai lãnh vực yếu kém nhất là sản xuất và phân phối điện năng, và hệ thống giao thông vận tải.

· Lý do quan trọng nhất làm cho Ấn Độ thiếu điện là chính sách tính tiền điện rẻ cho người tiêu dùng. Vì chủ trương “bao cấp” này, các Cơ Quan Điện Lực Tiểu Bang (State Electricity Boards: SEB) đã lơ là trong việc kiểm soát và thu tiền điện. Do đó, hàng năm tỷ lệ công xuất điện bị thất thoát và mất cấp lên tới 40%. Trong mấy năm gần đây, tuy giá dầu thô lên rất cao, áp lực chính trị khiến cho tiền điện cũng không tăng bao nhiêu. Các SEB vì thế bị lỗ lã trầm trọng, không có khả năng tài chánh để đầu tư tăng công xuất. Kết quả là Ấn Độ bị mất điện thường xuyên (khoảng 12% trong thời gian cao điểm). Thành thử khoảng 61% xí nghiệp ở Ấn Độ phải có máy phát điện riêng để bảo đảm việc cung cấp điện cho sản xuất, so với tỷ lệ 27% ở Trung Quốc. Vì thế, giá điện ở Trung Quốc rẻ hơn ở Ấn Độ khoảng 39%. Tuy chính sách cải cách cho phép doanh nghiệp tư nhân sản xuất điện, họ phải phân phối điện qua hệ thống đường dây điện của các SEB. Các SEB thì tính phí tãi điện rất cao, nên không khuyến khích doanh nghiệp tư nhân sản xuất điện. Thành ra Ấn Độ vẫn thiếu điện. · Hệ thống giao thông vận tãi rất thiếu thốn và yếu kém so với Trung Quốc. Thí dụ như cước vận chuyển hàng hóa ở Ấn Độ cao gấp ba lần ớ Trung Quốc. Vận chuyển hàng xuất khẩu sang Mỹ trung bình mất 6-12 tuần, trong khi Trung Quốc chỉ mất có 2-3 tuần. Các hải cảng ở Ấn Độ mất khoảng 3-5 ngày để bốc dở hàng từ biển, so với thời gian 4-6 giờ ở các hải cảng Singapore hay Hong Kong. Chính phủ Ấn Độ ước tính cần phải đầu tư khoảng 155 tỷ đôla trong 5-10 năm tới để nâng cấp hệ thống phi trường, bến cảng và đường xá. Nhưng khu vực công quyền không có khả năng tài chánh để đầu tư vì vẫn bị thiếu hụt ngân sách năng nề – khoảng 7% GDP. Giới đầu tư trong cũng như ngoài nước thì ngần ngại không dám đầu tư vào các dự án hạ tầng cơ sở vì phí sử dụng do chính phủ tiểu bang quyết định, thường là quá thấp, lại hay bị thay đổi bất chợt.

Sự yếu kém của hạ tầng cơ sở làm cho dịch vụ trở nên quan trọng. Vô hình chung, sự yếu kém của hạ tầng cơ sở phụ họa với chính sách ưu tiên dành việc sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ cho khu vực kinh tế cá thể/hộ gia đình, làm cho khu vực này chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế Ấn Độ (52% GDP, trong khi nông nghiệp chiếm 21% và công nghiệp lẹt đẹt ở mức 27% của GDP trong hơn một thập kỷ qua. Ở Trung Quốc, các thành phần này chiếm tỷ trọng 41%, 13% và 46% GDP). Dịch vụ là khu vực kinh tế mang đậm tính chất sản xuất nhỏ, thủ công, năng xuất thấp, chủ yếu phục vụ nhu cầu địa phương chứ không nhằm tới thị trường cả nước. So với ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ không có khả năng tăng năng xuất nhanh, hay tạo ra nhiều công việc để thu hút số lao động mới hay có thể dôi ra từ nông nghiệp. Đây là lý do chính khiến nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế, và sử dụng rất nhiều lao động, so với các nước trên thế giới. Sự hiện diện của khu vực kinh tế này đã là trở lực lớn cho việc hiện đại hóa nền kinh tế Ấn Độ.

