Xu Hướng 2/2023 # Tội Đe Dọa Giết Người Theo Quy Định Mới Của Bộ Luật Hình Sự # Top 5 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tội Đe Dọa Giết Người Theo Quy Định Mới Của Bộ Luật Hình Sự # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Tội Đe Dọa Giết Người Theo Quy Định Mới Của Bộ Luật Hình Sự được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

– Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

+ Đối với người dưới 16 tuổi;

+ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

PHÂN TÍCH ĐIỀU 133 VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI:

Căn cứ quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS), thì đe dọa giết người bị coi là tội phạm là hành vi đe dọa giết người mà hành vi đó có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

Người bị coi là phạm tội là người có hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi này có thể là lời đe dọa với những hình thức khác nhau qua điện thoại, thư từ…hoặc có thể là những cử chỉ, việc làm cụ thể gián tiếp thể hiện sự đe dọa như đi tìm công cụ, phương tiện…

Hành vi đe dọa phải gây ra cho người bị đe dọa tâm lý lo sợ một cách có căn cứ là hành vi giết người sẽ xảy ra. Hành vi đe dọa giết người chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó đã làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Như vậy, trường hợp một người nhiều lần nhắn tin, đe dọa người khác để đòi tiền chỉ có thể bị coi là phạm tội đe dọa giết người nếu nội dung của tin nhắn có việc dọa giết, đồng thời nội dung và phương thức nhắn tin phải làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

Hành vi đe dọa giết người sẽ không cấu thành tội này khi hành vi đó cùng với những mục đích nhất định cấu thành tội khác. Ví dụ: Đe dọa giết người nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản cấu thành tội cướp tài sản.

Để đánh giá người bị đe dọa có phải ở trong tình trạng tâm lý như vậy hay không cần phải dựa vào những tình tiết sau: Nội dung và hình thức đe dọa; thời gian, địa điểm cũng như hoàn cảnh cụ thể khi hành vi đe dọa xảy ra; tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa; thái độ và những xử sự cụ thể của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa…

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra sự lo sợ cho người khác, có thể dẫn đến hậu quả như lời đe dọa nhưng vẫn thực hiện hành vi đó.

Tội phạm này xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng. Tội đe dọa giết người được coi là tội phạm ít nghiệm trọng, do đó khung hình phạt cơ bản của tội này có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; phạt từ từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết tăng nặng như: Đe dọa giết nhiều người; đe dọa giết người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của họ; đe dọa giết trẻ em; đe dọa giết người để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội khác thì bị coi là tội phạm nghiêm trọng, bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Người phạm tội có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Tuy nhiên, người chưa thành niên phạm tội này có thể được miễn trách nhiệm hình sự đối với tội này, nếu gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

Thế Nào Là Tội Đe Dọa Giết Người Theo Bộ Luật Hình Sự 2022

Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015 về Tội đe dọa giết người được quy định như sau:

Thế nào là tội đe dọa giết người doạ giết người.

Thứ nhất: Các yếu tố cấu thành tội đe dọa giết người:

Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:

+ Có hành vi làm cho người bị đe doạ biết được khả năng tính mạng của họ sẽ bị xâm phạm (bị giết chết).

Ví dụ: Đe doạ người khác nhiều lần bằng lời nói là sẽ giết chết họ.

Hành vi này được thể hiện bằng trực tiếp (như bằng lời nói trước mặt, nói trực tiếp với người bị đe doạ) hoặc bằng gián tiếp (như qua thư, qua điện thoại hoặc nhắn qua người khác).

+ Có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện.

Vấn đề xác định có hay không có căn cứ cho rằng người đe doạ có khả năng sẽ hành động thực sự trên thực tế là rất khó xác định và cần phải xét một cách toàn diện trên các mặt sau:

– Phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi đe doạ.

– Nguyên nhân của việc xảy ra hành vi đe doạ, mâu thuẫn giữa người có hành vi đe doạ với người bị đe doạ.

– Trạng thái tâm lý, xử sự của người bị đe doạ sau khi bị đe doạ.

– Số lần đe doạ và khả năng thực hiện các hành vi đó của người đe doạ.

Lưu ý: Người có hành vi đe doạ giết người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu xác định được căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ thực sự là việc đe doạ hoàn toàn có khả năng sẽ được thực hiện, đây là dấu hiệu bắt buộc của tội này.

+ Dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa tội đe doạ giết người (phạm tội chưa đạt) với tội giết người ở giai đoạn chuẩn bị là sự công khai hoặc không công khai hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của người khác, cả hai tội nêu trên tội phạm đều chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi giết người.

Tuy nhiên, ở tội đe doạ giết người thì người phạm tội cố ý để cho người bị hại hoặc người khác biết và tin rằng người đó sẽ thực hiện đe doạ giết. Còn ở trường hợp giết người chưa đạt (Điều 123), thông thường người phạm tội thực hiện việc chuẩn bị phạm tội một cách lén lút, bí mật. Mặt khác, mục đích đe dọa của tội này khác với mục đích giết người của tội giết người.

Khách thể:

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công dân.

Mặt chủ quan:

Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

Trường hợp đe doạ giết người mà có động cơ mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị đe doạ thì không cấu thành tội này. Trong trường hợp này người có hành vi đe doạ giết người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản.

Chủ thể:

Chủ thể của tội đe doạ giết người là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ hai: về hình phạt.

Mức hình phạt đối với tội phạm này được chia thành hai khung, cụ thể như sau:

a) Khung một (khoản 1)

Có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Được áp dụng trong trường hợp có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan.

b) Khung hai (khoản 2)

Có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Được áp dụng trong trường hợp phạm tội đe doạ giết người thuộc một trong các trường hợp sau:

– Đối với nhiều người (từ hai người trở lên)

– Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (xem giải thích tương tự ở tội giết người).

– Đối với trẻ em (tức là người dưới mười sáu tuổi)

– Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác (Tội phạm khác là tội phạm mà người phạm tội đã thực hiện hoặc đang thực hiện).

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

Trả lời:

Gửi bạn, Luật Hoàng Phi rất vui khi được hỗ trợ pháp lý, giải đáp những khó khăn bạn gặp phải về pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Thứ nhất, về câu hỏi: anh X có bị phạt tù không?

Phạt tù là hình phạt chỉ có trong pháp luật hình sự, tức là áp dụng với tội phạm được bộ luật hình sự quy định. Do đó, để trả lời cho câu hỏi: anh X có bị phạt tù hay không?, chúng tôi sẽ làm rõ hành vi của anh X có cấu thành tội phạm hay không và hình phạt tương ứng.

Tội đe dọa giết người được quy định cụ thể tại Điều 133 Bộ Luật hình sự năm 2015, theo đó:

– Phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm ới người đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

– Phạt tù từ hai năm đến bảy năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

+ Đối với người dưới 16 tuổi;

+ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Như vậy, để cấu thành tội đe dọa giết người, ngoài hành vi đe dọa cần xác định được căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Trên thực tế, dựa vào các yếu tố như phương pháp, thủ đoạn thực hiện đe dọa, nguyên nhân xảy ra đe dọa, mâu thuẫn giữa người đe dọa và người bị đe dọa, số lần đe dọa và khả năng thực hiện các ý đồ của người đó,… Mặt khác, nếu anh X đủ yếu tố cấu thành tội này thì tùy vào tình tiết cụ thể, mức độ nguy hiểm của hành vi, khi quyết định hình phạt Tòa án có thể quyết định hình phạt khác nhau theo quy định pháp luật, do đó, anh X có thể bị phạt tù hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ nếu phạm tội đe dọa giết người.

