Xu Hướng 3/2024 # Top 6 Bài Soạn “Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự” Lớp 6 Hay Nhất # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Top 6 Bài Soạn “Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự” Lớp 6 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phần I: Ý NGHĨA VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ

Trả lời câu 1 (trang 27 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Trong đời sống hàng ngày người ta thường nghe những yêu cầu và những câu hỏi như sau:

– Bà ơi, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe đi!

– Cậu kể cho mình nghe Lan là người như thế nào.

– Bạn An gặp chuyện gì mà lại thôi học nhỉ?

– Thơm ơi, lại đây tớ kể cho nghe câu chuyện này hay lắm.

a) Gặp trường hợp như thế, theo em, người nghe muôn biết điều gì và người kể phải làm gì?

Lời giải chi tiết:

a) Gặp những trường hợp như trên, người nghe muốn tìm hiểu sự việc, con người, câu chuyện của người kể, còn người kể phải thông báo, cho biết, giải thích giúp người nghe hiểu.

b) Muốn biết Lan là một người bạn tốt người kể cần phải kể ra những việc làm, hành động, tư tưởng, tình cảm cụ thể của Lan đối với bạn bè. Chẳng hạn:

+ Giúp đỡ bạn trong học tập.

+ Giúp bạn trong hoàn cảnh khó khăn, sẵn sàng chia sẻ khó khăn với bạn.

+ Luôn quan tâm, an ủi, động viên bạn bè vượt lên hòan cảnh để học tập, rèn luyện tốt.

– Phải kể những biểu hiện cụ thể như vậy thì người nghe với hiểu một cách tường tận, và có sự đánh giá đúng đắn về đốì tượng.

Trả lời câu 2 (trang 28 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Truyện Thánh Gióng mà em đã học là một văn bản tự sự. Văn bản này cho ta biết những điều gì? Vì sao có thể nói truyện Thánh Gióng là truyện ngợi ca công đức của vị anh hùng làng Gióng?

Hãy liệt kê các sự việc theo thứ tự trước sau của truyện. Truyện bắt đầu từ đâu, diễn biến như thế nào, kết thúc ra sao? Từ thứ tự các sự việc đó, em hãy suy ra đặc điểm của (phương thức) tự sự.

Lời giải chi tiết:

– Truyện Thánh Gióng cho ta biết Thánh Gióng là một vị anh hùng dân tộc đã đứng lên giết giặc ngoại xâm đem lại hạnh phúc cho nhân dân

– Các sự việc trong truyện được sắp xếp theo thứ tự sau:

1. Sự ra đời kì lạ của Thánh Gióng.

2. Thánh Gióng biết nói và nhận trách nhiệm đánh giặc.

3. Thánh Gióng lớn nhanh như thổi.

4. Thánh Gióng vươn vai thành tráng sĩ cưỡi ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt đi đánh giặc.

5. Thánh Gióng đánh tan giặc

6. Thánh Gióng lên núi, cởi bỏ áo giáp sắt bay về trời.

7. Vua lập đền thờ phong danh hiệu.

8. Những dấu tích còn lại của Thánh Gióng.

– Trong các sự việc trên thì:

+ Sự việc 1 là sự việc mở đầu.

+ Các sự việc từ 2 đến 7 là sự việc diễn biến.

+ Sự việc 8 là sự việc kết thúc.

– Từ thứ tự các sự việc trên ta có thể suy ra đặc điểm của phương thức tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.

Phần II: LUYỆN TẬP

Trả lời câu 1 (trang 28 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Đọc mẩu chuyện sau và trả lời câu hỏi: Trong truyện này, phương thức tự sự thể hiện như thế nào? Câu chuyện thể hiện ý nghĩa gì?

Ông già và thần chết

Một lần ông già đẵn xong củi và mang về. Phải mang đi xa ông già kiệt sức, đặt bó củi xuống rồi nói:

– Chà, giá Thần Chết đến mang ta đi thì có phải hơn không!

Thần Chết đến và bảo:

– Ta đây, lão cần gì nào?

Ông già sợ hãi bảo:

– Lão muốn ngài nhấc hộ bó củi lên cho lão.

(Lép Tôn-xtôi, Kiến và chim bồ câu)

Lời giải chi tiết:

* Phương thức tự sự của truyện được thể hiện ở chỗ: Truyện được kể theo trình tự thời gian, sự việc nối tiếp nhau, kết thúc bất ngờ, ngôi kể thứ ba. Nội dung của truyện kể diễn biến tư tưởng của một ông già.

* Ý nghĩa của câu chuyện:

– Ca ngợi trí thông minh của ông lão.

– Thể hiện tư tưởng yêu cuộc sống, dù kiệt sức thì sống cũng hơn chết.

Trả lời câu 2 (trang 29 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Bài thơ sau đây có phải tự sự không, vì sao? Hãy kể lại câu chuyện bằng miệng.

Sa bẫy

Bé Mây rủ mèo con

Đánh bẫy bầy chuột nhắt

Mồi thơm: cá nướng ngon

Lửng lơ trong cạm sắt.

Lũ chuột tham hoá ngốc

Chẳng nhịn thèm được đâu!

Bé Mây cười tít mắt

Mèo gật gù, rung râu.

Đêm ấy Mây nằm ngủ

Mơ đầy lồng chuột sa

Cùng mèo con đem xử

Chúng khóc ròng, xin tha !

Sáng mai vùng xuống bếp:

Bẫy sập tự bao giờ

Chuột không, cá cũng hết

Giữa lồng mèo nằm… mơ !

(Nguyễn Hoàng Sơn, Dắt mùa thu qua phố )

Lời giải chi tiết:

* Bài thơ Sa bẫy chính là một bài thơ tự sự. Tuy diễn đạt bằng thơ năm tiếng nhưng bài thơ đã kể lại một câu chuyện có đầu có đuôi, có nhân vật, chi tiết, diễn biến sự việc nhằm mục đích chế giễu tính tham ăn của mèo đã khiến mèo tự mình sa bẫy của chính mình.

* Kể lại câu chuyện:

Bé Mây rủ mèo con đánh bẫy lũ chuột nhắt bằng cá nướng thơm lừng treo lơ lửng trong cái cạm sắt. Cả bé, cả mèo đều nghĩ bọn chuột sẽ vì tham ăn mà mắc bẫy ngay. Đêm ngủ, Mây nằm mơ thấy cảnh chuột bị sập bẫy đầy lồng. Chúng chí cha chí chóe khóc lóc, cầu xin tha mạng.

Sáng hôm sau, ai ngờ khi xuống bếp xem, bé Mây chẳng thấy chuột, cũng chẳng còn cá nướng, chỉ có ở giữa lồng, mèo ta đang cuộn tròn ngáy khò khò… Chắc mèo đang mơ!…

Trả lời câu 3 (trang 29 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Hai văn bản: Huế: Khai mạc trại điêu khắc quốc tế lần thứ ba và Người Âu Lạc đánh tan quân Tần xâm lược trong SGK có nội dung tự sự không? Vì sao? Tự sự ở đây có vai trò gì?

Lời giải chi tiết:

– Cả hai văn bản đều có nội dung tự sự với nghĩa kể chuyện, kể việc.

– Tự sự ở đây có vai trò giới thiệu, tường thuật, kể chuyện thời sự hay lịch sử.

Trả lời câu 4 (trang 30 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Hãy kể câu chuyện để giải thích vì sao người Việt Nam tự xưng là con Rồng, cháu Tiên.

Lời giải chi tiết:

Tổ tiên người Việt xưa là Lạc Long Quân và Âu Cơ. Lạc Long Quân nòi Rồng hay chơi ở vùng sông hồ ở Lạc Việt (Bắc Bộ Việt Nam). Bà Ầu Cơ là giống tiên phương Bắc xuống chơi vùng Lạc Việt, thấy cảnh đẹp quên về. Lạc Long Quân và Âu Cơ gặp nhau rồi đem lòng yêu nhau, họ trở thành vợ chồng. ít lâu sau Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng nở ra một trăm người con. Người con trưởng được chọn làm vua, gọi là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đời đời cha truyền con nối. Biết ơn và tự hào về dòng giống của mình, người Việt tự xưng là con Rồng, cháu Tiên.