6. Vai trò quan trọng của môi trường pháp lý, luật lệ và hiệu năng của bộ máy hành chánh. Kinh nghiệm của hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đã chứng minh tầm quan trọng của yếu tố này trong tăng trưởng kinh tế, nhất là việc huy động vốn đầu tư trong nước cũng như vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI).

Tuy nhiên môi trường pháp lý ở Trung Quốc đã được cải thiện một phần trong những năm gần đây. Nhiều văn bản pháp luật về tài chành và kinh tế được xây dựng mới từ đầu và ngày càng tiếp cận với thông lệ quốc tế qua việc Trung Quốc phải thực hiện các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do song phương (chủ yếu là với Mỹ và EU) và khi vào WTO. Đặc biệt là cam kết thực hiện cách đối xử quốc gia (tức là bình đẳng) với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài và cải cách doang nghiệp nhà nước để được chứng nhận là nước có nền kinh tế thị trường (theo thỏa thuận song phương với Mỹ, Mỹ có thể công nhận trong năm 2010). Nếu Trung Quốc có thể dần dà xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và có tính cạnh tranh, thì sẽ củng cố đà tăng trưởng kinh tế nhanh trong tương lai.

Kinh nghiệm của Ấn Độ thì ngược lại. Ấn Độ thừa hưởng hệ thống pháp lý “common law” của Anh và đã quen với môi trường kinh doanh có rất nhiều luật lệ thưong mại, giao kèo và tòa án để giải quyết tranh chấp. Vấn đề của Ấn Độ phát xuất từ chính sách kinh tế hướng nội và thay thế nhập khẩu. Chính sách này đã đưa đến nhiều luật lệ nặng nề và nhiêu khê, nhằm hạn chế tới mức tối đa nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, đầu tư lớn của doanh nghiệp tư trong ngước, và bảo hộ lao động. Luật lệ không những phức tạp, ở cấp chính quyền liên bang lẫn cấp tiểu bang, nhưng việc áp dụng lại rất chậm chạp và không nhất thống. Kết quả là hệ thống luật lệ trong môi trường kinh doanh không có hiệu năng. Thí dụ cụ thể là ở Ấn Độ, muốn xin đầy đủ mọi giấy phép để thành lập doanh nghiệp phải mất 89 ngày, trong khi ở Trung Quốc chỉ cần 41 ngày (đây cũng là thời gian trung bình ở châu Á). Thủ tục thanh lý doanh nghiệp phá sản ở Ấn Độ kéo dài đến 10 năm, trong khi ở Trung Quốc “chỉ” tốn có 2,4 năm. Tình trạng này có khuynh hướng ngày càng xấu thêm: hiện nay tổng số các vụ án dân sự và hình sự đang chờ đươc thụ lý tại các tòa án Ấn Độ đã tăng lên quá 30 triệu vụ, so với 20 triệu trong năm 1997.[8] Tình trạng bê trể này đã làm chậm mức tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ, hạn chế khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp FDI, và hạn chế các doanh nghiệp tư trong khu vực công nghiệp hiện đại có thể dễ dàng phát triển và tăng số nhân công công nghiệp. Tuy tiến trình cải cách đã nới rộng và tự do hóa nhiều lãnh vực, cốt lõi của hệ thống luật lệ Ấn Độ rất khó thay đổi hoàn toàn, nhất là luật lệ bảo hộ lao đông, vì nó đã ăn sâu vào nếp sống nếp nghĩ của nhiều người Ấn Độ, cứ cho rằng nó thích hợp với công bằng xã hội hơn. Đây chính là thử thách lớn nhất của Ấn Độ trong việc thúc đẩy cải cách để tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong tương lai.