Thứ hai, về thủ tục tố cáo đe dọa giết người:

Để ngăn chặn, xử lý kịp thời hành vi đe dọa giết người của anh X, bạn có thể làm đơn gửi lên cho các cơ quan có thẩm quyền tố tụng hình sự, đặc biệt là cơ quan điều tra (như công an nhân dân cấp quận, huyện nơi xảy ra hành vi). Bạn có thể trực tiếp tố cáo hoặc viết văn bản trình bày vụ việc đề nghị bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đặc biệt để làm bằng chứng cho hành vi đe dọa của anh X, bạn có thể chụp lại màn hình tin nhắn giữa hai người, ghi âm lại cuộc gọi, lời nói đe dọa của anh X (nếu có). Qua quá trình xác minh, điều tra, anh X có hành vi đe dọa giết người sẽ bị xử lý nghêm khác theo đúng hành vi quy định của pháp luật.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

Tác giả

Nguyễn Văn Phi

Luận Văn: Tội Giết Người Theo Pháp Luật Hình Sự Tại Quảng Ninh

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành luật hình sự với đề tài: Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI PHẠM HUYỀN TRANG TỘI GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số : 60.38.01.04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi Phạm Văn Tỉnh Hà Nội, 2017

2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học Viện Khoa học xã hội. Vậy tôi xin viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật – Học Viện Khoa học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN PHẠM HUYỀN TRANG

3. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………………. 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM……………………. 7 1.1. Những vấn đề lý luận về tội giết người …………………………………………….. 7 1.2. Quy định của pháp luật hình sự về tội giết người……………………………… 13 CHƯƠNG 2: ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH…………………. 24 2.1. Định tội danh đối với tội giết người………………………………………………… 24 2.2. Quyết định hình phạt đối với tội giết người……………………………………… 38 CHƯƠNG 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI………………………………………………………………………………. 50 3.1. Yêu cầu định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội giết người…………………………………………………………………………………………………..50 3.2. Các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội giết người …………………………………………………………………………………………. 51 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………………. 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….. 67

4. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ADPL: Áp dụng pháp luật BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm QPPL: Quy phạm pháp luật QPPLHS : Quy phạm pháp luật hình sự TAND: Tòa án nhân dân VKS: Viện kiểm sát

5. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Tình hình xét xử tội giết người giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh……………………………………………………………………..29 Bảng 2.2: Tỷ lệ xét xử sơ thẩm các vụ án và bị cáo bị về tội giết người so với các tội phạm về xâm phạm tính mạng sức khỏe giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh …………………………… ………………………………30 Bảng 2.3: Tổng số vụ, số bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử về tội giết người giai đoạn 2011-2015 ………………………………………………………..30 Bảng 2.4 Tổng số vụ án, bị cáo tội giết ngƣời Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử có kháng cáo, kháng nghị giai đoạn 2011 – 2015………………………………31 Bảng 2.5: Những hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo phạm tội giết người giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh……………………………44

6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử với lời mở đầu thể hiện cho một tư tưởng lớn về độc lập tự do dân tộc và quyền con người, cụ thể: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Thật vậy, Quyền sống (hay quyền được sống) là quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người, đây cũng là nội dung quan trọng được ghi nhận tại Điều 19 Hiến pháp 2013 “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.Vậy mà những năm gần đây, số vụ án giết người được các phương tiện truyền thông đưa tin lại ngày một nhiều với những thủ đoạn tinh vi hơn, xảo quyệt hơn gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khiến tâm lý người dân hoang mang, lo lắng như vụ án giết người từng gây chấn động khắp mọi miền đất nước tại Bắc Giang của hung thủ Lê Văn Luyện, hay vụ án thảm sát 6 người trong một gia đình ở Bình Dương chỉ vì chuyện tình cảm bị ngăn cấm của hung thủ Nguyễn Hải Dương, và gần đây nhất chính là thảm án tại Uông Bí, Quảng Ninh của hung thủ Doãn Trung Dũng. Có thể nói rằng Tỉnh Quảng Ninh được coi là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế chịnh trị và an ninh quốc phòng của cả nước với các điều kiện về tự nhiên cũng như điều kiện xã hội hết sức thuận lợi, bởi vậy mà số người nhập cư từ nơi khác về đây ngày một nhiều khiến cho số dân của nơi này tăng lên nhanh chóng. Vì thế mà bên cạnh những thành tựu đạt được thì sự phát

8. 3 – “Định tội danh- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Lê Cảm, Tạp chí tòa án nhân dân các số 3,4,5,8,11 năm 1999; – “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” (2000), Trần Văn Luyện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; – “Tội phạm và cấu thành tội phạm”, Nguyễn Ngọc Hòa, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2015 2.2. Tình hình nghiên cứu thực tiễn Để phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện luận văn, những công trình khoa học sau đây đã nghiên cứu về Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam được tác giả tham khảo như: – Luận văn Thạc sỹ Luật học: ” Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tỉnh Nam Định”của tác giả Nguyễn Chí Công, Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. – Luận văn Thạc sỹ Luật học : “Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam” của tác giả Thái Huy Đức, Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. – Luận văn Thạc sỹ Luật học : ” Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Sóc Trăng” của tác giả Trần Thị Liên, Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. – Luận văn Thạc sỹ Luật học : ” Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” của tác giả Phan Thái Bình, Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. – Luận văn Thạc sỹ Luật học : ” Tội giết người qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân Tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh, Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. – Luận văn Thạc sỹ Luật học: ” Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam”của tác giả Phạm Văn Vĩ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội.

9. 4 – Luận văn Thạc sỹ Luật học : “Đấu tranh, phòng chống tội giết người trên địa bàn Tỉnh Dak Lak” của tác giả Nguyễn Lộc, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội – Ngoài ra còn có không ít các công trình nghiên cứu về tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam tuy nhiên xét dưới góc độ phạm vi không gian thì tỉnh Quàng Ninh cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội giết người đồng thời kết hợp với thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội này trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nhằm chỉ ra các điểm hợp lý và bất hợp lý trong việc thực hiện những quy định pháp luật hiện hành từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật hình sự cũng như tăng cường hướng dẫn áp dụng đúng pháp luật. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu – Làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam. – Tập trung nghiên cứu về việc áp dụng các quy định pháp luật hình sự về tội giết người của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015 trên cơ sở định tội danh và quyết định hình phạt. – Đưa ra kiến nghị giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự với tội giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng pháp luật hiện hành đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn từ 2011-2015, luận văn nghiên cứu về sự phù hợp hoặc chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật hình sự và thực tế áp dụng những quy định này đối với hành vi của người phạm tội.

12. 7 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 . Những vấn đề lý luận về tội giết người 1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội giết người – Khái niệm tội giết người Tội giết người là một trong những tội phạm đặc biệt nguy hiểm, nó không những tước đi sinh mạng của con người mà còn ảnh hưởng nặng nề đối với dư luận xã hội. Dựa trên cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999; khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 thì :”Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.[26, tr.48] và qua thực tiễn xét xử các vụ án về tội giết người có thể đưa ra định nghĩa về tội giết người như sau: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt (bỏ) tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi giết người là hành vi có khả năng gây ra cái chết hoặc chấm dứt sự sống. Hành vi này được thể hiện bằng hành động hoặc dưới dạng không hành động. Những hành vi không có khả năng tước đoạt tính mạng của người khác, thì không thể là hành vi của tội giết người”. – Các yếu tố cấu thành tội giết người Các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội giết người được phân thành 04 yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm.

13. 8 a) Khách thể của tội giết người Khách thể của tội phạm là yếu tố không tách rời của tội phạm, tội phạm bao giờ cũng xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội được Nhà nước xác định bảo vệ bằng luật hình sự [2, tr.137]. Khách thể của tội phạm này là quyền được sống của con người – quyền bất khả xâm phạm về tính mạng được quy định trong Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận khách thể của tội phạm mà khi tác động tới bộ phận này người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [2, tr.141]. b) Mặt khách quan của tội giết người Những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu biểu hiện sự thực hiện hành vi phạm tội và gắn liền với hành vi như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội [2, tr.145]. Mặt khách quan của tội giết người thể hiện ở hành vi tước đoạt tính mạng của người khác, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tước đoạt tính mạng người khác và hậu quả xảy ra. Hành vi này có thể là hành động hoặc không hành động. Cụ thể mặt khách quan của tội phạm này như sau: – Có hành vi làm chết người khác: Được thể hiện qua hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm làm cho người khác chấm dứt cuộc sống.Tuy nhiên cần phân biệt: Nếu làm chết chính bản thân mình thì bị coi là tự tử hoặc tự sát chứ không cấu thành tội này. Nếu vì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà làm chết người khác thì cấu thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng – Hành vi làm chết người được thực hiện thông qua các hình thức sau:

14. 9 + Hành động: Thể hiện qua việc người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao đâm, dùng súng bắn, dùng cây đánh … nhằm giết người khác. + Không hành động: Thể hiện qua việc người phạm tội đã không thực hiện nghĩa vụ phải làm ( phải hành động) để đảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác … nhằm giết người đó. Thông thường tội phạm được thực hiện trong trường hợp (bằng cách) lợi dụng nghề nghiệp – Có hoặc không sử dụng vũ khí, hung khí khác, cụ thể là: + Không sử dụng vũ khĩ hoặc hung khí: Trường hợp này người phạm tội chủ yếu sử dụng sức mạnh cơ thể của mình tác động lên cơ thể của nạn nhân hoặc đẩy nạn nhân vào điều kiện không thể sống được như đấm, đá, bóp cổ… hoặc dùng thủ đoạn khác như đẩy xuống sông … + Có sử dụng vũ khí, hung khí hoặc các tác nhân gây chết người khác. Trường hợp này người phạm tội có sử dụng các công cụ phạm tội như: Súng, lựu đạn, bom, mìn, dao, búa, gậy gộc, … hoặc các tác nhân gây chết khác như thuốc độc, điện … – Hành vi giết người được thể hiện dưới hình thức dùng vũ lực hoặc không dùng vũ lực, cụ thể là: + Dùng vũ lực: Được hiểu là trường hợp người phạm tội đã sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội ) tác động lên thân thể nạn nhân. Việc dùng vũ lực có thể được thể hiện bằng các hình thức sau: Thực hiện trực tiếp như dùng tay, chân để đánh, đá, bóp cổ, …Thực hiện gián tiếp thông qua phương tiện vật chất (có công cụ, phương tiện phạm tội) như: dùng dao để đâm, chém, dùng súng bắn, … + Không dùng vũ lực: Nghĩa là dùng các thủ đoạn khác mà không sử dụng sức mạnh vật chất để tác động lên cơ thể nạn nhân như: Dùng thuốc độc để đầu độc nạn nhân, gài bẫy điện để nạn nhân vướng vào…

15. 10 – Về hậu quả: Các hành vi nêu trên thông thường gây hậu quả trực tiếp là làm người khác chết (tức là chấm dứt sự sống của người khác). Tuy nhiên chỉ cần hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có mục đích làm chấm dứt sự sống của người khác (hay làm cho người khác chết) thì được coi là cấu thành tội giết người cho dù hậu quả chết người có xảy ra hay không. Tuy nhiên một số truờng hợp việc dùng vũ lực không gây ra hậu quả trực tiếp làm nạn nhân chết mà chỉ có tác dụng đẩy nạn nhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và tử vong (như xổ nạn nhân xuống sông và bỏ mặc cho đến chết hoặc đạp nạn nhân ra ngoài đường đang có nhiều xe ô tô chạy dẫn đến bị xe cán chết …) theo chúng tôi vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nếu chứng minh được người thực hiện hành vi đó có mục đích giết người. Đây có thể xem là hậu quả gián tiếp. c) Chủ thể của tội giết người Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của tội giết người. Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, từ 16 tuổi trở lên thì chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. d) Mặt chủ quan của tội giết người Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội. Mặt chủ quan của tội giết người bao gồm lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, trong đó lỗi là dấu hiệu bắt buộc. Tội giết người được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp với ý thức tước đoạt tính mạng của người khác trái luật nhưng cũng có những trường hợp do lỗi cố ý gián tiếp, bỏ mặc hậu quả xảy ra.

16. 11 Ở tội giết người, dấu hiệu hành vi tước đoạt tính mạng người khác và dấu hiệu lỗi cố ý là những dấu hiệu đặc trưng cho phép phân biệt tội giết người với những tội phạm khác [13, tr.153]. 1.1.2. Phân biệt Tội giết người với một số tội phạm khác Tội giết người nói chung và các tội về xâm phạm tính mạng nói riêng trong phần các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người trong chương XII đều là hành vi xâm phạm đến các quyền cơ bản của con người được pháp luật bảo vệ, chính vì thế các tội này có những điểm cơ bản giống nhau. Và bên cạnh đó cũng có những điểm khác nhau, đó là điểm đặc trưng của từng loại tội phạm. – Phân biệt tội giết người (hoàn thành) với tội cố ý gây thương tích trong trường hợp dẫn đến chết người : + Khách thể của tội phạm. Nếu khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của con người thì khách thể của tội cố ý gây thương tích lại là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người; + Lỗi của người phạm tội: Nếu lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý gây ra cái chết cho nạn nhân (mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả nạn nhân chết) thì lỗi của người phạm tội cố ý gây thương tích trong trường hợp dẫn đến chết người lại là hỗn hợp; cố ý với hành vi gây thương tích (mong muốn hoặc chấp thuận hậu quả nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại sức khoẻ) nhưng vô ý với hậu quả chết người (không thấy trước hoặc có ý thức loại trừ hậu quả chết người). Thực tiễn xét xử cho thấy, để định dạng đúng tội danh chúng ta cần phân biệt hai tội này qua tiêu chí cơ bản sau đây: Nếu lỗi của người phạm tội với cái chết của nạn nhân là lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp) thì định tội giết người. Đây là trường hợp phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm nạn nhân chết mà vẫn thực hiện vì mong

17. 12 muốn hoặc có ý thức chấp nhận hậu quả chết người. Ngược lại, nếu lỗi của người phạm tội đối với hành vi gây thương tích là cố ý nhưng đối với cái chết của nạn nhân lại là lỗi vô ý (vì quá tự tin hoặc vì cẩu thả) thì định tội cố ý gây thương tích với tình tiết định khung tăng nặng “dẫn đến chết người” quy định tại đoạn 2 khoản 3 điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đây là trường hợp người phạm tội không những không mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra, cũng không có thái độ “thờ ơ mặc kệ cho hậu quả đó xảy ra mà còn không thấy trước được hậu quả đó mà đáng lẽ ra phải thấy hoặc có thể thấy, hoặc tuy có thấy trước hậu quả có thể xảy ra, nhưng chủ quan tin vào một điều kiện cụ thể nào đó sẽ làm cho hậu quả không xảy ra”. – Phân biệt tội giết người (chưa đạt) với tội cố ý gây thương tích + Khách thể của tội phạm: Nếu khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của con người thì khách thể của tội cố ý gây thương tích lại quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người; + Lỗi của con người phạm tội: Nếu lỗi của người phạm tội giết người (chưa đạt) chỉ có lỗi cố ý trực tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân (mong muốn nạn nhân chết) thì lỗi của người phạm tội cố ý gây thương tích lại có thể là lỗi cố ý gây thương tích (mong muốn hoặc chấp nhận gây thương tích cho nạn nhân). Hoặc lỗi cố ý gián tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân (chấp nhận hậu quả nạn nhân chết nhưng hậu quả này đã không xảy ra). Sở dĩ trường hợp cố ý gián tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân, nếu nạn nhân không chết thì không định tội giết người (chưa đạt) mà chỉ có thể định tội cố ý gây thương tích vì trong trường hợp này, người phạm tội không mong muốn hậu quả chết người xảy ra. Do đó, nếu nạn nhân không chết thì không thể buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm về hậu quả chết người- điều mà họ không mong muốn và nó cũng không xảy ra trên thực tế.

