Xu Hướng 3/2024 # Tổ Chức Kỷ Niệm 74 Năm Ngày Luật Sư Việt Nam Và 29 Năm Thành Lập Đoàn Luật Sư An Giang # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tổ Chức Kỷ Niệm 74 Năm Ngày Luật Sư Việt Nam Và 29 Năm Thành Lập Đoàn Luật Sư An Giang được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tổ chức kỷ niệm 74 năm ngày Luật sư Việt Nam và 29 năm thành lập Đoàn Luật sư An Giang

18/10/2024

 Thực hiện Công văn số 357/LD9LSVN ngày 03/9/2024 của Liên Đoàn Luật sư Việt Nam về việc triển khai các hoạt động hướng tới kỷ niệm 74 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam và Kế hoạch số 04/KH-ĐLS ngày 15/9/2024 của Đoàn Luật sư tỉnh An Giang tổ chức hoạt động kỷ niệm 74 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam ngày 10/10/2024 và hưởng ứng ngày pháp luật 09/11/2024. Ngày 12/9/2024, Đoàn Luật sư tỉnh An Giang tổ chức Lễ kỷ niệm 74 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam và 29 năm ngày thành lập Đoàn Luật sư tỉnh An Giang.

 

Đến dự Lễ ông Võ Hồng Sơn, Trưởng khoa Hình sự Học viện Tư pháp; ông Trần Công Lập, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh An Giang; Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư; Các đ/c là lãnh đạo của Sở Tư pháp; đại diện lãnh đạo các Sở, ngành trong tỉnh, đại diện báo, đài truyền hình An Giang và hơn 70 luật sư đến tham dự.

Tại Lễ kỷ niệm được nghe ông Phan Văn Sáu, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư ôn lại lịch sử truyền thống Luật sư Việt Nam và 29 năm ngày thành lập Đoàn Luật sư tỉnh An Giang.

 

Để chào mừng kỷ niệm 74 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam và 29 năm ngày thành lập Đoàn Luật sư tỉnh An Giang, Đoàn Luật sư tỉnh An Giang tổ chức nhiều phong trào chào mừng ngày truyền thống Luật sư Việt Nam như: Tổ chức Lễ kỷ niệm 74 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam; Xây dựng kế hoạch phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý tổ chức trợ giúp miễn phí tại điểm của 02 huyện miền núi Tịnh Biên, Tri Tôn; tặng quà cho học sinh nghèo; tặng quà lưu niệm cho các Luật sư lớn tuổi có tâm huyết, có công đóng góp lâu dài cho nghề Luật sư từ khi thành lập Đoàn Luật sư tỉnh An Giang đến nay; tại trụ sở các Tổ chức hành nghề luật sư thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí từ ngày 03/10 đến ngày 10/10/2024 và treo băng rôn “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” chào mừng kỷ niệm ngày 10/10 ngày truyền thống Luật sư Việt Nam…

Bên cạnh đó, các luật sư trẻ mới vào nghề cũng phát biểu tâm tư nguyện vọng của mình khi tham gia tổ chức hoạt động hành nghề luật sư tại địa phương, để tiếp nối truyền thống tốt đẹp của Luật sư Việt Nam nói chung, Đoàn Luật sư tỉnh An Giang nói riêng, luật sư An Giang luôn nỗ lực nghiên cứu, trau dồi nghiệp vụ, nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn; xây dựng đoàn kết nội bộ, tuân thủ pháp luật, các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư trong hoạt động hành nghề cũng như giao tiếp xã hội, nhằm nâng cao uy tín, thanh danh của Luật sư, góp phần xây dựng Đoàn Luật sư ngày càng phát triển vững mạnh.

Tại buổi Lễ, ông Trần Công Lập, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh An Giang gửi lời chức mừng đến Đoàn Luật sư và toàn thể Luật sư tỉnh An Giang nhân ngày 74 năm ngày truyền thống Luật sư Việt Nam và 29 năm thành lập Đoàn Luật sư tỉnh An Giang. Qua đây, ông Trần Công Lập tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của luật sư tỉnh An Giang trong việc góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế của cả nước nói chung cũng như của tỉnh ta nói riêng. Trong những năm qua, thông qua hoạt động nghề nghiệp của mình, giới luật sư đã giúp cho cộng đồng xã hội nhận thức rõ hơn về vai trò của pháp luật trong đời sống, thấy được tầm quan trọng của hoạt động luật sư trong đời sống pháp luật của người dân trên địa bàn tỉnh, giúp cho các chủ thể pháp luật hình thành thói quen “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Ông hy vọng và mong muốn Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh An Giang tiếp tục phát huy tích cực những mặt đã làm được và phối hợp thường xuyên, chặt chẽ hơn với Sở Tư pháp tỉnh để công tác quản lý nhà nước đối với tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ như:

