Xu Hướng 12/2022 # Tìm Hiểu Nội Dung Điều 22 Blhs Năm 2022 Về “Phòng Vệ Chính Đáng” – Công An Tỉnh Quảng Bình / 2023 # Top 19 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Tìm Hiểu Nội Dung Điều 22 Blhs Năm 2022 Về “Phòng Vệ Chính Đáng” – Công An Tỉnh Quảng Bình / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Nội Dung Điều 22 Blhs Năm 2022 Về “Phòng Vệ Chính Đáng” – Công An Tỉnh Quảng Bình / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

BLHS năm 2015 quy định những điểm mới trong chế định phòng vệ chính đáng và những dấu hiệu pháp lý của chế định phòng vệ chính đáng.

1. Những điểm mới trong chế định phòng vệ chính đáng quy định trong BLHS năm 2015.

Về nội dung cơ bản quy định phòng vệ chính đáng trong Điều 22 BLHS năm 2015 giống với nội dung quy định phòng vệ chính đáng tại Điều 15 BLHS năm 1999 nhưng có một số điểm mới được bổ sung như sau:

Thứ nhất, BLHS năm 2015 đã đặt việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác  lên trước lợi ích của nhà nước, tổ chức. Điều này phù hợp với tinh thần đề cao quyền tự do của cá nhân con người, bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013. Đồng thời cũng phù hợp với thực tế xảy ra trong thời gian qua khi áp dụng BLHS năm 1999, cho thấy các trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc vụ án về vượt quá giới hạn chính đáng chủ yếu xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của người thân bị xâm phạm, từ đó mới có hành động phòng vệ chính đáng.

Thứ hai, BLHS năm 1999 chỉ quy định: “bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức” và “người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự” thì BLHS năm 2015 đã thêm cụm từ bảo vệ lợi ích: “của cơ quan” và trách nhiệm hình sự của người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được nêu thêm cụm từ: “theo quy định của Bộ luật nà”. Như vậy, quy định mới trong BLHS năm 2015 đã làm rõ thêm nội dung các lợi ích bảo vệ do hành vi phòng vệ chính đáng và phạm vi trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

2. Những dấu hiệu pháp lý của chế định phòng vệ chính đáng

Về dấu hiệu của trường hợp phòng vệ chính đáng, về mặt khoa học cần có các nội dung sau đây:

– Cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng

Một người vì lợi ích chính đáng của mình hay của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước…được quyền hành động khi nguồn nguy hiểm do con người đã và đang gây thiệt hại cho các lợi ích hợp pháp. Các nguồn nguy hiểm khác như gây hại của thú dữ, của súc vật, của thiên nhiên…không coi là cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng.

Quyền phòng vệ chính đáng chỉ phát sinh khi hành vi tấn công trái pháp luật gây thiệt hại đến các lợi ích đang hiện hữu xảy ra và chưa có dấu hiệu dừng lại. Nếu hành vi tấn công xâm hại đã dừng lại trên thực tế thì quyền phòng vệ không còn, bởi gây thiệt hại cho người đã có hành vi tấn công trái pháp luật ở thời điểm này là không cần thiết, không phù hợp với mục đích của phòng vệ chính đáng.

Trường hợp đặc biệt khi hành vi tấn công trái pháp luật tuy chưa xảy ra nhưng chứa đựng nguy cơ xảy ra ngay tức khắc đe dọa các quyền và lợi ích hợp pháp cần bảo vệ cũng làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng. Điều này xuất phát từ mục đích của chế định phòng vệ chính đáng nhằm bảo vệ và ngăn chặn một cách kịp thời có hiệu quả hành vi xâm phạm trái pháp luật, đồng thời, tạo nên sự chủ động cho người phòng vệ nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại.

Hành vi tấn công trái pháp luật có thể gây thiệt hại đến các quyền về nhân thân, quyền sở hữu hay các lợi ích khác của người phòng vệ hay của người khác…Và hành vi tấn công trái pháp luật phải có mức độ nguy hiểm đáng kể mới làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng. Những hành vi xâm hại có tính nhỏ nhặt thì không làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng.

Hành vi tấn công trái pháp luật có thể là hành vi tội phạm nhưng cũng có thể không đủ dấu hiệu là tội phạm. Ví dụ như sự tấn công của người tâm thần, mất trí đang đâm chém người khác.v..v…

Biện pháp chống trả của người phòng vệ đối với người đang có hành vi gây thiệt hại, pháp luật cho phép chống trả trong mọi trường hợp mà không buộc người phòng vệ phải lựa chọn biện pháp phòng vệ nhẹ nhàng nhất và cũng không phải chỉ khi không còn biện pháp nào khác mới được quyền  phòng vệ. Song đối với hành vi gây thiệt hại của trẻ em, người tâm thần, thì xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo mà thực tiễn xét xử chỉ thừa nhận hành vi gây thiệt hại cho các đối tượng này là hành vi phòng vệ chính đáng khi không còn biện pháp nào khác buộc phải gây thiệt hại cho các đối tượng nêu trên. Ví dụ, người tâm thần đang cầm bó đuốc chạy vào kho xăng dầu của Quân Đội, do tính cấp bách, do không thể còn biện pháp khác thì những người nhìn thấy hiện tượng trên đã dùng vũ lực ngăn chặn nguồn nguy hại nên gây thương tích nặng cho người tâm thần. Hành vi ngăn chặn này được coi là hành vi phòng vệ chính đáng.

– Nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng

+ Nội dung của quyền phòng vệ chính đáng:

Hành vi phòng vệ chính đáng chỉ được pháp gây thiệt hại cho chính người đang có hành vi xâm hại các lợi ích hợp pháp. Thiệt hại này có thể là tính mạng, sức khỏe, tài sản của người đang thực hiện hành vi tấn công xâm hại. Thiệt hại về tài sản có thể là thiệt hại về công cụ, phương tiện mà người có hành xâm hại sử dụng.