18. 13 Thực tiễn xét xử cho thấy, để định đúng tội danh chúng ta cần phân biệt hai tội này qua tiêu chí cơ bản sau đây: Nếu lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp gây ra cái chế cho nạn nhân thì định tội giết người (chưa đạt). Đây là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm nạn nhân chết mà vẫn thực hiện vì mong muốn nạn nhân chết. Sở dĩ nạn nhân không chết là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội. Nếu lỗi của người phạm tội không phải là lỗi cố ý trực tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân mà là lỗi cố ý gây thương tích cho nạn nhân thì định tội cố ý gây thương tích. 1.2 . Quy định của pháp luật hình sự về tội giết người 1.2.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt nam đối với tội giết người. Bắt nguồn từ hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sự về tội giết người với nhiều tình tiết khác nhau, gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật ở nước ta từ thời phong kiến cho đến sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1999 đã trải qua các giai đoạn sau: * Giai đoạn phong kiến Trải qua các thời kỳ phát triển của lịch sử, tội giết người trong thời đại phong kiến được quy định thành những tội cụ thể trong tất cả các Bộ luật Lý, Trần, Lê, Nguyễn mà rõ nét nhất là Bộ luật Hồng Đức nhà Lê hay còn gọi là “Quốc triều hình luật”. Các tội được quy định khá rõ trong chương “Đấu tụng” (đánh nhau kiện cáo). Chương này gồm 30 điều, từ 456 đến điều 499. Nhìn chung, trong “Quốc triều hình luật” quy định chung, không mang tính chất hành vi cụ thể như các Bộ Luật sau này, về dấu hiệu cấu thành tội phạm còn nhiều lẫn lộn, không phân biệt rõ ràng (như giữa tội giết người và tội cố ý gây thương tích). Mặc dù vậy, Bộ luật này đánh dấu sự tiến bộ trong việc xây dựng hệ thống

19. 14 pháp luật trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam lúc bấy giờ nhằm nghiêm trị kẻ phạm tội. * Giai đoạn 1945 – 1985 Đây là giai đoạn đất nước ta trong thời kì chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và cả nước tiến lên xây dựng XHCN. Đầu tiên là sắc lệnh số 47/ST ngày 10/10/1945 do Bác Hồ ký, cho phép áp dụng số văn bản pháp luật của phong kiến, của đế quốc mà không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam dân chủ Cộng Hoà. Sắc lệnh số 27/ST ngày 28/02/1946 về việc truy tố tội bắt cóc tống tiền và ám sát. Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 về việc xử lý một số tội phạm như đánh bị thương, cố ý giết người được thể hiện trong điều 4 của thông tư này. Năm 1955, do bối cảnh lịch sử và tình hình xã hội lúc bấy giờ nên Bộ Tư pháp đã có thông tư số 19/VHH – HS ngày 30/06/1955 yêu cầu Toà án không áp dụng luật lệ phong kiến vào việc định tội, từ đó đã cho ra đời hàng loạt văn bản mới như: Chỉ thị số 1025-TATC ngày 15/6/1960 của Tòa án nhân dân tối cao về đường lối xử lí tội giết người vì mê tín; Chỉ thị số 01-NCCCS ngày 13/3/1963 của Tòa án nhân dân tối cao về xử lí tội giết trẻ sơ sinh; Bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo Công văn số 452/HS2 ngày 10/8/1970 của Tòa án tối cao về thực tiễn xét xử tội giết người; Thông tư 24/TANDTC ngày 25/11/1974 về việc xét xử các tội cố ý giết người; Sắc lệnh số 03/ST – 76 ngày 15/03/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời quy định các tội phạm và hình phạt, đồng thời ban hành thông tư hướng dẫn các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm của công dân như: cố ý giết người, cố ý gây thương tích … Sau năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, bên cạnh niềm vui hòa bình thống nhất thì chúng ta phải đương đầu với nhiều khó khăn thử thách, một trong số đó là tình hình tội phạm gia tăng do lợi dụng hoàn cảnh đất nước mới thống nhất, đặc biệt là tội phạm giết người cướp của. Trong

20. 15 bối cảnh đó, nghị quyết ngày 02/7/1976 của Quốc hội khóa VI, kì họp thứ nhất, Hội đồng chính phủ đã thu thập ý kiến của các ngành và đã chủ trương như sau: “a) Những văn bản pháp luật hiện hành ở hai miền đều được áp dụng chung trong cả nước vì đều xuất phát từ đường lối, chính sách của Đảng cụ thể là: – Đối với các tỉnh phía nam: những sắc luật mới được ban hành cũng như những văn bản pháp luật khác của Chính phủ cách mạng lâm thời vẫn tiếp tục được áp dụng. Nhưng nếu có điều khoản nào đã được quy định một cách tổng quát, thì có thể và cần thiết phải vận dụng luật lệ đã được thi hành ở miền Bắc. Đối với vấn đề nào mà ở miền Nam trước đây chưa có luật lệ mà miền Bắc đã có, thì vận dụng luật lệ đang được thi hành ở miền bắc, nhưng phải xem xét vận dụng vào tình hình, đặc điểm của miền Nam cho phù hợp. Đối với các tỉnh phía Bắc: Đối với các vấn đề nào mà miền Bắc chưa có hoặc tuy đã có nhưng chưa thich hợp mà miền Nam đã có và tiến bộ hơn thì áp dụng luật lệ ở miền nam”[18]. Có thể nói trong giai đoạn 1945-1985 đã đánh dấu bước ngoặt mới của pháp luật hình sự Việt Nam.Các nhà làm luật đã có sự phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như mức độ thực hiện tội phạm để có đường lối xử lý tội phạm, tránh sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật. Tuy còn một số hạn chế nhất định nhưng pháp luật hình sự giai đoạn này có ý nghĩa to lớn là nền tảng cho việc quy định pháp luật hình sự giai đoạn tiếp theo. * Giai đoạn từ năm 1985 – 1999 Năm 1985 là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời của Bộ luật hình sự (BLHS) đầu tiên của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, BLHS đầu tiên của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/1985, trong đó tội giết người được quy định tại chương II điều 101, bao gồm 4 khoản quy định cụ thể cho từng hành vi của tội này. “Điều 101: Tội giết người

21. 16 1- Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình; a) Vì động cơ đê hèn; để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác; b) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; bằng cách lợi dụng nghề nghiệp hoặc bằng phương pháp có khả năng chết nhiều người; c) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; d) Giết nhiều người hoặc giết phụ nữ mà biết là có thai; đ) Có tổ chức; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác; g) Có tính chất côn đồ; tái phạm nguy hiểm. 2- Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định ở khoản 1 Điều này hoặc không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm. 3- Phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 4- Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm”[22]. Đây cũng là giai đoạn áp dụng pháp luật Hình sự thống nhất cả nước. Toà án nhân dân tối cao đã ra quyết định số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS. Nghị quyết số 01/89 HĐTP ngày 19/04/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn bổ sung một số quy định của BLHS. * Giai đoạn 1999 – nay

22. 17 Qua thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, tính chất của tội phạm giết người ngày càng nguy hiểm, càng tinh vi, manh động. Nhằm phù hợp với tình hình thực tế phát sinh, BLHS Việt Nam qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 đến năm 1999 tại kỳ họp thứ VI Quốc hội khoá X đã quyết định thông qua Bộ Luật hình sự năm 1999 và có hiệu lực vào ngày 01/07/2000. Ở bộ luật này, tội giết người tại Điều 93 quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn về hành vi tội giết người, đồng thời quy định cụ thể về hình phạt cho từng loại hành vi. “1. Người nào giết người thuộc một trong những trường hợp sau đây, tì bị phạt tù mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết nhiều người; b)Giết phụ nữ mà biết là có thai; c) Giết trẻ em; d)Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ)Giết ông bà, cho, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e)Giết người mà trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm hoặc đặc biệt nghiêm trọng; g)Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h)Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; i)Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k)Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; l)Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m)Thuê giết người hoặc giết người thuê; n)Có tính chất côn đồ; o)Có tổ chức; p)Tái phạm nguy hiểm; q)Vì động cơ đê hèn.

23. 18 2. Phạm tội không thuộc các trường hợp qui định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. 3.Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm”[23]. Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. 1.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội giết người * Quy định về tội phạm Để đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội, đồng thời kế thừa, phát huy những kinh nghiệm trong quá trình áp dụng BLHS năm 1985, Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật hình sự mới đó là Bộ luật hình sự năm 1999. Tội giết người được quy định tại Điều 93, cụ thể: “1. Người nào giết người thuộc một trong những trường hợp sau đây, tì bị phạt tù mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết nhiều người; b)Giết phụ nữ mà biết là có thai; c) Giết trẻ em; d)Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ)Giết ông bà, cho, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e)Giết người mà trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm hoặc đặc biệt nghiêm trọng; g)Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h)Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; i)Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k)Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

24. 19 l)Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m)Thuê giết người hoặc giết người thuê; n)Có tính chất côn đồ; o)Có tổ chức; p)Tái phạm nguy hiểm; q)Vì động cơ đê hèn. 2. Phạm tội không thuộc các trường hợp qui định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.” Tuy nhiên trên thực tế xét xử vẫn còn nhiều vướng mắc và có nhiều ý kiến khác nhau, nên các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản để giải thích, hướng dẫn đối với tội phạm giết người như: – Nghị quyết 04/86/HĐTPTANDTC ngày 29/11/1986 – Nghị quyết 01/89/HĐTPTATC ngày 19/04/1989 – Nghị quyết 01/2006/HĐTPTANDTC ngày 12/05/2006 * Quy định về hình phạt Theo quy định đối với tội giết người gồm ba loại hình phạt chính là tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Tội giết người theo quy định tại Điều 93 BLHS gồm có 3 khung: – Khung thứ nhất là khung tăng nặng có mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các trường hợp sau: + Giết nhiều người: Được hiểu là giết từ hai người trở lên hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả nhiều người chết xảy ra. Người phạm tội có thể giết nhiều người trong cùng một lần hoặc nhiều lần khác chúng tôi nhiên nếu người phạm tội có ý thức bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra thì hậu quả phải có từ 02 người chết trở lên mới thuộc tình tiết giết nhiều người.

