Bài Tập Về Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Ôn Tập Văn Bản “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” / 2023

: Ngô Gia Văn Phái: một nhóm tác giả dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1753-1788), làm quan thời Lê Chiêu Thống, và Ngô Thì Du (1772-1840), làm quan dưới chiều nhà Nguyễn.

2. Thể loại : (chí là một lối văn ghi chép sự vật, sự việc).

Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi.

3. Hoàn cảnh : hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh.

– Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

* Đại ý: Đoạn trích miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung, sự thảm bại nhục nhã của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản nước, hại dân.

– Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn ở Thăng Long, rút quân về Tam Điệp và cho người vào Phủ Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ.

– Nhận được tin ngày 24/11, Nguyễn Huệ liền tổ chức lại lực lượng chia quân làm hai đạo thuỷ – bộ.

– Ngày : ” 30, quân của Quang Trung ra đến Tam Điệp, hội cùng Sở và Lân. Quang Trung đã khẳng định Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh“. Cũng trong ngày 30, giặc giã chưa yên, binh đao hãy còn mà ông đã nghĩ đến kế sách xây dựng đất nước mười năm sau chiến tranh. Ông còn mở tiệc khao quân, ngầm hẹn mùng 7 sẽ có mặt ở thành Thăng Long mở tiệc lớn. Ngay đêm đó, nghĩa quân lại tiếp tục lên đường. Khi quân Tây Sơn ra đến sông Thanh Quyết gặp đám do thám của quân Thanh, Quang Trung ra lệnh bắt hết không để sót một tên.

– “Hoàng Lê nhất thống chí” là một cuốn tiểu thuyết lịch sử bằng chữ Hán được viết theo thể chương hồi do nhiều tác giả trong Ngô Gia Văn Phái (Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du…) sáng tác. Đây là một bức tranh sâu rộng vừa phản ánh được sự thối nát, suy tàn của triều đình Lê Trịnh, vừa phản ánh được sự phát triển của phong trào Tây Sơn.

– Trong hồi thứ 14 của tác phẩm, hình tượng người anh hùng Quang Trung hiện lên thật cao đẹp với khí phách hào hùng, trí tuệ sáng suốt và tài thao lược hơn người.

– Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là con người hành động một cách xông xáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết.

– Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao núng ” định thân chinh cầm quân đi ngay “.

– Rồi chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: ” tế cáo trời đất “, lên ngôi hoàng đế, dốc xuất đại binh ra Bắc…

* Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước ” ngàn cân treo sợi tóc “, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là Quang Trung.

– Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào sao ấy” người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác“. Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: ” Từ đời nhà hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”.

– Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn xưa như: Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành…

– Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người Phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính chí tình, vừa nghiêm khắc: “các người đều là những người có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.

– Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì ” quân thua chém tướng” nhưng không hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi khen.

– Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sĩ ” đa mưu túc trí ” việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.

– Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột ” phương lược tiến đánh đã có tính sẵn “.

– Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 tới ta hoà bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó. Nếu ” chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng “.

– Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tiết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức 2 ngày.

– Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng là do tài tổ chức của người cầm quân.

– Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa. Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.

– Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù.

– Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh ” khói tỏ mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nổi bật hình ảnh nhà vua ” cưỡi voi đi đốc thúc ” với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng.

– Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại.

Với ý thức tôn trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc, những người trí thức – các tác giả Ngô Gia Văn Phái là những cựu thần chịu ơn sâu, nghĩa nặng của nhà Lê, nhưng họ đã không thể bỏ qua sự thực là ông vua nhà Lê yếu hèn đã cõng rắn cắn gà nhà và chiến công lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn, làm nổi bật hình ảnh vua Quang Trung – người anh hùng áo vải, niềm tự hào lớn của cả dân tộc. Bởi thế họ đã viết thực và hay đến như vậy về người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ.

– Tôn Sỹ Nghị kiêu căng, tự mãn, chủ quan:

+ Kéo quân vào Thăng Long dễ dàng ” ngày đi đêm nghỉ” như ” đi trên đất bằng“, cho là vô sự, không đề phòng gì, chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm.

+ Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết tình hình thực hư ra sao. Dù được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn không chút đề phòng suốt mấy ngày Tết ” chỉ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất chắc “, cho quân lính mặc sắc vui chơi.

– Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp… chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, xin ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết“, ” quân sĩ các doanh nghe thấy đều hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều“, ” đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa“. Cả đội binh hùng, tướng mạnh, chỉ quen diễu võ dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy, ” đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi “.

* Nghệ thuật: kể chuyện, xen kẽ với những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sống động với nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù. Ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứng tâm trạng hả hê, sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trước thắng lợi của Sơn Tây.

– Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà đem vận mệnh của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh, van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương, và kết cục cũng phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ vọng quốc.

– Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín ” đưa thái hậu ra ngoài“, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, ” luôn mấy ngày không ăn “. May gặp người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn. Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt, và sau khi sang đến Trung Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người.

: Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh. Ngòi bút đậm chút xót thương của tác giả bề tôi trung thành của nhà Lê.

– Tất cả đều là tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại rất khác nhau:

– Đoạn văn trên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả ” ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp”, “tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau…“, ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứa tâm trạng hả hê, sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước.

– Ở đoạn văn dưới, nhịp điệu có chậm hơn, tác giả dừng lại miêu tả tỉ mỉ những giọt nước mắt thương cảm của người thổ hào, nước mắt tủi hổ của vua tôi Lê Chiêu Thống, cuộc theíet đãi thịnh tình ” giết gà, làm cơm” của kẻ bề tôi… âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót. Là những cựu thần của nhà Lê, các tác giả không thể không mủi lòng trước sự sụp đổ của một vương triều mà mình từng phụng thờ, tuy vẫn hiểu đó là kết cục không thể tránh khỏi.

Bài tập 2: Đọc đoạn trích ” Quân Thanh sang……không nói trước”

a. Những lời trên Quang Trung nói ở đâu?

b. Đọc đoạn văn này em thấy giống thể loại gì trong văn học cổ?

c. Đọc đến hai câu cuối, em liên tưởng thấy giống như những lời văn trong bài nào của văn học cổ? do ai viết? mục đích viết?

d. Nội dung đoạn văn gồm mấy ý chính? Đó là những ý gì?

Hai câu cuối khiến ta liên tưởng thấy giống như những lời văn trong bài ” Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn.Mục đích viết : kêu gọi quân sĩ học tập ” Binh thư yếu lược” để đánh giặc Nguyên- Mông

Bài tập 3: Trong hồi thứ 14 có đoạn viết ” chúng tôi Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván….máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại”

a. Nhận xét nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích trên?

b. Đoạn trích trên cho em hiểu gì về người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ?

a. Nghệ thuật đặc sắc : Trần thuật theo diễn biến sự việc; trần thuật xen lẫn miêu tả: tả việc làm -tả hình ảnh Quang Trung, tả quân sĩ Quang Trung, tả quân Thanh, tả không gian chung của trận đánh

b. Đoạn trích cho ta hiểu :

Nguyễn Huệ là người có tài thao lược, sáng tạo ra phương tiện độc đáo để chiến đấu

Là vị tướng có tài tổ chức trận đánh: bố trí quân lính, lúc thì sử dụng binh khí, lúc thì đánh giáp lá cà

Quang Trung không những là một vị tướng có tài mà còn là một người anh hùng trực tiếp xông pha chiến trận từ lúc bắt đầu trận đánh cho đến khi trận đánh kết thúc

→ Miêu tả chính xác chân dung kẻ cướp nước. Cả đội quân trước đây hùng hổ, huyênh hoang, ngạo mạn thì giờ đây xộc xệch, bấn loạn, dẫm đạp lên nhau mà chạy trốn. Quả là sự thảm bại nhục nhã

→ Đường đường là vua của một nước nhưng tự biến mình thành kẻ thù của cả dân tộc → cuối cùng đã phải trả giá

Bài tập 5: Viết đoạn văn khoảng 10 câu theo kiểu qui nạp, trình bày cảm nhận của em về trí tuệ nhạy bén,sáng suốt của người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ thể hiện trong đoạn trích hồi thứ 14 của ” Hoàng Lê nhất thống chí”. Trong đoạn văn có sử dụng cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp?