Trả lời câu 5 (trang 30 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Trong cuộc họp lớp đầu năm Giang, đề nghị bầu Minh làm lớp trưởng, vì bạn Minh đã chăm học, học giỏi, lại thường giúp đỡ bạn bè. Theo em, Giang có nên kể vắn tắt một vài thành tích của Minh để thuyết phục các bạn cùng lớp hay không?

Lời giải chi tiết:

Bạn Giang nên kể vắn tắt một vài thành tích của Minh để các bạn trong lớp hiểu Minh là người chăm học, học giỏi lại thường hay giúp đỡ bạn.

Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 2: Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Tự Sự

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự Ngữ văn lớp 6 bài 2: Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự. Đây là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo

Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự I. Kiến thức cơ bản

Tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến sự kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.

Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê.

II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học Câu 1. Trong đời sống hàng ngày ta thường nghe những yêu cầu và câu hỏi như:

– Bà ơi! Bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe đi!

– Cậu kể cho mình nghe, Lan là người thế nào?

– Bạn An gặp chuyện gì mà lại thôi học nhỉ? v.v…

+ Đó là những điều trong cuộc sống mà người nghe muốn hiểu muốn biết – và người kể phải giải thích sự việc, để đáp ứng yêu cầu của người nghe.

Câu 2. Truyện Thánh Gióng cho ta biết về người anh hùng làng Gióng. Chuyện xảy ra vào đời Hùng Vương thứ 6, người anh hùng đó đã đánh đuổi giặc Ân cứu nước, sau khi đánh giặc xong Gióng đã bay về trời.

+ Truyện Thánh Gióng là truyện ca ngợi công đức của vị anh hùng làng Gióng vì:

– Chuyện giúp ta hiểu được chiến công và tài năng của vị anh hùng.

– Bày tỏ lòng yêu mến, cảm phục đối với Thánh Gióng.

Câu 3. Đặc điểm của phương thức tự sự. (xem phần Ghi nhớ) III. Luyện tập Câu 1. Đọc mẩu chuyện “Ông già và thần chết” trả lời câu hỏi

+ Trong truyện này phương thức tự sự được thể hiện bằng một số các sự việc, ta có thể sắp xếp như sau:

+ Câu chuyện này thể hiện lòng ham sống của con người khi vất vả mệt nhọc người ta muốn chết, nhưng khi đối diện với nó người ta cảm thấy sợ hãi.

Câu 2. Bài thơ sau đây có phải là văn bản tự sự không, vì sao? Hãy kể lại câu chuyện bằng miệng. Sa bẫy Bé Mây rủ mèo con Đánh bẫy bầy chuột nhắt Mồi thơm: Cá nướng ngon Lửng lơ trong cạm sắt. Lũ chuột tham hoá ngốc Chẳng nhịn thêm được đâu! Bé Mây cười tít mắt Mèo gật gù, rung râu. Đêm ấy Mây nằm ngủ Mơ đầy lồng chuột sa Cùng mèo con đem xử Chúng khóc ròng xin tha! Sáng mai vùng xuống bếp: Bẫy sập từ bao giờ Chuột không cá cũng hết Giữa lồng mèo nằm… mơ

(Nguyễn Hoàng Sơn, Dắt mùa thu vào phố)

+ Bài thơ trên là một văn bản tự sự vì nó bao gồm một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng là sự kết thúc đầy ý nghĩa.

+ Kể lại chuyện bằng văn xuôi: Bé Mây rủ mèo con đánh bẫy chuột nhắt bằng cá nướng để trong cạm sắt. Vì bé nghĩ lũ chuột tham lam sẽ không nhịn được thèm mà chui vào ăn. Bé cười vui vẻ còn chú mèo gật gù rung râu trước sáng kiến tuyệt vời.

Đêm ấy bé Mây nằm ngủ mơ thấy cảnh chuột nhắt chui đầy vào lồng bị sập bẫy, bé cùng mèo đen ra xử, lũ chuột nhắt khóc lóc van xin.

Sáng mai lúc tỉnh dậy bé Mây chạy xuống bếp thấy bẫy sập từ lúc nào, hỡi ơi chẳng thấy con chuột nào cả, chỉ thấy chú mèo đang nằm ở trong lồng sắt.

Câu 3. Hai văn bản sau đây có nội dung tự sự không? Vì sao? Tự sự ở đây có vai trò gì?

+ Hai văn bản:

– Huế: Khai mạc trại điêu khắc quốc tế lần thứ ba, và Người Âu Lạc đánh tan quân Tần xâm lược.

+ Cả hai văn bản đều là văn bản tự sự nhưng có sự khác nhau về tính chất. Văn bản thứ nhất là một bản tin, văn bản thứ hai là một

Bài lịch sử.

+ Các sự kiện chính trong hai văn bản:

– Huế: Khai mạc trại điêu khắc quốc tế lần thứ ba.

– Người Âu Lạc đánh tan quân Tần xâm lược.

Câu 4. Em hãy kể lại câu chuyện để giải thích vì sao người Việt Nam tự xưng là con Rồng, cháu Tiên.

+ Để kể lại câu chuyện này em phải liệt kê chuỗi sự việc diễn ra trong câu chuyện.

+ Chuỗi sự việc đó có thể sắp xếp như sau:

Câu 5. Trong cuộc họp lớp đầu năm, Giang đề nghị bầu Minh làm lớp trưởng, Giang có nên kể vắn tắt thành tích học tập của Minh không?

+ Tất nhiên là Giang rất nên kể vắn tắt thành tích học tập của bạn Minh rồi, có như vậy mới thuyết phục được các bạn vì sao Giang lại bầu Minh làm lớp trưởng.

+ Giang có thể kể thành tích học tập của bạn Minh qua các năm học trước, thái độ học tập, tinh thần giúp đỡ bạn bè v.v.

Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Từ mượn

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng

Theo chúng tôi

Bài Tập Ngữ Văn 6: Thánh Gióng. Từ Mượn. Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự

1. Có ý kiến cho rằng truyện Thánh Gióng là truyền thuyết vì trong truyện có giải thích nguồn gốc một số sự vật, hiện tượng (làng Cháy, tre đằng ngà, ao hồ ở vùng chân núi Sóc) và có nhiều yếu tố tưởng tượng kì ảo. Theo em, cách lí giải như vậy đã đầy đủ chưa ? Nếu phải giải thích truyện Thánh Gióng là truyền thuyết em sẽ lí giải như thế nào ?

2. Dòng nào không giải thích cho khái niệm chi tiết tưởng tượng kì ảo ?

A – Là chi tiết không có thật

B – Là chi tiết được tưởng tượng ra

C – Là chi tiết gắn với sự thật lịch sử

D – Là chi tiết có tính chất hoang đường, kì vĩ

3. Trong các chi tiết sau, đâu là chi tiết không có yếu tố tưởng tượng kì ảo ?

A – Bà lão đặt chân lên vết chân lạ và mang thai

B – Đứa trẻ vươn vai một cái bỗng biến thành tráng sĩ

C – Bà con làng xóm góp gạo nuôi chú bé

D – Ngựa sắt hí vang phun ra lửa

A – Nguồn gốc và chiến công của người anh hùng

B – Sức mạnh của tinh thần đoàn kết

C – Đánh giặc cứu nước

D – Vai trò của nhân dân

5. Dòng nào thể hiện đúng nhất quan niệm của nhân dân về người anh hùng trong truyền thuyết Thánh Gióng ?

A – Phải có nguồn gốc thần kì và vũ khí kì diệu

B – Phải xuất thân từ nhân dân và được nhân dân nuôi dưỡng

C – Phải có được sức mạnh phi thường

D – cả ba ý trên

6. Dòng nào thể hiện đúng nhất khái niệm từ tiếng Việt ?

A – Là từ có một âm tiết

B – Là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu

C – Là các từ đơn và từ ghép

D – Là các từ ghép và từ láy

7. Dòng nào thể hiện đúng nhất khái niệm từ mượn tiếng Việt ?

A – Là những từ do nhân dân ta sáng tạo ra

B – Là những từ được mượn từ tiếng Hán, hay hơn từ Việt vốn có

c – Là những từ làm phong phú thêm cho vốn từ tiếng Việt

D – Là những từ vay mượn từ tiếng nước ngoài để biểu thị những sự vật, hiện tượng mà tiếng Việt chưa có

8. Bộ phận từ mượn quan trọng nhất trong tiếng Việt có nguồn gốc từ đâu ?

A – Tiếng Anh C – Tiếng Hán

B – Tiếng Pháp D – Tiếng Khơ-me

9. Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nên dùng từ mượn như thế nào

A – Tuyệt đối không dùng từ mượn

B – Dùng nhiều từ mượn để làm giàu thêm tiếng Việt

C – Dùng từ mượn tuỳ theo ý thích của người nói, người viết

D – Không dùng từ mượn tuỳ tiện, chỉ dùng khi cần thiết

10. Đoạn văn : Vào đời Hùng Vương thứ sáu, Ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức nhưng mãi vẫn chưa có con. Một hôm bà lão nhìn thấy vết chân lạ trên cánh đồng liền ướm thử. Không ngờ bà thụ thai và sau đó sinh ra một cậu bé rất khôi ngô tuấn tú thuộc phương thức biểu đạt nào ? Vì sao ?

11. Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi.

Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái, bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ.

a) Đoạn văn trên thuộc phương thức biểu đạt nào ?

A – Miêu tả C – Tư sự

B – Biểu cảm D – Nghị luận

b) Đoạn văn trên có mục đích gì ?

A – Tái hiện trạng thái sư vật, hiện tượng

B – Trình bày diễn biến sự việc

C – Bày tỏ tình cảm, cảm xúc,

D – Nêu ý kiến đánh giá, bàn luận

12. Hãy liệt kê các chi tiết tưởng tượng kì ảo trong truyện Thánh Gióng.

13. Vì sao sau khi đánh tan giặc Ân, Thánh Gióng lại bay về trời ?

14. Truyện Thánh Gióng trong Ngữ văn 6 có mấy đoạn ? Nội dung chính được kể trong mỗi đoạn là gì ?

15. Tóm tắt truyện Thánh Gióng trong khoảng 10 câu.

16. Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi.

Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ, bèn sai sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tiếng rao, bỗng dưng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo : “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.

a) Đoạn văn kể sự việc gì ? Sự việc đó được làm rõ bởi những chi tiết nào ? Mối quan hệ giữa các chi tiết đó ra sao ?

b ) Theo em, chi tiết nào là quan trọng trong sự việc kể trên ? Chi tiết đó có ý nghĩa gì và giữ vai trò như thế nào đối với sự phát triển của câu chuyện ?

c) Đoạn văn có những từ nào là từ mượn ? Mượn ở ngôn ngữ nào ? Thử tìm trong tiếng Việt những từ có thể thay cho những từ mượn trên mà ý nghĩa không đổi.

d) Câu văn Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua đã được một bạn kể lại là Sứ giả lấy làm lạ, mừng rỡ quá, vội vàng về tâu vua.

Theo em, việc thay kinh ngạc bằng lấy làm lạ có làm thay đổi thái độ của nhân vật và ý nghĩa của chi tiết đó không ? Vì sao ?

17. Kết thúc truyện Thánh Gióng kể việc Gióng đánh giặc rồi bay về trời như sau : Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Chi tiết đó đã được bạn Lan kể lại : Đến đấy, tráng sĩ lên đỉnh núi rồi bay về trời. Bạn Tuấn Anh kể : Đến đấy, tráng sĩ một mình lên đỉnh núi để lại ngựa, cởi bỏ giáp sắt rồi bay về trời.

Theo em, ba cách kể trên có làm cho nội dung và ý nghĩa của chi tiết khác nhau không ? Vì sao ?

18. Hãy tưởng tượng mình là người dân làng Gióng và kể lại truyện Thánh Gióng theo sự việc gắn với nhân vật chính cho khách thập phương đến dự hội làng nghe.

19. Vì sao nói truyền thuyết Thánh Gióng là một văn bản tự sự ?

A – Giải thích một số sự việc : sự ra đời kì lạ của Thánh Gióng, Gióng bay về trời, Gióng để lại một số vết tích

B – Bày tỏ thái độ ngợi ca hành động giết giặc của Thánh Gióng

C – Kể lại, giải thích, bày tỏ thái độ ngợi ca sự ra đời và hành động giết giặc cứu nước của Thánh Gióng

D – Kể lại sự kiện lịch sử đánh giặc Ân của ông cha ta

20. Truyện Thánh Gióng có các sự việc sau :

a. Gióng ra đời

b. Gióng lớn nhanh như thổi, cả làng nuôi. Gióng

c. Gióng biết nói và nhận trách nhiệm đi đánh giặc

d. Giặc tan, Gióng cởi áo giáp sắt bay về trời

e. Gióng vươn vai thành tráng sĩ, đi đánh giặc

g. Nhân dân lập đền thờ Gióng, hằng năm mở hội nhớ ơn, vua ban cho Gióng danh hiệu Phù Đổng Thiên Vương

h. Những di tích còn lại của Gióng

Hãy cho biết các sự việc (chi tiết nhỏ hơn) sau đây thuộc sự việc nào ở trên ?

– Hai vợ chồng ông lão muốn có con

– Bà lão giẫm lên vết chân lạ, về thụ thai, 12 tháng mới sinh

– Gióng lên ba vẫn chưa biết nói cười, đặt đâu nằm đấy

21. Lựa chọn và điền các từ sau đây vào chỗ trống phù hợp với nguồn gốc của nó : tê-lê-phôn, ti-vi, ga-ra, ra-đi-ô, ác-măng-giê, in-tơ-nét, ten-nít, anh hùng, ra đời tráng sĩ, khôi ngô, xâm phạm, vội vàng, gom góp.

Từ thuần Việt :

…………………………………………………………………………….

Từ mượn tiếng Hán :

…………………………………………………………………………….

Từ mượn tiếng Pháp :

…………………………………………………………………………….

Từ mượn tiếng Anh :

…………………………………………………………………………….

22. Trong hai cách dùng từ sau, cách nào hợp lí hơn ? Vì sao ?

A – Làng văn hoá ăn uống B – Làng văn hoá ẩm thực

II – GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP KHÓ Phần Tự luận

1. – Giải thích truyện Thánh Gióng là truyền thuyết vì trong truyện có giải thích nguồn gốc một số sự vật (làng Cháy, tre đằng ngà, ao hồ ở vùng chân núi Sóc) và có nhiều yếu tó tưởng tượng kì ảo – là chưa đầy đủ.

– Truyện Thánh Gióng là truyền thuyết vì : Ngoài việc giải thích một số sự vật, hiện tượng (sự ra đời kì lạ của Thánh Gióng, Gióng bay về trời, Gióng để lại một số vết tích làng Cháy, tre đằng ngà, ao hồ ở vùng chân núi Sóc,…) và có nhiều yếu tố tưởng tượng kì ảo, truyện còn trình bày và tỏ thái độ ngợi ca sự ra đời và hành động giết giặc cứu nước của người anh hùng làng Gióng gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm.

10. – Đoạn văn thuộc phương thức biểu đạt tự sư.

Vì đoạn văn trình bảy và tỏ thái độ ngợi ca sư ra đời kì lạ của người anh hùng Thánh Gióng.

13. Có thể lí giải sự kiện sau khi đánh tan giặc Ân, Thánh Gióng lại bay về trời như sau :

– Thánh Gióng là người anh hùng của nhân dân nên không màng vinh hoa phú quý.

– Thánh Gióng là người anh hùng có sứ mệnh sinh ra để đánh giặc, giặc tan, Thánh Gióng đã hoàn thành sứ mệnh nên bay về trời.

16. a) Đoạn văn Bấy giờ… đứa bé dặn kể sự việc chú bé làng Gióng xin đi đánh giặc cứu nước.

b) – Chi tiết giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta là chi tiết quan trọng.

– Lí do : Đất nước có giặc ngoại xâm, vân đề sống còn của đất nước trở thành vân đề cấp bách. Đây là một biến cố lớn, đòi hỏi cả dân tộc, trong đó mỗi người dân phải tự chuyển mình, vươn dậy một cách phi thường với tất cả lòng yêu nước và chí căm thù giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước.