Hành vi phòng vệ không được phép gây thiệt hại cho người thứ 3. Bởi một trong các mục đích của phòng vệ chính đáng là ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả hành vi đang gây thiệt hại cho các lợi ích hợp pháp, cho nên người phòng vệ phải ngăn chặn chính nguồn nguy hiểm, chính người đang có hành vi xâm hại. Nếu gây hại cho người khác thì không đạt được mục đích này.

+ Phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng, đó là người phòng vệ chỉ được quyền gây thiệt hại cho người có hành vi tấn công trái pháp luật trong giới hạn cần thiết. Gây thiệt hại trong giới hạn cần thiết thì không bị coi là tội phạm. Giới hạn “cần thiết” được hiểu là biện pháp phòng vệ nói chung đủ mức ngăn chặn sự tấn công và bảo vệ được các lợi ích hợp pháp. Giới hạn cần thiết không có nghĩa là hậu quả mà người phòng vệ đã gây ra phải bằng hay tương đương với thiệt hại mà người có hành vi tấn công trái pháp luật định gây ra. Trong lý luận và thực tiễn áp dụng, hậu quả mà người phòng vệ gây ra có thể lớn hơn nhiều lần hậu quả mà người có hành vi xâm hại định gây ra vẫn được coi là phòng vệ chính đáng nếu đánh giá hành vi phòng vệ là cần thiết đủ mạnh để ngăn chặn sự tấn công của pháp luật.

Cơ sở để đánh giá hành vi phòng vệ trong giới hạn cần thiết hay vượt quá giới hạn cần thiết phải đánh giá tổng hợp qua nhiều căn cứ, cơ sở khác nhau, mà trước hết cần xem xét đến tính chất tầm quan trọng của quan hệ xã hội bị gây thiệt hại, tính chất, mức độ nguy hiểm mà hành vi tấn công xâm hại (đánh giá thông qua loại công cụ, phương tiện, biện pháp tấn công…), hậu quả nguy hiểm mà hành vi tấn công có khả năng gây ra…Về phía người phòng vệ; người phòng vệ đã sử dụng công cụ phương tiện, cách thức phòng vệ như thế nào; tương quan lực lượng giữa bên phòng vệ và những người có hành vi tấn công trái pháp luật.v..v….

Việc đánh giá “giới hạn cần thiết” trong phòng vệ chính đáng chỉ là tương đối. Vì vậy, nếu gây thiệt hại rõ ràng vượt quá giới hạn cần thiết thì người phòng vệ vượt quá phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng được giảm nhẹ TNHS. Những trường hợp người có hành vi phòng vệ vượt quá không rõ ràng thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

Quang Thắng

Tìm Hiểu Nội Dung Điều 158 Blhs Năm 2022 (Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2022) Về “Tội Xâm Phạm Chổ Ở Của Người Khác” – Công An Tỉnh Quảng Bình / 2023

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác là hành vi cố ý xâm phạm chỗ ở của người khác trái pháp luật.

* Hành vi phạm tội này xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của con người, của công dân là quyền dân sự cơ bản của con người, của công dân đã được Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định tại Điều 22.

Để xâm phạm khách thể này người phạm tội thực hiện hành vi tác động đến đối tượng tác động của tội phạm là chỗ ở của hợp pháp của người khác, chỗ ở này có thể là nơi ở thường xuyên lâu dài hoặc tạm trú, có thể là nơi ở cố định hoặc di động thuộc sở hữu của họ hoặc cũng có thể là do họ thuê, mượn.

* Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

Động cơ và mục đích phạm tội của người thực hiện hành vi phạm tội này rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.

* Hành vi khách quan của tội phạm này được thực hiện qua hành động thể hiện dưới dạng hành vi sau:

– Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác: Đây là hành vi khám xét, lục soát chỗ ở của người khác để tìm người, đồ vật, tang chứng của hành động phạm pháp mà không được sự đồng ý của họ và trái với các quy định của pháp luật như hành vi của người không có thẩm quyền trong việc khám chỗ ở của người khác đã tự ý vào và khám xét chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của họ hoặc hành vi của người có thẩm quyền trong việc khám xét chỗ ở của người khác nhưng đã khám xét chỗ ở của người khác không chấp hành đúng căn cứ, thẩm quyền và thủ tục khám xét chỗ ở đã được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định tại các Điều 192, 193, 195.

– Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ: Đây là hành vi của người phạm tội buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở của họ mà không phải là cưỡng chế thi hành quyết định hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền. Người phạm tội thực hiện hành vi bằng các thủ đoạn như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ;

– Xâm phạm trái pháp luật chỗ ở của người khác.

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác có cấu thành tội phạm hình thức, tội phạm hoàn thành ngay từ khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi nêu trên. Tuy nhiên, cũng cần đánh giá những hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác có mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội mới bị coi là tội phạm, những trường hợp hành vi có tính chất mức độ nguy hiểm không đáng kể thì được xử lý bằng các biện pháp khác. (khoản 4 Điều 8 BLHS năm 2015).

So sánh hành vi khách quan của tội xâm phạm chỗ ở của người khác được mô tả tại Điều 158 BLHS năm 2015 với hành vi khách quan của tội này được mô tả tại Điều 124 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 cho thấy:

– Hành vi khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác và hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ được giữ nguyên;

– Hành vi xâm phạm chỗ ở trái pháp luật khác được cụ thể hóa thành 2 dạng hành vi sau:

Thứ nhất: Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ. Người phạm tội dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở được vào chỗ ở của họ. Loại hành vi tội phạm này được bổ sung trên cơ sở tổng kết thực tiễn xét xử về tội này trong những năm qua.