Trước hết, trí tuệ nhạy bén, sáng suốt của Quang Trung thể hiện trong việc lên ngôi. Trước biến cố lớn của đất nước, Nguyễn Huệ lên ngôi là điều cần thiết để chính vị hiệu yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, tập hợp sức mạnh đoàn kết để đánh đuổi giặc Thanh. Không những vậy, trí tuệ nhạy bén, sáng suốt của vua còn thể hiện trong việc phân tích thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa ta và địch. Trong lời phủ dụ quân sĩ ở Nghệ An,với trí tuệ sáng suốt,ông đã nêu bật dã tâm của địch: người phương Bắc không phải nòi giống ta, bụng dạ ắt khác Bên cạnh đó ông đã khéo léo nhắc lại truyền thống đánh giặc để kích thích lòng quân,từ đó phân tích rõ cái được,cái mất,cái lợi,cái hại: mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Cách phân tích sáng suốt, thấu tình đạt lí ấy đã giúp quân sĩ thấy được thời cuộc, từ đó có hành động cứu nước.Ông còn thấy rõ tình hình lúc này Bắc Hà mới yên,lòng người chưa phục,Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có núi sông để nương tựa, người trong kinh kì làm nội ứng cho giặc thì làm sao mà có thể cử động được. Qua những lời phân tích ấy, có thể thấy rõ vua Quang Trung là người sắc sảo, sáng suốt trong việc xác định thế tương quan chiến lược giữa ta và địch.Trong cách dùng người, Quang Trung cũng rất sáng suốt nhạy bén. Khi Sở, Lân mang gươm trên lưng mà xin chịu tội, ông đã không trách tội mà còn khen ngợi rằng họ đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của giặc, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu,bên trong thì kích thích lòng quân,bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng,kế ấy là rất đúng Qua lời khen ấy ta càng thấy rõ trí tuệ của người anh hùng trong việc xét đoán và dùng người. Tóm lại, qua đoạn trích hồi thứ 14 của Hoàng Lê nhất thống chí, với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả đã tái hiện chân thực, sinh động hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ là người có trí tuệ nhạy bén,sáng suốt.

