Ban Hành Nghị Quyết Đại Hội / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Hoạt Động Ban Hành Nghị Quyết Của Quốc Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 76/2019/qh14 Về Chương Trình Giám Sát Của Quốc Hội Năm 2022
  • Hoàn Thiện Quy Trình, Thủ Tục Ban Hành Nghị Quyết Của Quốc Hội Nước Ta Hiện Nay
  • Nghị Quyết 112/2015/qh13 Của Quốc Hội Ban Hành Ngày 27/11/2015
  • Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Toàn Văn Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xii Của Đảng
  • Nghị quyết là một trong các hình thức thể hiện ý chí của Quốc hội, là công cụ để triển khai các mặt hoạt động cơ bản của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Cùng với luật, nghị quyết là một loại nguồn pháp luật có hiệu lực pháp lý như văn bản lập pháp, làm cơ sở cho hoạt động lập quy của hệ thống hành pháp và cho hoạt động áp dụng pháp luật của hệ thống tư pháp. Hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội không thể thoát ly việc nâng cao hiệu quả của nghị quyết cũng như hiệu quả công tác thực hiện nghị quyết của Quốc hội.

    1. Xác định tính chất pháp lý của nghị quyết

    Để xác định và thống nhất quan điểm về tính chất pháp lý của nghị quyết, cần làm rõ mối quan hệ giữa luật và nghị quyết là những văn bản đều do Quốc hội ban hành.

    Khác với luật, nghị quyết có thể là văn bản có chứa quy phạm pháp luật (QPPL), hoặc trường hợp khác, là văn bản cá biệt. Có nghị quyết mang tính chất như văn bản lập hiến (Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp), một số nghị quyết lại ban hành trên cơ sở và để triển khai thi hành luật.

    Sử dụng hình thức nghị quyết trong các tình huống đa dạng dẫn đến sự thiếu rõ ràng về tính chất pháp lý của nghị quyết. Cùng là nghị quyết của Quốc hội, song một loại có quy trình ban hành tương tự như luật; một loại khác có thể ban hành theo thủ tục đơn giản hơn vì không mang tính QPPL; nghị quyết có tính Hiến pháp được ban hành theo thủ tục riêng, nghiêm ngặt. Hiện tượng này dẫn đến một vấn đề cần xem xét, đó là phân biệt văn bản lập hiến và văn bản lập pháp; phân định thẩm quyền, thủ tục lập hiến và lập pháp, dù cả hai quyền năng đó hiện được trao cho một chủ thể là Quốc hội.

    Ranh giới giữa văn bản QPPL và văn bản cá biệt cho đến nay vẫn chưa có quan niệm thống nhất cao về khoa học cũng như trong thực tiễn triển khai Luật Ban hành văn bản QPPL (Luật BHVBQPPL). Nếu đồng nhất thủ tục xây dựng hai loại văn bản này thì vô hình chung, sẽ vô hiệu hóa nỗ lực phân loại văn bản thành văn bản QPPL và văn bản cá biệt (với tư duy rằng văn bản QPPL có tầm quan trọng, phạm vi ảnh hưởng lớn nên cần thận trọng khi ban hành). Một khi duy trì hai loại thủ tục cho việc ban hành nghị quyết của Quốc hội thì chắc chắn, vấn đề về tính chất pháp lý của nghị quyết lại tiếp tục được đặt ra.

    Trước hết, cần phân biệt thẩm quyền lập hiến và lập pháp. Theo Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan có quyền lập hiến và lập pháp. Quyền lập hiến được hiểu là quyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; quyền lập pháp là quyền làm luật và sửa đổi luật.

    Về nguyên tắc, quyền lập hiến và quyền lập pháp được phân biệt rõ ràng về nội dung, chủ thể, trình tự, thủ tục thực hiện. Quyền lập hiến, về lý thuyết, được thực hiện bởi một chủ thể đặc biệt, đó là Quốc hội lập hiến. Văn bản lập hiến trong khoa học luật Hiến pháp được gọi chung là đạo luật cơ bản với ý nghĩa đề cao giá trị pháp lý trong tương quan với các văn bản khác trong hệ thống pháp luật của quốc gia. Như vậy, Hiến pháp trước tiên là một đạo luật và văn bản sửa đổi Hiến pháp cũng là luật. Tuy nhiên, đạo luật này phải được ban hành theo thủ tục riêng, hoặc phải được thông qua bằng trưng cầu ý dân, hoặc do Quốc hội biểu quyết với tỷ lệ đặc biệt thay vì đa số tương đối như các luật khác.

    Ở Việt Nam, Quốc hội vừa có chức năng lập hiến, vừa có chức năng lập pháp. Như đã biết, Quốc hội đã sử dụng nghị quyết để làm văn bản sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Điển hình là Nghị quyết số 51/2001/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Trường hợp quy định những vấn đề thí điểm, văn bản được lựa chọn là nghị quyết mà không phải là luật. Như vậy, có thể đưa đến cách nghĩ rằng, Hiến pháp có nhiều điểm gần với nghị quyết hơn là luật.

    Để tôn vinh giá trị của Hiến pháp trong xu thế xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, để góp phần hình thành cơ chế bảo hiến phù hợp với điều kiện của Việt Nam, cần xác định cách thức, trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung Hiến pháp với tính chất là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất.

    Trong tương lai, không nên dùng nghị quyết để sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mà nên lựa chọn: hoặc là xây dựng một dự thảo Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung); hoặc là ban hành luật để sửa đổi, bổ sung một số điều. Phương án thứ hai sẽ phức tạp hơn vì sau đó nên có thủ tục hợp nhất các luật đó với Hiến pháp để thuận tiện cho việc nghiên cứu, áp dụng.

    Khi xây dựng Luật BHVBQPPL, cũng đã có đề xuất dành Chương riêng điều chỉnh quy trình lập hiến với lập luận cho rằng, lập hiến và lập pháp đều thuộc thẩm quyền của Quốc hội nên Quốc hội có thể dùng luật để quy chế hóa. Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của quyền lập hiến nên Luật BHVBQPPL đã loại trừ thủ tục lập hiến ra khỏi phạm vi điều chỉnh, kể cả trong những lần sửa đổi, bổ sung sau đó.

    Thực tế những lần sửa đổi Hiến pháp vừa qua, trước khi tiến hành sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội đều thông qua nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp và thành lập cơ quan soạn thảo. Để tiến hành sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết về sửa đổi Hiến pháp nhưng việc biểu quyết này lại thiếu căn cứ pháp lý để thực hiện[1].

    Trong dịp sửa đổi Hiến pháp lần này, cần nghiên cứu quy định rõ về quyền lập hiến và thủ tục lập hiến.

    Xác định tính chất và giá trị pháp lý của nghị quyết trong mối quan hệ với luật. Như đã nêu, nghị quyết và luật đều là các văn bản lập pháp, song vướng mắc trên thực tế là ở chỗ, không có tiêu chí rõ ràng, khi nào sử dụng nghị quyết của Quốc hội và khi nào phải dùng hình thức luật. Nói cách khác, về một vấn đề, có thể lựa chọn hoặc luật, hoặc nghị quyết để điều chỉnh.