Thứ hai: Xâm phạm trái pháp luật chỗ ở của người khác. Người phạm tội tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp, tức là tự ý vào chỗ ở của người khác mà không được người đó đồng ý. Đây là hành vi mới được bổ sung quy định là tội phạm thể hiện đúng tinh thần và cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 nhằm bào vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, là quyền dân sự cơ bản của con người, của công dân. Nếu người phạm tội thực hiện hành vi tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác để thực hiện tội phạm như giết người hoặc trộm cắp tài sản. Trong trường hợp này người phạm tội có thể phải chịu TNHS về tội xâm phạm chỗ ở của người khác và tội giết người hoặc tội trộm cắp tài sản theo nguyên tắc phạm nhiều tội.

Nội dung những sửa đổi, bổ sung các hành vi khách quan của tội xâm phạm chỗ ở của người khác là nâng cao tính minh bạch, khả thi, tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử được chính xác và không bỏ lọt tội phạm.

* Chủ thể của tội phạm này là chủ thể thường tức là người đạt độ tuổi theo quy định và có năng lực TNHS. Trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì bị xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 158 BLHS năm 2015.

Điều 158 BLHS năm 2015 quy định 2 khung hình phạt:

– Khung 1. (khung cơ bản) Có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm;

– Khung 1. (khung tăng nặng) Có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm áp dụng cho trường hợp phạm tội sau:

+ Có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm được quy định trong khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Người phạm tội này còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ;

c) Dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở được vào chỗ ở của họ;

d) Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Quang Thắng

Tìm Hiểu Nội Dung Thay Đổi Điều 260 Blhs Năm 2022 (Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2022) Về “Tội Vi Phạm Quy Định Về Tham Gia Giao Thông Đường Bộ” So Với Điều 202 Blhs Năm 1999. – Công An Tỉnh Quảng Bình / 2023

Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông trong khi tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác.

So với Điều 202 BLHS năm 1999 thì Điều 260 BLHS năm 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung như: Sửa tội danh “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại Điều 202 BLHS năm 1999 thành “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại Điều 260 BLHS năm 2015. Việc sửa tội danh này nhằm mở rộng phạm vi xử lý các hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, không chỉ là hành vi vi phạm của người điều khiển phương tiện giao thong mà cả người đi bộ; Giữ lại tình tiết “Không có giấy phép lái xe theo quy định” bỏ tình tiết “Không có bằng lái xe theo quy định”; Bỏ cụm từ “đang làm nhiệm vụ” trong tình tiết “không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông”.

– Khách thể của tội phạm này là trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Phương tiện giao thông đường bộ Người phạm tội này đã có hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Để xác định hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ, trước hết phải xác định thế nào là người tham gia giao thông đường bộ. Điều 202 BLHS năm 1999 chỉ quy định hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nên phạm vi xác định hành vi vi phạm có hẹp hơn, nay quy định hanh vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nên phạm vi xác định hành vi vi phạm rộng hơn, kể cả người không điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cũng vi phạm, bao gồm cả người điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ.

Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ là không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định an toàn giao thông đường bộ. Ví dụ: Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải (khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ).

Như vậy, việc xác định hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ không chỉ căn cứ vào các quy định của BLHS mà phải căn cứ vào các quy định tại Luật Giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.

Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tai sản.

Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 mà bị truy cứu TNHS về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm đó như tội vô ý làm chết người quy định tại Điều 128 BLHS năm 2015, tội vo ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính quy định tại Điều 129 BLHS năm 2015 hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người quy định tại Điều 295 BLHS năm 2015.

Một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm như: địa điểm (nơi vi phạm là nơi dành cho giao thông đường bộ)…Việc xác định các dấu hiệu khách quan này là rất quan trọng, là dấu hiệu để phân biệt giữa tội này với các tội vi phạm an toàn giao thông khác.

Luật Giao thông đường bộ quy định “đường bộ” gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ. Còn “phương tiện giao thông đường bộ” gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sợ đường bộ. “Phương tiện tham gia giao thông đường bộ” gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng. “Xe máy chuyên dùng” gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ.

Đối với “Phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, nói chung không khó xác định. Tuy nhiên, đối với xe máy chuyên dùng, việc xác định có phải là phương tiện tham gia giao thông hay không, có nhiều trường hợp phức tạp. Ví dụ: Một chiếc máy ủi đang thi công trên một đoạn đường thì chiếc máy ủi này có tham gia giao thông không hay chỉ là phương tiện thi công bình thường? Thực tiễn xét xử cho thấy, nếu chiếc máy ủi này đang thi công thì không coi là tham gia giao thông, nhưng nếu chiếc máy ủi này di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác hoặc từ nơi tập kết xe máy đến công trường thì được coi là tham gia giao thông.

So với khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999 không có các tình tiết định khung hình phạt thì khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 đã có các tình tiết định khung hình phạt cụ thể: a) Làm chết người; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng…

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Nếu hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ mà chưa gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì chưa cấu thành tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 260 BLHS năm 2015.

Thiệt hại cho tính mạng là làm người khác bị chết; Thiệt hại cho sức khỏe hoặc tài sản của người khác coi là làm cho người khác bị thương hoặc làm cho tài sản của người khác bị mất mát hư hỏng.

– Chủ thể của tội phạm: Chỉ những người tham gia giao thông đường bộ mới là chủ thể của tội phạm này và đạt độ tuổi từ 16 trở lên có năng lực TNHS.