(1): Lời dân trực tiếp

(2): Lời dẫn gián tiếp

Bài 5. Hoàng Lê Nhất Thống Chí / 2023

Văn bản Hoàng Lê Nhất Thống ChíHồiThứ14NGÔ GIA VĂN PHÁI1. Tác giả.– Dòng họ Ngô Thì ở làng tả Thanh Oai – Hà Tây viết.– Ngô Thì Chí ( 1753 -1788 ) viết 7 hồi đầu.– Ngô Thì Du ( 1772 – 1840 ) viết 7 hồi tiếp.– 3 hồi khác do một ngưuời khác viết.-Tác phẩm viết bằng chữ Hán, có quy mô lớn gồm 17 hồi.– Nội dung: Ghi chép về sự thống nhất của vuong triều nhà Lê và tái hiện lại một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.2. Tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí. 3. Th? lo?i: Ti?u thuy?t chuong h?i vi?t theo th? Chí ( là thể văn ghi chép lại sự vật, sự việc. Đây là thể văn vừa có tính chất văn học vừa có tính chất lịch sử.)Tên tác phẩm có nghĩa là: Cuốn sách gi chép về sự thống nhất của vuương triều nhà Lê viết theo thể chí.Tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí đưuợc coi là Tiểu thuyết lịch sử chưuơng hồi Nội dung: Viết về những sự kiện lịch sử, chịu ảnh hưuởng lối viết của tiểu thuyết chưuơng hồi Trung Quốc.Hình thức: Có kết cấu, nghệ thuật khắc họa nhân vật, cách miêu tả, tự sự lại rất đậm chất tiểu thuyết.Hồi thứ 14Ghi lại sự kiện vua Quang Trung đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm 1789, lập nên triều đại Tây Sơn. Phản ánh bộ mặt thảm hại của bọn cuướp nưuớc và bán nuớc.Tóm tắt. Quân Thanh kéo vào Thăng Long, tuướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về vùng núi Tam Điệp. Đuược tin Quang Trung rất giận, bèn họp tuướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay. Nhưng nghe mọi nguười đến họp khuyên Ông đã lên ngôi vua ở Phú Xuân, tự đốc xuất đại binh nhằm ngày 25 tháng Chạp năm 1788 tiến quân ra Bắc diệt Thanh. Dọc đưuờng vua Quang Trung cho kén thêm quân lính, mở cuộc duyệt binh lớn, chia quân thành các đạo, chỉ dụ tưuớng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng Chạp. Hẹn đến ngày mùng 7 Tết thắng giặc mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long. Đội quân của Quang Trung đánh đến đâu thắng đến đấy, khiến quân Thanh đại bại. Ngày mùng 3 Tết quân Tây Sơn công phá đồn Hà Hồi, sáng sớm ngày mùng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi, trưa mùng 5 Tết tiến binh đến Thăng Long. Tưuớng Thanh là Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến vội vã chạy trốn theo.4. Phưuơng thức biểu đạt. Tự sự kết hợp với miêu tả và nghị luận.– Đoạn 1 (từ đầuhôm ấy là ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân 1788): Quân Thanh chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế cầm quân dẹp giặc.– Đoạn 2 (Vua QT tự mình đốc suất đại binh  rồi kéo vào thành): Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của QT.– Đoạn 3 (còn lại): Hình ảnh thất bại thảm hại của bọn xâm lăng và lũ vua quan bán nước.1.Hỡnh ?nh Quang Trung- Nguy?n Hu?.Khi Bắc Bình Vuương đuược tin cấp báo quân Thanh đã đến Thăng Long, Ông đã có phản ứng nhuư thế nào ?Nghe tin: Giận lắm, họp tuớng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay.Khi mọi nguười đến họp đã khuyên Ông điều gì ? Ông đã hành động nhưu thế nào ?Nghe lời tuướng sĩ lên ngôi Hoàng đế, sau đó hạ lệnh xuất quân ( 25/12/1788 )Qua thái độ và hành động trên tính cách nào của vua Quang Trung đưuợc bộc lộ ?Ngay thẳng, cuương trực, căm ghét bọn xâm lưuợc và những kẻ bán nuước.Khi nghe mọi nguười đến họp khuyên Quang Trung đã có nghe lời tưuớng sĩ, lên ngôi Hoàng đế… Việc làm đó chứng tỏ Ông là con nguười nhuư thế nào ?Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lưuợc.* Khi mới nghe tin:* Ngày 29 tháng 12 đến Nghệ An:Ngày 29 tháng 12 Quang Trung đã đến địa danh nào ? ở đây Ông đã có những việc làm gì ?Gặp ngưuời cống sĩ ở La Sơn hỏi việc đánh giặc.Kén lính ở Nghệ An và mở cuộc duyệt binh lớn.Sắp xếp đội ngũ và truyền cho quân sĩ ngồi nghe lệnh và dụ họ.Chỉ trong vòng ngày 29 Quang Trung làm đuược bao nhiêu là việc lớn. Những việc làm đó cho thấy Ông là một người luôn hành động nhưu thế nào ?Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.LÍNH TÂY SƠNQuan sát lời chỉ dụ của vua Quang Trung với quân sĩ trong SGK trang 66 em thấy nội dung lời chỉ dụ nêu lên những gì ?Khẳng định chủ quyền đất nưuớc.Nêu lên dã tâm của giặc phưuơng Bắc.Tự hào về công lao đánh giặc ngoại xâm của cha ông.Tin tuưởng vào chính nghĩa của cuộc hành binh diệt Thanh và kêu gọi quân sĩ đánh giặc.Ra kỷ luật đối với quân sĩ.Từ lời dụ quân sĩ trên em thấy tài năng nào của Nguyễn Huệ đưuợc bộc lộ ?Tài khích lệ quân sĩ.Trí tuệ sáng suốt và nhạy bén.Lời chỉ dụ của Quang Trung_Nguyễn Huệ* Ngày 30 tháng 12 năm 1788Sau khi mở cuộc duyệt binh vào ngày 29 ở Nghệ An. Ngày hôm sau ( 30 Tết ) Quang Trung đã có quyết định gì ?Hạ lệnh xuất quân đến Tam Điệp.Mở tiệc khao quân.Xử trí hai tưuớng Sở và LânHoạch định kế sách đánh giặc và tính kế hoạch ngoại giao sau chiến tranh.Tại Tam Điệp, Quang Trung đã có những việc làm nào ?Tối 30 Tết thì lên đưuờng tiến quân ra Thăng Long.Tại Tam Điệp, Quang Trung đã xử trí 2 tưuớng Sở và Lân nhuư thế nào ? Từ cách xử trí ấy nói với em về một con nguười có phẩm chất nhuư thế nào ? Năng lực tiên đoán chính xác của một nhà quân sự có tài.Tầm nhìn xa trông rộng, một nhà chính trị có tưu tưuởng hòa bình.Nhạy bén, sáng suốt, độ luượng và công minh trong việc xét đoán bề tôi.Việc Quang Trung nói với tuướng sĩ về kế hoạch ngoại giao với nhà Thanh sau chiến tranh cho thấy đây là một vị vua có tấm nhìn và tuư tưởng nhuư thế nào ?Hành động mở tiệc khao quân, cho quân ăn Tết trước và tối 30 Tết lập tức lên đuường cùng lời hứa hẹn đón năm mới ở Thăng Long vào ngày mùng 7 Tết cho thấy năng lực đặc biệt nào ở vị vua này ?Ngoài “xe tăng voi lửa” kể trên, binh lính Tây Sơn còn được trang bị một loại vũ khí cá nhân là Hỏa hổ. Hỏa hổ là một loại vũ khí hình ống, một loại súng phun lửa có thể biến địch thành “cây đuốc sống”. Khi lâm trận, trong ống Hỏa hổ bắn nhựa thông ra, trúng phải đâu là lập tức bốc cháy. Loại vũ khí đặc biệt này được trang bị cho cả quân chủng lục quân và thủy quân của nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ đã biến voi thành những “cỗ xe tăng” có sức mạnh áp đảo, trang bị đại bác và hỏa pháo trên lưng. Trên lưng mỗi quân voi có ba, bốn người lính chít khăn đỏ, ngồi ném tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp nơi, đốt cháy quân địch.

