Ai Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

--- Bài mới hơn ---

  • Về Kiểm Sát Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Thời Hạn Tổ Chức Lễ Kết Nạp Đảng Viên
  • Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn
  • Mẫu Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn 2022
  • Quyết Định Công Nhận Ly Hôn Tòa Án Sẽ Giao Cho Vợ Hay Chồng?
  • 1. Khái niệm quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự

    Theo quy định tại Điều 158 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 như sau:

    Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là sự khẳng định thái độ của người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự dựa trên những căn cứ pháp lý xác đáng, quyết định không triển khai hoặc chấm dứt mọi hoạt động và huỷ bỏ mọi hình thức phản ánh mang tính chất tố tụng hình sự đối với một sự kiện, vấn đề hay những mức thông tin cụ thể mà trước đó bị nghi là có dấu hiệu tội phạm.

    – Pháp luật quy định khi có một trong những căn cứ ghi ở Điều 157 tức là khi có một trong bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự (không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác), thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Tuỳ theo trường hợp cụ thể mà việc quyết định không khởi tố vụ án hình sự có thể chuyển thành các trường hợp: xử lý bằng các biện pháp pháp lý khác như hành chính, kỷ luật, dân sự hoặc không có hình thức xử lý nào và các biện pháp khác (hoà giải ở cơ sở…).

    Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được áp đụng cho một trong hai trường hợp: quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự. Dù trường hợp nào, thì hành vi tố tụng của người quyết định không khởi tố vụ án hình sự cũng phải tuân theo đúng quy định của pháp luật về thủ tục, hình thức văn bản, nội dung và thẩm quyền người ký. Căn cứ vào nội dung của Điều luật, thì cần hiểu rằng: cơ quan có quyền khởi tố, người có quyền khởi tố vụ án hình sự thì cũng là cơ quan, người có quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Theo quy định tại khoản 1 điều này và những quy định tại Khoản 1 Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 thì:

    Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tô vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

    Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

    – Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra nơi nhận được tin báo tố giác về tội phạm hoặc nơi người bị tô’ giác, người bị tạm giữ cư trú.

    Thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra được phân công điều tra vụ án (khoản 2, khoản 3, Điều 36, Bộ luật tố tụng hình sự) thực hiện.

    – Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, Cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với những trường hợp phù hợp các chủ thể này đã khởi tố vụ án hình sự theo qui định tại Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    – Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án trong trường hợp Viện kiểm sát đã khởi tố vụ án sau khi huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

    – Hội đồng xét xử ra quyết định không khởi tố vụ án nếu Hội đồng xét xử đã khởi tố vụ án trong quá trình xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới.

    Trong những trường hợp này, cơ quan đã khởi tố và người có thẩm quyền khởi tố phải huỷ bỏ quyết định khởi tố và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết rõ lí do huỷ bỏ quyết định khởi tố. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khoản 2 của điều luật qui định việc khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Người có quyền khiếu nại là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm.

    Điều luật quy định, nếu xét cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết, có nghĩa là nếu sự vụ không cho phép khởi tố vụ án hình sự và cơ quan, đơn vị, người có quyền khởi tố thấy rằng có dấu hiệu của vi phạm pháp luật, nhưng không phải là vi phạm pháp luật hình sự, hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà xét cần xử lí bằng các biện pháp phù hợp nhằm bảo đảm giữ nghiêm pháp chế thì chuyển hồ sơ cho cơ quan hoặc tổ chức hữu quan giải quyết. Cơ quan, tổ chức hữu quan nói trong điều luật là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định các hình thức xử lý hành chính, vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật khác đối với người có hành vi vi phạm.

    Trong quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải nêu rõ lí do không khởi tố hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Tiểu Học
  • Các Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Giỏi 2022
  • Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Cấp Chi Bộ
  • Mẫu Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật
  • Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoàn Thiện Thủ Tục Khởi Tố Vụ Án, Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can
  • Quyết Định Ly Thân Hay Ly Hôn
  • Bất Động Sản Chơn Thành “Hưởng Lợi” Khi Chơn Thành Chính Thức Lên Thị Xã
  • Tải Mẫu Quyết Định Tăng Lương 2022
  • I. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

    Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

    1. Tố giác của cá nhân;

    2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

    4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

    5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

    6. Người phạm tội tự thú.

    II. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

    1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 135 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh),136 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội), 138 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 139 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính), 141 (Tội hiếp dâm), 143 (Tội cưỡng dâm), 155 (Tội làm nhục người khác), 156 (Tội vu khống) và 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

    2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

    3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

    III. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

    Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

    1. Không có sự việc phạm tội;

    2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

    3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

    4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

    5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

    6. Tội phạm đã được đại xá;

    7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

    8. Tội phạm khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

    IV. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

    1. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

    2. Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được tiến hành khởi tố vụ án hình sự.