– Tiếp tục thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại hội nghị sơ kết việc thực hiện Đề án “Phát triển tổ chức hành nghề luật sư từ năm 2010 đến năm 2024 trên địa bàn tỉnh An Giang” được phê duyệt bởi Quyết định số 2174/QĐ-UBND ngày 23/11/2010 của UBND tỉnh An Giang.

– Quan tâm đến công tác bồi dưỡng kiến thức pháp lý hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện cho đội ngũ luật sư tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật do Sở tổ chức.

– Nâng cao vai trò trách nhiệm của Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư trong công tác quản lý đối với luật sư, nhất là việc xử lý kịp thời khi luật sư có dấu hiệu vi phạm. Thực hiện nghiêm túc quy định về đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; phối hợp với thanh tra Sở Tư pháp thanh tra, kiểm tra các tổ chức hành nghề luật sư theo kế hoạch đã đề ra. 

– Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, hoạt động của Đoàn Luật sư để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi cho luật sư; giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư; huy động, tập hợp trí tuệ của đông đảo luật sư tham gia vào các hoạt động xã hội nói chung và các sự kiện pháp lý nói riêng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hành nghề luật sư tỉnh An Giang trong thời gian tới theo tinh thần chỉ đạo tại Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2024./.

THỦY TRÚC

Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội Tổ Chức Kỷ Niệm 72 Năm Ngày Thương Binh Liệt Sỹ (27.7.1947

Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội tổ chức kỷ niệm 72 năm ngày thương binh liệt sỹ (27.7.1947 – 27.7.2024)

Ngày 27/7/2024 tại trụ sở Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, Hội cựu chiến binh luật sư Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 72 năm Ngày thương binh, liệt sĩ (27.7.1947 – 27.7.2024)

Đến dự lễ kỷ niệm có đồng chí Lê Đức Bính, Bí thư Đảng ủy, đồng chí Nguyễn Văn Chiến, đại biểu Quốc Hội khóa 14, Phó Chủ tịch Liên đoàn luật sư Việt Nam, Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, các thành viên Ban chủ nhiệm, đại diện Đoàn thanh niên, Hội luật gia và đông đảo luật sư cựu chiến binh thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

Mở đầu chương trình là chương trình văn nghệ tri ân các anh hùng liệt sỹ, các thương binh, thân nhân liệt sỹ với các ca khúc do các luật sư thể hiện. Các ca khúc là lời ngợi ca công lao của các bậc cách mạng tiền bối, các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh quên mình vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Thay mặt Đảng ủy, đồng chí Lê Đức Bính phát biểu gửi đến các đồng chí thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng lời thăm hỏi ân cần, những tình cảm sâu nặng và lòng biết ơn sâu sắc. “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” là đạo lý truyền thống nghìn đời của dân tộc ta. Thấm nhuần đạo lý tốt đẹp đó và thấu hiểu sâu sắc giá trị của sự hy sinh, cống hiến to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh đối với đất nước, Đoàn luật sư tổ chức hoạt động kỷ niệm và tri ân đối với các anh hùng liệt sĩ, những người có công với cách mạng nhân ngày 27.7.

Đồng chí Nguyễn Văn Chiến, chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội phát biểu trân trọng các thân nhân liệt sỹ, con thương binh đã cống hiến vì độc lập, tự do của tổ quốc. Đây cũng là dịp để tưởng nhớ, tôn vinh và tri ân công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng.

Buổi lễ kỷ niệm kết thúc trong những lời ca Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Hoạt động tri ân gia đình liệt sỹ, thương binh là một trong những hoạt động của Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo

Kỷ Niệm 86 Năm Ngày Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam 3

Đại hội XII của Đảng diễn ra tại thủ đô Hà Nội từ ngày 20 đến 28-1-2024 đã “thành công rất tốt đẹp” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trong diễn văn bế mạc. Cùng với đổi mới về nhân sự tham gia Ban Chấp hành T.Ư và Bộ Chính trị, thì Nghị quyết (NQ) của Đại hội cũng có nhiều điểm mới.