    Khi xây dựng Dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), một vấn đề thu hút sự quan tâm, đó là thẩm quyền của Quốc hội xác định cơ cấu Chính phủ. Lịch sử lập pháp đã biết đến việc Quốc hội ghi rõ trong Luật danh sách các bộ (Luật Tổ chức Chính phủ năm 1960). Văn kiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đề ra chủ trương “luật hóa cơ cấu Chính phủ”. Từ đó, nhiều ý kiến cho rằng cần xác định rõ các bộ, cơ quan ngang bộ thuộc cơ cấu Chính phủ trong Luật Tổ chức Chính phủ. Bên cạnh đó, hướng tới tính hợp lý, khả thi và căn cứ thực tiễn hoạt động của Quốc hội, có nhiều ý kiến cho rằng, thực hiện thẩm quyền xác định cơ cấu Chính phủ, Quốc hội ra Nghị quyết ban hành danh sách bộ, cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy cũng là “luật hóa” cơ cấu Chính phủ vì nghị quyết cũng là văn bản lập pháp, do chính Quốc hội ban hành và hiệu lực, giá trị pháp lý ngang luật. Nhưng khác với Luật Tổ chức Chính phủ, nghị quyết về cơ cấu Chính phủ được ban hành theo từng nhiệm kỳ và thậm chí, có thể được sửa đổi, bổ sung ngay giữa nhiệm kỳ Quốc hội.

    Về lý luận, chưa rõ sản phẩm của hoạt động lập pháp trong khi Hiến pháp xác định quyền lập pháp là làm luật và sửa đổi luật. Về thực tiễn, các cơ quan chức năng và đối tượng thi hành văn bản sẽ khó theo dõi, tiếp cận một cách hệ thống. Việc hợp nhất văn bản cũng không dễ dàng vì về nguyên tắc, văn bản sửa đổi, bổ sung sẽ được hợp nhất vào văn bản được sửa đổi, bổ sung. Nói một cách khác, việc hợp nhất được tiến hành dễ dàng với các văn bản có cùng hình thức do cùng một cơ quan có thẩm quyền ban hành.

    Như vậy, trong lần nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp tới, cần thể hiện rõ quan điểm về nhu cầu ban hành nghị quyết của Quốc hội. Trường hợp duy trì sự tồn tại song song của luật và nghị quyết thì cần khẳng định:

    – Về tính chất pháp lý, luật và nghị quyết là các văn bản lập pháp, có hiệu lực ngang bằng.

    – Về thủ tục, luật và nghị quyết QPPL cần được xây dựng và xem xét theo trình tự chung, tuân thủ các bước của quy trình lập pháp.

    – Về thẩm quyền, cần xác định rõ nội dung nghị quyết của Quốc hội để phân biệt với luật.

    2. Xác định nội dung nghị quyết của Quốc hội

    Như đã rõ, hiện nay tồn tại hai loại nghị quyết của Quốc hội là nghị quyết mang tính QPPL và nghị quyết không chứa QPPL. Về nguyên tắc, hai loại văn bản có chung tên gọi này đều được ban hành để thực hiện các chức năng của Quốc hội: lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia và giám sát tối cao. Ngoài ra, còn một số vấn đề khác có thể được gọi là quyết định các vấn đề tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội (chương trình, kế hoạch công tác, nội quy, quy chế làm việc, kéo dài nhiệm kỳ hoạt động, bãi nhiệm đại biểu…).

    Xác định nội dung nghị quyết của Quốc hội chính là giải quyết hai vấn đề: phân biệt nội dung nghị quyết và luật; phân biệt nghị quyết có tính QPPL và nghị quyết mang tính cá biệt. Sự khác nhau của hai loại nghị quyết thể hiện chủ yếu ở giá trị áp dụng chung và sự tác động lên các quan hệ xã hội theo cơ chế điều chỉnh pháp luật; từ đó, dẫn đến yêu cầu về thủ tục xây dựng, thông qua.

    Tinh thần của Luật BHVBQPPL 2008 là đơn giản hóa các hình thức văn bản QPPL theo hướng mỗi cơ quan chỉ có một loại văn bản QPPL. Trong điều kiện hiện nay, khi Quốc hội vẫn ban hành cả luật và nghị quyết thì nên nghiên cứu thu hẹp phạm vi, số lượng các nghị quyết QPPL. Đối với người dân, tổ chức, sử dụng luật là hình thức chủ yếu để điều chỉnh quan hệ xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận luật pháp. Đối với việc trật tự hóa văn bản, sự tồn tại cả luật, nghị quyết và cùng điều chỉnh pháp luật về một loại vấn đề (như chính sách thuế, tài chính..) sẽ gây khó khăn cho công tác pháp điển hóa và hợp nhất văn bản, cũng như sử dụng kỹ thuật một luật sửa đổi nhiều luật đang được khuyến khích áp dụng hiện nay.

    Để bảo đảm tính đồng bộ, cùng với nghiên cứu nội dung nghị quyết của Quốc hội, cần có quan điểm về việc ban hành nghị quyết của UBTVQH. Một trong các văn bản loại đó có thể nêu: Dự thảo Nghị quyết của UBTVQH về việc ban hành biểu thuế suất thuế tài nguyên được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010.

    Có lẽ không nên có nghị quyết về việc thi hành luật của Quốc hội. Về thực chất, đó chính là các quy định mang tính chuyển tiếp mà lẽ ra cần bố trí trong luật.

    Không nên ban hành nghị quyết để phê chuẩn điều ước quốc tế. Hiện nay, quan điểm về vị trí của điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật chưa được thể chế hóa. Tuy nhiên, về mặt lý luận, điều ước quốc tế là một trong các nguồn pháp luật, thậm chí có thể áp dụng trực tiếp mà không cần nội luật hóa. Trong tương quan với các văn bản QPPL, điều ước quốc tế có hiệu lực như văn bản lập pháp. Đối với một số nước, điều ước quốc tế còn được đặt ở vị trí cao nhất và việc ký kết điều ước quốc tế có thể kéo theo việc sửa đổi Hiến pháp, nếu có quy định không phù hợp. Trong thực tiễn của Việt Nam, nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế trong trường hợp xung đột pháp luật đã được khẳng định. Trường hợp cần thiết, các luật cần sửa đổi để phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam đã được cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất phê chuẩn. Như vậy, điều ước quốc tế nên được phê chuẩn bằng luật của Quốc hội, thay vì nghị quyết.

    Nên hạn chế tối đa việc ban hành các nghị quyết về vấn đề đã được quy định bằng luật (quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, về đẩy mạnh chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, về đổi mới giáo dục…). Riêng phân bổ ngân sách nhà nước hàng năm, có thể duy trì hình thức nghị quyết để phân biệt với luật chung về ngân sách nhà nước. Như vậy, bảo đảm tính liên tục, thuận lợi trong việc tra cứu, sử dụng văn bản và công tác hợp nhất, hệ thống hóa văn bản, hoàn chỉnh luật vê nội dung tương ứng.

    Như vậy, những vấn đề mà Quốc hội quyết định bằng hình thức nghị quyết QPPL sẽ tập trung chủ yếu vào:

    – Các vấn đề quan trọng của đất nước: điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, các dự án quan trọng theo tiêu chí nhất định, về ngân sách nhà nước hàng năm.

    Những vấn đề khác Quốc hội có thể quyết định bằng nghị quyết nhưng là văn bản mang tính cá biệt (thành lập bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan trong cơ cấu Chính phủ, bầu các chức danh lãnh đạo cao cấp, thành lập các cơ quan của Quốc hội và cơ quan, Ủy ban lâm thời, chương trình, kế hoạch công tác, nghị quyết kỳ họp, quan hệ đối ngoại, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội).