25. 20 + Giết phụ nữ mà biết là có thai: Nạn nhân là phụ nữ có thai mà người phạm tội biết rõ, không kể thai người phụ nữ đang mang vào tháng thứ mấy. Tình tiết này được hướng dẫn tại mục 2.3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC như sau: “Bị cáo và mọi người đều nhìn thấy được hoặc bị cáo nghe được, biết được từ các nguồn thông tin khác nhau về người phụ nữ đó mang thai”[13]. + Giết trẻ em: Theo quy định tại Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em 2004 thì ” Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”[18]. Theo Điều 1 Luật trẻ em 2016 thì “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”[19]. + Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân: Nạn nhân đang thực thi nhiệm vụ do cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội giao phó vì những lợi ích chung. Người thực hiện hành vi tước quyền sống của nạn nhân biết rõ công vụ nạn nhân đang thực hiện. + Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình: Đây là trường hợp giết người mà nạn nhân là người có quan hệ đặc biệt với người phạm tội. Trong mối quan hệ đặc biệt này, người phạm tội phải là người hơn ai hết biết ơn và kính trọng nạn nhân.với hành vi phạm tội của mình, người phạm tội trong trường hợp này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm nghiêm trọng đạo lý làm con, cháu, làm trò, làm người được nuôi dưỡng. + Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng: Là trường hợp giết người sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc người phạm tội vừa thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng sau đó thực hiện hành vi giết người. Tội phạm đó phải liền trước hoặc liền sau tội giết người khi xét về mặt thời gian, có sự liên tục nhau và có tình tiết ngay tức khắc. + Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác: Vì để thực hiện một tội phạm khác mà đã giết người hoặc giết người nhằm che giấu một tội phạm mà chính chủ thể đã thực hiện hoặc không do chủ thể thực hiện.

26. 21 + Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân: Đây là trường hợp giết người mà động cơ phạm tội là việc chiếm đoạt bộ phận cơ thể của nạn nhân cho mình, cho người thân hoặc để trao đổi, mua bán. Động cơ phạm tội trong trường hợp này được xem như loại động cơ đê hèn, thể hiện tính ích kỷ cá nhân cao độ trong việc đánh đổi tính mạng người khác cho việc thỏa mãn nhu cầu cá nhân. + Thực hiện tội phạm một cách man rợ: Người phạm tội đã thực hiện hành vi dã man, man rợ, tàn ác, không còn tính người. Gây ra sự ghê sợ, kinh khủng, phẫn uất cho bộ phận xã hội, cộng đồng… + Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp: Là trường hợp giết người mà người phạm tội đã lợi dụng nghề nghiệp của mình để có thể dễ dàng thực hiện hoặc che dấu hành vi giết người. + Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người: Là trường hợp giết người mà người phạm tội đã sử dụng công cụ, phương tiện, hoặc thủ đoạn phạm tội có khả năng làm chết nhiều người (trong hoàn cảnh cụ thể). + Thuê giết người hoặc giết người thuê: Là trường hợp dùng lợi ích vật chất sai khiến người khác thực hiện hành vi giết người theo ý muốn của mình, biến họ thành “công cụ” giết người trong tay mình. Ngược lại, giết người thuê là trường hợp giết người chỉ vì động cơ kiếm tiền hay lợi ích vật chất khác.Đây cũng là một dạng của động cơ đê hèn. + Có tính chất côn đồ: Là trường hợp giết người mà tất cả tình tiết của vụ án thể hiện người phạm tội có tính chất hung hãn cao độ, quá coi thường tính mạng của người khác, sẵn sàng giết người vì những nguyên cớ nhỏ nhặt nhất. + Có tổ chức: Là trường hợp đồng phạm giết người mà giữa các chủ thể có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. + Tái phạm nguy hiểm: Giết người trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường hợp giết người thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự.

27. 22 + Vì động cơ đê hèn: Là trường hợp giết người mà tính chất của động cơ phạm đã làm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi giết người tăng lên một cách đáng kể so với những trường hợp bình thường. Thực tế xét xử thừa nhận những động cơ phạm tội sau coi là động cơ đê hèn: Giết vợ hoặc chồng để lấy vợ hoặc chồng khác; giết người vì vụ lợi (giết người để được hưởng thừa kế…); giết người có tính chất bội bạc, phản trắc (giết người tình đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm…). – Khung thứ hai có hình phạt từ 7 năm đến 15 năm. Đây là trường hợp giết người thông thường nên không có các tình tiết tăng nặng. Lẽ ra trường hợp phạm tội này phải là cấu thành cơ bản, nhưng do kỹ thuật và truyền thống lập pháp nên đối với tội giết người nhà làm luật xây dựng cấu thành tăng nặng trước, sau đó mới đến cấu thành cơ bản. So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 cũng quy định hình phạt chính đối với tội giết người là hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Tuy nhiên có bổ sung thêm hình phạt tại khoản 3 là quyết định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người, mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Đây là một quy định mới thể hiện sự tiến bộ trong quá trình lập pháp hình phạt.Tạo điều kiện thuận lợi cho coq quan và người tiến hành tố tụng quyết định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người. – Khung thứ ba là hình phạt bổ sung, hình phạt không được tuyên độc lập mà chỉ có thể tuyên kèm theo một hình phạt chính được quy định tại Khoản 3 Điều 93 BLHS: “3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.”[23, tr.98] Khác với Bộ luật hình sự năm 1999, hình phạt bổ sung đối với tội giết người theo bộ luật hình sự năm 2015 được quy định tại khoản 4, điều 123. Đây

28. 23 là thay đổi về bố cục do kỹ thuật lập pháp đã đưa thêm khoản 3 quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội giết người vào khoản 3 điều 123. Hình thức phạt bổ sung quy định tại khoản 4 điều 123 bao gồm các hình thức quy định tại khoản 3 điều 93 BLHS năm 1999. Bao gồm ” cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 điều 123 BLHS năm 2015 bỏ hình phạt “cấm đảm nhiệm chức vụ”. Thể hiện sự kế thừa và phát triển về hình phạt bổ sung đối với tội giết người của BLHS năm 2015. Kết luận chương 1 Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm chung về tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999, kết hợp với quy định tại Điều 93 BLHS, tác giả đã đưa ra được khái niệm cụ thể và phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội giết người; đồng thời khái quát lịch sử xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội giết người để có cách nhìn toàn diện hơn về chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta đối với tội phạm này. Việc nghiên cứu, làm rõ những cơ sở lý luận và pháp lý của tội giết người có ý nghĩa hết sức quan trọng, là căn cứ cơ bản, là tiền đề để chúng ta tiến đến nghiên cứu hoạt động định tội và hoạt động quyết định hình phạt đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (từ năm 2011-2015).