Về kết cấu, NQ Đại hội XII gồm 6 phần: (1) Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011-2024) và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2024-2024 nêu trong Báo cáo Chính trị, Báo cáo KT-XH của Ban Chấp hành T.Ư Đảng khoá XI trình Đại hội; (2) thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành T.Ư Đảng khoá XI trình Đại hội XII; (3) thông qua Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng khoá XI; đồng ý không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành; (4) thông qua Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 khoá XI; (5) thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành T.Ư Đảng khoá XII; (6) trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện. (NQ Đại hội XI của Đảng có thêm 2 phần: Thông qua dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011); Thông qua dự thảo Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2024).

Về nội dung, nhìn tổng quát thì NQ Đại hội XII kế thừa và tiếp tục khẳng định những tư tưởng cơ bản mà Đảng ta đã xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, NQ Đại hội XI và các NQ của Đảng ta trong giai đoạn đổi mới hiện nay.

NQ Đại hội XII nhận định “tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt”. Nước ta đã tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nên sẽ “hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Thời cơ, vận hội phát triển mở ra rộng lớn”. Đây là những điểm mới (so với NQ Đại hội XI) khi nhận định về tình hình những năm tới.

Từ đó, NQ Đại hội XII xác định mục tiêu tổng quát: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ XHCN. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”.

So với NQ Đại hội XI, mục tiêu tổng quát trong NQ Đại hội XII bổ sung, nhấn mạnh các thành tố, nhiệm vụ: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”, “Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh”, “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN”. Điểm mới nữa là NQ Đại hội XII tuy vẫn kiên trì mục tiêu “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, nhưng không xác định mốc thời gian “đến năm 2024” như NQ Đại hội XI xác định.

NQ Đại hội XII cũng đề ra các chỉ tiêu cụ thể cần đạt được trong nhiệm kỳ như NQ các đại hội trước. Đáng chú ý là các chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm tới đạt 6,5 đến 7%/năm (NQ Đại hội XI là từ 7,0-7,5%/năm); đến năm 2024, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200-3.500 USD (NQ Đại hội XI: Đến năm 2024 đạt 2.000 USD).

Về nhiệm vụ, NQ Đại hội XII yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo Chính trị và Báo cáo KT-XH, trong đó cần tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm (NQ Đại hội XI có 7 nhiệm vụ trọng tâm). So với NQ Đại hội XI, NQ Đại hội XII nhấn mạnh các nhiệm vụ trọng tâm: Trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cần “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; “Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Trong phát triển KTXH: “Cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chú trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công”. Trong đảm bảo QP-AN và đối ngoại: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

Ngọc Hà

Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Thành Lập Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (15

Sau thất bại nặng nề trong âm mưu phá hoại Hiệp định Genève, chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam thành pháo đài chống cộng bất khả xâm phạm, đánh dấu bằng sự bùng nổ Phong trào Đồng khởi của nhân dân trên toàn miền Nam và sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) vào 20-12-1960, Hoa Kỳ vẫn không từ bỏ tham vọng của mình và tiếp tục tìm kiếm chiến lược quân sự mới để đối phó.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thăm hỏi Quân Giải phóng miền Nam. (Ảnh tư liệu)

Chính thức nhậm chức tại Nhà Trắng từ 20-1-1961, Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy đã thay thế chiến lược Trả đũa ồ ạt của Eisenhower bằng chiến lược Phản ứng linh hoạt. Chiến lược quân sự toàn cầu mới này gồm 3 loại hình là Chiến tranh tổng lực, Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh đặc biệt. Ngày 28-1-1961, kế hoạch ứng dụng chiến lược Chiến tranh đặc biệt tại miền Nam Việt Nam đã được Chính phủ Hoa Kỳ thông qua.

Mục đích của chiến lược Chiến tranh đặc biệt là chống lại chiến tranh du kích, chiến tranh giải phóng ở miền Nam bằng sự phối hợp toàn diện các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế và tâm lý thông qua lực lượng chính quyền, quân đội của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) kết hợp với sự huấn luyện, cố vấn, chỉ huy và trang bị kỹ thuật, vũ khí, phương tiện chiến tranh do Hoa Kỳ viện trợ.