    Trước đây, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết phê chuẩn nghị quyết của UBTVQH. Trong điều kiện hiện nay, nên nghiên cứu giảm một số nghị quyết của Quốc hội như về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hay về nhiệm vụ từng năm mà nên coi đây là trách nhiệm của cơ quan hành pháp. Cũng không nên có Nghị quyết phê chuẩn báo cáo của Chính phủ mà nên có nghị quyết về giám sát, kèm theo quy định rõ về chế độ trách nhiệm của các cơ quan chịu giám sát (nếu cần thiết)./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 5
  • Tài Liệu Sinh Hoạt Chi Bộ Tháng 3
  • Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 3/2020
  • Các Nghị Quyết Chuyên Đề Của Thành Ủy Hà Nội: Giải Quyết Kịp Thời Khó Khăn Từ Thực Tiễn
  • Thông Qua 14 Nghị Quyết Chuyên Đề, Tác Động Trực Tiếp Đến Đời Sống Nhân Dân
  • Quốc Hội Ban Hành Nghị Quyết Để Làm Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Ubnd Xã Được Ban Hành Quyết Định, Chỉ Thị
  • Cấp Xã Được Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Ban Hành Án Lệ Áp Dụng Trong Xét Xử
  • Nghị Quyết Quy Trình Ban Hành Án Lệ
  • Quy Trình Ban Hành Án Lệ
  • 1. Quốc hội ban hành luật để quy định:

    a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

    b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;

    c) Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

    d) Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;

    đ) Quốc phòng, an ninh quốc gia;

    e) Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

    g) Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

    h) Chính sách cơ bản về đối ngoại;

    l) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

    2. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:

    a) Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;

    b) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;

    c) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;

    d) Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia;

    e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tránh Rập Khuôn Trong Ban Hành Nghị Quyết
  • Đổi Mới Phương Thức Hoạt Động, Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Thẩm Quyền Ban Hành Văn Bản Của Đảng
  • Nghị Quyết Về Việc Thi Hành Bộ Luật Dân Sự 2022
  • Nghị Quyết Thi Hành Bộ Luật Dân Sự
  • Quốc Hội Ban Hành Luật, Nghị Quyết Để Làm Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Thảo ‘báo Chí Làm Gì Để Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Trung Ương 4, Khóa Xii’
  • Thường Trực Ban Bí Thư Trần Quốc Vượng: Không Đưa Vào Đại Hội Những Người Nói Và Làm Không Theo Nghị Quyết Của Đảng
  • Ngăn Chặn Tình Trạng Nói, Viết, Làm Trái Quan Điểm Của Đảng
  • Vấn Đề Kỷ Luật Của Đảng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Lựa Chọn Nhân Sự Và Ra Nghị Quyết Của Đại Hội Đảng Các Cấp
  • 1. Quốc hội ban hành luật để quy định:

    a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

    b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;

    c) Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

    d) Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;

    đ) Quốc phòng, an ninh quốc gia;

    e) Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

    g) Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

    h) Chính sách cơ bản về đối ngoại;

    l) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

    2. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:

    a) Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;

    b) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;

    c) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;

    d) Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia;

    e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đảng Ủy Quân Sự Tỉnh Ra Nghị Quyết Lãnh Đạo Thực Hiện Nhiệm Vụ Quý Iv
  • Đảng Ủy Cục Chính Trị: Ra Nghị Quyết Lãnh Đạo Thực Hiện Nhiệm Vụ 6 Tháng Cuối Năm 2022.
  • Vai Trò Của Bí Thư Trong Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Hướng Dẫn 1031 Của Tcct “một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lãnh Đạo Của Các Cấp
  • Quy Trình Ra Quyết Định Lãnh Đạo
  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành Nghị Quyết Về Nhân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành Nghị Quyết Về Nhân Sự Với 3 Bí Thư Tỉnh Ủy
  • Nghị Quyết Nhập Huyện Kỳ Sơn Vào Thành Phố Hòa Bình
  • Lai Châu Đẩy Mạnh Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Cấp Xã Và Sáp Nhập Thôn, Bản
  • Đức Thọ Thông Qua Nghị Quyết Về Sáp Nhập Các Đơn Vị Hành Chính Cấp Xã
  • Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Lào Cai Thông Qua Nghị Quyết Về Sáp Nhập Các Đơn Vị Hành Chính Cấp Xã Trên Địa Bàn
  • Cụ thể, tại Nghị quyết 750/NQ-UBTVQH14, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị ông Nguyễn Quang Thành, Phó Tổng kiểm toán nhà nước tiếp tục giữ chức vụ Phó Tổng kiểm toán Nhà nước, kể từ ngày 18/7/2019 đến khi đủ tuổi nghỉ hưu theo luật định.

    Tại Nghị quyết 749/NQ-UBTVQH14, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị ông Nguyễn Văn Thể, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, đại biểu Quốc hội khóa XIV thôi làm thành viên Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội để tập trung chỉ đạo công việc của Bộ Giao thông vận tải.

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng ban hành Nghị quyết 713/NQ-UBTVQH14 danh sách Ủy viên Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”.

    Cụ thể, Ủy viên Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em” gồm: Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Cao Thị Xuân; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Ngô Thị Minh; các Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội: Nguyễn Công Hồng, Nguyễn Văn Luật, Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Văn Pha, Hoàng Văn Liên; Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề Xã hội của Quốc hội Nguyễn Hoàng Mai; các Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội: Mai Thị Phương Hoa, Nguyễn Thị Thủy, Đỗ Đức Hồng Hà; Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Ngô Trung Thành; Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Phùng Văn Hùng; Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Lê Thanh Vân; Ủy viên Thường trực Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Kim Thúy; các Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội: Tạ Văn Hạ, Nguyễn Thị Mai Hoa, Phan Viết Lượng; Ủy viên Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Nguyễn Mai Bộ; Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh; Ủy viên Thường trực Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Lê Thu Hà; đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Đoàn đến giám sát.

    Chí Kiên/Chinhphu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành Nhiều Nghị Quyết Về Công Tác Nhân Sự
  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Thành Lập Tp Thủ Đức
  • Nghị Quyết Quy Định Về Chế Độ, Chính Sách Và Các Điều Kiện Bảo Đảm Hoạt Động Của Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân
  • Nghị Quyết Số 629/2019/ubtvqh14 Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Hướng Dẫn Một Số Hoạt Động Của Hội Đồng Nhân Dân.
  • Hướng Dẫn 629 Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội Do Ảnh Hưởng Đại Dịch Covid

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết Về Gói An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ Đồng
  • Chính Phủ Chính Thức Ban Hành Nghị Quyết Về Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ Đồng
  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết Về Gói An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ
  • Ấm Lòng Người Lao Động Từ Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ Đồng
  • Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Kiềm Chế Lạm Phát, Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô, Bảo Đảm An Sinh Xã Hội
  • Theo đó, người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động phải thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 01 tháng trở lên do các doanh nghiệp gặp khó khăn bởi đại dịch COVID-19, không có doanh thu hoặc không có nguồn tài chính để trả lương thì được hỗ trợ với mức 1,8 triệu đồng/người/tháng.

    Thời gian hỗ trợ theo thời gian thực tế tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không lương, theo hằng tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch, tính từ ngày 1/4/2020 và không quá 3 tháng.

    Chính phủ vừa có nghị quyết về an sinh xã hội (Ảnh: Chinhphu.vn)

    Người sử dụng lao động có khó khăn về tài chính và đã trả trước tối thiểu 50% lương ngừng việc cho người lao động theo khoản 3 Điều 98 Bộ luật lao động trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 6/2020 thì được vay không có tài sản đảm bảo tối đa 50% tiền lương tối thiểu vùng đối với từng người lao động theo thời gian trả lương thực tế nhưng không quá 3 tháng với lãi suất 0%, thời hạn vay tối đa 12 tháng tại Ngân hàng Chính sách xã hội để trả phần lương còn lại và giải ngân trực tiếp hàng tháng đến người bị ngừng việc.