    3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

    a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được  giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

    c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

    4. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc  xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Trình Xử Lý Kỷ Luật Đảng Viên
  • Steve Jobs: Định Nghiệp Như Những Dấu Chấm
  • Thông Báo Hủy Giấy Chứng Nhận
  • Các Quyết Định Về Việc Hủy Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất
  • Quy Định Và Thủ Tục Giải Thể Chi Nhánh Hạch Toán Phụ Thuộc
  • Về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Có Được Hủy Quyết Định Tăng Lương Do Nhầm Lẫn?
  • Vksnd Huyện Vân Canh Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can
  • Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Với Nguyên Phó Chủ Tịch Hà Nội Phí Thái Bình
  • Viện Ksnd Huyện Phù Mỹ Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Của Cơ Quan Điều Tra
  • Viện Kiểm Sát Hủy Quyết Định Khởi Tố Của Công An
  • Ngày 29/12/2017, VKSND tối cao có quyết định số: 03/QĐ-VKSTC về việc ban hành Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (gọi tắt là Quy chế tạm thời số 03) để áp dụng thống nhất chung trong toàn ngành. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả trao đổi thêm một số ý kiến về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự như sau.

    Về vị trí của hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

    – Quan điểm thứ nhất cho rằng, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Bởi lẽ, ngay từ tên gọi, theo bố cục lập pháp, hoạt động này được quy định tại Phần II (Khởi tố, điều tra vụ án hình sự) của BLTTHS năm 2022 và Chương II (thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can) của Quy chế tạm thời số 03. Rõ hơn nữa, khoản 2 Điều 14 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định trong nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự có hoạt động hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật. Vì quyết định không khởi tố vụ án hình sự có vị trí tương tự như quyết định khởi tố vụ án hình sự (chỉ khác nhau ở hậu quả pháp lý đối lập) nên hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hai loại quyết định này cũng tương tự nhau, đều được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

    – Quan điểm thứ hai cho rằng, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Bởi lẽ, Điều 147 BLTTHS 2022 quy định về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau:

    “Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”

    Theo đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định không khởi tố vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chính là các kết quả của quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Trong đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự có vị trí đặc biệt, được coi như “bản lề” của 2 giai đoạn tố tụng khác nhau vì nó đóng lại giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và mở ra quá trình điều tra. Tuy nhiên, quyết định không khởi tố vụ án hình sự lại không có tính chất như vậy, nó chỉ đơn thuần là kết quả cuối cùng, đóng lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nên cũng cần đánh giá, về bản chất, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải thuộc giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Việc quy định theo kết cấu các văn bản pháp luật đã trích dẫn như quan điểm thứ nhất là để thuận lợi cho quá trình thực hiện, thể hiện tính liên tục giữa 2 giai đoạn: Giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và điều tra mà không có ý nghĩa xác định hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự được tiến hành trong giai đoạn điều tra.

    c) Nếu thấy đủ căn cứ thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự”.

    Theo đó, những nội dung cần làm để thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đã được quy định rất cụ thể. Tuy nhiên, với trường hợp xử lý khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự ch­ưa đủ căn cứ, hiện nay vẫn còn một số ý kiến trái chiều như sau.

    Quy định như vậy sẽ dẫn tới 2 cách hiểu khác nhau:

    – Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này, Cơ quan được yêu cầu chỉ được bổ sung tài liệu chứng cứ trong thời gian 3 ngày kể từ khi giao quyết định không khởi tố vụ án hình sự cho Viện kiểm sát. Nếu theo phương án này, thời hạn bổ sung tài liệu chứng cứ là quá ít. Cá biệt, nếu Kiểm sát viên nghiên cứu mất phần lớn thời gian (ví dụ như 2 ngày) thì kể từ khi nhận được yêu cầu, Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự chỉ còn rất ít thời gian để bổ sung tài liệu, chứng cứ (1 ngày). Nếu như vậy thì việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát là không khả thi.

    – Quan điểm thứ hai cho rằng, 3 ngày là thời hạn để Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đó và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phương án giải quyết là: yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự sẽ bổ sung tài liệu, chứng cứ ngoài thời hạn 3 ngày này. Theo quan điểm thứ hai, cũng có 2 cách hiểu về tính thời hạn bổ sung tài liệu, chứng cứ khác nhau. Thứ nhất, thời hạn này không bị hạn chế, chỉ kết thúc khi cơ quan này bổ sung xong tài liệu, chứng cứ, đủ làm căn cứ để quyết định giữ nguyên quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc hủy bỏ quyết định đó. Thứ hai, thời hạn bổ sung tài liệu, chứng cứ không thể vượt quá thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nếu hết thời hạn trên, các tài liệu, chứng cứ bổ sung được không đủ để làm căn cứ khởi tố vụ án, cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ thì theo nguyên tắc trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội, cần phải giữ nguyên Quyết định không khởi tố vụ án.

