Xu Hướng 12/2022 # Tóm Tắt Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Cực Hay, Ngắn (3 Mẫu). / 2023 # Top 17 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Tóm Tắt Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Cực Hay, Ngắn (3 Mẫu). / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Tóm Tắt Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Cực Hay, Ngắn (3 Mẫu). / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tóm tắt Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cực hay, ngắn (3 mẫu)

Bài giảng: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Phần 2: Tác phẩm) – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

Tóm tắt Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Bản 1)

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: là bài văn tế những người nông dân nghĩa sĩ đã hi sinh. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết theo thể phú Đường luật gồm bốn phần: lung khởi, thích thực, ai vãn, kết.

– Phần 1: Lung khởi (từ đầu đến tiếng vang như mõ): khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân. Đất nước bị xâm lăng trong cái dữ dội, ác liệt. Súng giặc đã rền khắp núi sông. Trước sự làm ngơ của triều đình nhà Nguyễn đã đặt người nông dân vào thử thách lịch sử, một khung cảnh bão táp của thời đại, vận nước là thước đo lòng người, những biến cố chính trị lớn lao. Người nghĩa sĩ không coi trọng chuyện được mất, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn.

– Phần 2: Thích thực (từ Nhớ linh xưa… đến tàu đồng súng nổ): kể về nguồn gốc, phẩm hạnh, công đức của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Họ là những người nông dân 100% mộc mạc, chất phác sau lũy tre làng nhưng suốt đời vẫn nghèo khó. Họ cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, quen việc quốc, cày, bừa, cấy và hoàn toàn xa lạ với việc nhà binh: tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ… Mặc dù khi vào trận đánh họ có nhiều thiếu thốn nhưng họ tự nguyện đứng lên kiên quyết xông pha vào mặt trận: “nào đợi ai đòi ai bắt”, “ra sức đoạn kình”, “ra tay bộ hổ” và giành được nhiều thắng lợi.

– Phần 3: Ai vãn (từ Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng đến cơn bóng xế dật dờ trước ngõ): Bày tỏ lòng thương tiếc, sự cảm phục của tác giả và nhân dân đối với người nghĩa sĩ. Đó là tiếng khóc quặn lòng cho một thời đại bi thương: Già trẻ trai gái Trường Bình khóc,chùa Tông Thạnh khóc, cây cỏ khóc, sông Cần Giuộc khóc, tác giả khóc. Đó cũng là tiếng khóc thể hiện niềm tự hào.

– Phần 4: Khốc tận (Kết) đoạn còn lại: Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ. Tác giả đề cao quan niệm cao đẹp: Chết vinh còn hơn sống nhục. Nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân, họ ra trận không cần công danh, bổng lộc, gượng ép mà chỉ vì một điều rất đơn giản là lòng yêu nước, thương dân.

Tóm tắt Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Bản 2)

Tác phẩm là một bài văn tế, được viết để tế những nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận tập kích đồn quân Pháp ở Cần Giuộc. Tác phẩm kể lại công chiến đấu, sự hi sinh anh dũng của những nghĩa sĩ và bày tỏ nỗi đau thương, mất mát, lòng kính trọng, biết ơn của người ở lại đối với người đã khuất.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu làm để đọc tại buổi truy điệu những anh hùng nghĩa sĩ nông dân đã hi sinh trong trận tập kích đồn giặc ở Cần Giuộc vào năm 1861. Mặc dù diệt trừ được một số quan quân của giặc và bọn quan lại bán nước nhưng khoảng hai mươi nghĩa sĩ đã hi sinh quả cảm, để lại niềm xúc động lớn lao, khôn xiết trong lòng nhân dân. Chính vì lẽ đó, tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu cũng phần nào thể hiện tiếng lòng xót xa của quần chúng nhân dân đối với những người lính áo vải trong trận quyết chiến ở Cần Giuộc.

Tóm tắt Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Bản 3)

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu viết để tưởng nhớ công ơn của những người nông dân đã anh dũng đứng lên chống giặc. Năm 1858, giặc Pháp đánh vào Đà Nẵng, nhân dân Nam Bộ đứng lên chống giặc. Năm 1861, vào đêm 14 -12, nghĩa quân tấn công đồn giặc ở Cần Giuộc trên đất Gia Định, gây tổn thất cho giặc, nhưng cuối cùng lại thất bại. Bài văn tế tuy được viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định, song chính là những tình cảm chân thực của Đồ Chiểu dành cho những người đã xả thân vì nghĩa lớn.