    Hộ kinh doanh cá thể có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm tạm ngừng kinh doanh từ 1/4/2020 được hỗ trợ 1 triệu đồng/hộ/tháng theo hằng tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch nhưng không quá 3 tháng.

    Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm được hỗ trợ 1 triệu đồng/người/tháng theo hằng tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch nhưng tối đa không quá 3 tháng. Thời gian áp dụng từ tháng 4 đến tháng 6/2020.

    Trong những ngày nắng nóng cao điểm, Ban chấp hành Công đoàn Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội đã phối hợp cùng lãnh đạo doanh nghiệp thăm hỏi và hỗ trợ người lao động (Ảnh: T.Dũng)

    Người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng được hỗ trợ thêm 500 nghìn đồng/người/tháng. Thời gian áp dụng là 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6/2020 và được chi trả 1 lần.

    Đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được hỗ trợ thêm 500 nghìn đồng/người/tháng. Thời gian áp dụng là 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6/2020 và được chi trả 1 lần.

    Hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia trong danh sách đến ngày 31/12/2019 được hỗ trợ 250 nghìn đồng/khẩu/tháng. Thời gian áp dụng là 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6/2020 và được chi trả 1 lần.

    Nghị quyết của Chính phủ cũng nêu rõ: Người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 dẫn đến phải giảm từ 50% lao động tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm cơ quan có thẩm quyền công bố dịch (kể cả lao động ngừng việc, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thỏa thuận nghỉ không hưởng lương) thì người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất tối đa không quá 12 tháng.

    Cho phép người lao động được gửi hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp qua đường bưu điện, thông báo về việc tìm kiếm việc làm hàng tháng được thực hiện dưới hình thức gián tiếp (gửi thư điện tử, fax, qua đường bưu điện…) trong thời gian từ ngày 1/4/2020 đến khi công bố hết dịch mà không phải xin xác nhận UBND xã, phường, thị trấn về việc xảy ra dịch bệnh trên địa bàn.

    Nghị quyết của Chính phủ nêu rõ: Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc bảo đảm cuộc sống cho người lao động.

    P.V

    Nguồn :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết Hỗ Trợ Trực Tiếp Cho Người Dân Gặp Khó Khăn Do Covid
  • Nghị Quyết Chính Phủ Hỗ Trợ Covid
  • Ban Hành Nghị Quyết Tháo Gỡ Vướng Mắc Thực Hiện Nghị Định 68/2019/nđ
  • Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 10/2020
  • 15 Năm Kết Nối Internet Và Nghị Quyết 49/cp Mở Đường
  • Nghị Quyết Ai Ban Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẩm Quyền Ban Hành Quyết Định Và Nghị Quyết
  • Có Bao Nhiêu Loại Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật?
  • Ai Ban Hành Quyết Định Hành Chính
  • Nghị Quyết 29 Về An Ninh Mạng
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Bà Rịa
  • Sự Cần Thiết Ban Hành Nghị Quyết Số 18 Nghị Quyết Trung ương 6, Sự Cần Thiết Ban Hành Các Nghị Quyết Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Của , Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Của, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii Về Một Số Vấn Đề Về Tiếp Tục Đổi M, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet 10 Hoi Nghi Lan Thu5 Ban Chap Hanh Trung Khoa 12th January 2022, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Ai Ban Hành, Nghị Quyết Ban Chấp Hành, Sự Can Thiet Ban Hanh Nghị Quyet Tw4, Nghị Quyết Ban Chấp Hành Chi Đoàn, Nghị Quyết Về Cải Cách Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Nghị Quyết 1037, Nghị Quyết Ban Hành Một Số Biểu Mẫu Trong Tố Tụng Dân Sự, Nghị Quyết Mở Rộng Địa Giới Hành Chính Hà Nội, Nghị Quyết Về Việc Thi Hành Bộ Luật Dân Sự 2022, Nghị Quyết Hướng Dẫn Thi Hành Bộ Luật Dân Sự 2022, Su Can Thiet Ban Hanh Nghi Quyet Tinh Gon Hieeu Qua, Nghị Quyết Dừng Thi Hành Bộ Luật Hình Sự, Nghị Quyết 12 Của Ban Chấp Hành Trung ương, Nghi Quyet So 49 Cua Bab Cháp Hành Trung Uogns, Nghị Quyết 112/nq-cp Năm 2022 Về Đơn Giản Hóa Thủ Tục Hành Chính, Nghị Quyết Ban Chấp Hành Công Đoàn, Hướng Dẫn Thi Hành Nghị Quyết 49/2013/qh13, Sự Cần Thiết Ban Hành Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Sự Cần Thiếết Ban Hành Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Nghị Quyết, Nghị Quyết Ban Chấp Hành Trung ương 5 Khóa Xii, Thẩm Quyền Ban Hành Nghị Quyết Liên Tịch, Nghị Quyết 12 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng, Tờ Trình Đề Nghị Ubnd Tỉnh Ban Hành Quyết Định, Nghị Quyết Sô 18 Ngày 25/10/2017 Của Ban Chấp Hành Trung ường, Nghị Quyết Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Sự Cần Thiết Ban Hành Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết, Nghị Quyết Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Nào Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Iii), Nghị Quyết Nào Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 3, Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Chi Bộ , Tham Luận Đại Hội Công Đoàn Về Chấp Hành Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết 51/nq-tw Của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khoá Ix, Quyết Định Quan Trọng Của Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ 15, Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Trường, Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Công Ty, Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Phường, Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Chi Bộ Trường Thpt, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi), Nghi Quyet So 10 – Nq/tw Ngay 3/6/2017 Cua Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xii, Quyết Định Quan Trọng Của Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ 15 Tháng , Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Nghị Quyết Số 28/nq-tw Ngày 25-10-2013, Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Qu, “; Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về “chiến Lượ, “; Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về “chiến Lượ, Chương Trình Hành Đông Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Trường Thpt, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Ngày 14/01/2013 Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trìn, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xi Về “chiến Lược Bảo, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xi Về “chiến Lược Bảo, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Tỉnh ủy Quảng Ninh- Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết 18, Nghị Quyết 19, Hướng Dẫn Số 1031/hd-ct Ngày 20/6/2016 Của Tcct Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lãnh Đạo Của C, Hướng Dẫn 1031 Của Tcct “một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lãnh Đạo Của Các Cấp, Quyết Định Số 3660/qĐ-ubnd Ban Hành Kế Hoạch Cải Cách Hành Chính Năm 2022., Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Tờ Trình Về Dự án Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Dự Thảo Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Quyết Định Ban Hành Kế Hoạch Cải Cách Hành Chính, Quyết Định Ban Hành Chế Độ Kế Toán Hành Chính Sự Nghiệp, Quy Trình Xây Dựng Và Ban Hành Quyết Định Hành Chính, Quyết Định Ban Hành Quy Chế Làm Việc Của Ban Chấp Hành, Nghị Quyết Bãi Bỏ Nghị Quyết Trái Pháp Luật,