Vấn đề tham nhũng. Cả hai nước đều giống nhau ở chỗ có hệ thống luật lệ nặng nề và phức tạp, đòi hỏi nhiều giấy phép, nhưng việc áp dụng và chế tài lại lỏng lẻo và không nghiêm túc, tạo nhiều chỗ hở cho viên chức có thể quyết định một cách tùy tiện. Đây là mảnh đất rất béo bở cho hối lộ, tham nhũng và các tệ nạn hối mại quyền thể phát triển mạnh mẽ. Tuy có chế độ chính trị khác nhau, cả hai nước đều xếp hạng thấp (hay là xấu) trong các cuộc thăm dò ý kiến của tổ chức Transparency International về tệ nạn hối lộ và tham nhũng. Trong năm 1995, Trung Quốc được điểm 2,16 trong khi Ấn Độ được 2,8 (dưới điểm 3,0 có nghĩa là ờ nước đó tình trạng tham nhũng lan tràn). Đến năm 2004, Trung Quốc đã cải thiện lên tới điểm 3,4 (xếp hạng 71 trong số 146 nước được khảo sát), trong khi Ấn Độ vẫn giữ điểm 2,8 (xếp thứ 90/146). Tệ nạn tham nhũng đã gây khó khăn, tăng chi phí cho các hoạt động kinh doanh, và đã kiềm hãm sức tăng trưởng của hai nước. Tuy nhiên, có sự khác biệt rất cơ bản trong vấn đề tham nhũng ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Ở Ấn Độ, tham nhũng cơ bản là thuộc tính của tình trạng nghèo và kém phát triển. Khi đã phát triển và giàu có hơn, Ấn Độ đã có sẵn cơ cấu và định chế chính trị, hệ thống pháp luật và xã hội dân sự để kiểm soát tình trạng tham nhũng, hạn chế nó thành một tệ nạn có tính biệt lệ chứ không phổ quát trong xã hội – như tình trạng bình thường ớ các nước đã phát triển. Một cách cụ thể, nhân dân Ấn Độ đã sử dụng quyền bầu cử của mình để thay đổi đảng cầm quyền ở cấp liên bang và tiểu bang, nếu đảng cầm quyền tỏ ra bất lực và tham nhũng quá đáng trong nhiệm kỳ vửa qua. Điều này đã giới hạn phần nào sự lan tràn của tham nhũng. Thứ hai, chế độ sở hữu tài sản của tư nhân đã rõ ràng và ổn định từ lâu đời, vì thế tham nhũng có tính chất “thu phí để cấp giấy phép” chứ không mang tính chất biến tài sản công thành tài sản tư một cách có hệ thống. Sau cùng, hệ thống truyền thông, báo chí ở Ấn Độ tự do nên có thể trở thành hữu hiệu hơn trong việc điều tra và phanh phui các vụ việc tham nhũng cho công luận lên án.

Ở Trung Quốc, tham nhũng chủ yếu phản ánh thời kỳ quá độ từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, chỉ huy và bao cấp thành nền kinh tế thị trường. Xã hội chủ nghĩa tức là tài sản của quốc gia, từ đất đai ở đô thị đến nông thôn, tài nguyên thiên nhiên và các độc quyền kinh tế như bưu điện, viễn thông hay hàng không v.v. đầu thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý, nhưng thực sự là thuộc quyền sử dụng và phân phối của các tổ chức và cá nhân lãnh đạo Đảng/nhà nuớc có quyền quyết định. Cải cách để xây dựng nền kinh tế thị trường có nghĩa là tất cả các tài sản nói trên đều trở thành hàng hóa có giá [nhiều khi rất cao!], và dần dà thuộc sở hữu của các đơn vị kinh tế tập thể hay tư nhân. Thời kỳ quá độ nói trên thực chất là tiến trình tư hữu hóa tài sản công cho các đơn vị kinh tế để họ giao lưu với nhau trong nền kinh tế thị trường. Vấn đề là tư hữu hóa như thế nào, ai quyết đinh sự phân phối, theo tiêu chuẩn gì, và ai được hưởng lợi. Quan trọng hơn cả là quá trình tư hữu hóa đó có được diễn ra một cách công bằng và minh bạch hay không. Một số nước Đông Âu trong thời kỳ bắt đầu cải cách đầu thập kỷ 1990 đã áp dụng chính sách chia phiếu (voucher) cho tất cả mọi công dân để họ mua cổ phần của các quỹ đầu tư – các quỹ này là cổ đông có tổ chức của các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá và tư nhân hóa. Ở Trung Quốc, và các nước tương tự như Trung Quốc, vấn đề tư hữu hóa không được đặt ra và giải quyết một cách nghiêm túc. Vì thế, song song với việc hình thành nền kinh tế hàng hóa thị trường, thực tế đã diễn ra quá trình tư hữu hóa một cách tự phát và vô tổ chức. Tổ chức, đơn vị và cá nhân có quyền đã dần dà biến một phần tài sản công (từ căn hộ trong nhà ở tập thể đến doanh nghiệp nhà nước v.v.) thành tài sản riêng qua nhiều biện pháp, từ chính thức hay không chính thức tính cách tham nhũng. Như thế, ở Trung Quốc tham nhũng đã vượt quá phạm trù đạo đức để trở thành vấn đề chính trị – tham nhũng đang dần dà thay đổi bản chất của chế độ và chỉ được giải quyết trong tiến trình cải cách chính trị của Trung Quốc.[9]