Văn tế (ngày nay gọi là điếu văn) là thể văn thường dùng để đọc khi tế, cúng người chết, nó có hình thức tế – tưởng. Bài văn tế thường có các phần: Lung khởi (cảm tưởng khái quát về người chết); Thích thực (hồi tưởng công đức của người chết); Ai vãn (than tiếc người chết); Kết (nêu lên ý nghĩa và lời mời của người đứng tế đối với linh hồn người chết). Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có kết cấu đủ bốn phần như vậy.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ – người nông dân nghĩa sĩ chống giặc, cứu nước. Đó là những con người vốn hiền lành chất phác chỉ quen với chuyện “ruộng trâu ở trong làng bộ” nhưng khi đất nước đứng trước nạn ngoại xâm họ đã dám đứng lên chống lại kẻ thù mạn.

Tham khảo các bài Soạn văn lớp 11 ngắn nhất, hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

van-te-nghia-si-can-giuoc-1.jsp

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc / 2023

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)

Văn bản

Hỡi ôi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ. Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ. Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê, bán chó. Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ. Khá thương thay: Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; chín chục trận binh thư, không chờ bày bố. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ. Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ. Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ. Ôi ! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ. Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ. Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ. Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm; vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số. Nhưng nghĩ rằng: Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương; vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Ôi thôi thôi ! Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ. Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ. Ôi ! Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ. Hỡi ôi thương thay ! Có linh xin hưởng.