    Về trình tự, thủ tục thu thập và giá trị chứng minh của những tài liệu, chứng cứ được bổ sung: Theo quy định tại Điều 13 Quy chế, sau khi khởi tố vụ án, nếu chưa thấy đủ căn cứ, Viện kiểm sát có thể yêu cầu cơ quan đã ra quyết định bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Như đã phân tích ở trên, tuy Quyết định khởi tố vụ án hình sự đã khép lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nhưng lại mở ra giai đoạn điều tra, nên mọi hoạt động tố tụng tiếp theo, trong đó có cả việc bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có) sẽ được diễn ra và tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra. Vì vậy, những tài liệu, chứng cứ này hoàn toàn hợp pháp và đầy đủ giá trị để Viện kiểm sát làm căn cứ đánh giá, xem xét có phải hủy Quyết định khởi tố vụ án hay không.

    Theo quan điểm của cá nhân tôi, BLTTHS 2022 đã quy định rất chặt chẽ về thủ tục tố tụng ( Điều 87: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định này thì không có giá trị pháp lý…”). Cũng không có Điều nào trong Bộ luật này quy định về thủ tục bổ sung tài liệu, chứng cứ cho Quyết định Không khởi tố vụ án hình sự chưa có đủ căn cứ. Do đó, cần đặc biệt thận trọng. Dù là “mạnh tay” nhưng trong trường hợp này, khi Quyết định Không khởi tố vụ án hình sự chưa có đủ căn cứ, Viện kiểm sát nên yêu cầu cơ quan đã ban hành Quyết định này phải hủy bỏ hoặc tự mình hủy bỏ để trở lại xác minh, làm rõ theo thủ tục chung. Có như vậy, mới đảm bảo trình tự, thủ tục tố tụng và theo đó, bảo đảm giá trị chứng minh của tất cả những tài liệu, chứng cứ thu thập được.

    Trường hợp thấy Quyết định không khởi tố vụ án ch­ưa đủ căn cứ, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ là quy định không mới, hoàn toàn được kế thừa từ Quy chế kiểm sát điều tra năm 2008 của ngành Kiểm sát. Tuy nhiên, với những thay đổi lớn của BLHS 2022, BTTHS 2022 với những yêu cầu vô cùng khắt khe về trình tự, thủ tục tố tụng, nên chăng, cần đặt ra thêm giải pháp hợp lý hơn cho vấn đề này để đảm bảo tính hợp pháp, giá trị chứng minh của tài liệu, chứng cứ, đảm bảo cơ sở vững chắc cho các hoạt động và quyết định tố tụng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự
  • Vụ Thuê Villa Bị Đuổi Ra Ngoài Ở Huyện Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang: Viện Ksnd Huyện Thừa Nhận Ông Công, Ông Tuấn Vi Phạm Pháp Luật; Nhưng Giải Quyết Chưa Đầy Đủ
  • Sở Khoa Học Và Công Nghệ Ninh Bình Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Hai Cán Bộ
  • Thanh Hóa: Hủy Bỏ Nhiều Quyết Định Bổ Nhiệm Lãnh Đạo Trái Quy Định
  • Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Sở ‘siêu Tốc’
  • Khi Nào Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thời Hạn Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật ?
  • Khởi Tố Bị Can Theo Quy Định Luật Hình Sự
  • Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Có Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Nào?
  • Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Pháp Luật
  • Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự 2022 quy định cụ thể về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như sau:

    Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

    2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

    4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

    5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

    Trong đó, dấu hiệu tội phạm được hiểu là những dấu hiệu của hành vi phạm tội được quy định trong bộ luật hình sự, đó là dấu hiệu của những hành vi có tính chất nguy hiểm đối với xã hội. Những dấu hiệu đó có thể là một hành vi trái pháp luật hoặc một thiệt hại cụ thể nào đó và có thể được chia thành 3 nhóm:

    Thứ nhất, nhóm các dấu hiệu tội phạm trong tin tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là những căn cứ khởi tố vụ án hình sự dựa trên sự đóng góp, giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức cơ quan đoàn thể trong xã hội, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và xác minh tính chính xác của dấu hiệu phạm tội được cung cấp trên trước khi ra quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không?Vấn đề này đã được quy định khá chi tiết tại các điều 144 và điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2022:

    Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

    1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

    2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

    4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

    5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

    Điều 145.Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi tố.

    1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

    2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

    a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

    b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm

    3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

    a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

    b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

    c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

    4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

    Thứ hai, nhóm dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện được quy định tại điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự 2022:

    Điều 151. Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện

    Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.”