So với BLHS năm 1999 thì chủ thể không chỉ còn là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà mở rộng ra là người tham gia giao thông đường bộ. Đây là thay đổi khác biệt của lần sửa đổi này so với Điều 202 BLHS năm 1999.

Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ.

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển xe cơ giói, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

– Mặt chủ qun của tội phạm: Người phạm tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ thực hiện hành vi là do lỗi vô ý.

– Hình phạt:

+ Khung 1: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. So với khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999 thì quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 mức phạt tăng hơn: Mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng (trước đây là 5.000.000 đồng); mức phạt tù từ 01 năm (trước đây là 6 tháng).

+ Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều 260 BLHS năm 2015 bỏ tình tiết “Không có bằng lái xe theo quy định” tại điểm khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999, nhằm thống nhất với quy định tại Điều 59 Luật giao thông đường bộ.

Đối với một số phương tiện giao thông, theo quy định thì người điều khiển phải có giấy phép lái xe thì mới điều khiển. Nếu người điều khiển các phương tiện này không có giấy phép lái xe, nhưng vẫn điều khiển mà vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ và gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bị truy cứu TNHS theo điểm a khoản 2 của Điều luật.

Giấy phép lái xe có giá trị sử dụng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và lãnh thổ của nước hoặc vùng lãnh thổ mà Việt Nam ký cam kết công nhận giấy phép lái xe của nhau.

Không có giấy phép lái xe theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 là một trong những trường hợp sau đây: Điều khiển phương tiện giao thông không có giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với loại phương tiện đang điều khiển đó mà theo quy định của pháp luật, khi điều khiển loại phương tiện đó phải có giấy phép lái xe phù hợp; Điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị tước quyền sử dụng giấy phép lái do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với loại phương tiện đang điều khiển mà theo quy định của pháp luật, khi điều khiển loại phương tiện đó phải có giấy phép lái xe phù hợp; Điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều khiển loại phương tiện đó.

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

Đây là trường hợp vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản mà người phạm tội sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác.

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm (là trường hợp người phạm tội do vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản, nhưng sau đó đã bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm.) hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn (là trường hợp người phạm tội do vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác nhưng đã cố ý không cứu giúp người bị nạn).

Bỏ chạy vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an gần nhất; cung cấp thông tin chính xác thực về vụ tai nạn cho cơ quan có thẩm quyền thì không phải là để trốn tránh trách nhiệm. Vì vậy, khi xác định tình tiết phạm tội này cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét một cách toàn diện đầy đủ, không chỉ căn cứ vào hành vi bỏ chạy của người phạm tội mà phải xác định xem vì sao họ phải bỏ chạy và sau đó họ có trốn tránh trách nhiệm không.

Cố ý không cứu giúp là có điều kiện cứu mà không cứu, đã có yêu cầu của người khác nhưng vẫn không cứu giúp. Hành vi cố ý không cứu giúp không nhất thiết phải dẫn đến hậu quả là người bị nạn chết hoặc bị tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe. Nếu không phải là người đã gây ra tai nạn mà cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng quy định tại Điều 132 BLHS năm 2015.

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thong.

Điểm d khoản 2 Điều 260 BLHS đã bỏ tình tiết “đang làm nhiệm vụ” so với điểm d khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999 mà không ảnh hưởng đến tinh thần của điều luật. Đây là trường hợp người tham gia giao thông đường bộ đã không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông, nên đã gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe hoặc tài sản của người khác. Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông được coi là một hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ.

So với điểm đ khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999 chỉ nêu tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng”  thì đến khoản 2 (điểm đ, e, g, h) Điều 260 BLHS năm 2015 cụ thể hóa thành các tình tiết định khung hình phạt cụ thể: đ) Làm chết 02 người; e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

So với khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999 với khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 thì không nặng hơn và cũng không nhẹ hơn.

+ Khung 3: Người phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 260 BLHS năm 2015, thì có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Trong khoản 3 của Điều 202 BLHS năm 1999 chỉ quy định một trường hợp phạm tội, đó là: “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Khoản 3 củ Điều 260 BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa thành các tình tiết định khung hình phạt, cụ thể: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

So với khoản 3 Điều 202 BLHS năm 1999 với khoản 3 Điều 260 BLHS năm 2015 thì không nặng hơn và cũng không nhẹ hơn.

+ Khung 4: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Đây là cấu thành giảm nhẹ và cũng là cấu thành khá đặc biệt đối với tội phạm này mà thực tế rất ít xảy ra.

So với khoản 4 Điều 202 BLHS năm 199 thì khoản 4 Điều 260 BLHS năm 2015 đã bỏ tình tiết dẫn đến “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” mà thay vào đó tình tiết dẫn đến “hậu quả tại một trong các điểm a, b, c và khoản 3 điều này”.

+ Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Quang Thắng

Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Đấu Giá Tài Sản Năm 2022 – Công An Tỉnh Quảng Bình / 2023

Cổng TTĐT Công an Quảng Bình xin giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Đấu giá tài sản năm 2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Luật Đấu giá tài sản gồm 08 chương, 81 điều, cụ thể như sau:

Những quy định chung (Chương I)

1.1. Về phạm vi điều chỉnh

Theo quy định tại Điều 1, phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu giá tài sản bao gồm nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản; đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản; thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản; xử lý vi phạm, hủy kết quả đấu giá tài sản, bồi thường thiệt hại; quản lý nhà nước về đấu giá tài sản.

Theo đó, Luật Đấu giá tài sản quy định tài sản bán đấu giá bao gồm tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá và tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, Luật liệt kê cụ thể các loại tài sản này trên cơ sở rà soát quy định tại pháp luật chuyên ngành nhằm bảo đảm công khai, minh bạch, làm cơ sở cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đấu giá tài sản khi bán đấu giá các loại tài sản đó. Đồng thời, để đảm bảo tính thống nhất, ổn định lâu dài, Luật Đấu giá tài sản có quy định mở trong trường hợp pháp luật chuyên ngành sau này có quy định tài sản phải bán thông qua đấu giá thì cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.