Phân tích

Người nông dân Việt Nam yêu nước chống ngoại xâm đã xuất hiện từ rất lâu, ít nhất cũng trên mười thế kỷ nay. Nhưng trong văn học, hình ảnh người nông dân ấy chỉ thực sự xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XIX với bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu. Có thể nói, với bài văn tế này, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên bức tượng đài nghệ thuật đầu tiên về người nông dân – nghĩa sĩ Việt Nam. Đó là một hình tượng rất đẹp, rất chân thực đầy tính bi tráng, bi thương mà hào hùng đúng như cuộc chiến đấu bi tráng mà nhân dân việt Nam đã tiến hành suốt nửa sau thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, vì cuộc sống, vì độc lập, tự chủ của Tổ quốc mình. Nguyễn Đình Chiểu đã rất có lí, rất sâu sắc khi mở đầu khúc bi ca của mình: “Hỡi ôi! Súng giặc đất rền: lòng dân trời tỏ”. Quả là, qua cuộc chiến đấu này, qua cái thử thách khắc nghiệt ngày, bản chất tốt đẹp, tấm lòng yêu nước của những người nông dân bình thường này, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn họ được bộc lộ một cách trọn vẹn. Họ vẫn có đấy, vẫn sống đấy, nhưng sống trong thầm lặng của sự quên lãng. Nguyễn Đình Chiểu, với sự cảm thông cao độ, nhận ra rằng cuộc sống của họ đã từng vất vả xiết bao: “Nhớ linh xưa: Côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó”. Bao nhiêu lượng thông tin chứa đựng trong tám tiếng ngắn ngủi ấy đã nói với chúng ta rất đầy đủ về tình cảnh của người nông dân Cần Giuộc, người nông dân lục tỉnh, cũng là người nông dân Việt Nam ngày đó. Bóng dáng của họ, nhỏ bé và cô đơn trong cuộc sống, sự khắc nghiệt và những tài họa trong thiên nhiên, từ xã hội, như hiện lên rõ mồn một qua từng chữ. Tưởng như, chỉ chừng ấy lo toan vất vả cũng đã quá đủ đối với họ; tưởng như họ, những người nông dân vất vả ấy, chẳng còn có thể nghĩ gì thêm, lo toan gì thêm ngoài những “toan lo nghèo khó” vốn đã quá lớn lao ấy. Thế mà không, quân xâm lược đã chiếm đất nước, đã đến tận xóm làng, đã đến tận ngôi nhà của họ. Và, những con người đang cúi xuống ấy bỗng đứng phắt dậy, vươn vai, và họ chợt trở thành người khổng lồ như chú bé làng Gióng mấy nghìn năm trước khi chợt nghe nghe lời truyền của sứ giả. Nhưng có một điều cơ bản rất khác xưa là tiếng rao truyền cứu nước không phải phát đi từ cung điện nhà vua mà đã được phát đi từ chính trái tim của những người nông dân Cần Giuộc. Nó chính là lòng căm thù sục sôi vì hành động cướp nước: Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp; muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen xì muốn ra cắn cổ. Như một phản ứng hạt nhân tất yếu, long căm thù giặc cao độ đã làm nảy sinh một khát vọng cao độ; khát vọng đánh giặc. Đó là ước muốn hoàn toàn tự nhiên và cũng hoàn toàn tự nguyện: Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ. Người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu thật đã khác hoàn toàn với người nông dân chỉ trước đó không bao lâu “Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa” khi phài sung làm lính đi biên thú phương xa bảo vệ cương thổ của nhà vua. Tự nguyện chiến đấu, ấy là nét bản chất nhất trong hành động của người nghĩa sĩ thực sự. Phải chăng đó là sự tiếp tục giữa nghĩa sĩ Cần Giuộc đánh ngoại xâm với tráng sĩ Lục Vân Tiên đánh cướp mà động cơ duy nhất: Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng. Trong mọi việc nghĩa, không có việc nào lớn hơn việc cứu nước. Thấy việc nghĩa thì phải làm, làm một cách vô tư, không vụ lợi, không chần chừ, không cần đợi, có đủ điều kiện mới làm. Đó là chỗ bi kịch của người nông dân Cần Giuộc, đó cũng là chỗ hùng ca của người nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bi kịch vì: Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng. Trông tin quan như trời hạn trông mưa. Họ bắt đầu cuộc chiến đấu vào lúc lẽ ra triều đình phong kiến cùng quan quân của họ đã phải tiến hành cuộc chiến đấu ấy tư lâu nhưng lại “án binh bất động” một cách khó hiểu. Bi kịch còn cho họ là những người: Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Việc cuốc việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Bước vào chỗ sống chết của chiến trường mà những con người ấy chỉ mang theo những trang bị chỉ đủ để làm những người cày ruộng. Trước giặc dữ là những tên lính nhà nghề có đủ “tàu sắt tàu đồng”, “đạn nhỏ, đạn to”, họ chỉ là những người nông dân không có kiến thức gì về trận mạc, chỉ có “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”, chỉ có “lưỡi dao phay”. Cuộc chiến đấu mới chênh lệch làm sao! Kết cục cuộc chiến đấu ấy như thế nào thì đã rõ ràng rồi. Đó là tấn bi kịch của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc, cũng là tấn bi kịch của cuộc sống nước ta vào thời kì nghiệt ngã ấy, tấn bi kịch đã đưa đến cái họa mất nước kéo dài cả thế kỷ. Nhưng chính trong cái bi kịch ấy, bản hùng ca của cuộc sống đã cất lên. Hùng ca trước hết là ở sự ngoan cường của những con người quyết chiến thắng, vượt lên trên nỗi lo thất bại để chiến thắng, lấy tinh thần xả thân vì nghĩa để bù đắp hết mọi sự thiếu hụt, chênh lệch của mình so với kẻ thù: Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rao lướt tới, coi giặc cũng như không; Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có …; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ. Thật là phấn chấn, thật là hào hùng, thật là hả dạ. Đúng là họ đã chiến đấu như những người lính tuyệt vời dũng cảm. Ở đây, sức mạnh tinh thần đã phát huy đến mức độ tối đa và trong một chừng mực nào đó, đã tỏ rõ hiệu quả của nó trước sức mạnh cùa chiến thuật, của vũ khí, trang bị: Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rơi đầu quan hai nọ. …kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh…. Trong văn chương Việt Nam, cho đến Nguyễn Đình Chiểu, quả chưa hề có một bức tranh hào hùng như thế về tư thế chiến đấu của người lính áo vải. Hình ảnh người nông dân ở đây là sự kết tinh và thăng hoa ở mức độ cao nhất những gì vốn là bản chất của họ. Trong những giây phút tuyệt vời ấy, người nông dân Cần Giuộc đã đi vào vĩnh cửu. Quả Nguyễn Đình Chiểu đã tạc nên một bức tượng đài của người nông dân – nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhưng đây không phải là tượng đài của một người, mà của nhiều người, của một tập thể anh hùng. Không có cái tập thể ấy, không làm sao có được sự hòa hợp tuyệt đẹp, cái khí thế bừng bừng áp đảo hiểm nghèo, áp đảo cái chết, với những “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, với những “kẻ đâm ngang người chém ngược”, “bọn hè trước, lũ ó sau” như thế được. Bức tượng đài của Nguyễn Đình Chiểu chỉ có một tên gọi chung là “nghĩa sĩ Cần Giuộc”, còn mỗi người nghĩa sĩ trên đó đều vô danh. Họ không hề tìm một điều gì cho riêng mình khi chiến đấu. Cái điều duy nhất họ gửi lại cho đời, điều mà Nguyễn Đình Chiểu nêu lên như là một tiêu chí chung bên dưới bức tượng đài của họ, ấy là cái triết lí sống: Chết vinh còn hơn sống nhục. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ. Hoàn thành bức tượng của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã để một phần cuối cho những lời ca ngợi, thương tiếc và thắp những nén hương kính trọng: Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ. Cuộc tấn công của mấy chục nghĩa quân vào đồn Cần Giuộc của thực dân Pháp năm 1863 là cuộc tấn công đầu tiên của quân dân Việt Nam mở đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Số lượng thiệt hại mà nghĩa quân đã gây cho giặc có lẽ cũng không là bao nhiêu. Song, hiệu quả thực sự mà họ tạo nên cho cuộc kháng chiến, cho lịch sử dân tộc, bằng lòng yêu nước that thiết và vô tư của họ, bằng tinh thần sẵn sáng chiến đấu, sự cũng cảm vô điều kiện và tuyệt vời của họ, thì to lớn vô cùng. Họ xứng đáng được tạc thành tượng đài để đi vào bất tử. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ của người nghệ sĩ nhân dân khi tạc nên bức tượng đài ấy.