    Đây thường là nhưng dấu hiệu tội phạm mà cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện ra trong khi thực hiện nhiệm vụ. Đó có thể là những thông tin về một hành vi tội phạm phát hiện trong quá trình tìm hiểu các tài liệu, chứng cứ hoặc thông tin về một vụ việc khác hoặc thông qua lời khai của nhân chứng hay bị can, bị cáo trong một vụ án khác.

    Thứ ba, dấu hiệu tội phạm thu được do người phạm tội đầu thú hoặc tự thú. Trong trường hợp này, người phạm tội tự mình đến cơ quan có thẩm quyền trình bày về những hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở những thông tin đó, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền sẽ xác minh, đối chiếu trước khi xem xét ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với người đó và hành vi của họ. Điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự 2022 quy định cụ thể về vấn đề này như sau:

    Điều 152. Người phạm tội tự thú, đầu thú

    1. Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.

    2. Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú thực hiện không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú, đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải quyết.

    3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.”

    Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp có các dấu hiệu tội phạm thì cơ quan tiến hành tố tụng đều ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bởi khoản 1 điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2022 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại quy định:

    1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

    Theo đó, nhóm các tội phạm chỉ có thể được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại là những tội như: cố ý gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác (điều 134), cố ý gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (điều 135), tội hiếp dâm (điều 141), cưỡng dâm (điều 143)…Đây là các tội phạm mà việc khởi tố vụ án hình sự sẽ có thể có những ảnh hưởng lớn đến tâm sinh lý, cũng như danh dự, nhân phẩm và những lợi ích của người bị hại nên việc khởi tố chỉ diễn ra khi có yêu cầu của người bị hại.

    Từ những phân tích trên có thể thấy, khởi tố vụ án hình sự là một hoạt động có ý nghĩa lớn đối với cả quá trình tố tụng hình sự. Về nguyên tắc, quyết định khởi tố vụ án hình sự được ban hành khi có các dấu hiệu của tội phạm, tuy nhiên có những trường hợp vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu khởi tố của người bị hại.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI để được tư vấn.

    Câu hỏi: Gây tai nạn giao thông đường bộ có bị khởi tố và bồi thường thiệt hại?

    Kính thưa Luật sư. Chồng tôi lái xe ô tô, trong lúc vượt xe thì lấn sang phần đường của xe khác và gây tai nạn cho một người đi xe máy. Người đi xe máy bị trật khớp cổ chân và gãy xương đùi. Sau đó, gia đình tôi đã bồi thường 15 triệu đồng và chăm sóc cho nạn nhân khi đi mổ nhưng giờ gia đình họ đưa ra những yêu cầu quá đáng quá đòi gia đình tôi bồi thường nhiều hơn. Tôi xin hỏi trong trường hợp này gia đình tôi bồi thường bao nhiêu là hợp lý và chồng tôi có bị khởi tố hình sự không?

    Theo thông tin bạn cung cấp thì chồng bạn khi lái xe ô tô và có vượt xe đã lấn sang phần đường của xe máy, gây tổn thương sức khỏe của người lái xe máy.

    – Căn cứ quy định tại Điều 14 Luật giao thông đường bộ 2008 thì khi vượt xe người điều khiển xe xin vượt phải thực hiện theo các quy định sau:

    + Có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22h đến 5h chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

    + Chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

    + Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

    + Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải: Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái; Khi xe điện đang chạy giữa đường; Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.

    – Các trường hợp không được vượt xe:

    Theo quy định, không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

    + Không bảo đảm các quy định: chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải;

    + Trên cầu hẹp có một làn xe;

    + Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

    + Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

    + Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;

    + Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.

    Như vậy, nếu như chồng bạn không đảm bảo an toàn khi vượt xe thì chồng bạn đã có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến sức khỏe người khác, theo đó:

    – Căn cứ Điều 260 Bộ Luật Hình sự 2022 sửa đổi bổ sung năm 2022 quy định tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

    1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    Còn về mức bồi thường thiệt hại hợp lý pháp luật dân sự vẫn tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp có tranh chấp có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nếu vẫn muốn thỏa thuận nhưng theo mức hợp lý hơn trong trường hợp của mình. Điều 590 Bộ luật dân sự 2022 quy định về các khoản bồi thường thiệt hại bao gồm:

    – Chi phí hợp lý cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng;

    – Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại;

    – Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị, nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động cần có người thường xuyên chăm sóc thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

    – Thiệt hại khác do luật quy định.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