– Chi tiết giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta là đầu mối cho sự phát triển câu chuyện.

d) – Trong câu : […] Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua nếu thay từ kinh ngạc bằng lấy làm lạ thậm chí bằng từ ngạc nhiên sẽ làm thay đổi thái độ của nhân vật và ý nghĩa của câu.

– Lí do : Những từ ngữ đó không diễn tả hết được mức độ vô cùng lạ lùng, hết sức ngạc nhiên, sửng sốt của sứ giả khi thấy đáp lại lời kêu gọi của nhà vua lại là một đứa trẻ lên ba chưa biết nói cười. Lời nói đầu tiên thốt ra lại là lời xin đi đánh giặc, cứu nước.

17. – Trong ba cách kể sự việc Thánh Gióng đánh giặc rồi bay về trời thì cách kể của sách giáo khoa là hay và đầy đủ hơn cả.

– Cách kể của bạn Lan và bạn Tuấn Anh : chưa chú ý tới hình ảnh một mình một ngựa, tới động tác cởi giáp sắt bỏ lại và tới sự lưu luyến từ từ bay lên trời của Gióng. Do đó, hai cách kể này đều không gợi được những cảm xúc đẹp trong lòng người nghe.

20. Các sự việc (chi tiết) : hai vợ chồng ông lão muốn có con ; bà lão giẫm lên vết chân lạ, về thu thai, 12 tháng mới sinh ; Gióng lên ba vẫn chưa biết nói cười, đặt đâu nằm đấy thuộc sự việc a – Gióng ra đời.

21. Lựa chọn và điền các từ vào ô trống phù hợp với nguồn gốc của nó :

Từ thuần Việt : gom góp…

Từ mượn tiếng Hán : anh hùng…

Từ mượn tiếng Pháp : gác-măng-giê…

Từ mượn tiếng Anh : in-tơ-nét…

Phần Trắc nghiệm

Top 6 Bài Soạn “Thầy Bói Xem Voi” Lớp 6 Hay Nhất 2024

Nội Dung Chính Của Bài Viết

I. Đôi nét về tác phẩm: Thầy bói xem voi1. Tóm tắtNăm ông thầy bói mù góp tiền để xem con voi có hình thù thế nào. Mỗi ông sờ một bộ phận của voi. Ông sờ vòi bảo con voi sun sun như con đỉa; ông sờ ngà bảo con voi chần chẫn như cái đòn càn; ông sờ tai bảo con voi như cái quạt thóc; ông sờ chân nói con voi như cái cột đình; ông sờ đuôi lại bảo con voi tun tủn như các chổi sể cùn. Năm ông cãi nhau rồi đánh nhau toác đầu chảy máu.

2. Bố cục (3 phần)– Phần 1 (từ đầu đến “thầy thì sờ đuôi”): Hoàn cảnh xem voi của các thầy bói– Phần 2 (tiếp đó đến “như cái chổi sể cùn”): Các thầy bói xem voi và phán về voi– Phần 3 (còn lại): Kết quả của việc xem voi

3. Giá trị nội dungTừ câu chuyện chế giễu cách xem voi và phán về voi của năm ông thầy bói, truyện “Thầy bói xem voi” khuyên người ta: muốn hiểu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện.

4. Giá trị nghệ thuật– Cách giáo huấn nhẹ nhàng, tự nhiên mà sâu sắc– Dùng đối thoại, tạo nên tiếng cười kín đáo, hài hước– Dùng lối nói phóng đại– Lặp lại các sự việc

II. Đọc – hiểu văn bản:

Câu 1: Hãy nêu cách thầy bói xem voi và phán về voi. Thái độ của các thầy bói khi phán như thế nào?

*Các cách thầy bói xem voi và phán về voi:

Cách xem voi của năm ông thầy là dùng tay để sờ vì mắt các thầy đều mù. Mỗi thầy chỉ sờ được một bộ phận của voi (vòi, ngà, tai, chân, đuôi), sờ được bộ phận nào thì phán hình thù con voi như thể (như con đỉa, như cái đòn càn, như cái quạt, như cái cột nhà, như cái chổi sể cùn), tưởng đó là toàn bộ con voi.

*Thái độ của năm ông thầy bói khi phán về voi:

– Cả năm ông thầy bói đều phán sai về voi nhưng ai cũng khẳng định chỉ có mình là đúng và phủ nhận ý kiến của người khác. Cách phán này mang tính chủ quan, sai lầm.

– Năm ông không ai chịu nhường ai thành ra xô xát.

Câu 2: Năm thầy bói đều đã được sờ voi thật và mỗi thầy cũng đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầy nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ nào?

Câu 3: Truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” cho ta bài học:

– Muốn hiểu đúng và đầy đủ bất cứ một sự vật, sự việc gì, chúng ta cần phả xem xét, nhận xét, đánh giá một cách thận trọng, toàn diện, tổng hợp ý kiến của nhiều người. Chỉ có như vậy mới tránh được các sai lầm như những thầy bói trong truyện.

– Phải có cách xem xét sự vật phù hợp với sự vật đó và phù hợp với mục đích xem xét.

III. LUYỆN TẬP:

Kể một số ví dụ của em hoặc của bạn em đã nhận định, đánh giá sự vật hay con người một cách sai làm như kiểu “Thầy bói xem voi” và hậu quả của nó:

VD: Bạn em rất hay đem ra so sánh sự giàu – nghèo của hai bạn cùng lớp.

Nhưng sự thật không phải như vậy bạn A lại sinh ra trong một gia đình nghèo, do bố bạn bị bắt đi tù nên bạn mới như vậy.

Bài 1 trang 103 SGK Ngữ văn 6 tập 1

Hãy nêu cách các thầy bói xem voi và phán về voi. Thái độ của các thầy bói khi phán như thế nào?

Trả lời

– Năm ông thầy bói xem voi bằng cách lấy tay sờ. Vì con voi quá to nên mỗi thầy chỉ “xem” một bộ phận của nó.

Mỗi thầy phán về con voi một cách chính xác và sinh động:

Thầy sờ voi thì thấy sun sun như con đỉa

Thầy sờ ngà thì thấy chần chẫn như cái đòn càn

Thầy sờ chân thì thấy sừng sững như cái cột đình

Thầy sờ tai thì thấy bè bè như cái quạt thóc

Thầy sờ đuôi thì thấy tun tủn như cái chổi sể cùn

– Thái độ của các thầy bói khi phán về voi:

Ai cũng tin là mình nói đúng nhất

Người sau bác bỏ người trước để khẳng định ý kiến của mình

Không biết lắng nghe ý kiến của nhau, từ bàn tán chuyển sang xô xát đánh nhau.

Bài 2 trang 103 SGK Ngữ văn 6 tập 1

Năm thầy bói đều đã được sờ vào voi thật và mỗi thầy cũng đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầy nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ nào?

Trả lời

– Sai lầm của các thầy bói là ở chỗ: đáng lẽ phải xem cả con voi thì mỗi thầy lại chỉ sờ được một bộ phận của voi và bảo rằng đó là con voi. Vòi, chân, tai, ngà, đuôi đúng là của con voi thật, nhưng mới chỉ là những bộ phận riêng lẻ, chưa phải là cả con voi.

– Nếu các thầy chịu khó lắng nghe ý kiến của nhau, hỏi quản tượng, kết hợp với việc miêu tả, nhận thức của mỗi người, các thầy sẽ biết con voi là như thế nào.

– Họ đã chủ quan trong việc nhận thức sự vật hiện tượng, tự cho là mình đúng, như vậy họ không chỉ mù mắt mà còn mù về phương pháp đánh giá, mù về sự nhận thức.

Bài 3 trang 103 SGK Ngữ văn 6 tập 1

Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi cho ta bài học gì?

Trả lời

Những bài học từ truyện Thầy bói xem voi:

– Khi xem xét một sự vật (hoặc sự việc) cần kết hợp các giác quan (tai nghe, mắt thấy…).

– Nếu không có điều kiện xem xét bằng đầy đủ các giác quan thì phải xem xét một cách toàn diện, không lấy cái bộ phận, đơn lẻ thay cho cái toàn thể.- Cần phải biết lắng nghe ý kiến của người khác, vừa nghe vừa kết hợp với phân tích, đánh giá, tổng hợp của riêng mình để có được một cái nhìn chính xác, toàn diện và đầy đủ nhất.