Về Nguyễn Đình Chiểu

Văn chương chưa phải là toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Ðùnh Chiểu. Sự nghiệp của ông còn lớn hơn nhiều. Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà giáo, người thầy thuốc và là một nhà tư tưởng. Nhưng văn chương của ông đồ sộ đủ đứng thành sự nghiệp riêng.

Nguyễn Ðình Chiểu bắt đầu viết văn sau khi mù, hầu hết các tác phẩm đều viết bằng chữ Nôm. Căn cứ vào nội dung có thể chia ra thành hai thời kỳ sáng tác:

-Trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ: Tác phẩm Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tay, có tính chất tự truyện.

-Pháp xâm lược Nam Kỳ:

+ Tác phẩm Dương Từ-Hà Mậu có ý kiến cho rằng tác phẩm được viết trước khi Pháp xâm lược cũng có ý kiến ngược lại, mục đích của tác giả là dạy đạo Khổng cho học trò và sau này được sửa lại cho phù hợp với tình hình.

+ Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp chủ yếu nói về các phương thuốc và nghề làm thuốc nhưng tràn đầy tinh thần yêu nước.

+ Các bài thơ Ðường luật, các bài hịch, văn tế… tiêu biểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc(1861), Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Ðịnh(1864), Mười bài thơ điếu Phan Tòng(1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh(1874), Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, Hịch đánh chuột chưa xác định thời điểm sáng tác.

Với những tác phẩm nổi tiếng của mình, Nguyễn Ðình Chiểu trở thành người có uy tín lớn. Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuộc ông nhưng ông vẫn một mực từ chối các ân tứ. (Có nhiều giai đoạn về thái độ bất hợp tác của Nguyễn Ðình Chiểu với kẻ thù).

Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ mù Nam Bộ là một bài học lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén. Tấm gương Nguyễn Ðình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào.

– Lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa – Lòng yêu nước, thuơng dân

Giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Dù là thơ Đường luật, văn tế hay truyện thơ, nghệ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đều có các đặc điểm nổi bật về nội dung là ca ngợi các phẩm chất đạo đức truyền thống theo quan điểm của nhà nho như trung nghĩa, thủy chung và thể hiện lòng yêu nước sâu sắc. Sáng tác của ông thể hiện trách nhiệm của một công dân đối với dân tộc. Do hoàn cảnh, ông không thể đứng lên trực tiếp cầm vũ khí đánh giặc, nhưng những trang văn của cụ đồ Chiểu có một sức chiến đấu mạnh mẽ. Tấm lòng tha thiết với nhân dân đất nước của ông đã đánh thức lòng yêu nước trong biết bao người dân Việt Nam khi họ soi mình vào trang văn của nhà nho Nguyễn Đình Chiểu.