    Tác giả

    Nguyễn Văn Phi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Tội Nhận Hối Lộ Trong Các Trường Hợp Thuộc Khoản 4 Điều 279 Bộ Luật Hình Sự
  • Điều 354 Khoản 4 Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Khoản 4 Điều 111 Bộ Luật Hình Sự 1999
  • Rút Ngắn Thời Gian Thử Thách Án Treo Khoản 4 Bộ Luật Hình Sự
  • Khoản 4 Điều 251 Về Tội Mua Bán Trái Phép Chất Ma Túy
  • Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kê Biên Xử Lý Tài Sản Của Người Phải Thi Hành Án Đã Chuyển Quyền Sở Hữu Kể Từ Thời Điểm Có Bản Án, Quyết Định Sơ Thẩm
  • Marketing Căn Bản : Hệ Thống Và Nghiên Cứu Marketing
  • Marketing Là Gì? 10 Công Việc Bộ Phận Marketing Làm Mỗi Ngày
  • Tìm Hiểu Nội Dung Điều 231 Về “Truy Nã Bị Can” Tại Bltths Năm 2022 – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Lập Kế Hoạch Tác Nghiệp Là Gì? Định Hướng Phát Triển Cho Doanh Nghiệp
  • Quyết định khởi tố vụ án hình sự tại Bộ luật tố tụng hình sự quy định như sau:

    – Trong đó, dấu hiệu tội phạm được hiểu là những dấu hiệu của hành vi phạm tội được quy định trong bộ luật hình sự, đó là dấu hiệu của những hành vi có tính chất nguy hiểm đối với xã hội. Những dấu hiệu đó có thể là một hành vi trái pháp luật hoặc một thiệt hại cụ thể nào đó và có thể được chia thành 3 nhóm:

    + Một là, nhóm các dấu hiệu tội phạm trong tin tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là những căn cứ khởi tố vụ án hình sự dựa trên sự đóng góp, giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức cơ quan đoàn thể trong xã hội, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và xác minh tính chính xác của dấu hiệu phạm tội được cung cấp trên trước khi ra quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không? Vấn đề này đã được quy định khá chi tiết tại các Điều 144 và điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2022.

    + Hai là, nhóm dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện được quy định tại Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự 2022.

    + Ba là, dấu hiệu tội phạm thu được do người phạm tội đầu thú hoặc tự thú. Trong trường hợp này, người phạm tội tự mình đến cơ quan có thẩm quyền trình bày về những hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở những thông tin đó, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền sẽ xác minh, đối chiếu trước khi xem xét ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với người đó và hành vi của họ được quy định tại Điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự 2022.

    Văn phòng

    Luật sư Thủ Đô chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý về vấn đề Hôn nhân và gia

    đình, Doanh nghiệp, Đất đai, Hình sự… Hãy gọi cho Văn phòng Luật sư Thủ Đô

    theo hotline: 1900 6197 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kháng Nguyên Là Gì? Những Đặc Tính Cơ Bản Của Kháng Nguyên Ra Sao?
  • Quyết Định Về Việc Kiện Toàn Hội Đồng Khoa Học Bệnh Viện Năm 2022
  • Hiểu Đúng Quy Trình Quyết Định Mua Hàng Của Khách Hàng
  • Định Giá Theo Chi Phí Và Định Giá Theo Giá Trị
  • 11+ Công Thức Định Giá Cổ Phiếu: Đơn Giản & Siêu Hiệu Quả – Cophieux
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Trao Đổi: “về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự”
  • Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?
  • Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Khiếu nại là một quyền của cá nhân, tổ chức đối với các quyết định, hành vi của người có thẩm quyền nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng. Quyền khiếu nại các quyết định, hành vi của người có thẩm quyền trong tiến hành tố tụng hình sự được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022; trong đó có quyền khiếu nại của cá nhân, tổ chức tố giác hoặc báo tin về tội phạm đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

    1. Cơ sở pháp lý

    – Luật tố tụng hình sự năm 2022;

    – Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN & PT NT ngày 05/9/2018 về việc phối hợp thi hành một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo.

    Căn cứ khoản 2, Điều 158, Bộ luật tố tụng hình sự quy định như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

    * Xác định thời hiệu khiếu nại:

    Thời hiệu khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự là 15 ngày kể từ ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm nhận được hoặc biết được quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nếu hết thời gian 15 ngày mà không khiếu nại thì hết quyền khiếu nại. Trừ trường hợp lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì thời gian này không tính vào thời hiệu khiếu nại.

    * Xác định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại:

    Được quy định tại Điều 475, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022, theo đó có thể xác định như sau:

    Đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự do Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp huyện ban hành: Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (cấp huyện). Thời hạn giải quyết là 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Ví dụ: Thủ trưởng cơ quan điều tra huyện X ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện X.

    Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp huyện thì có quyền khiếu nại lần 2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp huyện thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng VKSND cấp tỉnh. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại viện trưởng VKSND cấp tỉnh phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh là quyết định có hiệu lực pháp luật.