Biện pháp chủ yếu của chiến lược Chiến tranh đặc biệt là mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá nhằm gom dân vào 16.000 “ấp chiến lược” trên tổng số 17.000 thôn ấp ở miền Nam để “tát nước bắt cá”, coi đó là “quốc sách”, là “xương sống” của chiến lược; đồng thời dùng quân chủ lực của VNCH dưới sự yểm trợ của các đơn vị máy bay, xe tăng Hoa Kỳ sử dụng các chiến thuật tân kỳ như “trực thăng vận”, “thiết xa vận” tiến hành các cuộc hành quân để tiêu hao, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, đẩy cộng sản ra khỏi lãnh thổ Nam Việt Nam.

Nhằm kịp thời đối phó với chiến lược quân sự mới của Hoa Kỳ, đồng thời tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng miền Nam tiến lên, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (BCHTW Đảng) ngày 23-1-1961 đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam (gọi tắt là Cục R) thay thế Xứ ủy Nam Bộ, là một bộ phận của BCHTW Đảng, để chỉ đạo trực tiếp ở miền Nam.

Đặc biệt, Chỉ thị ngày 31-1-1961 và Nghị quyết đầu tháng 2-1961 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ quân sự trong 5 năm 1961-1965 và phương hướng nhiệm vụ của cách mạng miền Nam (sau đó được Nghị quyết của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12-1962 bổ sung thêm) đã chủ trương chuyển từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên thành chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền, đồng thời đề ra những biện pháp chiến lược hết sức quan trọng, bao gồm:

– Duy trì và đẩy mạnh đấu tranh chính trị cả ở nông thôn và thành thị, đẩy mạnh đấu tranh quân sự lên ngang tầm với đấu tranh chính trị để kịp thời giáng trả các cuộc phản kích của địch, giữ vững thế trận ở vùng nông thôn.

– Đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng, cả lực lượng tại chỗ và các khối cơ động; đồng thời củng cố một số căn cứ địa, xây dựng hậu phương tại chỗ tạo địa bàn đứng chân vững chắc cho các khối chủ lực.

– Phát triển chiến tranh du kích, đánh phá những nơi xung yếu như kho tàng, sân bay, bến cảng, các trục giao thông huyết mạch; tăng cường hoạt động chiến đấu của lực lượng chủ lực, nâng cao trình độ tác chiến tập trung.

– Vận dụng phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị phù hợp đặc điểm của ba vùng chiến lược: vùng rừng núi lấy đấu tranh quân sự là chính, vùng nông thôn đồng bằng coi trọng cả đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ngang nhau, vùng thành thị thì đẩy mạnh đấu tranh chính trị; kết hợp 3 mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận; tập trung mũi nhọn vào nhiệm vụ chống càn quét để làm phá sản chương trình lập “ấp chiến lược” của địch.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và quyết định của Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục miền Nam đã tổ chức Hội nghị quân sự tại Chiến khu Đ vào ngày 15-2-1961 để thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam. Kết quả là lực lượng Giải phóng quân miền Nam Việt Nam, gọi tắt là Quân Giải phóng miền Nam (QGPMN) được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam, bao gồm lực lượng ở lại không đi tập kết, lực lượng mới tham gia tại chỗ và lực lượng đi tập kết đã quay lại miền Nam hoạt động.

Đại đội súng cối 82 ly của du kích-Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. (Ảnh tư liệu)

Về mặt quân sự, QGPMN là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN), chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ trên xuống của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân ủy và Bộ Tư lệnh QGPMN, Quân khu ủy và các Bộ Tư lệnh QGPMN ở các quân khu, Đảng ủy quân sự và Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố tại miền Nam. Vì thế, lực lượng bộ đội từ miền Bắc tăng cường vào Nam chiến đấu, kể từ năm 1963, nghiễm nhiên cũng là bộ đội thuộc biên chế QGPMN, chứ không phân biệt quân đội hai miền Nam-Bắc như quan điểm của Hoa Kỳ và VNCH.

Về mặt chính trị, QGPMN là lực lượng vũ trang của MTDTGPMNVN giai đoạn 1961-1969 và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) giai đoạn 1969-1976; vì vậy, QGPMN chịu sự lãnh đạo tối cao từ trên xuống của Bộ Chính trị, BCHTW của Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam của Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam (thành lập vào ngày 1-1-1962), MTDTGPMNVN và CPCMLTCHMNVN.