    Sự Cần Thiết Ban Hành Nghị Quyết Số 18 Nghị Quyết Trung ương 6, Sự Cần Thiết Ban Hành Các Nghị Quyết Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Của , Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Của, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii Về Một Số Vấn Đề Về Tiếp Tục Đổi M, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet 10 Hoi Nghi Lan Thu5 Ban Chap Hanh Trung Khoa 12th January 2022, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Ai Ban Hành, Nghị Quyết Ban Chấp Hành, Sự Can Thiet Ban Hanh Nghị Quyet Tw4, Nghị Quyết Ban Chấp Hành Chi Đoàn, Nghị Quyết Về Cải Cách Hành Chính, Hướng Dẫn Thi Hành Nghị Quyết 1037, Nghị Quyết Ban Hành Một Số Biểu Mẫu Trong Tố Tụng Dân Sự, Nghị Quyết Mở Rộng Địa Giới Hành Chính Hà Nội, Nghị Quyết Về Việc Thi Hành Bộ Luật Dân Sự 2022, Nghị Quyết Hướng Dẫn Thi Hành Bộ Luật Dân Sự 2022, Su Can Thiet Ban Hanh Nghi Quyet Tinh Gon Hieeu Qua, Nghị Quyết Dừng Thi Hành Bộ Luật Hình Sự, Nghị Quyết 12 Của Ban Chấp Hành Trung ương, Nghi Quyet So 49 Cua Bab Cháp Hành Trung Uogns, Nghị Quyết 112/nq-cp Năm 2022 Về Đơn Giản Hóa Thủ Tục Hành Chính, Nghị Quyết Ban Chấp Hành Công Đoàn,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Tiếng Anh Là Gì?
  • Nghị Quyết Là Gì ? Khái Niệm Nghị Quyết Được Hiểu Như Thế Nào ?
  • Nghị Quyết Là Gì? Ai Là Người Ban Hành Nghị Quyết?
  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo Theo Nghị Quyết 29
  • Bộ Công Thương Tích Cực Triển Khai Nghị Quyết 35
  • Huyện Ủy Bình Đại Triển Khai Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khóa Xi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii)
  • Nghị Quyết Trung Ương 8 Năm 1998
  • Tiếp Tục Thực Hiện Các Nhóm Giải Pháp Nêu Trong Nghị Quyết Tw 5 (Khóa Viii) Về Văn Hóa
  • Những Quyết Sách Quan Trọng Từ Hội Nghị Trung Ương 8
  • Hội Nghị Trung Ương Ðảng Lần Thứ 8 Với Việc Tổ Chức Lực Lượng Vũ Trang Cách Mạng Tiến Tới Tổng Khởi Nghĩa Tháng 8 Năm 1945
  • Ngày 17 tháng 8 năm 2012, Ban Thường vụ Huyện ủy Bình Đại tổ chức hội nghị triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI). Đồng chí Nguyễn Hữu Lập, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy chủ trì hội nghị.

    rnrn

    rn

    Tham dự hội nghị có 327 đại biểu là các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ huyện; nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy qua các thời kỳ; bí thư các chi, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy; trưởng, phó các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể huyện; báo cáo viên kiêm chức cấp huyện; chuyên viên nghiên cứu các ban đảng, Văn phòng Huyện ủy, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện; Đảng uỷ Công an, Quân sự huyện và sĩ quan có cấp hàm từ trung tá trở lên; ban giám hiệu các trường trung học phổ thông; lãnh đạo các đơn vị thuộc ngành tỉnh đóng trên địa bàn huyện; ban thường vụ đảng ủy, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, phó chủ tịch ủy ban nhân dân, cán bộ chuyên trách tuyên giáo, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, công chức tư pháp, địa chính – xây dựng, thương binh – xã hội các xã, thị trấn.

    rn

    Qua một ngày làm việc, các đại biểu được quán triệt Kết luận số 20-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992”, Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Kết luận số 22-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Tổng kết thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa X) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Kết luận số 23-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2022”; Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2022”; thông qua dự thảo Chương trình hành động của Huyện ủy thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) và Kế hoạch của Huyện ủy thực hiện kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba (khóa X).

    rn

    Qua triển khai, giúp các đại biểu hiểu rõ những nội dung cơ bản của các kết luận, nghị quyết được Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) thông qua; nâng cao ý thức trách nhiệm trong tổ chức, thực hiện; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các biểu hiện lệch lạc trong nhận thức, tự giác chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

    rn

    Phát biểu chỉ đạo hội nghị, đồng chí Bí thư Huyện ủy yêu cầu các chi, đảng bộ cơ sở, nhất là người đứng đầu các đơn vị phải tập trung lãnh đạo chặt chẽ việc nghiên cứu, quán triệt các kết luận, nghị quyết của Trung ương, vận dụng sáng tạo các chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ trong các kết luận, nghị quyết để xây dựng chương trình hành động sát hợp với tình hình của ngành, địa phương; trong quá trình triển khai thực hiện có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc học tập trong đảng và quần chúng; từng lúc báo cáo tiến độ học tập và chỉ đạo uốn nắn các trường hợp cần thiết, bảo đảm công tác quán triệt, thực hiện nghị quyết thật nghiêm túc và hiệu quả.

    rn

    Tin, ảnh: Công Lý

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thông Báo Hội Nghị Lần Thứ 5 Bch Tw Đảng Khóa Xi
  • Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa 12
  • Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Ix) Và Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Quy Định Số 57
  • Đoàn Công Tác Của Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng::khảo Sát Về Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Ix) Tại Tỉnh Gia Lai
  • Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Ix) Về Đổi Mới, Phát Triển Và Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Tập Thể
  • Thành Ủy Hà Nội Ban Hành Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tp Lần Thứ Xvii

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tp Hà Nội Lần Thứ Xvii
  • Hội Nông Dân Hà Nội Tích Cực Đưa Nghị Quyết Đại Hội Vào Cuộc Sống
  • Nghị Quyết Đại Hội Lần Thứ Xvi Đảng Bộ Tp Hà Nội: Thể Hiện Tinh Thần Đổi Mới
  • Nghi Quyet Hoi Cha Me Hoc Sinh Nghi Quyet Cmhs 1415 Doc
  • Văn Kiện Đại Hội X Công Đoàn Tỉnh An Giang
  • Theo nội dung Chương trình hành động, căn cứ Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ Thành phố, nhiệm kỳ 2022 – 2025, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố ban hành Chương trình hành động để triển khai thực hiện Nghị quyết với những nội dung như sau:

    I MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

    1. Tổ chức quán triệt sâu sắc phương châm Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng bộ Thành phố: “Đoàn kết- Dân chủ – Kỷ cương – Sáng tạo – Phát triển” và những nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVII tới toàn Đảng bộ, tạo sự thống nhất cao từ nhận thức đến hành động trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; nỗ lực phấn đấu, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, triển khai hiệu quả, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ Thành phố và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

    2. Cụ thể hóa các nội dung Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ Thành phố thành các Chương trình công tác lớn của toàn khóa nhằm lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội.

    3. Việc triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết phải tiến hành đồng bộ, kiên trì, liên tục và quyết liệt; kết hợp linh hoạt, hài hòa, tích cực, chủ động với những giải pháp cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát; định kỳ tiến hành sơ, tổng kết rút kinh nghiệm…

    Báo Kinh tế & Đô thị trân trọng đăng toàn văn Chương trình này. TẠI ĐÂY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thông Qua Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tp Hà Nội Lần Thứ Xvii: Xác Định Rõ Các Định Hướng, Mục Tiêu Tổng Quát, 3 Khâu Đột Phá, 20 Chỉ Tiêu Cụ Thể
  • Văn Kiện Đại Hội Hội Khuyến Học Nq Dai Hoi Doc
  • Hội Khuyến Học Tỉnh Yên Bái
  • Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Hội Khuyến Hoc Lần Thứ Iii
  • Nghị Quyết Đại Hội Giáo Dục Khuyến Học
  • Hội Nghị Trung Ương 5 Ban Hành 3 Nghị Quyết Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Tải Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa 12
  • Những Điểm Mới Của Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa 12.
  • Khảo Sát, Đánh Giá Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa X Về Tăng Cường Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Của Đảng
  • Đảng Ủy Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh Tổ Chức Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Xii)
  • Hướng Dẫn Triển Khai Các Nghị Quyết, Kết Luận Hội Nghị Trung Ương 5 (Khóa Xi)
  • Hôm nay, sau 6 ngày làm việc, Hội nghị Trung ương 5 đã hoàn thành nội dung chương trình đề ra.