7. Hệ thống tài chánh ngân hàng

Hệ thống tài chánh ngân hàng có chức năng huy động vốn tiết kiệm trong dân chúng và phân phối cho các doanh nghiệp để đầu tư phát triển sản xuất. Hệ thống tài chánh càng hữu hiệu khi nó tạo ra nhiều dịch vụ và sản phẩm tài chánh để huy động vốn tiết kiệm và phân phối cho những dự án đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho xã hội. Xét theo tiêu chuẩn này, hệ thống tài chánh ngân hàng ở Trung Quốc và Ấn Độ có hiệu năng thấp, mặc dù có nhiều điểm khác biệt giữa hai nước.

Ở Trung Quốc, trong quá trình cải cách thành nền kinh tế thị trường, hệ thống an sinh xã hội theo kiểu bao cấp cũ đã bãi bỏ, nhưng hệ thống mới đang bắt đầu hình thành, còn rất sơ khai và thiếu xót. Để dự phòng đối phó với những bất trắc trong tương lai, dân chúng đã tiết kiệm rất nhiều – suất tiết kiệm ở Trung Quốc lên đến trên 51% GDP, thuộc mức cao nhất thế giới. Tuy nhiên hình thức tiết kiệm rất nghèo nàn, chủ yếu là ký gởi vào ngân hàng với lãi suất thấp (vì thế dân càng phải tiết kiệm nhiều hơn!). Hệ thống ngân hàng tuy đã được cải cách thành ngân hàng thương mại, nhưng chủ yếu vẫn là quốc doanh – nó tiếp tục phân phối phần lớn vốn tiết kiệm cho các doanh nghiệp nhà nước theo các tiêu chuẩn chính trị, chứ không nhất thiết theo các tiêu chuẩn kinh doanh tín dụng. Việc đầu tư vốn tiết kiệm của xã hội vì vậy có hiệu năng thấp: lãnh vực doanh nghiệp nhà nước thu hút 35% lượng tín dụng ngân hàng, nhưng chỉ tạo ra 23% GDP .[10] Trong khi đó, lãnh vực doanh nghiệp tư hay có vốn FDI chỉ sử dụng 27% lượng tín dụng ngân hàng, nhưng sản xuất 52% GDP. Lãnh vực này cũng rất năng động, nó tăng trưởng rất nhanh trong hai thập kỷ vừa qua–nhanh hơn lãnh vực quốc doanh rất nhiều. Vốn tiết kiệm của xã hội vì thế đã được sử dụng một cách thiếu hiệu quả. Nó còn có nguy cơ tăng lượng nợ khó đòi và nợ xấu ở các ngân hàng trong tương lai. Hiện nay Trung Quốc đang cố gắng cải cách hệ thống ngân hàng bằng cách mời gọi các ngân hàng lớn trên thế giới đầu tư chiến lược vào 4 ngân hàng thương mại nhà nước, đồng thời tư nhân hóa các ngân hàng này qua việc phát hành cổ phiếu cho công chúng (Initial Public Offerings: IPO). Đến cuối năm 2007, theo lộ trình thực hiện cam kết WTO, lãnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng sẽ được mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài. Lãnh đạo Trung Quốc xem áp lực cạnh tranh của quá trình hội nhập này là biện pháp hữu hiệu để hiện đại hóa hệ thống ngân hàng Trung Quốc.