Câu hỏi luyện tập trang 103 SGK Ngữ văn 6 tập 1

Kể một số ví dụ của em hoặc của các bạn về những trường hợp mà em hoặc các bạn đã nhận định, đánh giá sự vật hay con người một cách sai lầm theo kiểu “Thầy bói xem voi” và hậu quả của những đánh giá sai lầm này.

Trả lời

Một số trường hợp có thể xảy ra như tình huống “Thầy bói xem voi”:

– Một bạn vô tình làm em ngã, em lại nghĩ rằng bạn có ý gây gổ cố tình đẩy ngã em.

– Bạn em mượn sách của em nhưng quên không trả và em nghĩ rằng bạn giả vờ quên để lấy luôn cuốn sách của em.

Tham khảo câu chuyện sau:

Khi em nghe được chuyện bạn An đã lấy cắp tiền của bạn Minh trong lớp, em đã vội vàng tin ngay dù không được chứng kiến điều đó. Chính vì vậy, em đã nghĩ bạn An là người không trung thực và không chơi với bạn từ đó. Các bạn trong lớp thường xuyên bàn tán và xa lánh An khiến bạn buồn khi bị cô lập. Đến vài ngày sau, khi Minh tìm được số tiền đó và An đã được minh oan.

Hậu quả: Em cảm thấy rất hối hận khi đã vội vàng kết luận về người khác dù không biết rõ sự việc. Sự đánh giá vội vàng của em đã dẫn đến những suy nghĩ sai lầm về tính cách và con người của bạn An.

Tổng kết

Từ câu chuyện chế giễu cách xem và phán về voi của năm ông thầy bói, truyện Thầy bói xem voi khuyên người ta muốn hiểu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện.

Trả lời câu 1 (trang 103 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Hãy nêu các cách thầy bói xem voi và phán về voi. Thái độ của các thầy bói khi phán về voi như thế nào?

Lời giải chi tiết:

– Cách các thầy bói xem voi và phán về voi là: dùng tay để sờ vì mắt các thầy đều mù. Mỗi thầy chỉ sờ được một bộ phận của voi, sờ được bộ phận nào thì phán hình thù con voi như thế.

+ Thầy sờ vòi thì thấy sun sun như con đỉa

+ Thầy sờ ngà thì thấy chần chẫn như cái đòn càn

+ Thầy sờ chân thì thấy sừng sững như cái cột đình

+ Thầy sờ đuôi thì thấy tua tủa như cái chổi sể cùn

+ Thầy sờ tai thì thấy bè bè như cái quạt thóc.

– Thái độ của năm ông thầy bói khi phán về voi: Cả năm ông thầy bói đều phán sai về voi nhưng ai cũng một mực theo ý kiến chủ quan của mình và cho rằng ý kiến của người khác là sai.

Trả lời câu 2 (trang 103 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Năm ông thầy bói đã được sờ voi thật và mỗi thầy cũng đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầy nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ nào?

Lời giải chi tiết:

Năm thầy bói đều đã được sờ voi thật và mỗi thầy cũng đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầy nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ:

– Cả năm thầy đều có cách xem phiến diện: sờ một bộ phận nhưng đã nói cả con voi.

– Các thầy đều không chịu lắng nghe ý kiến của nhau mà chỉ một mực theo ý kiến chủ quan của mình.

Trả lời câu 3 (trang 103 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi cho ta bài học gì?

Lời giải chi tiết:

Bài học rút ra từ truyện:

– Muốn hiểu đúng và đầy đủ bất cứ một sự vật, sự việc gì, chúng ta cần phải xem xét, đánh giá một cách thận trọng, toàn diện.

– Phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến người khác

– Không dùng vũ lực để giải quyết vấn đề nhận thức.

LUYỆN TẬP

Kể một số ví dụ của em hoặc các bạn về những trường hợp mà em hoặc các bạn đã nhận định, đánh giá sự vật hay con người một cách sai lầm theo kiểu “Thầy bói xem voi” và hậu quả của những đánh giá sai lầm này.

Lời giải chi tiết:

Trong giờ trả bài kiểm tra, Lan có điểm kiểm tra môn toán được 9 điểm. Trong các tiết học bình thường, Lan học kém hơn và chậm hiểu bài hơn các bạn. Vì vậy, các bạn ngồi bên cạnh xì xào rằng Lan đã chép bài của người khác hoặc vì Lan ôn “trúng tủ”, may mắn nên mới đạt điểm cao. Khi nghe được điều đó, Lan đứng dậy và bạn giải thích rằng: Vì em biết em chưa học tốt môn Toán nên em đã cố gắng nỗ lực ôn tập tốt, dành nhiều thời gian để luyện tập các dạng bài toán. Do đó, bài kiểm tra vừa rồi em đã làm được đề bài cô ra. Sau đó bạn mong cô cho thêm một bài tập bất kì để bạn được chứng minh khả năng thực sự của mình. Bạn đã lên bảng và giải bài toán đó với đáp án đúng.

Hậu quả: Như vậy, các bạn trong lớp đã không nhìn vào sự cố gắng thực sự của Lan để đánh giá mà suy luận, “đoán mò”. Khi đưa ra lời đánh giá một cách vội vàng, không hiểu bản chất của sự việc đã khiến cho bạn bị tổn thương.

Tóm tắt

Năm ông thầy bói mù góp tiền để xem con voi có hình thù thế nào. Mỗi ông sờ một bộ phận của voi. Ông sờ vòi bảo con voi sun sun như con đỉa; ông sờ ngà bảo con voi chần chẫn như cái đòn càn; ông sờ tai bảo con voi như cái quạt thóc; ông sờ chân nói con voi như cái cột đình; ông sờ đuôi lại bảo con voi tun tủn như các chổi sể cùn. Năm ông cãi nhau rồi đánh nhau toác đầu chảy máu.

Bố cục

Bố cục: 2 đoạn

– Đoạn 1 (Từ đầu đến “như cái chổi sể cùn”): Các thầy bói xem voi và phán về các bộ phận của con voi.

– Đoạn 2 (Còn lại): Hậu quả của việc phán voi.

Nội dung chính

Từ câu chuyện chế giễu cách xem và phán về voi của năm ông thầy bói, truyện khuyên người ta: muốn hiểu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện.

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Tóm tát truyện

Năm ông thầy bói nhân buổi ế hàng chung tiền biếu quản voi để xem voi. Mỗi người sờ một bộ phận của voi. Sau đó bàn tán.

– Thầy sờ vòi bảo voi sun sun như con đỉa.

– Thầy sờ ngà bảo voi chần chẫn như cái đòn càn.

– Thầy sờ tai bảo voi bè bè như cái quạt thóc.

– Thầy sờ chân cãi voi sừng – sững như cái cột đình.

– Thầy sờ đuôi nói voi tua tủa như cái chổi sể cùn.

Năm thầy cãi nhau không ai chịu ai, thành ra xô xát, đánh nhau toác đầu chảy máu.

2. Qua việc thuật lại cách xem voi và cuộc tranh luận, miêu tả voi của các thầy bói, truyện khuyên mọi người : Muốn tìm hiểu sự vật phải có cách tiếp cận thích hợp, phải xem xét toàn diện, không lấy bộ phận thay cho toàn thể, phải biết lắng nghe ý kiến của người khác, không dùng vũ lực để giải quyết vấn đề nhận thức.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

Câu 1. Các thầy bói xem voi bằng cách lấy tay sờ vì các thầy đều bị hỏng mắt. Bởi con voi quá to nên mỗi thầy chỉ “xem” được một bộ phận của nó. Vì thế khi nói về voi, mỗi thầy chỉ nói được đúng phần mình đã sờ thấy. Việc diễn tả khá chính xác và sinh động:

– Thầy sờ vòi thì thấy sun sun như con đỉa.

– Thầy sờ ngà thì thấy chần chẫn như cái đòn càn.

– Thầy sờ tai thì thấy bè bè như cái quạt thóc.

– Thầy sờ chân thì thấy sừng sững như cái cột đình.

– Thầy sờ đuôi thì thấy tua tủa như cái chổi sể cùn.

Thái độ của các thầy bói khi phán về voi:

– Ai cũng tin là mình nói đúng nhất.