1.2. Về nguyên tắc đấu giá

Nguyên tắc đấu giá tài sản được quy định tại Điều 6, với các nội dung cụ thể sau:

– Tuân thủ quy định của pháp luật;

– Bảo đảm tính độc lập, trung thực, công khai, minh bạch, công bằng, khách quan;

– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên;

– Cuộc đấu giá phải do đấu giá viên điều hành, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện.

1.3. Về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá ngay tình

Luật Đấu giá tài sản khẳng định quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá và người mua được tài sản đấu giá ngay tình. Theo đó, để tăng cường cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích của người có tài sản, người mua tài sản bán đấu giá, Luật quy định trường hợp có người thứ ba tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá thì quyền sở hữu vẫn thuộc về người mua được tài sản đấu giá ngay tình. Việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá, khiếu nại, khởi kiện về hiệu lực pháp lý của cuộc đấu giá thành, việc hủy kết quả đấu giá tài sản quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 72 của Luật này được thực hiện theo thủ tục rút gọn của pháp luật tố tụng dân sự (Điều 7).

1.4. Về giá khởi điểm, giám định tài sản đấu giá

Luật quy định giá khởi điểm của tài sản đấu giá được xác định tại thời điểm trước khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản hoặc trước khi thành lập Hội đồng đấu giá tài sản hoặc trước khi tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng tự đấu giá (Điều 8). Giá khởi điểm của tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá được xác định theo quy định của pháp luật áp dụng đối với loại tài sản đó. Giá khởi điểm của tài sản thuộc sở hữu cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá thì do người có tài sản đấu giá tự xác định hoặc ủy quyền cho tổ chức đấu giá tài sản hoặc cá nhân, tổ chức khác xác định.

Luật quy định tài sản đấu giá được giám định theo quy định của pháp luật hoặc khi có yêu cầu của người tham gia đấu giá và được sự đồng ý của người có tài sản đấu giá. Trình tự, thủ tục giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật áp dụng đối với tài sản đó. Trong trường hợp giám định theo yêu cầu thì người yêu cầu thanh toán chi phí giám định.

1.5. Về các hành vi bị nghiêm cấm

Để đề cao trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, người có tài sản, người tham gia đấu giá, qua đó góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động đấu giá tài sản, Luật Đấu giá tài sản quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, cá nhân, tổ chức khác tại Điều 9 của Luật, cụ thể:

Đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản (Chương II)

2.1. Đấu giá viên (Mục 1)

 2.1.1. Về tiêu chuẩn đấu giá viên, đào tạo nghề đấu giá, tập sự hành nghề đấu giá

Tại Điều 10 của Luật quy định người đủ tiêu chuẩn để trở thành đấu giá viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học thuộc một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng; tốt nghiệp khóa đào tạo nghề đấu giá quy định tại Điều 11 của Luật này, trừ trường hợp được miễn đào tạo nghề đấu giá quy định tại Điều 12 của Luật này; đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ đấu giá viên và tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Luật đấu giá tài sản quy định theo hướng người có đủ tiêu chuẩn theo quy định và có thời gian làm việc trong lĩnh vực được đào tạo từ 03 năm trở lên, muốn trở thành đấu gia viên  phải tham gia khóa đào tạo nghề đấu giá với thời gian là 06 tháng; tập sự hành nghề đấu giá trong thời gian 06 tháng và đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá. Luật Đấu giá tài sản cũng đã thu hẹp đối tượng được miễn đào tạo nghề đấu giá, theo đó chỉ những người đã là luật sư, công chứng viên, thừa phát lại, quản tài viên, trọng tài viên có thời gian hành nghề từ 02 năm trở lên; người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên mới được miễn đào tạo.

2.1.2. Về việc cấp, thu hồi, cấp lại Chứng chỉ hành nghề đấu giá

Trên cơ sở quán triệt chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ công tác quản lý nhà nước, các điều 14, 16, 17 của Luật quy định cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi, cấp lại Chứng chỉ hành nghề đấu giá. Đồng thời, để minh bạch hóa các quy định về cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá viên, Điều 15 của Luật quy định những trường hợp không được cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá.

Luật quy định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá; trong trường hợp từ chối phải thông báo lý do bằng văn bản. Người bị từ chối cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.

2.1.3. Về hình thức hành nghề của đấu giá viên

Luật quy định đấu giá viên hành nghề tại doanh nghiệp đấu giá tài sản bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp đồng lao động tại doanh nghiệp đấu giá tài sản hoặc hành nghề tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc hành nghề tại tổ chức mà Nhà nước sử dụng sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng. Mỗi đấu giá viên chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một doanh nghiệp đấu giá tài sản hoặc ký hợp đồng lao động với một doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 18).