Đội quân “voi lửa” của vua Quang Trung, người thiên tài quân sự cả đời cầm quân không hề biết thua trận là gì, đã hội đủ cả 3 yếu tố chiến thuật: Cơ động, đột kích và hỏa lực. Đây thật sự là một cuộc cách mạng voi chiến so với các thời kỳ trước đó.Qua phần 1 hình ảnh vua Quang Trung đưuợc tái hiện lên bằng biện pháp nghệ thuật nào ?Các biện pháp nghệ thuật ấy nói với em về một vị vua nhuư thế nào ?Kể bằng hành động, sự việc, lời nói cụ thể.Là một vị vua yêu nuớc, sáng suốt, có tài cầm quân.Bùi Thị Xuân tỉnh Bình ĐịnhSinh trưởng trong một gia đình khá giả, Bùi Thị Xuân sớm được học văn và học võ, người có nhan sắc, khéo tay và viết chữ đẹp. Đến khi theo học võ với Đô thống Ngô Mạnh, bà cũng nhanh chóng thành thạo, nhất là môn song kiếm. Với tài nghệ (ngoài tài kiếm thuật, bà còn giỏi bắn cung, cưỡi ngựa và luyện voi) cộng với lòng dũng cảm, Bùi Thị Xuân cùng chồng nhanh chóng trở thành những tướng lĩnh trụ cột, góp công lớn trong công cuộc dựng nghiệp của nhà Tây Sơn ngay từ buổi đầu, trận đại phá quân Mãn Thanh vào đầu xuân Kỷ Dậu (1789), bà chỉ huy đội tượng binh của đạo Trung quân do vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) chỉ huy2. Hình ảnh quân tướng nhà Thanh và bọn vua tôi phản nước: a, Quân tướng nhà Thanh: – Kiêu căng, chủ quan, chỉ lo ăn chơi. – Khi quân Tây Sơn đến, tướng Tôn Sĩ Nghị và binh lính bỏ chạy hoảng loạn.Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn

→ Sự thất bại thảm hại.b, Bọn vua tôi bán nước:

– Hình ảnh vua quan Lê Chiêu Thống đớn hèn, nhục nhã, số phận gắn chặt với bọn giặc xâm lược

→ Nhục nhã.3. Ý nghĩa văn bản:

Văn bản ghi lại hiện thực lịch sử hào hùng của dân tộc ta và hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ trong chiến thắng mùa xuân năm Kỉ Dậu ( 1789)1753 – 1792III. Tổng kết: Ghi nhớ: sgk/72 1. Nội dung: Ca ngợi vị vua anh hùng Nguyễn Huệ và tố cáo bè lũ bán nước vua tôi nhà Lê.

2. Nghệ thuật: Giọng kể sôi nổi, tự hàoIV.LUYỆN TẬP: Viết đọan văn nêu cảm nghĩ của em về người anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung trong chiến công thần tốc đại phá quân Thanh từ tối 30 đến mồng 5 tết Kỉ Dậu (1789)Bài 1Củng cố

Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí / 2023

Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn – Ngô gia văn phái)

Bố cục:

+ Phần 1 (từ đầu đến 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788): quân Thanh kéo vào xâm lược nước ta

+ Phần 2 (tiếp… rồi kéo vào thành): chiến thắng thần tốc của đạo quân dưới sự dẫn dắt tài ba, trí lược của vua Quang Trung.

+ Phần 3 (còn lại): Quân Thanh đại bại và tình cảnh thảm hại vua Lê Chiêu Thống

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Đại ý: Vua Nguyễn Huệ thần tốc tiến quân ra Bắc dẹp giặc Thanh, vua tôi Lê Chiêu Thống bán nước bỏ chạy theo giặc.

– Đoạn 1 (từ đầu… năm Mậu Thân): Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, thân chinh cầm quân dẹp giặc.

– Đoạn 2: (tiếp… nỗi kéo vào thành): Cuộc hành quân thần tốc, chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung

– Đoạn 3 (còn lại): sự đại bại của quân Thanh và tình cảnh thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống

+ Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng.

Câu 2 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Hình tượng Quang Trung- Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược của vị anh hùng dân tộc

– Hành động mạnh mẽ, dứt khoát:

+ Nhận được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay

+ Lên ngôi hoàng đế, đốc xuất đại binh ra Bắc dẹp giặc

+ Trưng cầu ý kiến của người hiền tài (hỏi Nguyễn Thiếp)

+ Tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, ra phủ dụ, chỉ ra kế hoạch đánh giặc

– Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình

+ Chỉ ra tình thế, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc

+ Lời lẽ chặt chẽ, sắc bén, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ

+ Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng giặc…)

+ Biết dùng người dùng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng

– Ý chí độc lập, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc

– Hình tượng vua Quang Trung được miêu tả với đầy đủ phẩm chất của vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt

Tác giả Ngô gia trung thành với nhà Lê, nhưng vẫn ca ngợi vua Quang Trung bởi tinh thần dân tộc, sự tài tình, tấm lòng yêu nước của Nguyễn Huệ

Câu 4 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Bút pháp của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (của quân tướng nhà Thanh, của vua tôi Lê Chiêu Thống)

+ Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh: thảm hại, hèn hạ trước sự miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận

+ Âm hưởng nhanh, dồn dập gợi tả chiến thắng vang dội trước quân giặc khiến chúng tan tác, thảm hại…

+ Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi

– Có sự khác biệt là do: sự tôn trọng tính khách quan khi viết sử, nhưng cũng không thể phủ nhận thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận với quân tướng nhà Thanh

+ Tác giả miêu tả với tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống- đó là vương triều mình phụng thờ

Luyện tập

Sau khi lên ngôi vua, vào tối 30 Tết vua Quang Trung đã lập tức lên đường ra Bắc. Quân ra đến sông Gián làm tan vỡ nghĩa binh trấn thủ. Nửa đêm mồng 3 tháng giêng, nghĩa quân bao vây Hà Hồi. Mờ sáng mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi đánh bại quân Thanh làm nên chiến thắng oanh liệt.