    Phát biểu bế mạc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết Trung ương đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới, quan trọng của Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X) về “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”.

    Tổng bí thư nêu các nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ khoá XII là hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và thể chế về phân phối kết quả làm ra để giải phóng sức sản xuất, tạo động lực và nguồn lực cho tăng trưởng, phát triển, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh quốc gia. Cùng với đó là hoàn thiện thể chế về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, về phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ, về giáo dục – đào tạo…

    Tổng bí thư cho biết t rước mắt cần khẩn trương tháo gỡ những vướng mắc về thể chế kinh tế để ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát nợ công, xử lý nợ xấu, cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả hệ thống các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn.

    Xử lý dứt điểm các doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả

    Theo Tổng bí thư, Hội nghị nhận định thời gian qua dù còn nhiều hạn chế nhưng tổng thể, doanh nghiệp nhà nước, gồm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối, đã nỗ lực vươn lên, đạt được nhiều kết quả…

    Hai là tập trung xử lý dứt điểm các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, các dự án, công trình đầu tư không hiệu quả, thua lỗ kéo dài, kể cả bằng biện pháp giải thể, phá sản.

    Ba là khẩn trương hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; chậm nhất đến năm 2022, thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu với doanh nghiệp nhà nước và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.

    Tổng bí thư cũng nhấn mạnh việc kiên quyết đấu tranh và có biện pháp phòng ngừa, khắc phục tình trạng cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước móc ngoặc với cán bộ, công chức nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân để hình thành “nhóm lợi ích”, “sân sau” thao túng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, gây tổn hại cho Nhà nước và doanh nghiệp…

    Phát triển kinh tế tư nhân trên mọi lĩnh vực mà ‘pháp luật không cấm’

    Tổng bí thư cho biết, Ban chấp hành Trung ương hoan nghênh và đánh giá cao nỗ lực của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp cả nước đã hưởng ứng, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Trung ương yêu cầu, thời gian tới, toàn hệ thống chính trị phải tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục yếu kém, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách mới.

    “Hệ thống chính trị cần tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế tư nhân, coi đây là yêu cầu tất yếu, khách quan trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đồng thời, chăm lo phát triển kinh tế tư nhân nhanh, lành mạnh và đúng đắn hơn, thực sự trở thành một động lực quan trọng để giải phóng sức sản xuất; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể làm nòng cốt xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; t ạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển ở tất cả các ngành và lĩnh vực mà pháp luật không cấm…”, Tổng bí thư phát biểu.

    Doanh nhân, doanh nghiệp được khuyến khích chủ động, tích cực hơn nữa trong đổi mới quản lý, quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ; xây dựng thương hiệu và “chữ tín” trong kinh doanh…

    “Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thành công tốt đẹp. Ba Nghị quyết chuyên đề về kinh tế được Trung ương ban hành tại Hội nghị lần này đều là những vấn đề cốt yếu, đặc biệt quan trọng với việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm do Đại hội XII đề ra về phát triển kinh tế – xã hội”, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói.

    Toàn văn phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5 của Tổng bí thư

    Ba Nghị quyết được ban hành tại Hội nghị Trung ương 5 gồm: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”; “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Hoàng Thùy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Trung Ương 5 Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Toàn Văn Nghị Quyết Trung Ương 5 Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Phường 1: 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii) Về “xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc”
  • Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa Xii Về Đổi Mới, Nâng Cao Hiệu Quả Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Toàn Văn Nghị Quyết Trung Ương 5 Về Tiếp Tục Cơ Cấu Lại Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Dự Thảo Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính Do Quốc Hội Ban Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Đoàn Giám Sát Của Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội Làm Việc Tại Quảng Nam
  • Ra Quyết Định Sai Thẩm Quyền, Xử Lý Sao?
  • Chủ Tịch Ubnd Xã Có Thẩm Quyền Ra Quyết Định Tháo Dỡ Công Trình Sai Phạm Không
  • Học Viện Hành Chính Quốc Gia Dừng Tuyển Sinh Hệ Đại Học
  • Học Viện Hành Chính Quốc Gia Ngưng Đào Tạo Hệ Đh Từ Năm 2022
  • BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật ban hành quyết định hành chính.

    1. Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc ban hành quyết định hành chính.

    1. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bao gồm:

    a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Thủ trưởng các đơn vị được tổ chức theo ngành dọc;

    b) Ủy ban nhân dân các cấp; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

    c) Thủ trưởng cơ quan, tổ chức được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước.

    1. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp.

    2. Bảo đảm ban hành đúng chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực, phạm vi lãnh thổ theo quy định của pháp luật.

    3. Bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan, hợp lý, khả thi, kịp thời trong ban hành và thi hành quyết định hành chính.

    4. Bảo đảm tuân thủ trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính do Luật này và pháp luật chuyên ngành quy định.

    5. Bảo đảm công bằng và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm yếu thế trong xã hội.

    1. Quyết định hành chính thể hiện bằng các hình thức sau đây:

    a) Quyết định;

    b) Quyết định ban hành kèm theo Giấy chứng nhận, Giấy phép, Giấy đăng ký, Chứng chỉ, các loại văn bằng;

    c) Các loại hình thức khác do luật định.

    2. Quyết định hành chính phải có các nội dung cơ bản sau đây:

    a) Cơ quan ban hành; số, ký hiệu văn bản; địa danh, ngày, tháng, năm ban hành;

    b) Căn cứ pháp lý ban hành quyết định;

    c) Họ, tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân thi hành quyết định;

    đ) Hiệu lực của quyết định;

    e) Họ tên, chức vụ, chữ ký người ban hành quyết định; dấu của cơ quan ban hành; nơi nhận quyết định.

    3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày quyết định hành chính.

    4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định mẫu văn bằng, chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận, giấy đăng ký hoặc các loại văn bản khác ban hành kèm theo quyết định hành chính.

    1. Ngôn ngữ trong quyết định hành chính là tiếng Việt.

    2. Ngôn ngữ sử dụng trong quyết định hành chính phải bảo đảm tính chính xác, phổ thông; diễn đạt đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu.

    1. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có các quyền sau đây:

    b) Từ chối ban hành quyết định hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật này.

    2. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có các nghĩa vụ sau đây:

    a) Tuân thủ nguyên tắc ban hành quyết định hành chính được quy định tại Điều 4 Luật này;

    b) Bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc ban hành quyết định hành chính do mình ban hành;

    c) Bảo đảm đối tượng thi hành quyết định hành chính nhận được quyết định hành chính trước khi thi hành;

    d) Kịp thời xử lý hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý quyết định hành chính trái pháp luật;

    đ) Thực hiện quyết định của cơ quan hành chính cấp trên hoặc phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với quyết định hành chính do mình ban hành;

    e) Bảo đảm bí mật hồ sơ theo quy định của pháp luật, không tiết lộ hoặc cung cấp theo yêu cầu các thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh khi chưa có sự đồng ý của tổ chức, cá nhân đó.

    1. Cá nhân, tổ chức là đối tượng thi hành quyết định hành chính có quyền sau đây:

    b) Được cung cấp thông tin một cách bình đẳng trong việc ban hành quyết định hành chính;

    c) Được nhận quyết định hành chính trước khi thi hành;

    d) Được kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính xử lý quyết định hành chính có sai sót;

    đ) Được khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại và tố tụng hành chính;

    e) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

    2. Cá nhân, tổ chức là đối tượng phải thi hành quyết định hành chính có nghĩa vụ sau đây:

    a) Thực hiện các yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính trong trường hợp pháp luật có quy định;

    b) Thi hành quyết định hành chính đã có hiệu lực.