    Đối với quyết định không khởi tố hình sự do Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh ban hành:

    Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (cấp tỉnh). Thời hạn giải quyết là 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

    Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh thì có quyền khiếu nại lần 2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng VKSND Tối cao. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại viện trưởng VKSND Tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Viện trưởng VKSND Tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.

    * Xác định quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại

    Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại được quy định tại Điều 472, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022. Theo đó, cá nhân, tổ chức, cơ quan đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự như sau:

    – Về quyền: Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện để khiếu nại; Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại; Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

    – Về nghĩa vụ: Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó. Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

    Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:

    Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam

    Địa chỉ: Tầng 1, Toà nhà CT 1 – SUDICO Khu đô thị Mỹ Đình – Mễ Trì, đường Vũ Quỳnh, P. Mỹ Đình 1, Q. Nam Từ Liêm, Hà Nội.

    ĐT: 0989.386.729; Email: htcvn.law@gmail.com

    Website: https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?
  • Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?
  • Khởi Tố Bị Can Là Gì?
  • Hưỡng Dẫn Về Khởi Tố Bị Can, Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Về Kiểm Sát Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Thời Hạn Tổ Chức Lễ Kết Nạp Đảng Viên
  • Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn
  • Mẫu Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn 2022
  • Quyết Định Công Nhận Ly Hôn Tòa Án Sẽ Giao Cho Vợ Hay Chồng?
  • Xin Sao Lục Bản Án, Quyết Định Ly Hôn Để Cấp Giấy Xác Nhận Tình Trạng Hôn Nhân
  • Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS năm 2022, Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Điều 12) và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSTC- BCA- BQP (Điều 7), hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự được tiến hành như sau:

    Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án của CQĐT hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gọi tắt là CQĐT), Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị có thẩm quyền kiểm sát điều tra phải cử Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án.

    Kiểm sát viên được cử kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án phải kiểm tra chặt chẽ các tài liệu, chứng cứ để xác định xem quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có căn cứ, có hợp pháp hay không?

    Kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình sự

    – Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý vụ án hình sự.

    – Nghiên cứu kỹ các tài liệu dùng làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Tài liệu về tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; các tài liệu khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh thu thập được; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, biên bản khám xét, biên bản bắt người phạm tội quả tang… cùng các tài liệu, vật chứng thu thập được khi tiến hành khám nghiệm; đơn yêu cầu khởi tố, kết luận giám định, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng.

    Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự

    – Kiểm sát viên kiểm tra trình tự, thủ tục tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có đúng quy định của BLTTHS hay không?

    – Kiểm tra thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, hình thức và nội dung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có đúng quy định của BLTTHS hay không?

    Sau khi kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, Kiểm sát viên cần tổng hợp, phân tích, đánh giá xem có hay không vụ việc có tính chất hình sự xảy ra trên thực tế. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được có đủ để chứng minh sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay chưa? Nếu có thì thuộc điều, khoản nào của BLHS? Phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi ra sao? Mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra như thế nào? Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự còn hay hết…

    Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố, Kiểm sát viên phải báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá quyết định khởi tố với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xem xét, xử lý.

    Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra căn cứ vào báo cáo kết quả nghiên cứu quyết định khởi tố của Kiểm sát viên, căn cứ Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Điều 12) và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSTC- BCA- BQP (Điều 7) để xử lý như sau:

    – Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án và gửi cho Cơ quan điều tra;

    – Nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ;

    – Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định đó; trường hợp Cơ quan điều tra không nhất trí hoặc là quyết định khởi tố vụ án hình sự của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 6 Điều 159 và khoản 1 Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trường hợp Kiểm sát viên sau khi nghiên cứu quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chư­a được khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đã ra quyết định khởi tố không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung, Kiểm sát viên gửi các quyết định này cho cơ quan đã ra quyết định khởi tố để tiến hành điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Tiểu Học
  • Các Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Giỏi 2022
  • Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Cấp Chi Bộ
  • Hủy Hàng Chục Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Công An Huyện Đã Hủy Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Bàn Về Quy Định Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Bị Can
  • Thành Lập Ban Quản Lý Xây Dựng Ntm Cấp Xã
  • Kiện Toàn Bcđ Chương Trình Mtqg Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Thủ Tướng Chính Phủ Quyết Định Kiện Toàn Ban Chỉ Đạo Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Tiếp tục phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 11-9, Viện trưởng VKSND Tối cao Lê Minh Trí trình bày báo cáo tóm tắt về kết quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp năm 2022.

    Viện trưởng VKSND Tối cao nhận định: “Năm 2022, tình hình khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp vẫn còn diễn biến phức tạp. Một số nội dung khiếu nại, tố cáo mới gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Các vụ việc khiếu nại, tố cáo gay gắt, kéo dài nhiều năm có phần gia tăng. Nhiều vụ việc đã được các cơ quan giải quyết hết thẩm quyền, đúng pháp luật nhưng công dân không đồng ý, vẫn tiếp tục yêu cầu giải quyết”.