29. 24 Chương 2 ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 2.1. Định tội danh đối với tội giết người 2.1.1.Cách tiếp cận để nhận diện thực tiễn định tội danh theo pháp luật hình sự Việt Nam – Định tội danh và các đặc điểm của định tội danh Quá trình áp dụng các quy phạm pháp lụât hình sự (QPPLHS) diễn ra phức tạp và đa dạng được thể hiện ở 3 giai đoạn: Định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt. Trong đó, định tội danh là giai đoạn quan trọng nhất trong ba giai đoạn trên của toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật hính sự. Bởi vì định tội danh được tiến hành thực hiện ở tất cả các giai đoạn của cả quá trình tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn thi hành án. Trong khi đó bước quyết định hình phạt chỉ được tiến hành ở giai đoạn xét xử. Định tội danh là một trong những biện pháp đưa BLHS vào đời sống xã hội, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, qua đó góp phần thực hiện đường lối chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Định tội danh là sự xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp (sự đồng nhất) giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong thực tế khách quan với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong BLHS. Hay nói cách khác, định tội danh là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của CTTP của tội nào trong số các tội phạm đã được quy định trong BLHS. Từ những vấn đề nêu trên cho thấy định tội danh có 4 đặc điểm như sau: – Định tội danh là một quá trình nhận thức có tính logic giữa lý luận và thực tiễn. Thể hiện ở 2 khía cạnh: xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu của CTTP cụ thể trong BLHS và đưa

30. 25 ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi đã thực hiện trong thực tế. – Quá trình hoạt động định tội danh phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật của luật nội dung là BLHS cũng như các quy phạm pháp luật củaluật hình thức là BLTTHS. – Định tội danh là một dạng hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng để cụ thể hóa các QPPLHS trừu tượng áp dụng vào đời sống thực tế. Trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết của hành vi phạm tội đã thực hiện và sự nhận thức đầy đủ, đúng đắn nội dung của các QPPLHS. – Định tội danh với tính chất là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành theo 04 bước sau: Bước 1: Thiết lập, xem xét, đánh giá đúng các tình tiết của vụ án đã xảy ra trên thực tế khách quan. Đối với bước này, đòi hỏi người định tội danh phải đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, vô tư, không định kiến, không suy diễn. Phải dựa vào các chứng cứ đã thu thập được và đánh giá theo quy định của BLTTHS. Mỗi một tình tiết trong vụ án bước đầu đánh giá chúng một cách độc lập để thấy được sự thể hiện tính chất của nó là loại hành vi nào. Sau đó, chính tình tiết đó lại tiếp tục đặt trong mối quan hệ với các tình tiết khác trong vụ án, thì kết luận về tính chất của tình tiết này mới là sự thể hiện về bản chất của nó trong cả quá trình của vụ án. Đánh giá mỗi tình tiết của vụ án, phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, trong tổng thể, biện chứng của cả quá trình phản ánh đúng diễn biến của vụ án đã xẩy ra. Bởi vì, cùng một tình tiết, nhưng đặt trong mỗi hoàn cảnh khác nhau thì chúng khác nhau về bản chất. Kết luận về từng tình tiết độc lập, không thể phản ánh đúng về bản chất của tình tiết đó trong toàn bộ diễn biến của vụ án. Bước 2: Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các quy phạm pháp luật hình sự phản ánh các dấu hiệu của CTTP về tội danh có hướng lựa chọn.

31. 26 Việc tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLHS là điều kiện bắt buộc và rất cần thiết trong khi định tội danh, là việc thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước ta trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, các dấu hiệu trong CTTP được quy định trong BLHS mang tính trừu tượng chỉ nêu một cách khái quát những nét đặc trưng mang tính phổ biến để điều chỉnh hiện tượng thực tế muôn hình muôn vẻ, chính vì vậy các QPPL không thể phản ánh hết được tất cả các mặt của đời sống xã hội mà chỉ phản ánh được những nét đặc trưng của nó. Nhưng mặt khác, luật phải được áp dụng đối với những trường hợp cụ thể. Vì vậy, đòi hỏi phải có quá trình tư duy để nhận thức sâu rộng, đúng đắn về nội dung của các dấu hiệu trong CTTP. Rất nhiều các QPPLHS chưa xác định rõ ràng ranh giới giữa chúng với nhau. Ví dụ: Việc quyết định hình phạt trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng đồng thời có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hoặc như thế nào là nguy hiểm đáng kể và nguy hiểm chưa đáng kể. Chưa kể còn một số quy định trong BLHS thể hiện rõ sự bất cập của nó như: chính sách hình sự đối với người phạm tội chưa đủ 16 tuổi. Trong các trường hợp này đòi hỏi người định tội danh phải tự đánh giá trên căn cứ khoa học và căn cứ thực tế sao cho có sức thuyết phục. Hay nói cách khác, đòi hỏi người định tội danh phải có trình độ pháp lý hình sự. Bước 3: So sánh đối chiếu hai quá trình trên. Bước 4: Ra văn bản áp dụng pháp luật chính là bản án và các quyết định có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về 3 bước trên để xác định tội danh cần áp dụng đối với trường hợp phạm tội của người đó. Qua các đặc điểm của định tội danh đã phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm định tội danh như sau: Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của điều luật tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS quy định, cũng như các

33. 28 Cơ sở pháp lý về nội dung của định tội danh đối với tội giết người là các văn bản pháp luật trong lĩnh vực luật hình sự, mà trước hết và chủ yếu là Bộ luật hình sự. Cơ sở pháp lý về hình thức được hiểu là các băn bản pháp luật quy định về thủ tục tố tụng làm cơ sở cho việc định tội danh và giải quyết vụ án hình sự. – Ý nghĩa của hoạt động định tội danh Hoạt động định tội danh của các chủ thể có thể theo 2 xu hướng: Định tội danh đúng và định tội danh sai. Định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt một cách công minh và có căn cứ pháp luật. Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền như: nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự, nguyên tắc công minh nhân đạo và nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm. Định tội danh đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hính sự về tạm giam, về thẩm quyền điều tra, xét xử qua đó góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không đảm bảo được tính công minh có căn cứ đúng pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt người phạm tội, xâm phạm thô bạ danh dự nhân phẩm các quyền tự do dân chủ của công dân là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận trong Nhà nước. Định tội danh sai làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế XHCN, ảnh hưởng đến hiệu quả của đấu tranh phòng chống tội phạm. Nghị quyết 388/UBTVQH ban hành ngày 17/3/2003 về bồi thường oan sai trong tố tụng hình sự. Những vụ việc oan sai chủ yếu bắt nguồn từ việc đánh giá chứng cứ phiến diện, thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt tạm giam, suy diễn chủ quan. 2.1.2. Thực tiễn định tội danh tội giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

34. 29 2.1.2.1. Tình hình xét xử tội phạm nói chung và tội giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015 Qua nghiên cứu, phân tích số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh về tình hình xét xử sơ thẩm tội giết người trong thời gian từ năm 2011-2015 ta có bảng số liệu: Bảng 2.1: Tình hình xét xử tội giết người giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

35. 30 Năm Tổng số vụ án đưa ra xét xử Tổng số bị cáo đưa ra xét xử Tổng số vụ án đưa ra xét xử theo Điều 93 Tổng số bị cáo đưa ra xét xử theo Điều 93 Tỷ lệ % (III) và (I) Tỷ lệ % (IV) và (II) (I) (II) (III) (IV) 2011 114 276 13 38 11.4% 13,7% 2012 110 254 11 28 10% 11,0% 2013 122 224 15 23 12.3% 10,3% 2014 144 231 19 24 13.1% 10,4% 2015 147 240 18 26 12.2% 10,8% Tổng 637 1225 76 139 11.9% 11,3% Nguồn: Tòa án nhân dân Tỉnh Quảng Ninh Phân tích Bảng 2.1 cho thấy: Trong thời gian từ năm 2011-2015, tổng số các loại vụ án do Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đưa ra xét xử là 637 vụ án và tổng số bị cáo bị đưa ra xét xử là 1225 bị cáo. Trong đó, tổng số vụ án đưa ra xét xử về tội giết người là 76 vụ án (chiếm tỷ lệ là 11,9% ) và số bị cáo bị xét xử tội này là 139 bị cáo (chiếm tỷ lệ là 11,3%). Điều đó cho thấy trong những năm qua tình hình tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có diễn biến phức tạp, chiếm 1 tỉ lệ không nhỏ trong tổng số các vụ án được đưa ra xét xử.