Về giá trị nghệ thuật: ngôn ngữ và cách diễn đạt bình dị, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân; kết hợp tính cổ điển với tính dân gian, bút pháp lý tưởng hoá với tả thực; đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là bản sắc địa phương Nam Bộ.

Community content is available under CC-BY-SA unless otherwise noted.

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn / 2023

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn, Lập Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Rap Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chế, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Nội Dung ý Nghĩa Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 2 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 3 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Lớp 11 Nâng Cao, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo án, Văn Tế Nghĩa Dân Chết Trận Cần Giuộc, Nghệ Thuật Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Bút Pháp ước Lệ Tượng Trưng, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là Tiếng Khóc Bi Tráng, Dàn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là 1 Tiếng Khóc Bi Tráng , Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Nào, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Bút Pháp Tượng Trung Được Thể Hiện Ntn Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, ý Nghĩa Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Sĩ Cần Giuộc, Văn Bản ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Tóm Tắt ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Giáo án ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Nội Dung Bài ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Văn Bản ông Giuốc-Đanh Mặc Lễ Phục Violet, Bài Giảng ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Soạn Ngữ Văn 7 Báo Cáo, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Lớp 8, Soạn Anh Văn 7 Đề án, Soạn Văn Lớp 6 Bài Thi Làm Thơ 5 Chữ, Soạn Anh 8 Đề án, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Lớp 6, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu, Mục Lục Soạn Văn 8, Mục Lục Soạn Văn 10, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu 8, Mục Lục Soạn Văn 6, Soạn Bài 3 Văn Bản Lớp 10, Soạn Văn Bản Bác ơi, Soạn Cụm Từ, Soạn Anh Văn 8 Đề án, Mục Lục Soạn Văn 7, Soạn Bài ôn Tập Làm Văn Lớp 7, Soạn Địa 8 Bài 7 ôn Thi Địa Lý, Soạn Văn 7 Bài Thơ Lục Bát, Soạn Lý 9 Bài 3 Mẫu Báo Cáo, Soạn Bài ôn Tập Làm Văn Lớp 9, Soạn Văn 7 Văn Bản Báo Cáo, Soạn Văn 7 Bài Thơ Đỏ, Soạn Bài Văn Bản Đề Nghị, Soạn Văn 9 Biên Bản, Biên Bản Soạn Bài, Soạn Bài ôn Tập Giữa Học Kì 1 Lớp 5, Soạn Bài ôn Tập Văn Biểu Cảm Lớp 7, Hướng Dẫn Soạn Văn Bản Lớp 6, Văn Bản Soạn Thảo, Rừng Xà Nu Soạn, Soạn Văn Bài Chữ Người Tử Tù, Soạn Giáo án Môn Đạo Đức Lớp 4, Hướng Dẫn Soạn Văn Bản ông Đồ, Soạn Biên Bản 9, Mẫu Văn Bản Soạn Thảo, Yêu Cầu Khi Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Văn 7 Văn Bản Đề Nghị, Hướng Dẫn Soạn Bài Văn Bản, Yêu Cầu Soạn Thảo Văn Bản, Yêu Cầu Về Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Thảo Văn Bản Chỉ Đạo, Hướng Dẫn Soạn Bài Văn Bản Lớp 10, Soạn Bài Văn Bản Đề Nghị Lớp 7, Soạn Bài Ngữ Văn 7 Văn Bản Đề Nghị, Vợ Chồng A Phủ Soạn, Mẫu 01 Soạn Thảo Văn Bản, Hướng Dẫn Soạn Bài Văn Bản Văn Học, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Dấu Phẩy, Soạn Đệm Organ, Văn Bản Đề Nghị Soạn Bài, Đề Tài Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Văn Lớp 9 Bài Kiểm Tra Về Thơ, Biên Bản Soạn, Soạn Bài ôn Tập Giữa Học Kì 2 Lớp 5, Soạn Bài ôn Tập Giữa Học Kì 2 Lớp 4, Soạn Bài ôn Tập Miêu Tả, Bài Mẫu Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Bài ôn Tập Giữa Học Kì 2, Soạn Ngữ Văn Lớp 7 Bài Văn Bản Đề Nghị, Văn Bản Đề Nghị Soạn, Soạn Bài ôn Tập Văn Bản Biểu Cảm, Soạn Văn 9 Hợp Đồng, Quy ước Khi Soạn Thảo Văn Bản, Quy ước Soạn Thảo Văn Bản, Soạn Ngữ Văn 9 Biên Bản, Văn Bản Đề Nghị Ngữ Văn 7 Soạn Bài, Soạn Bài ôn Tập Văn Biểu Cảm,