2.1.4. Quyền, nghĩa vụ và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên

Để nâng cao trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên, Điều 19 của Luật quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của đấu giá viên bao gồm: hành nghề trên toàn lãnh thổ Việt Nam; trực tiếp điều hành cuộc đấu giá; truất quyền tham gia cuộc đấu giá của người tham gia đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 9 của Luật này; dừng cuộc đấu giá khi phát hiện có hành vi thông đồng, dìm giá hoặc gây rối, mất trật tự tại cuộc đấu giá và thông báo cho tổ chức đấu giá tài sản; điều hành cuộc đấu giá theo hợp đồng giữa hội đồng đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản nơi đấu giá viên hành nghề trong trường hợp cuộc đấu giá do hội đồng thực hiện hoặc tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng trong trường hợp tổ chức đấu giá; hướng dẫn, giám sát việc tập sự của người tập sự hành nghề đấu giá; các quyền khác của pháp luật; tuân thủ nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản quy định tại Luật này; tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp đấu giá viên; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tổ chức đấu giá tài sản về cuộc đấu giá do mình thực hiện; chịu trách nhiệm về các công việc do người tập sự hành nghề đấu giá mà mình hướng dẫn thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 13 của Luật này; tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định tại Điều 20 của Luật này và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Luật quy định tổ chức đấu giá tài sản, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho đấu giá viên của tổ chức mình (Điều 20).

2.2. Tổ chức đấu giá tài sản (Mục 2)

Theo đó, Luật quy định đối với doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp phải là đấu giá viên, đồng thời là giám đốc doanh nghiệp. Đối với công ty hợp danh thì phải có ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên, tổng giám đốc hoặc giám đốc của công ty hợp danh là đấu giá viên; doanh nghiệp đấu giá tài sản phải có trụ sở, cơ sở vật chất, các trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho hoạt động đấu giá tài sản.

Ngoài ra, Luật Đấu giá tài sản còn quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức đấu giá tài sản (Điều 24); đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 25); thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, cấp lại Giấy đăng ký hoạt động, cung cấp thông tin về nội dung, công bố nội dung đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản (các điều 26, 27, 28); quy định về chi nhánh và văn phòng đại diện của doanh nghiệp đấu giá tài sản (các điều 29, 30); chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 31, 32).

Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản (Chương III)

3.1. Về hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản

3.2. Về niêm yết việc đấu giá tài sản

Niêm yết, thông báo công khai việc đấu giá tài sản là một thủ tục quan trọng trong trình tự, thủ tục bán đấu giá nhằm đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan của hoạt động đấu giá tài sản và đảm bảo có nhiều người có nhu cầu mua tài sản đấu giá nắm được thông tin về tài sản để có thể bán được tài sản với giá cao nhất thông qua đấu giá tài sản. Do vậy, Điều 35 của Luật quy định thời gian niêm yết, ít nhất là 07 ngày làm việc đối với tài sản là động sản, 15 ngày trước ngày mở cuộc đấu giá đối với tài sản là bất động sản, đồng thời quy định rõ những thông tin chính cần phải niêm yết, thông báo công khai.

3.3.Về xem tài sản đấu giá, địa điểm đấu giá

Luật quy định cuộc đấu giá được tổ chức tại trụ sở của tổ chức đấu giá tài sản, nơi có tài sản đấu giá hoặc địa điểm khác theo thỏa thuận của người có tài sản đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 37).

3.4. Về đăng ký tham gia đấu giá

Bên cạnh đó, để đảm bảo tính khách quan trong việc đấu giá, hạn chế những trường hợp thông đồng giữa người tham gia đấu giá và đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá, Luật còn quy định cụ thể những trường hợp không được đăng ký tham gia đấu giá như: người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người tại thời điểm đăng ký tham gia đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; người làm việc trong tổ chức đấu giá tài sản thực hiện cuộc đấu giá; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá; người trực tiếp giám định, định giá tài sản; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của người trực tiếp giám định, định giá tài sản; người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền xử lý tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản, người ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền xử lý tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản, người ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật; người không có quyền mua tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật áp dụng đối với loại tài sản đó.

3.5. Tiền đặt trước và xử lý tiền đặt trước

Nhằm hạn chế những đối tượng không thực sự có nhu cầu mua nhưng vẫn tham gia đấu giá nhằm mục đích trục lợi, gây khó khăn cho cuộc đấu giá, Điều 39 của Luật Đấu giá tài sản quy định người tham gia đấu giá tài sản phải nộp tiền đặt trước tối thiểu là 5% và tối đa là 20% giá khởi điểm của tài sản đấu giá. Tiền đặt trước được nộp vào tài khoản thanh toán riêng của tổ chức đấu giá tài sản được mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, trường hợp khoản tiền đặt trước có giá trị dưới 5 triệu đồng thì người tham gia đấu giá có thể nộp trực tiếp cho tổ chức đấu giá. Các bên có thể thỏa thuận thay thế nộp tiền đặt trước bằng bảo lãnh ngân hàng.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia đấu giá, Luật quy định tổ chức đấu giá chỉ được thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá trong thời hạn 03 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá, trừ trường hợp tổ chức đấu giá tài sản và người tham gia đấu giá có thỏa thuận khác nhưng phải trước ngày mở cuộc đấu giá. Tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm trả lại khoản tiền đặt trước và thanh toán tiền lãi (nếu có) trong trường hợp người tham gia đấu giá không trúng đấu giá trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá hoặc trong thời hạn khác do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.

Để đảm bảo cuộc bán đấu giá được khách quan, minh bạch, Luật quy định những trường hợp không được nhận lại tiền đặt trước như: đã nộp tiền đặt trước nhưng không tham gia cuộc đấu giá, buổi công bố giá mà không  thuộc trường hợp bất khả kháng; bị truất quyền tham gia đấu giá; từ chối ký biên bản đấu giá; rút lại giá đã trả hoặc giá đã chấp nhận; từ chối kết quả trúng đấu giá.