– Người sau bác bỏ người trước để khẳng định ý kiến của mình.

– Không chịu lắng nghe ý kiến của nhau, từ bàn tán chuyển sang xô xát, đánh nhau.

Câu 2. Năm thầy bói đã tiếp xúc với voi thật, sờ thấy voi thật, nhưng không ai nói đúng về voi. Sai lầm của các thầy bói là ở chỗ:

– Họ đã dùng “tay” để xem voi, dùng cách sờ soạng thay cho mắt nhìn.

– Vì con voi quá to mỗi thầy chỉ xem được một bộ phận, chưa xem được toàn thể, nên tả lại cả con voi qua một bộ phận mình sờ thấy. Dù bộ phân đó là đúng, nhưng đó không phải là con voi, mà chỉ là vòi voi, ngà voi, tai voi, chân voi, đuồi voi mà thôi.

– Điều cuối cùng là họ không biết lắng nghe ý kiến của người khác. Nếu họ hỏi người quản tượng, kết hợp việc miêu tả, nhận thức của mỗi người, họ sẽ biết được con voi là như thế nào.

Câu 3. Những bài học của truyện Thầy hói xem voi:

– Phải tìm hiểu sự vật bằng phương cách tiếp cận thích hợp (xem phải dùng mắt, xem bằng “tay” sẽ không tránh khỏi mò mẫm, sai sót).

– Phải xem xét và khái quát một cách toàn diện, không lấy cái bộ phận, cái đơn lẻ thay thê’ cho toàn thể.

– Phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của người khác.

– Không dùng vũ lực để giải quyết vấn đề nhận thức, như vậy chỉ có. thể dẫn đến toác đầu, chảy máu chứ không giúp hiểu biết về sự vật.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Có thể tìm đọc trong sảch vở, quan sát trong đời sống để tìm ra những trường hợp phán đoán, đánh giá sai theo kiểu “Thầy bói xem voi”.

Ví dụ 1: Khi em nghe được chuyện bạn An đã lấy cắp tiền của bạn Minh trong lớp, em đã vội vàng tin ngay dù không được chứng kiến điều đó. Chính vì vậy, em đã nghĩ bạn An là người không trung thực và không chơi với bạn từ đó. Các bạn trong lớp thường xuyên bàn tán và xa lánh An khiến bạn buồn khi bị cô lập. Đến vài ngày sau, khi Minh tìm được số tiền đó và An đã được minh oan.

Ví dụ 2: Giờ ra chơi, em vừa định mở của phòng học thì bạn Nam ở lớp bên cạnh mở mạnh cụng vào người em. Mặc dù, Nam xin lỗi nhưng em vẫn rất giận. Em gây rối với bạn ấy. Em đã cho rằng Nam là kẻ ưa gây gổ với bạn bè. Mãi cuối năm học, Nam là học sinh xuất sắc lại là người gương mẫu về tư cách tác phong trong quan hệ với bè bạn và thầy cô. Em đã thấy mình hiểu sai

Ví dụ 3: Trong giờ trả bài kiểm tra, Lan có điểm kiểm tra môn toán được 9 điểm. Trong các tiết học bình thường, Lan học kém hơn và chậm hiểu bài hơn các bạn. Vì vậy, các bạn ngồi bên cạnh xì xào rằng Lan đã chép bài của người khác hoặc Lan xem tài liệu may mắn nên mới đạt điểm cao. Khi nghe được điều đó, Lan đứng dậy và bạn giải thích rằng: Vì em biết em chưa học tốt môn Toán nên em đã cố gắng nỗ lực ôn tập tốt, dành nhiều thời gian để luyện tập các dạng bài toán. Do đó, bài kiểm tra vừa rồi em đã làm được đề bài cô ra. Sau đó bạn mong cô cho thêm một bài tập bất kì để bạn được chứng minh khả năng thực sự của mình. Bạn đã lên bảng và giải bài toán đó với đáp án đúng.

Câu 1 (trang 103 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Năm ông thầy bói xem voi bằng cách lấy tay sờ. Vì con voi quá to nên mỗi thầy chỉ “xem” một bộ phận của nó.

– Mỗi thầy phán về con voi một cách chính xác và sinh động:

– Thầy sờ voi thì thấy sun sun như con đỉa

– Thầy sờ ngà thì thấy chần chẫn như cái đòn càn

– Thầy sờ chân thì thấy sừng sững như cái cột đình

– Thầy sờ tai thì thấy bè bè như cái quạt thóc

– Thầy sờ đuôi thì thấy tun tủn như cái chổi sể cùn

Thái độ của các thầy bói khi phán về voi:

– Ai cũng tin là mình nói đúng nhất

– Người sau bác bỏ người trước để khẳng định ý kiến của mình

– Không biết lắng nghe ý kiến của nhau, từ bàn tán chuyển sang xô xát đánh nhau.

Câu 2 (Trang 103 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Năm ông thầy bói sờ thấy voi thật nhưng không nắm được tổng thể của voi.

– Họ chỉ dùng “tay” để xem voi, dùng cách sờ soạng thay cho việc mắt nhìn

– Vì con voi quá to mỗi thầy chỉ xem được một bộ phận, chưa xem được toàn thể, nên tả lại con voi qua một bộ phận mình sờ thấy.

– Họ đã không cùng lắng nghe để bổ sung lẫn nhau, mà nhất quyết bảo thủ cho rằng ý kiến của mình đúng.

Câu 3 (trang 103 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Bài học được rút ra trong bài Thầy bói xem voi:

– Phải tìm hiểu sự vật bằng các phương cách tiếp cận thích hợp

– Phải xem xét một cách khách quan, toàn diện

– Phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến người khác

– Không dùng vũ lực để giải quyết vấn đề nhận thức

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

Tóm tắt truyện: Năm ông thầy bói rủ nhau chung tiền biếu người quản voi để xem con voi có hình thù thế nào. Mỗi ông xem một bộ phận, cuối cùng cãi nhau, không ông nào chịu ông nào: ông xem vòi bảo voi sun sun như con đỉa; ông xem ngà bảo voi giống cái đòn càn; ông xem tai bảo nó giống cái quạt thóc; ông xem chân bảo voi sừng sững như cái cột đình; ông cuối cùng xem đuôi, bảo voi tun tủn như cái chổi sể cùn. Cãi nhau vì không thể phân thắng bại, năm ông đánh nhau toác đầu, chảy máu.

Ý nghĩa truyện:Sự vật bao giờ cũng do nhiều bộ phận, chi tiết hợp thành, cấu tạo thành. Câu chuvện nêu lên môi tương quan giữa bộ phận và toàn thể trong một sự vật: bộ phận làm nên toàn thể nhưng bộ phận không phải là toàn thể. Qua đó, phê phán những kẻ chĩ đoán mò, nhìn nhận sự vật một cách phiến diện, thấy bộ phận mà không thấy toàn cục, thấy cây mà chẳng thấy rừng. Đó là cách nhìn nhận sự vật thiếu khoa học dẫn đến cách đánh giá sai lầm.Từ câu chuyện chế giễu cách xem và phán về voi của năm ông thầy bói, truyện Thầy bói xem voi khuyên người ta: muốn hiểu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện.

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: (Trang 103 – SGK Ngữ văn 6 tập 1) Hãy nêu cách các thầy bói xem voi và phán về voi. Thái độ của các thầy bói khi phán như thế nào?

Bài làm:Vì mù nên họ không thấy được cả con voi mà mỗi người chỉ sờ được một bộ phận của voi nhưng họ đều tưởng đã biết tất cả về voi. Cách xem và phán về voi của 5 thầy bói mù:Người thứ nhất: sờ vòi, phán, voi như đỉa.Người thứ 2: Sờ ngà, phán, voi như cái đòn cànNgười thứ 3: sờ tai, phán, voi như cái quạt thócNgười thứ 4: sờ chân, phán, voi như cái cột đìnhNgười thứ 5: sờ đuôi, phán, voi như cái chổi xể cùnThái độ của các thầy khi phán về voi:Ai cũng quả quyết ý kiến của mình là đúng, không chấp nhận ý kiến của người khác.Tranh cãi quyết liệt, cuối cùng dẫn đến xô xát đánh nhau chảy tóe máu đầu.