Kể từ khi thành lập, lực lượng QGPMN không ngừng lớn mạnh và trưởng thành về nhiều mặt. Ngay trong năm 1961, Trung ương đã giúp xây dựng được 12 tiểu đoàn cho cả Khu V và Nam Bộ. Ngoài lực lượng và trang bị tại chỗ, sự chi viện của miền Bắc là nguồn bổ sung rất quan trọng cho sức mạnh của QGPMN. Chẳng hạn, năm 1963 có trên 40.000 cán bộ, chiến sĩ và 1.430 tấn vũ khí từ miền Bắc được đưa vào miền Nam; năm 1964 con số đó là 17.427 cán bộ, chiến sĩ và 3.435 tấn vũ khí (Lê Duẩn-Tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 297 và 314). Theo một số liệu thống kê, bộ đội chủ lực của QGPMN vào tháng 12-1974 khoảng 290.000 người, trong đó có chừng 90.000 người miền Nam.

Trong quá trình chiến đấu, QGPMN đã làm nên nhiều trận đánh nổi tiếng, phối hợp mặt trận đấu tranh chính trị giành được những thắng lợi quyết định, góp phần to lớn cùng cả nước đánh bại lần lượt các chiến lược quân sự then chốt của Hoa Kỳ và VNCH: Chiến tranh đặc biệt (1961-1965), Chiến tranh cục bộ (1965-1968), Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1973); buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương ngày 27-1-1973, rồi tiến lên đánh bại hoàn toàn chế độ VNCH, giải phóng miền Nam vào 30-4-1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sau kỳ họp thứ nhất của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất (24-6-1976 – 3-7-1976), cùng với sự hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước, lực lượng quân đội cũng đi đến thống nhất dưới tên chung là QĐNDVN. Từ đây, tên gọi QGPMN đã trở thành quá khứ, song vẫn luôn còn đó lịch sử của 15 năm đấu tranh đầy hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng anh dũng của lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam (1961-1976).

QGPMN đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của dân tộc giao phó, xứng đáng với 7 chữ vàng “Giải phóng quân anh dũng chiến thắng” được in trên lá quân kỳ do MTDTGPMNVN trao tặng ngay từ ngày thành lập. Hình ảnh hiên ngang, bất khuất, kiên cường của các chiến sĩ QGPMN mãi mãi in sâu vào văn chương, thơ ca, nhạc họa và là tượng đài trong tâm trí của nhân dân Việt Nam, trong sự ngưỡng mộ của nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý.

Kỷ Niệm 11 Năm Thành Lập Luật Sư Riêng Group Và Ra Mắt Dự Án Phim “Luật Sư Kiến Vàng”

Dưới góc độ tìm hiểu pháp luật, luật pháp luôn khô khan và cứng rắn, những người tuyên truyền pháp luật khó có thể tạo ra những không gian gần gũi; mà thường giải thích bằng văn bản một cách dài dòng, khó hiểu. Dưới sự tò mò của trẻ thơ, Pháp luật là một thứ rất xa vời, không bao giờ là thực tế và sẽ không phải là thứ mà những đứa trẻ tìm hiểu, sự khám phá luôn là không có giới hạn, những câu hỏi luôn được đặt ra cho cha mẹ, thầy cô nhưng sự giải đáp thì không tạo hứng thú cho trẻ nghe hoặc có đôi khi là những câu trả lời đại khái, qua loa của người lớn.

Luật sư Đinh Xuân Hồng (phải) – Nhà sáng lập Luật sư riêng Group và diễn viên – đạo diễn Hoàng Công Đạt trong buổi kỷ niệm 11 năm của công ty.

Phim là một chuỗi các sự việc thường nhật, những trò chơi hàng ngày, những nghịch phá của các bạn nhỏ và cả những hành động đáng khen thưởng được nhìn dưới lăng kính hài hước dí dỏm, kèm theo đó là sự lồng ghép khéo léo, tự nhiên các quy định pháp luật. Nhân vật xuyên suốt là những bạn nhỏ và Luật Sư Kiến Vàng – người sẽ đứng ra cùng trò chuyện cùng với Cha mẹ và các bạn nhỏ, tư vấn về kiến thức pháp luật để áp dụng vào cuộc sống, cách bảo vệ bản thân và xử lý các tình huống bất ngờ.