    Ông Trí còn cho hay thời gian gần đây, một số trường hợp gửi đơn tố giác đến CQĐT VKSND Tối cao về hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, ra bản án trái pháp luật… nhưng thực chất nội dung đơn là khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

    “Khi CQĐT VKSND Tối cao chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì công dân không đồng ý và yêu cầu phải xử lý theo tội danh đã tố giác, dẫn đến vụ việc trở thành khiếu nại gay gắt, kéo dài” – ông Trí cho hay.

    Sau khi lướt qua số lượng công dân và đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị mà VKSND các cấp đã tiếp, tiếp nhận, ông Trí đề cập đến một số kết quả về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

    Theo đó, dù số đơn và vụ việc có giảm nhưng tính chất của các đơn, vụ việc vẫn là khiếu nại về quyết định của thủ trưởng CQĐT và VKSND trong tố tụng hình sự. “Qua giải quyết khiếu nại, VKSND đã hủy sáu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm để yêu cầu giải quyết lại tố giác tội phạm” – ông Trí cho hay.

    Về kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại, ông Trí cho hay: “VKSND, VKSND Tối cao và VKSND cấp tỉnh thụ lý kiểm tra 146 vụ, việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự có hiệu lực pháp luật; đã kết luận kiểm tra 130 vụ việc. Qua đó, hủy 11 quyết định không khởi tố vụ án hình sự để giải quyết lại tin báo, tố giác tội phạm vì thiếu căn cứ” – ông Trí cho hay.

    Báo cáo của VKSND Tối cao cũng cho hay một số trường hợp khiếu nại không có cơ sở nhưng quá trình giải quyết, cơ quan có thẩm quyền chưa phân tích rõ căn cứ bác đơn dẫn đến khiếu kiện kéo dài nhiều năm. Khi kiểm tra, VKSND cấp trên xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, tiến hành đối thoại với công dân, phân tích, ban hành kết luận có cơ sở. Từ đó đương sự chấp nhận kết quả xem xét, giải quyết, không tiếp tục khiếu nại.

    Đề cập đến một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, ông Trí nói đến việc chưa đảm bảo thời hạn hoặc chưa thu thập, phân tích đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho việc giải quyết, dẫn đến VKSND cấp trên phải hủy để giải quyết lại. Công tác kiểm sát chưa hiệu quả.

    Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế được VKSND Tối cao quy về việc BLTTHS quy định thời hạn giải quyết khiếu nại rất ngắn, áp lực chuyên môn khiến nhiều đơn vị kiểm sát chưa thực hiện tốt nhiệm vụ và việc chỉ đạo, công tác nhân sự cũng có nhiều hạn chế.

    Trong hai khó khăn, vướng mắc, ông Trí đề cập đến việc một số công dân lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo hoặc do nhận thức pháp luật hạn chế nên liên tục gửi đơn và trực tiếp đến địa điểm tiếp công dân của VKSND Tối cao và một số VKSND tỉnh, TP lớn. “Không ít trường hợp do không được đáp ứng yêu cầu đã có hành vi quá khích, quay video, chụp ảnh… nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể về xử lý những trường hợp này, vì vậy công tác tiếp công dân, xử lý đơn của VKSND các cấp gặp khó khăn” – ông Trí cho hay.

    Các giải pháp mà VKSND Tối cao đề ra vẫn là tiếp tục chỉ đạo tăng cường trách nhiệm, tăng cường công tác kiểm sát trực tiếp, kiện toàn biên chế, tổ chức và đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức.

    Báo cáo của VKSND Tối cao kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tăng cường giám sát, kiến nghị Đảng, Nhà nước tăng cường nguồn lực cho ngành kiểm sát, trong đó có chính sách đãi ngộ cho những đơn vị, cán bộ tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Trao Đổi: “về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự”

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?
  • Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng
  • Về vị trí của hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự: Tôi đồng ý với quan điểm là “quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định không khởi tố vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chính là các kết quả của quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Trong đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự có vị trí đặc biệt, được coi như “bản lề” của 2 giai đoạn tố tụng khác nhau vì nó đóng lại giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và mở ra quá trình điều tra. Tuy nhiên, quyết định không khởi tố vụ án hình sự lại không có tính chất như vậy, nó chỉ đơn thuần là kết quả cuối cùng, đóng lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nên cũng cần đánh giá, về bản chất, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải thuộc giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Việc quy định theo kết cấu các văn bản pháp luật đã trích dẫn như quan điểm thứ nhất là để thuận lợi cho quá trình thực hiện, thể hiện tính liên tục giữa 2 giai đoạn: Giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và điều tra mà không có ý nghĩa xác định hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự được tiến hành trong giai đoạn điều tra.”