Câu 2: (Trang 103 – SGK Ngữ văn 6 tập 1) Năm thầy bói đều đã sờ được voi thật và mỗi thầy cũng đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầy nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ nào?Bài làm:Sai lầm của các thầy bói là ở chỗ: đáng lẽ phải xem cả con voi thì mỗi thầy lại chỉ sờ được một bộ phận của voi và bảo rằng đó là con voi. Vòi, chân, tai, ngà, đuôi đúng là của con voi thật, nhưng mới chỉ là những bộ phận riêng lẻ, chưa phải là cả con voi.Nếu các thầy chịu khó lắng nghe ý kiến của nhau, hỏi quản tượng, kết hợp với việc miêu tả, nhận thức của mỗi người, các thầy sẽ biết con voi là như thế nào.Họ đã chủ quan trong việc nhận thức sự vật hiện tượng, tự cho là mình đúng, như vậy họ không chỉ mù mắt mà còn mù về phương pháp đánh giá, mù về sự nhận thức.

Câu 3: (Trang 103 – SGK Ngữ văn 6 tập 1) Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi cho ta bài học gì?Bài làm:Truyện giúp cho chúng ta bài học về cách nhìn nhận, đánh giá trong cuộc sống: Phải nhìn nhận sự việc ở phương diện tổng thể, chứ không nên lấy cái bộ phận, đơn lẻ thay cho toàn thể.Phải biết lắng nghe ý kiến của người khác, vừa nghe vừa kết hợp với phân tích, đánh giá, tổng hợp của riêng mình để có được một cái nhìn chính xác, toàn diện và đầy đủ nhất. Muốn đánh giá một sự việc hiện tượng được chính xác cần phải có sự kết hợp nhiều yếu tố tai nghe, mắt thấy và suy nghĩ kĩ càng, không nên đánh giá vội vàng, phiến diện.

LUYỆN TẬPCâu 1: (Trang 103 – SGK Ngữ văn 6 tập 1) Kể một số ví dụ của em hoặc các bạn về những trường hợp mà em hoặc các bạn đã nhận định, đánh giá sự vật hay con người một cách sai lầm theo kiểu “thầy bói xem voi” và hậu quả của những đánh giá sai lầm này.

Bài làm:Ví dụ:1. Khi em nghe được chuyện bạn An đã lấy cắp tiền của bạn Minh trong lớp, em đã vội vàng tin ngay dù không được chứng kiến điều đó. Chính vì vậy, em đã nghĩ bạn An là người không trung thực và không chơi với bạn từ đó. Các bạn trong lớp thường xuyên bàn tán và xa lánh An khiến bạn buồn khi bị cô lập. Đến vài ngày sau, khi Minh tìm được số tiền đó và An đã được minh oan.

Hậu quả: Em cảm thấy rất hối hận khi đã vội vàng kết luận về người khác dù không biết rõ sự việc. Sự đánh giá vội vàng của em đã dẫn đến những suy nghĩ sai lầm về tính cách và con người của bạn An.

2. Trong giờ trả bài kiểm tra, Lan có điểm kiểm tra môn toán được 9 điểm. Trong các tiết học bình thường, Lan học kém hơn và chậm hiểu bài hơn các bạn. Vì vậy, các bạn ngồi bên cạnh xì xào rằng Lan đã chép bài của người khác hoặc vì Lan ôn “trúng tủ”, may mắn nên mới đạt điểm cao. Khi nghe được điều đó, Lan đứng dậy và bạn giải thích rằng: Vì em biết em chưa học tốt môn Toán nên em đã cố gắng nỗ lực ôn tập tốt, dành nhiều thời gian để luyện tập các dạng bài toán. Do đó, bài kiểm tra vừa rồi em đã làm được đề bài cô ra. Sau đó bạn mong cô cho thêm một bài tập bất kì để bạn được chứng minh khả năng thực sự của mình. Bạn đã lên bảng và giải bài toán đó với đáp án đúng.

Hậu quả: Như vậy, các bạn trong lớp đã không nhìn vào sự cố gắng thực sự của Lan để đánh giá mà suy luận, “đoán mò”. Khi đưa ra lời đánh giá một cách vội vàng, không hiểu bản chất của sự việc đã khiến cho bạn bị tổn thương.

Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Phần I Ý NGHĨA VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 27 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Trong đời sống hàng ngày người ta thường nghe những yêu cầu và những câu hỏi như sau:

– Bà ơi, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe đi!

– Cậu kể cho mình nghe Lan là người như thế nào.

– Bạn An gặp chuyện gì mà lại thôi học nhỉ?

– Thơm ơi, lại đây tớ kể cho nghe câu chuyện này hay lắm.

a) Gặp trường hợp như thế, theo em, người nghe muôn biết điều gì và người kể phải làm gì?

Lời giải chi tiết:

a) Gặp những trường hợp như trên, người nghe muốn tìm hiểu sự việc, con người, câu chuyện của người kể, còn người kể phải thông báo, cho biết, giải thích giúp người nghe hiểu.

b) Muốn biết Lan là một người bạn tốt người kể cần phải kể ra những việc làm, hành động, tư tưởng, tình cảm cụ thể của Lan đối với bạn bè. Chẳng hạn:

+ Giúp đỡ bạn trong học tập.

+ Giúp bạn trong hoàn cảnh khó khăn, sẵn sàng chia sẻ khó khăn với bạn.

+ Luôn quan tâm, an ủi, động viên bạn bè vượt lên hòan cảnh để học tập, rèn luyện tốt.

– Phải kể những biểu hiện cụ thể như vậy thì người nghe với hiểu một cách tường tận, và có sự đánh giá đúng đắn về đốì tượng.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 28 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Truyện Thánh Gióng mà em đã học là một văn bản tự sự. Văn bản này cho ta biết những điều gì? Vì sao có thể nói truyện Thánh Gióng là truyện ngợi ca công đức của vị anh hùng làng Gióng?

Hãy liệt kê các sự việc theo thứ tự trước sau của truyện. Truyện bắt đầu từ đâu, diễn biến như thế nào, kết thúc ra sao? Từ thứ tự các sự việc đó, em hãy suy ra đặc điểm của (phương thức) tự sự.

Lời giải chi tiết:

– Truyện Thánh Gióng cho ta biết Thánh Gióng là một vị anh hùng dân tộc đã đứng lên giết giặc ngoại xâm đem lại hạnh phúc cho nhân dân

– Các sự việc trong truyện được sắp xếp theo thứ tự sau:

1. Sự ra đời kì lạ của Thánh Gióng.

2. Thánh Gióng biết nói và nhận trách nhiệm đánh giặc.

3. Thánh Gióng lớn nhanh như thổi.

4. Thánh Gióng vươn vai thành tráng sĩ cưỡi ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt đi đánh giặc.

5. Thánh Gióng đánh tan giặc

6. Thánh Gióng lên núi, cởi bỏ áo giáp sắt bay về trời.

7. Vua lập đền thờ phong danh hiệu.

8. Những dấu tích còn lại của Thánh Gióng.

– Trong các sự việc trên thì:

+ Sự việc 1 là sự việc mở đầu.

+ Các sự việc từ 2 đến 7 là sự việc diễn biến.

+ Sự việc 8 là sự việc kết thúc.

– Từ thứ tự các sự việc trên ta có thể suy ra đặc điểm của phương thức tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 28 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Đọc mẩu chuyện sau và trả lời câu hỏi: Trong truyện này, phương thức tự sự thể hiện như thế nào? Câu chuyện thể hiện ý nghĩa gì? Ông già và thần chết Một lần ông già đẵn xong củi và mang về. Phải mang đi xa ông già kiệt sức, đặt bó củi xuống rồi nói: – Chà, giá Thần Chết đến mang ta đi thì có phải hơn không! Thần Chết đến và bảo: – Ta đây, lão cần gì nào? Ông già sợ hãi bảo: – Lão muốn ngài nhấc hộ bó củi lên cho lão.

(Lép Tôn-xtôi, Kiến và chim bồ câu)

Lời giải chi tiết:

* Phương thức tự sự của truyện được thể hiện ở chỗ: Truyện được kể theo trình tự thời gian, sự việc nối tiếp nhau, kết thúc bất ngờ, ngôi kể thứ ba. Nội dung của truyện kể diễn biến tư tưởng của một ông già.