Luật sư Đinh Xuân Hồng cùng các diễn viên trong dự án sitcom “Luật sư kiến vàng”

Với vai trò là người phát triển ý tưởng, đầu tư và Chịu trách nhiệm nội dung, Luật sư Đinh Xuân Hồng – Chủ tịch Công ty Luật Sư Riêng cho hay “Cũng là phụ huynh, quan sát thấy các con mình đang tìm hiểu, học tập và xem gì nên mong muốn làm những bộ phim này đóng góp vào kho phim giáo dục mà con cái đang xem, may mắn là được các cháu đón nhận và thích thú. Còn về mặt chuyên môn, dù không phải là nhà sản xuất phim chuyên nghiệp nhưng những tập phim được sản xuất luôn phải đảm bảo được sự vui tươi, gần gũi, tính tuyên truyền pháp luật, tính giáo dục và cách đối nhân xử thế trong từng tập phim”.

Một số hình ảnh tại sự kiện kỷ niệm 11 năm thành lập của Luật sư riêng Group.

Với kế hoạch mỗi năm có sản xuất trên 100 tập mỗi thể loại: Phim hoạt hình phiên bản 2D, Phim hoạt hình phiên bản 3D và phim Sitcom (phim hài kịch tình huống) được xem là dự án có quy mô. Được giới chuyên gia pháp lý đánh giá cao tính tuyên truyền pháp luật, mang giá trị nhân văn sâu sắc để giúp cho trẻ em và gia đình hiểu hơn về pháp luật.

Luật sư Hồng còn cho biết thêm, hướng đến sẽ phối hợp với các đài truyền hình nhằm chia sẻ quyền phát sóng phim để lan tỏa rộng khắp và in thành truyện tranh để có thể mang tận tay cho các trẻ em ở những nơi điều kiện khó khăn.

Ngọc Mai tổng hợp.

Kỷ Niệm 110 Năm Ngày Sinh Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ

Sáng 10-7, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng nhiều lãnh đạo các bộ, ngành trung ương và địa phương đã cùng đến thị trấn Bến Lức, Long An để dâng hương, dự lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh luật sư, nguyên quyền Chủ tịch nước, nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ.

Trong khuôn viên khu lưu niệm Nguyễn Hữu Thọ nằm gần căn nhà xưa nơi ông được sinh ra, những người tham dự lễ kỷ niệm cùng xem phim, nghe Bí thư Tỉnh ủy Long An Phạm Văn Rạnh đọc diễn văn tưởng niệm.

Ông Nguyễn Hữu Thọ, bí danh Ba Nghĩa, sinh ngày 10-7-1910 trong một gia đình công chức trung lưu tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn, nay thuộc thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, Long An.

Sau thời gian học tại Trường tiểu học Long Mỹ, huyện Long Mỹ, Rạch Giá (huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ngày nay), Nguyễn Hữu Thọ được gia đình cho sang Pháp học vào năm 1921.

Năm 1932, ông tốt nghiệp cử nhân luật hạng ưu. Năm 1939, ông tiếp tục thi đỗ kỳ sát hạch của luật sư đoàn và bắt đầu mở văn phòng luật tại nhiều địa phương như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sài Gòn – Chợ Lớn.

Chứng kiến nhiều phiên tòa dựng nên để kết tội nhiều chiến sĩ ra sức đấu tranh để bảo vệ quê hương, luật sư Nguyễn Hữu Thọ bắt đầu tham gia vào phong trào cách mạng.

Từ năm 1947, ông tham gia nhiều hoạt động trong các phong trào yêu nước ở miền Nam, được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1949 và lãnh đạo nhiều cuộc biểu tình chống thực dân Pháp và trở thành mục tiêu nhà cầm quyền nhắm tới để đàn áp thời bấy giờ.

Ông từng bị bắt giữ, lưu đày tại nhiều vùng hiểm trở xa xôi từ Mường Tè (Lai Châu), Củng Sơn (Phú Yên)…

Tại Đại hội lần thứ nhất Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tháng 2-1962, ông được bầu làm chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tháng 6-1969, ông được cử làm chủ tịch hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Tháng 4-1980, ông giữ quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Năm 1981, ông là phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam (1980-1992), chủ tịch Quốc hội Việt Nam khóa VII và chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1988-1994).

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là người có nhiều đóng góp quan trọng vào việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng, ông là người chỉ đạo và trực tiếp tham gia xây dựng Hiến pháp năm 1992, thực hiện nhiều đổi mới trong hoạt động của bộ máy nhà nước, Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổ Chức Kỷ Niệm 74 Năm Ngày Luật Sư Việt Nam Và 29 Năm Thành Lập Đoàn Luật Sư An Giang trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!