8. Hệ thống giáo dục

Hệ thống giáo dục rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Trong lãnh vực này, có sự khác biệt quan trọng giữa hai nước.

Ở Ấn Độ, do ảnh hưởng tôn giáo và văn hóa, sự phân biệt nam nữ và đẳng cấp (caste) đã tác hại rất lớn đối với nền giáo dục Ấn Độ. Ở cấp phổ thông cơ sở (từ 6-14 tuổi), trong thập kỷ vửa qua, Ấn Độ tương đối thành công trong việc nâng tỷ lệ trẻ em đi học, từ 60% lên đến 90%. Nhưng đến lớp 8 thì 75% số trẻ em này thôi học, và đến lớp 12 thì 85% không tiếp tục đi học nữa. Lý do chính của tình trạng học ít này là sự phân biệt nam nữ và đẳng cấp -tỷ lệ bỏ học trong trẻ em nữ là 78% so với 48% trong trẻ em nam. Chính phủ Ấn Độ đang tìm cách giải quyết vấn đề này bằng cách tăng tỷ lệ dành riêng cho các trẻ em thuộc đẳng cấp thấp hày các thanh phần bị bạc đãi từ 27% lên 49%.

Đặc điểm của giáo dục Ấn Độ là ưu tiên cho cấp Đại Học: hàng năm, Ấn Độ chi tiêu khoảng 2,500 đôla/sinh viên cho cấp Đại Học, và khoảng 420 đôla/học sinh cho cấp phổ thông (tính theo PPP).[14] Tỷ lệ tương tự của Trung Quốc là 556 và 629 đôla. Như thế, Ấn Độ chi tiêu rất cao cho Đại Học, một cách tuyệt đối và tương đối, so với Trung Quốc và các nước khác ở Á Châu. Do đó, giáo dục đại học của Ấn Độ tương đối thành công – mỗi năm đào tạo khoảng 3 triệu sinh viên tốt nghiệp. Tuy nhiên, giới kinh doanh ở Ấn Độ cũng như ở nước ngoài đặt dấu hỏi về chất lượng và sự thích hợp của các sinh viên này. Theo một điều tra mới đây của NASSCOM/McKinsey, chỉ có 10-15% số sinh viên tốt nghiệp đại học hàng năm là có đủ trình độ và đáp ứng nhu cầu của ngành khoán dịch vụ.[15] Con số 10-15% này tương đương với khoảng 215,000 người , bằng số sinh viên tốt nghiệp hàng năm ở Mỹ, và bằng 1/3 số ở Trung Quốc. Tuy giáo dục đại học hiện nay có khả năng đào tạo những chuyên gia cần thiết, sự yếu kém trong giáo dục phổ thông sẽ hạn chế sự phát triển của Ấn Độ trong tương lai.

Trung Quốc chủ trương xây dựng giáo dục một cách đồng đều hơn. Hàng năm Trung Quốc chi tiêu khoảng 56 tỷ đôla hay 3,2% GDP cho giáo dục, cho khoảng 218 triệu học sinh và 10,6 triệu thày cô giáo. Giáo dục phổ thông cưỡng bách từ nhà trẻ đến lớp 9 – trong năm 2004, có hơn 93% trẻ em học hết lớp 9.[16] Nhưng sau lớp 9 chỉ có 40% trẻ em tiếp tục học – tuy nhiên tỷ lệ này cao gần gấp đôi tỷ lệ ở Ấn Độ. Ngoài ra, có sự mất cân bằng trầm trọng trong tình trạng và chất lượng giáo dục ở vùng duyên hải và các đô thị so với nông thôn. Cũng như Ấn Độ, Trung Quốc cũng gặp vấn đề là chương trình học quá thiên về từ chương và học thuộc lòng nên khó đáp ứng với nhu cầu nền kinh tế ngày càng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tiểu Luận Đào Tạo Luật Và Nghề Luật Ở Trung Quốc Và Nhật Bản Dưới Góc Độ So Sánh trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!