    3. Trường hợp đối tượng thi hành quyết định hành chính là người ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất mà không thể tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình ban hành quyết định hành chính thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên để thực hiện quyền và nghĩa vụ đó nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.

    1. Ban hành quyết định hành chính trái thẩm quyền.

    2. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ quyết định hành chính.

    3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của đối tượng thi hành quyết định hành chính.

    4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn ban hành quyết định hành chính có lợi cho bản thân và thân nhân của mình.

    5. Can thiệp trái pháp luật vào việc ban hành quyết định hành chính.

    6. Chống đối, trốn tránh, trì hoãn việc ban hành và thi hành quyết định hành chính.

    7. Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành văn bản quy định về trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính.

    8. Sử dụng công văn, thông báo, kết luận để thay thế quyết định hành chính.

    1. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và mọi công dân giám sát việc ban hành và thi hành quyết định hành chính.

    2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp có trách nhiệm kiểm tra việc ban hành và thi hành quyết định hành chính của cơ quan hành chính cấp dưới.

    3. Khi phát hiện quyết định hành chính có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, giải quyết, xử lý theo quy định của pháp luật.

    Luật này áp dụng chung cho việc ban hành quyết định hành chính.

    Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật khác đã có quy định về việc ban hành quyết định hành chính và không trái với các quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của văn bản đó.

    Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật không quy định, quy định không rõ ràng, không đầy đủ hoặc không phù hợp với Luật này thì áp dụng quy định của Luật này.

    Quyết định hành chính bao gồm các loại sau đây:

    1. Quyết định hành chính có lợi cho đối tượng thi hành.

    2. Quyết định hành chính bất lợi cho đối tượng thi hành hoặc cho người thứ ba.

    4. Quyết định hành chính trong trường hợp khẩn cấp, cấp thiết.

    Quyết định hành chính có lợi cho đối tượng thi hành là quyết định nhằm tạo lập, công nhận, chấp thuận, cho phép cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích cụ thể nhưng không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người thứ ba và lợi ích cộng đồng.

    1. Quyết định hành chính bất lợi cho đối tượng thi hành là các quyết định sau đây:

    a) Quyết định từ chối việc xác lập, công nhận, chấp thuận, cho phép được hưởng quyền, lợi ích cụ thể;

    b) Quyết định xác lập nghĩa vụ; làm chấm dứt, hạn chế quyền, lợi ích của đối tượng thi hành quyết định hành chính.

    2. Quyết định hành chính bất lợi cho người thứ ba là quyết định công nhận, chấp thuận, cho phép đối tượng thi hành quyết định hành chính được hưởng quyền, lợi ích nhưng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

    Quyết định hành chính trong trường hợp khẩn cấp, cấp thiết là quyết định được ban hành để ứng phó, giải quyết các vấn đề phát sinh trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích quốc gia, lợi ích, sức khỏe cộng đồng.

    1. Tiếp nhận yêu cầu của cá nhân, tổ chức.

    2. Xác định căn cứ pháp luật và xây dựng dự thảo quyết định hành chính.

    3. Ký, gửi, công bố quyết định hành chính.

    1. Xác định nhu cầu ban hành quyết định hành chính trên cơ sở yêu cầu quản lý nhà nước hoặc yêu cầu của cá nhân, tổ chức.

    2. Thu thập thông tin; xác định căn cứ pháp luật.

    4. Xây dựng dự thảo quyết định hành chính.

    5. Ký, gửi, công bố quyết định hành chính.

    1. Xác định nhu cầu ban hành quyết định hành chính trên cơ sở yêu cầu quản lý nhà nước hoặc yêu cầu của cá nhân, tổ chức.

    2. Thu thập thông tin; xác định căn cứ pháp luật.

    3. Xây dựng dự thảo quyết định hành chính.

    5. Kiểm tra tính pháp lý của dự thảo quyết định hành chính.

    6. Ký, gửi, công khai quyết định hành chính.

    Trong trường hợp khẩn cấp, cấp thiết, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm ban hành quyết định hành chính nhanh chóng, kịp thời.

    Trong trường hợp khẩn cấp, cấp thiết, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có thể xem xét, quyết định việc rút gọn thủ tục và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

    1. Tổ chức, cá nhân gửi yêu cầu ban hành quyết định hành chính đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    Yêu cầu ban hành quyết định hành chính được chuyển trực tiếp cho đại diện cơ quan có thẩm quyền hoặc gửi qua đường bưu điện, fax hoặc bằng phương thức điện tử.

    2. Khi nhận được yêu cầu ban hành quyết định hành chính, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra đơn, hồ sơ yêu cầu ban hành quyết định hành chính. Trong trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ theo quy định của pháp luật, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ.

    Trường hợp đơn, hồ sơ không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm chuyển cho cơ quan có thẩm quyền và thông báo cho người yêu cầu biết hoặc hướng dẫn họ nộp đơn, hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền.

    3. Cơ quan tiếp nhận yêu cầu phải cấp phiếu tiếp nhận yêu cầu khi nhận được đơn, hồ sơ hợp lệ. Phiếu tiếp nhận yêu cầu phải thể hiện rõ thành phần hồ sơ; người nhận; thời gian và địa điểm nhận yêu cầu; thời hạn giải quyết yêu cầu.

    Trường hợp đơn, hồ sơ yêu cầu được gửi bằng phương thức điện tử thì cơ quan tiếp nhận phải ghi vào sổ tiếp nhận và xem xét giải quyết theo quy định.

    1. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm thu thập đầy đủ và xác minh tính chính xác của thông tin phục vụ cho việc ban hành quyết định hành chính.

    Khi có yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp và bảo đảm tính trung thực của thông tin.

    2. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính phải xác định văn bản quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục, thời hạn, thời hiệu làm căn cứ pháp luật cho việc ban hành quyết định hành chính.

    1. Trong trường hợp ban hành quyết định hành chính bất lợi cho đối tượng thi hành theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Luật này, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính phải lấy ý kiến trực tiếp hoặc bằng văn bản của đối tượng thi hành quyết định hành chính.

    Đối tượng thi hành quyết định hành chính có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp trình bày ý kiến của mình.

    Việc lấy ý kiến có thể thông qua hình thức phát phiếu điều tra, phỏng vấn, phiếu góp ý, tổ chức cuộc họp lấy ý kiến, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức khác phù hợp với đối tượng được lấy ý kiến.

    3. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến tham vấn.

    3. Cơ quan, người có thẩm quyền có trách nhiệm ban hành quyết định từ chối việc công nhận, chấp thuận, cho phép được hưởng quyền, lợi ích cụ thể trong các trường hợp sau:

    a) Không có đủ căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn để ban hành quyết định hành chính;

    b) Có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của bên thứ ba;

    c) Vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng hoặc lợi ích cộng đồng.

    1. Trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của dự thảo quyết định hành chính:

    a) Tổ chức pháp chế của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý đối với dự thảo quyết định hành chính do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ban hành;

    b) Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý đối với dự thảo quyết định hành chính do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành;

    c) Tổ chức pháp chế của cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý đối với dự thảo quyết định hành chính do Thủ trưởng cơ quan chuyên môn ban hành;

    d) Phòng tư pháp có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý đối với dự thảo quyết định hành chính do Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành;

    đ) Cán bộ tư pháp – hộ tịch có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý đối với dự thảo quyết định hành chính do Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành.