* Ý nghĩa của câu chuyện:

– Ca ngợi trí thông minh của ông lão.

– Thể hiện tư tưởng yêu cuộc sống, dù kiệt sức thì sống cũng hơn chết.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 29 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Bài thơ sau đây có phải tự sự không, vì sao? Hãy kể lại câu chuyện bằng miệng. Sa bẫy Bé Mây rủ mèo con Đánh bẫy bầy chuột nhắt Mồi thơm: cá nướng ngon Lửng lơ trong cạm sắt. Lũ chuột tham hoá ngốc Chẳng nhịn thèm được đâu! Bé Mây cười tít mắt Mèo gật gù, rung râu. Đêm ấy Mây nằm ngủ Mơ đầy lồng chuột sa Cùng mèo con đem xử Chúng khóc ròng, xin tha ! Sáng mai vùng xuống bếp: Bẫy sập tự bao giờ Chuột không, cá cũng hết Giữa lồng mèo nằm… mơ !

(Nguyễn Hoàng Sơn, Dắt mùa thu qua phố )

Lời giải chi tiết:

* Bài thơ Sa bẫy chính là một bài thơ tự sự. Tuy diễn đạt bằng thơ năm tiếng nhưng bài thơ đã kể lại một câu chuyện có đầu có đuôi, có nhân vật, chi tiết, diễn biến sự việc nhằm mục đích chế giễu tính tham ăn của mèo đã khiến mèo tự mình sa bẫy của chính mình.

* Kể lại câu chuyện:

Bé Mây rủ mèo con đánh bẫy lũ chuột nhắt bằng cá nướng thơm lừng treo lơ lửng trong cái cạm sắt. Cả bé, cả mèo đều nghĩ bọn chuột sẽ vì tham ăn mà mắc bẫy ngay. Đêm ngủ, Mây nằm mơ thấy cảnh chuột bị sập bẫy đầy lồng. Chúng chí cha chí chóe khóc lóc, cầu xin tha mạng.

Sáng hôm sau, ai ngờ khi xuống bếp xem, bé Mây chẳng thấy chuột, cũng chẳng còn cá nướng, chỉ có ở giữa lồng, mèo ta đang cuộn tròn ngáy khò khò… Chắc mèo đang mơ!…

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 29 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Hai văn bản: Huế: Khai mạc trại điêu khắc quốc tế lần thứ ba và Người Âu Lạc đánh tan quân Tần xâm lược trong SGK có nội dung tự sự không? Vì sao? Tự sự ở đây có vai trò gì? Lời giải chi tiết:

– Cả hai văn bản đều có nội dung tự sự với nghĩa kể chuyện, kể việc.

– Tự sự ở đây có vai trò giới thiệu, tường thuật, kể chuyện thời sự hay lịch sử.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 30 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Hãy kể câu chuyện để giải thích vì sao người Việt Nam tự xưng là con Rồng, cháu Tiên. Lời giải chi tiết:

Tổ tiên người Việt xưa là Lạc Long Quân và Âu Cơ. Lạc Long Quân nòi Rồng hay chơi ở vùng sông hồ ở Lạc Việt (Bắc Bộ Việt Nam). Bà Ầu Cơ là giống tiên phương Bắc xuống chơi vùng Lạc Việt, thấy cảnh đẹp quên về. Lạc Long Quân và Âu Cơ gặp nhau rồi đem lòng yêu nhau, họ trở thành vợ chồng. ít lâu sau Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng nở ra một trăm người con. Người con trưởng được chọn làm vua, gọi là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đời đời cha truyền con nối. Biết ơn và tự hào về dòng giống của mình, người Việt tự xưng là con Rồng, cháu Tiên.

Câu 5 Trả lời câu 5 (trang 30 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Trong cuộc họp lớp đầu năm Giang, đề nghị bầu Minh làm lớp trưởng, vì bạn Minh đã chăm học, học giỏi, lại thường giúp đỡ bạn bè. Theo em, Giang có nên kể vắn tắt một vài thành tích của Minh để thuyết phục các bạn cùng lớp hay không? Lời giải chi tiết:

Bạn Giang nên kể vắn tắt một vài thành tích của Minh để các bạn trong lớp hiểu Minh là người chăm học, học giỏi lại thường hay giúp đỡ bạn.

chúng tôi

Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Hướng dẫn Soạn bài Tìm hiểu chung về văn biểu cảm lớp 7 do wikihoc biên soạn để các bạn tham khảo và đạt kết quả tốt trong học tập

Các bài soạn trước đó:

SOẠN BÀI TÌM HIỂU CHUNG VỀ VĂN BIỂU CẢM. I. Nhu cầu biểu cảm và văn biểu cảm.

1. Nhu cầu biểu cảm của con người.

Cảm xúc hai bài ca dao:

Bài 1: nỗi khổ đau, uất ức của những con người thấp cổ bé họng trong xã hội xưa

Bài 2: niềm rạo rực, vui tươi của người con gái trước cánh đồng và tuổi xuân của mình.

Người ta thổ lộ tình cảm để phô bày lòng mình, để khơi gợi niềm đồng cảm từ mọi người với nhu cầu được chia sẻ.

Khi con người con có những cảm xúc, tâm trạng đạt độ chín thì người ta có nhu cầu làm văn biểu cảm

Thư gửi người thân bạn bè là nơi bộc lộ tình cảm nhiều nhất vì nó thể hiện sự tâm tình, thủ thỉ đầy tình cảm.

2. Đặc điểm chung của văn biểu cảm.

a) nội dung chính của hai đoạn văn

Đoạn 1: người viết thư nhắc lại những kỉ niệm mình và Thảo, qua đó thể hiện nỗi niềm thương nhớ

Đoạn 2: sự liên tưởng và xúc động thiêng liêng của nhà văn Nguyên Ngọc khi nghe tiếng hát dân ca trong đêm khuya.

So sánh: nội dung trong hai đoạn văn trên với nội dung trong văn bản tự sự và miêu tả thì ta thấy nội dung hai đoạn văn trên thiên về biểu hiện suy nghĩ của tâm hồn người viết.

b) Em đồng ý với ý kiến trên. Vì tình cảm, cảm xúc trong văn biểu cảm phải mang giá trị nhân văn, có tác dụng con người vươn tới ánh sáng tích cực. nếu có nội dung tiêu cực, xấu xa thì cũng chỉ là một đối tượng để lên án phê phán để cuộc sống tốt đẹp hơn.

c) người viết đều bộc bạch trực tiếp tình cảm thông qua các từ ngữ bộc lộ trực tiếp. Qua đó giúp tình cảm chân thực hơn, gần gũi hơn với người đọc.

II. Luyện tập bài Tìm hiểu chung về văn biểu cảm.

Câu 1 trang 73 SGK ngữ văn 7 tập 1:

Đoạn (2) là văn biểu cảm. Vì sự việc mở đầu và kết thúc có tác dụng phác ra không gian cụ thể, gợi những liên tưởng chân thực cho dòng cảm xúc chảy tràn. Vẻ đẹp bông hao hải đường được cảm nhận tinh tế.đoạn văn (1) về hoa hải đường cho ta thấy hòa trộn văn miêu tả biểu cảm nên đem lại ít tình cảm hơn so với đoạn (2).

Câu 2 trang 74 SGk ngữ văn 7 tập 1:

Nội dung biểu cảm trong hai bài thơ

Sông núi nước Nam:

Niềm tự hào về chủ quyền và cương vực lãnh thổ đất nước

Niềm tin vào chân lí, chiến thắng dân tộc

Phó giá về kinh

Cảm hứng tự hào, kiêu hãnh trước chiến công dân tộc

Niềm tin, niềm yêu thương lo lắng cho đất nước.

Câu 3 trang 74 SGK ngữ văn 7 tập 1:

Một số bài văn biểu cảm: mẹ tôi, lòng yêu nước..

Câu 4 trang 74 SGK ngữ văn 7 tập 1:

Tự sưu tầm

Ví dụ:

“lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phô nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu, hay mùi cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh…” (trích “Lòng yêu nước”)

Các bài soạn tiếp theo:

Cập nhật thông tin chi tiết về Top 6 Bài Soạn “Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự” Lớp 6 Hay Nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!