Bài giảng: Hoàng Lê nhất thống chí – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí / 2023

Bài tập làm văn tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí hồi thứ 14 lớp 9 ngắn gọn ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của tác phẩm. Mời các bạn cùng tham khảo.

Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí

Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 1

Lê Chiêu Thống sợ uy danh của quân Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu kéo quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở, tướng của Tây Sơn cho quân lui về núi Tam Điệp để bảo tồn lực lượng và cho quân cấp báo với Nguyễn Huệ. Thuận theo lòng tướng sĩ Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung sau đó tiến quân ra Nghệ An. Ở Nghệ An nhà vua lấy thêm quân mở cuộc duyệt binh lớn, huấn dụ quân sĩ ai nấy đều đồng sức đồng lòng rồi tiến quân ra Bắc. Đến núi Tam Điệp gặp hai tướng Lân, Sở, Ngô Thời Nhiệm bàn kết hoạch sau khi đánh xong quân Thanh, mở tiệc khao quân.

Hẹn với tướng sĩ tối 30 lên đường, ngày 7 Tết tới Thăng Long. Giặc trấn thủ ở đó chưa đánh đã tan vỡ. Toán quân do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm ngày mồng 3 Kỉ Dậu bắt đầu tấn công đồn Hạ Hồi quân giặc sợ hãi xin hàng. Sau đó tiếp tục dang thành chữ nhất tiến công đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, rơi vào kế nghi binh của Tây Sơn, bị dồn xuống đầm vực, bị vùi giày đạp chết hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy quân Tây Sơn kéo vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị nghe tin sợ hãi không kịp mặc áo giáp chạy trốn. Vua Lê Chiêu Thống đem hoàng thân quốc thích rời bỏ kinh thành chạy theo quân Thanh đại bại.

Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 2

Được tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ) liền họp các tướng sĩ tế cáo trời đất lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc. Ông thân hành vừa đi vừa tuyển lính. Ngày 30 tháng chạp đến Tam Điệp, vua đã mở tiệc khao quân và đến mùng 7 năm mới sẽ vào thành Thăng Long.

Bằng sự chỉ huy tài tình của Quang Trung, đạo quân Tây Sơn tiến lên như vũ bão, quân giặc chạy toán loạn, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, chạy về biên giới phía Bắc. Vua quan bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy thoát thân.

Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 3

Lo sợ trước sự lớn mạnh ko ngừng của nghĩa quân Tây Sơn, Lê Chiêu Thống hèn hạ cầu cứu nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị dẫn 20 vạn quân Thanh vào Thăng Long mà không mất một mũi tên hòn đạn nên rất kiêu căng tự đắc. Tôn Sĩ Nghị hứa với Lê Chiêu Thống mùng 6 sẽ làm cỏ quân Tây Sơn.

Tướng Lân và Sở theo kế của Ngô Thì Nhậm rút về Tam Điệp, mặt khác sai Văn Tuyết đi báo tin cho Bắc Bình vương ở kinh đô Huế. Nghe tin đó, Nguyễn Huệ vô cùng tức giận và lập tức lên ngôi vua lấy hiệu là Quang Trung. Xuất quân ngày 25 thì 29 đến Nghệ An. Tại đây Quang Trung chiêu lính cứ 3 suất đinh thì lấy 1 suất lính chẳng mấy chốc đã được một đội quân tinh nhuệ. Nhà Vua chia quân thành 5 đạo và đọc hịch dụ binh. 30 tháng chạp nghĩa quân hội tại Tam Điệp, trách phạt tướng bại trận nhưng nhà vua không quên động viên, khích lệ lòng quân.

Tại Tam Điệp, Quang Trung đã nhìn thấu vận nước 10 năm sau và nhìn ra nhân tài Ngô Thì Nhậm giao trọng trách hòa hiếu giữa hai nước cho ông. Vua cho quân ăn tết trước, hẹn mùng 7 ca khúc hải hòan. Rạng sáng mùng 3 tết, đọa quân tiến sát và diệt gọn đồn Hà Hồi, tiếp tục mùng 5 tết tiến đến đồn Ngọc Hồi tiến vào Thăng Long mà quân Thanh vẫn không hề biết, nghĩa quân đại thắng.