36. 31 Bảng 2.2: Tỷ lệ xét xử sơ thẩm các vụ án và bị cáo bị về tội giết người so với các tội phạm về xâm phạm tính mạng sức khỏe giai đoạn 2011- 2015trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Năm Các tội về xâm hại tính mạng và sức khỏe (I) Tội giết người Điều 93 BLHS(II) Tỉ lệ %(II) so với (I) Số vụ án Số bị cáo Số vụ án Số bị cáo Số vụ án Số bị cáo 2011 86 142 13 38 15,1% 26,8% 2012 90 158 11 28 12,2% 17,7% 2013 82 136 15 23 18,3% 16,9% 2014 67 125 19 24 28,3% 19,2% 2015 72 133 18 26 25% 19,5% Tổng 397 694 76 139 19,1% 20 % Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh Phân tích Bảng 2.2 cho thấy: Trong toàn bộ các vụ án về xâm hại tính mạng và sức khỏe do Tòa án nhân dân tỉnh quảng ninh đã xét xử thì số vụ án và số bị cáo bị xét xử về tội giết người chiếm 1 tỉ lệ không nhỏ; trong 2014, 2015 chiếm tỷ lệ trên 20%. Bảng 2.3: Tổng số vụ, số bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Q uảng Ninh đã xét xử về tội giết người giai đoạn 2011-2015 Năm Số vụ phải xét xử Số đã xét xử Số trả lại viện kiểm sát Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo 2011 13 38 13 38 0 0 2012 11 28 11 28 0 0 2013 15 23 14 20 1 3

37. 32 2014 19 24 19 24 0 0 2015 18 26 16 24 2 2 Tổng 76 139 73 134 3 5 Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh Phân tích bảng 2.3 cho thấy: Trong thời gian từ năm 2011-2015, số vụ án phải xét xử về tội giết người là 76 vụ với 139 bị cáo, đã xét xử 73 vụ với 134 bị cáo, số vụ án trả lại Viện kiểm sát là 03 vụ với 05 bị cáo. Điều đó thể hiện trước diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm nhưng với sự cố gắng và nỗ lực của các cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong việc phát hiện và xử lý tội phạm. Bảng 2.4. Tổng số vụ án, bị cáo tội giết ngƣời Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử có kháng cáo, kháng nghị giai đoạn 2011-2015 Năm Tổng số vụ án, bị cáo giết người Số vụ án,bị cáo có kháng cáo, kháng nghị Kết quả giải quyết Y án Sửa án Hủy án 2011 13 vụ – 38 bị cáo 08 vụ – 13 bị cáo 6 vụ -9 bị cáo 2 vụ – 4 bi cáo 2012 11 vụ – 28 bị cáo 05 vụ – 10 bị cáo 2 vụ – 6 bị cáo 3 vụ- 4 bị cáo 2013 15 vụ – 23 bị cáo 07 vụ – 12 bị cáo 6 vụ- 10 bị cáo 1 vụ- 2 bị cáo 2014 19 vụ – 24 bị cáo 11 vụ – 14 bị cáo 10 vụ – 13 bị cáo 1 vụ – 1 bị cáo 2015 18 vụ- 26 bị cáo 06 vụ – 8 bị cáo 4 vụ – 6 bị cáo 2 vụ – 2 bị cáo Tổng 76 vụ- 139 bị cáo 37 vụ – 57 bị cáo 28 vụ – 44 bị cáo 9 vụ – 13 bị cáo Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

38. 33 Phân tích Bảng 2.4 cho thấy: Trong thời gian năm năm từ năm 2011 đến năm 2015 Tòa áp cấp tỉnh thụ lý giải quyết án sơ thẩm án giết người 76 vụ, 139 bị cáo. Trong đó có 37 vụ, 57 bị cáo kháng cáo và kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Kết quả Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử y án 28 vụ, 44 bị cáo, sửa án 09 vụ, 13 bị cáo, không có vụ nào bị hủy án điều tra xét xử lại theo thủ tục chung. Điều đó thể hiện trước sự diễn biến của tình hình tội phạm ngày càng phức tạp, tinh vi, xảo quyệt, nhưng với sự cố gắng nỗ lực, phấn đấu của các cơ quan có thẩm quyền và sự quan tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền, trong thời gian qua các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong việc phát hiện và xử lý tội phạm nói chung trong đó có tội phạm xâm phạm tính mạng của người khác nói riêng. Không có xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm. Đảm bảo nguyên tắc công bằng, tạo được sự đồng tình của quần chúng nhân dân. 2.1.2.2. Thực tiễn định tội danh tội giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo cấu thành cơ bản Việc định tội danh theo cấu thành cơ bản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm qua thể hiện cụ thể như sau: – Định tội danh theo chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội giết người là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 14 tuổi trở lên.Thực tế tại tỉnh Quảng Ninh trong thời gian từ năm 2011-2015 chưa có trường hợp nào gặp khó khăn vướng mắc trong vấn đề xác định chủ thể của tội phạm. Định tội danh theo khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội. Tội giết người có khách thể là tính mạng, sức khỏe của con người được quy định tại chương XII của BLHS. Nhận thức đúng

39. 34 khách thể sẽ giúp cho việc định tội danh của các cơ quan tiến hành tố tụng được chính xác. Ví dụ vụ án La Văn Quảng cùng đồng bọn phạm tội giết người: Ngày 24/2/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã đưa ra xét xử công khai đối với La Văn Quảng cùng đồng bọn về tội giết người theo khoản 2 điều 93 BLHS. Tại phiên tòa, theo quan điểm bào chữa của luật sư thì các bị cáo chỉ phạm tội cố ý gây thương tích, không phạm tội giết người vì với luận điểm là các bị cáo không có ý thức giết người bị hại là anh Nam và anh Nam chỉ bị thương tích 67% sức khỏe, như vậy là không xâm hại đến khách thể của tội giết người là tính mạng anh Nam. Tuy nhiên , tại bản án số 12/2013/HSST ngày 24/2/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tuyên bố các bị cáo phạm tội giết người và áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo. Với nhận định tuy anh Nam không chết nhưng hành vi khách quan đã thể hiện ý thức chủ quan của các bị cáo là tước đoạt tính mạng của anh Nam. Khách thể bị xâm hại là tính mạng chứ không phải thương tích, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt [38]. – Định tội danh giết người theo mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tước đoạt tính mạng người khác và hậu quả xảy ra. Vụ án Bùi Văn Dũng phạm tội Giết người: Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống. Trưa ngày 16/6/2014, anh Bùi Văn Dũng sau khi nghe tin em trai mình bị Nguyễn Văn Huy đấm vào mặt, anh liền bực tức lấy con dao bầu ở sau nhà rồi chạy đi tìm anh Huy, đâm anh Huy 02 nhát vào ngực và chém một nhát vào đầu làm anh Huy gục xuống đường và tử vong trên đường đi cấp cứu. Khi vụ án xảy ra, có nhiều quan điểm trái chiều về hành vi của anh Dũng phạm tội “Giết người” hay ” Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Và trên cơ sở đánh giá chính xác toàn diện hành vi thực tế của bị cáo, yếu tố lỗi của người bị hại và trạng thái tinh thần của chủ thể khi thực hiện

43. 38 Pháp luật hình sự nước ta có quy định trách nhiệm hình sự không chỉ đối với tội phạm do một người thực hiện mà còn đối với tội phạm do nhiều người thực hiện. Trước đây chế định đồng phạm được quy định tại Điều 20 BLHS năm 1999. So với BLHS 1999 thì chế định đồng phạm quy định tại Điều 17 BLHS năm 2015 quy định cụ thể hơn về trách nhiệm hình sự của người đồng phạm trong trường hợp người thực hành có hành vi vượt quá. Từ năm 2011-2015, việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm với tội giết người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh về cơ bản đảm bảo chính xác các quy định của pháp luật. – Định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội. Khi người phạm tội thực hiện không phải một tội phạm mà thực hiện nhiều tội phạm thì việc định tội danh đối với các hành vi đó có một số đặc điểm và thường gặp một số khó khăn nhất định. Trường hợp này người phạm tội thực hiện một số tội phạm xâm phạm đến nhiều khách thể được luật hình sự bảo vệ gây ra những thiệt hại lớn về vật chất, thể chất, tinh thần. Pháp luật hình sự nước ta không đưa ra định nghĩa về phạm nhiều tội mà chỉ quy định nguyên tắc của việc quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội ( Điều 50 BLHS năm 1999). Vụ án Đinh Văn Mạnh là một ví dụ: Do mâu thuẫn với anh Đỗ Xuân Kiên về vấn đề tiền bạc, 2 bên lời qua tiếng lại, anh Mạnh đã chạy về nhà lấy khẩu súng K54 ( anh đã cất giữ nhiều năm) bắn 01 phát vào vùng đầu của anh Kiên khiến anh Kiên tử vong. Vụ án xảy ra có nhiều quan điểm được đưa ra và một trong số đó cho rằng anh Mạnh chỉ phạm tội giết người, hành vi cất giữ súng bắn anh Kiên chỉ đơn giản là hành vi dùng vũ khí để giết người không nên xử lý về tội tàng trữ sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Quan điểm khác cho rằng việc anh Mạnh cất giữ súng nhiều năm đã cấu thành tội độc lập, do đó phải xử lý Mạnh về 2 tội là giết người và tàng trữ sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.