    Theo tôi, tuy việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm đã tạm dừng nhưng một số hoạt động tố tụng vẫn được phép tiến hành như giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp… Nên tài liệu, chứng cứ được thu thập theo trình tự này là hoàn toàn hợp pháp vì xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những gì có thật được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì một thông tin, tài liệu chỉ có thể được coi là chứng cứ của vụ án khi nó có đủ ba thuộc tính sau:

    – Tính khách quan: Là những gì có thật và phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án hình sự đã xảy ra.

    – Tính hợp pháp: Tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo một trình tự do luật định. Đây là trình tự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ.

    Như vậy sau khi đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, tất cả những hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ sẽ không có giá trị chúng minh nếu như không đảm bảo đủ 03 thuộc tính trên.

    Trong thực tế, quá trình chứng minh trong giai đoạn tin báo nói riêng và các giai đoạn tố tụng nói chung, hoạt động sử dụng chứng cứ gắn liền với hoạt động đánh giá chứng cứ, đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ có mối quan hệ chặt chẽ không tách rời. Đánh giá chứng cứ là tiền đề, là điều kiện cho sử dụng chứng cứ. Sử dụng chứng cứ là sự kiểm nghiệm, xác định lại kết quả của hoạt động đánh giá chứng cứ. Nên Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được sử dụng những chứng cứ đã được phát hiện, thu thập theo đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được qua biện pháp điều tra, trinh sát, phải được chuyển hóa thành chứng cứ hợp pháp mới được sử dụng. Những tài liệu, chứng cứ phải được kiểm tra, xác minh đầy đủ, phải đảm bảo đầy đủ ba thuộc tính của chứng cứ, phải phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo sự tin cậy vững chắc và có đủ căn cứ mới sử dụng được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?
  • Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?
  • Khởi Tố Bị Can Là Gì?
  • Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyết Định Ly Thân Hay Ly Hôn
  • Bất Động Sản Chơn Thành “Hưởng Lợi” Khi Chơn Thành Chính Thức Lên Thị Xã
  • Tải Mẫu Quyết Định Tăng Lương 2022
  • Quốc Lộ 50 – Mới Quy Hoạch Và Các Dự Án Xung Quanh
  • Tập Trung Vốn Đầu Tư Công Cho Dự Án Giao Thông Huyết Mạch
  • Phân biệt quy định khởi tố vụ án và khởi tố bị can

    Cơ sở pháp lý: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2022

    Tiêu chí

    Khởi tố vụ án

    Khởi tố bị can

    Đối tượng khởi tố

    Khởi tố về hành vi có dấu hiệu phạm tội.

     

     

    Khởi tố người hoặc pháp nhân có hành vi phạm tội cụ thể.

    Căn cứ khởi tố

    Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

    Tố giác của cá nhân;

    Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

    Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

    Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

    Người phạm tội tự thú.

    (Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2022)

    Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị bị can. Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra.

    (Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2022)

    Thẩm quyền ra quyết định khởi tố

    Có 04 cơ quan:

    – Cơ quan điều tra;

    – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    – Viện kiểm sát;

    – Hội đồng xét xử.

    Có 03 cơ quan:

    – Cơ quan điều tra;

    – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    – Viện kiểm sát.

     

     

    Các giai đoạn ra quyết định khởi tố

    Có 04 giai đoạn có thể khởi tố:

    – Giai đoạn khởi tố;

    – Giai đoạn điều tra;

    – Giai đoạn truy tố;

    – Giai đoạn xét xử.

    (Điều 153 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2022)

    Có 02 giai đoạn có thể khởi tố:

    – Giai đoạn điều tra;

    – Giai đoạn truy tố.

    (Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2022)

     

     

    Kết thúc khởi tố

    Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm), hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm).

    Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

    Mối liên hệ giữa quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can

    Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can bởi sau khi khởi tố vụ án bước vào giai đoạn điều tra thì cơ quan có thẩm quyền mới điều tra căn cứ xác định 04 yếu tố cấu thành tội phạm để có căn cứ khởi tố bị can.

    Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. (như  trường hợp bắt tội phạm quả tang)

    Liên hệ với FBLAW theo thông tin sau:

    Tel: 038.595.3737 – Hotline: 0973.098.987

    Email: luatsu@fblaw.vn

    Địa chỉ: 45 Đàm Văn Lễ, phường Trường Thi, Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An

    Trân trọng ./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàn Thiện Thủ Tục Khởi Tố Vụ Án, Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Quy Trình Xử Lý Kỷ Luật Đảng Viên
  • Steve Jobs: Định Nghiệp Như Những Dấu Chấm
  • Thông Báo Hủy Giấy Chứng Nhận
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100