Lại nói về Tôn Sĩ Nghị và vua tôi nhà Lê, chúng đón tết mà không hề hay biết sự vũ bão của quân Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật ngựa không kịp đóng yên người ko kịp mặc áo giáp chạy về Phương Bắc. Đám tàn quân chạy theo làm gẫy cầu phao nòi rơi xuống tắc nghẽn sông Nhị Hà. Vua Lê sợ hãi đưa thái hậu cùng tùy tùng bỏ chốn cướp cả thuyền của dân, đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị nước mắt lã chã rơi vô cùng thê thảm.

Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 4

Nguyễn Huệ nghe tin quân Thanh đến Thăng Long giận lắm liền họp các tướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay. Tướng sĩ xin Bắc Bình Vương lên ngôi để làm yên lòng người. Nguyễn Huệ cho đắp đàn trên núi tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung.

Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân hạ lệnh xuất quân.

– Đến Nghệ An, Quang Trung cho tuyển thêm hơn 1 vạn lính mở cuộc duyệt binh. Đến Tam Điệp mở tiệc khao quân, chia quân sĩ làm 5 đạo. Đúng tối 30 tết lập tức lên đường.

-Trên đường tiến quân ra Bắc, những toán quân Thanh do thám bị bắt sống.

Ngày 03 tháng giêng năm Kỉ Dậu, đồn Hà Hồi bị hạ. Mờ sáng ngày 05 tiến đánh đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh đại bại. Thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt cuống cuồng chạy mất mật. Quân Thanh tranh nhau qua cầu tháo chạy rơi xuống nước nhiều không kể xiết. Vua tôi Lê Chiêu Thống dìu dắt nhau chạy trốn sang đất Bắc.

Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 5

Khi Quang Trung – Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ hai để bắt Vũ Văn Nhậm, sợ thanh thế Tây Sơn, sau khi Nguyễn Huệ đã rút về Phú Xuân, vua Lê Chiêu Thống sợ hãi sang cầu cứu triều đình Mãn Thanh. Giặc Thanh ồ ạt kéo sang, nhân cơ hội này muốn thôn tính nước ta làm quận, huyện. Được tin, vua Quang Trung rất giận, bèn bàn bạc với tướng sĩ, sắp sẵn kế hoạch tiến đánh, mở cuộc duyệt binh, đích thân an ủi và kêu gọi binh sĩ đoàn kết đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Quang Trung mở tiệc khao quân, chia quân thành 5 đạo, thân hành cầm quân ra trận, tối 30 tết lên đường, hẹn ngày mồng 7 tết sẽ mở tiệc ăn mừng thắng lợi ở kinh thành Thăng Long.

Quân Tây Sơn ra đến sông Gián, quân giặc trấn thủ ở đó tan vỡ, toán quân Thanh đi do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm mồng 3 tết Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung tới Hà Hồi, Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín thành. Quân giặc bấy giờ mới biết, rụng rời sợ hãi xin hàng.

Mờ sáng ngày mồng 5 tết, quân Tây Sơn dàn trận “chữ nhất” tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh chống cự không nổi, bỏ chạy tán loạn, giẫm đạp lên nhau mà chết. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Phía đông thành Thăng Long, vua Quang Trung nghi binh dồn giặc xuống đầm Mực, cho voi giày đạp khiến quân giặc kinh hồn bạt vía, chết như ngả rạ. Giữa trưa hôm ấy, quân Tây Sơn tới thành Thăng Long. Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đang vui yến tiệc, nghe tin cấp báo, sợ mất mật. Tướng sĩ chen chúc, giẫm đạp lên nhau chạy trốn về nước. Vua Lê Chiêu Thống cũng hốt hoảng chạy trốn sang Trung Quốc. Quân Tây Sơn toàn thắng trước sự đại bại của quân Thanh.

Theo chúng tôi