44. 39 Ngày 27/12/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã đưa vụ án ra xét xử tuyên phạt anh Đinh Văn Mạnh 17 năm tù về tội giết người, 5 năm tù về tội tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng [38]. Có thể thấy, định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự. Định tội danh đúng sẽ là tiền đề cho việc xác định đúng hình phạt, khung hình phạt và quyết định hình phạt chính xác từ đó đảm đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội. Định tội danh đúng thể hiện rõ nhất hiệu quả hoạt động thực tiễn của việc áp dụng pháp luật, thể hiện rõ ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của cơ quan tiến hành tố tụng, ý thức tuân thủ triệt để pháp luật, từ đó nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động của các cơ quan này, góp phần củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. 2.2. Quyết định hình phạt đối với tội giết người 2.2.1. Cách tiếp cận để nhận diện thực tiễn quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam. 2.2.1.1. Quyết định hình phạt và các đặc điểm của quyết định hình phạt Quyết định hình phạt là hoạt động mang tính chính trị – pháp lý nhân văn, thể hiện quyền lực nhà nước, thể hiện sự lên án đánh giá của xã hội đối với tội phạm, nó là một hoạt động thực tiễn mang tính quyền lực nhà nước. Quyết định hình phạt không chỉ là cơ sở, tiền đề cho việc đạt được mục địch của hình phạt mà nó còn là yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao hiệu quả của hình phạt. Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn quan trọng, là một trong những nội dung cơ bản của quá trình áp dụng pháp luật hình sự và chỉ có Tòa án mới có quyền quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt là một dạng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành đối với người thực hiện tội phạm theo một trình tự nhất định. Ngoài ra nó còn là một dạng hoạt động pháp lý tố tụng hình sự, bởi vì để quyết định hình phạt, Tòa án phải dựa vào kết quả của

45. 40 các giai đoạn tố tụng hình sự khác như kết quả hoạt động điều tra, truy tố và kết quả hoạt động của mình ở giai đoạn xét xử để tuyên một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nội dung của quyết định hình phạt thể hiện ở hai điểm sau: Thứ nhất, Tòa án lựa chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) được áp dụng để quyết định đối với bị cáo. Thứ hai, xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo. Hai nội dung đó được tiến hành theo trình tự và được thực hiện khi áp dụng cả hình phạt chính lẫn hình phạt bổ sung. Loại mà mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo phải được thể hiện trong bản bán buộc tội theo quy định của BLTTHS và được công bố một cách công khai khi tuyên án [45, tr.385]. Hình phạt là do tòa án quyết định tùy thuộc vào các tình tiết cụ thể của vụ án, phải đảm bảo được sự tương xứng của hình phạt được tuyên với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm với dư luận xã hội, với ý thức pháp luật. Từ những phân tích trên tác giả cho rằng: Quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Toà án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử), nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho chính cá nhân người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS. Qua nghiên cứu, tác giả cho rằng: Quyết định hình phạt đối với tội giết người là việc Toà án căn cứ vào các tình tiết của vụ án nhằm lựa chọn loại hình phạt cụ thể, bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung, với mức độ cụ thể trong phạm vi BLHS quy định để áp dụng đối với người phạm tội giết người.

46. 41 2.2.1.2. Nguyên tắc quyết định hình phạt Các nguyên tắc quyết định hình phạt bao gồm: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc cá thể hoá hình phạt và nguyên tắc công bằng. – Nguyên tắc pháp chế XHCN Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện trước hết ở việc Toà án chỉ có thể quyết định một hình phạt đối với người phạm tội. Một nội dung khác của nguyên tắc này là khi quyết định hình phạt, Toà án phải tuân theo trình tự, các điều kiện áp dụng của từng loại hình phạt cụ thể và đặc biệt Toà án chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong BLHS. Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc này là khi áp dụng hình phạt đối với người bị kết án thì Toà án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. – Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa Khi quyết định hình phạt, Toà án phải cân nhắc, đánh giá một cách hài hoà, hợp lý trong một thể thống nhất lợi ích của xã hội của Nhà nước và của người phạm tội. Theo đó, Tòa án phải xuất phát từ tư tưởng nhân đạo để áp dụng và tuân thủ triệt để các quy định của luật hình sự về việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội không nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác và hạ thấp nhân phẩm con người mà ngược lại bên cạnh mục đích chính trị thì mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội luôn là mục đích cao nhất mà chúng ta hướng tới. – Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ khi quyết định hình phạt, Toà án phải cân nhắc đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt để từ đó làm cơ sở cho Toà án quyết định hình phạt đúng đắn với người phạm tội. – Nguyên tắc công bằng Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt được tuyên cần phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội, phải có sức thuyết phục mọi người. Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc công bằng

Tội Trốn Thuế Là Gì Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự?

Kính gửi – TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ 1900 6557 Công ty Luật Hoàng Phi, tôi có thắc mắc sau nhờ luật sư tư vấn giúp tôi: Hành vi trốn thuế khi nào bị coi là tội phạm? Người phạm tội này bị xử lý như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tổng đài tư vấn về tội trốn thuế trực tuyến: 1900 6557

Với câu hỏi trên TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ 1900 6557 trả lời như sau:

Căn cứ Điều 200 Bộ luật hình sự 2015 , sửa đổi và bổ sung năm 2017 về Tội trốn thuế như sau:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;

c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;

e) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

g) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

h) Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

i) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

b) Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

Từ quy định pháp luật hình sự, phân tích các yếu tố cấu thành của tội trốn thuế như sau:

– Chủ thể: chủ thể thực hiện tội trốn thuế có thể là một hoặc nhiều người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, pháp nhân thương mại.

– Khách thể: tội trốn thuế xâm phạm tới trật tự quản lý Nhà nước về thuế, gây thiệt hại đến ngân sách nhà nước.

– Mặt khách quan: Chủ thể phạm tội có một trong các dạng hành vi quy định từ điểm a đến điểm i khoản 1 Điều 200 nói trên và đáp ứng:

+ Với cá nhân: trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật hình sự 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

+ Với pháp nhân thương mại: trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng trở lên hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

– Mặt chủ quan: Chủ thể phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Chủ thể phạm tội dù biết hành vi của mình là nguy hiểm xã hội nhưng vì vụ lợi mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

Về hình phạt, căn cứ vào tính chất, nội dung và các tình tiết cụ thể của vụ việc, chủ thể thực hiện tội phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt và bị quyết định hình phạt cụ thể khác nhau.

– Khách hàng có thể dùng điện thoại cố định hoặc di động và KHÔNG cần nhập mã vùng điện thoại khi gọi tới TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900 6557

– Thời gian làm việc của TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900 6557 bắt đầu từ 8h sáng đến 10h tối tất cả các ngày trong tuần.

Để đảm bảo chúng tôi luôn có thể hỗ trợ được khách hàng, khách hàng hãy làm động tác nhỏ là lưu số điện thoại: 1900 6557 vào danh bạ để sử dụng dịch vụ của chúng tôi bất kỳ lúc nào.

Chúng tôi hy vọng việc triển khai hệ thông tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900 6557 sẽ hỗ trợ và giúp khách hàng giải đáp những thắc mắc của mình.

Tác giả

Nguyễn Văn Phi

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Cập nhật thông tin chi tiết về Tội Đe Dọa Giết Người Theo Quy Định Mới Của Bộ Luật Hình Sự trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!