3.6. Hình thức đấu giá, phương thức đấu giá

Nhằm minh bạch hóa, công khai hóa quá trình đấu giá tài sản, khắc phục tình trạng những người tham gia đấu giá liên kết với nhau để thông đồng, dìm giá và tình trạng người tham gia đấu giá bị tác động, khống chế khi trả giá, ngoài hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói như quy định của pháp luật hiện hành, Điều 40 của Luật quy định các hình thức đấu giá bao gồm: đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá; đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá; đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp; đấu giá trực tuyến. Quy định này tạo cơ chế linh hoạt, phù hợp với bán đấu giá tài sản của tổ chức, cá nhân tự nguyện xử lý tài sản của mình bằng hình thức đấu giá. Ngoài ra, Luật quy định phương thức bán đấu giá gồm phương thức trả giá lên và phương thức đặt giá xuống.

Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể nội dung của phương thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá (Điều 41), đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá (Điều 42), đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp (Điều 43).

3.7. Biên bản đấu giá, chuyển hồ sơ cuộc đấu giá

Về biên bản đấu giá tài sản, Luật quy định diễn biến của cuộc đấu giá tài sản phải được ghi vào biên bản đấu giá, được lập tại cuộc đấu giá và có chữ ký của đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá, người ghi biên bản, người trúng đấu giá, người có tài sản đấu giá, đại diện của những người tham gia đấu giá. Trong trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện thì biên bản đấu giá còn phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng. Biên bản đấu giá được đóng dấu của tổ chức đấu giá tài sản hoặc đóng dấu của người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng đấu giá tài sản trong trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện (Điều 44).

Luật quy định tổ chức đấu giá tài sản phải ghi kết quả đấu giá tài sản vào Sổ đăng ký đấu giá tài sản và thông báo bằng văn bản cho người có tài sản đấu giá trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá. Trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện thì trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá, Hội đồng thông báo kết quả đấu giá tài sản bằng văn bản cho người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng. Tổ chức đấu giá tài sản hoặc Hội đồng đấu giá tài sản chuyển kết quả đấu giá tài sản, biên bản đấu giá và danh sách người trúng đấu giá cho người có tài sản đấu giá trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá (Điều 45).

3.8. Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, phê duyệt kết quả đấu giá tài sản

3.9. Quyền và nghĩa vụ của người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá

Để đảm bảo quyền lợi của người có tài sản đấu giá, Điều 47 của Luật quy định rõ người có tài sản đấu giá có các quyền sau: giám sát quá trình tổ chức thực hiện việc đấu giá; tham dự cuộc đấu giá; yêu cầu tổ chức đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá hoặc yêu cầu đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá dừng cuộc đấu giá hoặc đơn phương chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật về dân sự, các quyền khác theo quy định của pháp luật

3.10. Trường hợp đấu giá tài sản chỉ có một người đăng kí tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá

Luật quy định trong trường hợp đấu giá tài sản theo phương thức trả giá lên, khi đã hết hạn đăng ký tham gia mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham gia cuộc đấu giá, hoặc có nhiều người tham gia cuộc đấu giá nhưng chỉ có một người trả giá, hoặc có nhiều người trả giá nhưng chỉ có một người trả giá cao nhất và ít nhất bằng giá khởi điểm thì tài sản được bán cho người đó nếu người có tài sản đấu giá đồng ý bằng văn bản. Trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham gia cuộc đấu giá và chấp nhận giá khởi điểm hoặc chấp nhận mức giá sau khi đã giảm thì tài sản được bán cho người đó nếu người có tài sản đấu giá đồng ý bằng văn bản.

3.11. Rút lại giá đã trả, giá đã chấp nhận, từ chối kết quả trúng đấu giá

Luật quy định tại cuộc đấu giá thực hiện bằng phương thức trả giá lên theo hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói hoặc đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá, nếu người trả giá cao nhất rút lại giá đã trả trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người trả giá liền kề trước đó. Tại buổi công bố giá đã trả của người tham gia đấu giá trong trường hợp đấu giá theo hình thức bỏ phiếu gián tiếp, nếu người đã trả giá cáo nhất rút lại giá đã trả trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người trả giá liền kề. Đấu giá viên quyết định hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói hoặc đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp. Trong trường hợp cuộc đấu giá thực hiện theo phương thức đặt giá xuống, người chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm mà rút lại giá đã chấp nhận trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người xin rút đó (Điều 50).

Luật quy định trong trường hợp đấu giá theo phương thức trả lên, sau khi đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá đã công bố người trúng đấu giá mà tại cuộc đấu giá người này từ chối kết quả trúng đấu giá thì người trả giá liền kề là người trúng đấu giá, nếu giá liền kề đó cộng với khoản tiền đặt trước ít nhất bằng giá đã trả của người từ chối kết quả trúng đấu giá và người trả giá liền kề chấp nhận mua tài sản đấu giá. Trường hợp giá liền kề cộng với khoản tiền đặt trước nhỏ hơn giá đã trả của người từ chối kết quả trúng đấu giá hoặc người trả giá liền kề không chấp nhận mua tài sản đấu giá thì cuộc đấu giá không thành. Trường hợp cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức đặt giá xuống, sau khi đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá công bố người trúng đấu giá mà tại cuộc đấu giá người trúng đấu giá từ chối kết quả trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người từ chối kết quả trúng đấu giá. Trường hợp không có người đấu giá tiếp thì cuộc đấu giá không thành.

3.12. Đấu giá không thành

Điều 52 của Luật quy định các trường hợp đấu giá không thành bao gồm: đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá; tại cuộc đấu giá không có người trả giá hoặc không có người chấp nhận giá; giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp không công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên; người trúng đấu giá từ chối ký biên bản bán đấu giá theo quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này; người đã trả giá rút lại giá đã trả, người đã chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận theo quy định tại Điều 50 của Luật này mà không có người trả giá tiếp; trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá theo quy định tại Điều 51 của Luật này; đã hết thời hạn đăng ký mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá trong trường hợp tài sản quy định tại Điều 59 của Luật này.