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Soạn, Lập Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Rap Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dàn ý Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chế, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Nội Dung ý Nghĩa Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 2 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Bài Viết Số 3 Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Lớp 11 Nâng Cao, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Giáo án, Văn Tế Nghĩa Dân Chết Trận Cần Giuộc, Nghệ Thuật Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Giáo án Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Violet, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Bút Pháp ước Lệ Tượng Trưng, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là Tiếng Khóc Bi Tráng, Dàn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Là 1 Tiếng Khóc Bi Tráng , Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Nào, Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Được Sáng Tác Trong Bối Cảnh Như Thế Nào, Bút Pháp Tượng Trung Được Thể Hiện Ntn Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, ý Nghĩa Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Sĩ Cần Giuộc, Văn Bản ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Tóm Tắt ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Giáo án ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Nội Dung Bài ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Văn Bản ông Giuốc-Đanh Mặc Lễ Phục Violet, Bài Giảng ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục, Soạn Ngữ Văn 7 Báo Cáo, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Lớp 8, Soạn Anh Văn 7 Đề án, Soạn Văn Lớp 6 Bài Thi Làm Thơ 5 Chữ, Soạn Anh 8 Đề án, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu Lớp 6, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu, Mục Lục Soạn Văn 8, Mục Lục Soạn Văn 10, Soạn Bài ôn Tập Dấu Câu 8, Mục Lục Soạn Văn 6, Soạn Bài 3 Văn Bản Lớp 10, Soạn Văn Bản Bác ơi, Soạn Cụm Từ, Soạn Anh Văn 8 Đề án, Mục Lục Soạn Văn 7, Soạn Bài ôn Tập Làm Văn Lớp 7, Soạn Địa 8 Bài 7 ôn Thi Địa Lý, Soạn Văn 7 Bài Thơ Lục Bát,

Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc / 2023

Xin chào các em! Hôm nay, Soạn Văn sẽ hướng dẫn các em soạn văn bản: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Phần 1: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Những nét chính về cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu:

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại quê mẹ – làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), xuất thân trong một gia đình nhà nho.

Năm 1843, ông đỗ tú tài

Năm 1846, ông ra Huế học, chuẩn bị thi tiếp thì được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi để về quê chịu tang mẹ. Dọc đường về, ông bị đau mắt nặng rồi bị mù. Ông về Gia Định, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ.

Năm 1859, Pháp đánh vào Bến Nghé, ông lại chuyển về Cần Giuộc, rồi về Bến Tre. Mặc dù bị giặc Pháp dụ dỗ nhưng ông vẫn luôn giữ tấm lòng son sắt và chung thủy với đất nước.

Câu 2:

a) Lý tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng trên cơ sở tình cảm: mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho, nhưng lại rất đậm đà tính nhân văn và truyền thống dân tộc. Đó là những con người có tấm lòng nhân hậu, thủy chung, biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng, cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chống lại những thế lực bạo tàn, cứu nhân độ thế.

b) Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:

Ghi lại chân thực thời kỳ đau thương của đất nước, khích lệ lòng căm thù giặc, biểu dương tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược.

Ca ngợi những sĩ phu yêu nước

Giữ niềm tin vào tương lai tươi sáng

Tinh thần bất khuất trước kẻ thù

c) Sắc thái Nam Bộ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu được biểu hiện ở từng nhân vật trong các rác phẩm của ông. Mỗi người dân Nam Bộ có thể dễ dàng bắt gặp mình trong các nhân vật của ông, từ lời ăn, tiếng nói, sự mộc mạc, chất phác cho đến tâm hồn nồng nhiệt, cách cư xử khoáng đạt, hồn nhiên.

Câu 3:

Điều gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giữa 2 nhà thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu: Nguyễn Trãi cũng lấy cái nền tảng của nhân nghĩa là quyền lợi của nhân dân. Nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu thì tư tưởng nhân nghĩa mới thực sự phổ biến rộng rãi đến nhân dân, thực sự gần gũi với nhân dân.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tóm Tắt Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Cực Hay, Ngắn (3 Mẫu). / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!