3.13. Đấu giá theo thủ tục rút gọn

Bên cạnh trình tự, thủ tục chung, Điều 53 của Luật quy định trình tự, thủ tục bán đấu giá rút gọn để tạo điều kiện xử lý nhanh, phù hợp với thực tiễn đối với một số trường hợp đặc thù sau đây: đấu giá tài sản thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu mà giá khởi điểm của tất cả tài sản đấu giá trong một cuộc đấu giá dưới 50 triệu đồng hoặc đấu giá lại trong trường hợp đã đấu giá lần thứ hai nhưng vẫn không thành hoặc đấu giá tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Bên cạnh đó, Luật quy định thời gian niêm yết tài sản ít nhất là 03 ngày làm việc đối với tài sản là động sản và 05 ngày làm việc đối với tài sản là bất động sản trước ngày mở cuộc đấu giá; tổ chức bán hồ sơ tham gia đấu giá, tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá trong giờ hành chính, liên tục kể từ khi niêm yết việc đấu giá tài sản cho đến trước ngày mở cuộc đấu giá 01 ngày.

Đấu giá tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá (Chương IV)

Việc đấu giá các tài sản mà pháp luật quy định phải đấu giá nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản như tài sản để thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tài sản bảo đảm, tài sản nhà nước. Đối với các loại tài sản này, ngoài các quy định về trình tự, thủ tục chung, việc bán đấu giá còn phải tuân theo các quy định khác, cụ thể:

4.1. Một số quy định chung (Mục 1)

Pháp luật hiện hành về bán đấu giá tài sản chưa có quy định về tiêu chí, cách thức lựa chọn tổ chức đấu giá để thực hiện việc bán đấu giá tài sản. Do đó, trong thực tế, việc lựa chọn tổ chức đấu giá hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người có tài sản dẫn tới hiện tượng có doanh nghiệp “sân sau” trong hoạt động bán đấu giá. Từ thực tế đó, Điều 56 của Luật Đấu giá tài sản quy định về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản như sau: người có tài sản đấu giá thông báo công khai về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản trên trang thông tin điện tử của mình và trang thông tin điện tử chuyên ngành về đấu giá tài sản một số nội dung chính, như: tên, địa chỉ của người có tài sản đấu giá; tên, tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản đấu giá; giá khởi điểm của tài sản đấu giá; tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản; thời gian, thời điểm nộp hồ sơ đăng ký tham gia tổ chức đấu giá.

Về tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, Luật quy định bao gồm: cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho việc đấu giá đối với loại tài sản đấu giá; phương án đấu giá khả thi, hiệu quả; năng lực, kinh nghiệm và uy tín của tổ chức đấu giá tài sản; thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản phù hợp; có tên trong danh sách các tổ chức đấu giá tài sản do Bộ Tư pháp công bố và các tiêu chí khác phù hợp với tài sản đấu giá do người có tài sản đấu giá quyết định.

Ngoài ra, Luật còn quy định việc thông báo công khai việc đấu giá tài sản (Điều 57); công khai giá khởi điểm, phương thức đấu giá (Điều 58); tài  sản đấu giá trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá (Điều 59).

4.2. Về Hội đồng đấu giá tài sản (Mục 2)

Quyền và nghĩa vụ của chủ tịch, thành viên Hội đồng được thực hiện theo quy định của Luật đấu giá tài sản nhằm đảm bảo thực hiện việc đấu giá công khai, khách quan, minh bạch.

4.3. Đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu (Mục 3)

Luật hóa các quy định của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, Điều 64 của Luật Đấu giá tài sản quy định tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng chỉ được đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 của Luật này. Trong trường hợp nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được bán đấu giá thì tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản hoặc tự đấu giá tài sản theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Đấu giá tài sản.

Thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản (Chương V)

Xử lý vi phạm, hủy kết quả đấu giá tài sản, bồi thường thiệt hại (Chương VII)

6.1. Về xử lý vi phạm

6.2. Về hủy kết quả đấu giá và hậu quả pháp lý

Xuất phát từ kết quả bán đấu giá được hình thành dựa trên hợp đồng dịch vụ bán đấu giá, hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng dân sự được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật về dân sự, Luật quy định các trường hợp hủy kết quả đấu giá tài sản (Điều 72). Theo đó, Luật cũng quy định hậu quả pháp lý khi hủy kết quả đấu giá tài sản trong trường hợp theo quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 72 của Luật thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 73).

6.3. Về việc giải quyết tranh chấp; khiếu nại, khởi kiện về việc đấu giá tài sản của Hội đồng đấu giá tài sản; tố cáo về hoạt động đấu giá tài sản

Đối với việc tố cáo về hoạt động đấu giá tài sản, công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm quy định về hoạt động đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật. Việc giải quyết tố cáo trong hoạt động đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo (Điều 76).

Quản lý nhà nước về đấu giá tài sản (Chương VII)

Luật đấu giá tài sản quy định Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đấu giá tài sản (Điều 77); trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp trong công tác quản lý nhà nước về đấu giá tài sản, trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc hướng dẫn về chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá tài sản (Điều 78); trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về đấu giá tài sản tại địa phương; giao Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về đấu giá tài sản, trong đó Sở Tư pháp có nhiệm vụ mới là thực hiện việc đăng ký hoạt động cho các doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 79).

Điều khoản thi hành (Chương VIII)

Luật đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017, riêng khoản 4 Điều 80 của Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017./.

Tiêu Dao

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Nội Dung Điều 22 Blhs Năm 2022 Về “Phòng Vệ Chính Đáng” – Công An Tỉnh Quảng Bình / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!