    2. Nội dung kiểm tra tính pháp lý tập trung vào các vấn đề cơ bản sau đây:

    a) Sự cần thiết ban hành quyết định hành chính;

    b) Tính hợp hiến, hợp pháp của quyết định hành chính;

    c) Trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính;

    d) Thể thức và kỹ thuật trình bày quyết định hành chính.

    3. Hồ sơ gửi kiểm tra tính pháp lý bao gồm:

    b) Dự thảo quyết định hành chính;

    c) Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến tham vấn;

    3. Thời hạn kiểm tra tính pháp lý là 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

    4. Cơ quan, người soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến pháp lý.

    1. Đơn vị hoặc người được giao xây dựng quyết định hành chính trình cơ quan, người có thẩm quyền ký quyết định hành chính.

    2. Người có thẩm quyền ký là những chức danh được quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này hoặc người được ủy quyền.

    3. Người có thẩm quyền ký quyết định hành chính phải ký trực tiếp trước khi đóng dấu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    4. Hồ sơ trình ký bao gồm:

    a) Phiếu trình nêu rõ quá trình xử lý vụ việc, lý do của việc ban hành quyết định hành chính;

    b) Dự thảo quyết định;

    1. Trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định hành chính, trừ trường hợp pháp luật quy định khác, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính phải gửi quyết định hành chính cho đối tượng thi hành quyết định hành chính, người ủy quyền ban hành quyết định hành chính (nếu có), nơi nhận được xác định tại quyết định và lưu trữ theo quy định.

    2. Quyết định hành chính phải được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm cho đối tượng thi hành quyết định hành chính.

    Trường hợp quyết định hành chính được giao trực tiếp mà cá nhân, tổ chức cố tình không nhận quyết định thì người giao quyết định hành chính lập biên bản về việc không nhận quyết định và có xác nhận của chính quyền địa phương, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

    Trường hợp gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm, nếu sau thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày quyết định hành chính đã được gửi qua bưu điện lần thứ ba mà bị trả lại do cá nhân, tổ chức cố tình không nhận; quyết định hành chính đã được niêm yết tại nơi cư trú của cá nhân, trụ sở của tổ chức hoặc có căn cứ cho rằng đối tượng thi hành quyết định hành chính trốn tránh không nhận quyết định hành chính thì được coi là quyết định hành chính đã được giao.

    1. Người ủy quyền là người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính theo quy định của pháp luật và chỉ được ủy quyền trong phạm vi thẩm quyền của mình.

    2. Người ủy quyền chỉ được ủy quyền cho cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp.

    3. Người được ủy quyền ban hành quyết định hành chính chỉ được ban hành quyết định hành chính trong phạm vi được ủy quyền.

    4. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại.

    5. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản.

    1. Người ủy quyền chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung của quyết định hành chính do người được ủy quyền ban hành, trừ trường hợp người được ủy quyền vượt quá phạm vi ủy quyền.

    2. Người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm trước người ủy quyền và trước pháp luật về hành vi của mình.

    1. Thời điểm có hiệu lực của quyết định hành chính được xác định cụ thể trong quyết định hành chính.

    Căn cứ vào tính chất, nội dung, mục đích ban hành quyết định hành chính, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm xác định thời điểm có hiệu lực của quyết định hành chính một cách hợp lý để bảo đảm tính khả thi của việc thi hành quyết định hành chính.

    2. Quyết định hành chính chỉ có hiệu lực trở về trước trong trường hợp có lợi cho đối tượng thi hành và không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

    3. Quyết định hành chính chấm dứt một phần hoặc toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau:

    a) Được xác định ngay trong quyết định hành chính;

    b) Bị hủy bỏ, bãi bỏ, thu hồi;

    c) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    1. Quyết định hành chính được thi hành khi đã có hiệu lực; đối với quyết định hành chính bất lợi thì được thi hành sau khi đối tượng thi hành nhận được quyết định đó.

    2. Trường hợp cá nhân, tổ chức khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính thì quyết định hành chính đó vẫn phải được thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật này.

    1. Nếu việc thi hành quyết định hành chính có thể gây khó khăn cho đối tượng thi hành quyết định hành chính thì cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính xem xét, quyết định hoãn thi hành quyết định hành chính trong các trường hợp sau:

    a) Đối tượng thi hành quyết định hành chính đang gặp khó khăn đặc biệt, do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn;

    b) Đối tượng thi hành quyết định hành chính bị dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo, tai nạn.

    2. Đối tượng thi hành quyết định hành chính phải có đơn đề nghị hoãn thi hành quyết định hành chính và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1; xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

    3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính xem xét quyết định hoãn thi hành quyết định hành chính đó.

    4. Thời hạn hoãn thi hành quyết định hành chính không quá 03 tháng kể từ ngày có quyết định hoãn, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

    1. Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính được áp dụng trong trường hợp đối tượng thi hành quyết định hành chính không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn được xác định tại quyết định hành chính.

    2. Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính được thực hiện theo quy định pháp luật.

    3. Trình tự, thủ tục ban hành quyết định cưỡng chế bao gồm các bước sau:

    a) Xác định điều kiện ban hành quyết định cưỡng chế;

    b) Vận động, thuyết phục đối tượng thi hành quyết định hành chính thực hiện nghĩa vụ; trường hợp cần thiết có thể tổ chức đối thoại giữa đại diện có thẩm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính và đối tượng thi hành quyết định hành chính;

    c) Soạn thảo, ban hành quyết định cưỡng chế;

    d) Gửi quyết định cưỡng chế đến đối tượng bị cưỡng chế.

    4. Quyết định cưỡng chế bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

    a) Căn cứ, lý do ban hành quyết định cưỡng chế;

    b) Tổ chức, cá nhân phải thi hành cưỡng chế;

    c) Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; biện pháp cưỡng chế phải bảo đảm khả thi, hợp lý;

    d) Thời gian, địa điểm cưỡng chế;

    e) Hiệu lực của quyết định cưỡng chế.

    1. Cơ quan ban hành quyết định hành chính đính chính quyết định hành chính khi có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày và các vấn đề có tính kỹ thuật khác mà không ảnh hưởng đến nội dung của quyết định đó.

    1. Quyết định hành chính được sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh khi có yêu cầu của tổ chức, cá nhân hoặc do yêu cầu quản lý trong các trường hợp sau đây:

    a) Quyết định hành chính có một số sai sót về nội dung nhưng không ảnh hưởng đến nội dung cơ bản của quyết định hành chính và không trái với mục đích ban hành quyết định hành chính;

    b) Quyết định hành chính chưa phù hợp với thực tế và pháp luật cho phép điều chỉnh;

    c) Do có sự thay đổi của pháp luật;

    Những nội dung không bị sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh trong quyết định hành chính vẫn giữ nguyên hiệu lực.

    2. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bổ sung thủ tục, hồ sơ ban hành quyết định hành chính trong trường hợp không tham vấn ý kiến theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 23 Luật này hoặc hồ sơ quyết định hành chính không đầy đủ theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Luật này nếu việc vi phạm thủ tục, hồ sơ đó không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định hành chính.

    Việc bổ sung các thủ tục, hồ sơ trong các trường hợp nêu trên phải được thực hiện trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử lý đối với quyết định hành chính đó.

    1. Trường hợp quyết định hành chính có quy định về thời hạn và pháp luật cho phép được gia hạn thì cơ quan ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm xem xét, quyết định việc gia hạn khi đối tượng thi hành quyết định hành chính đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

    a) Có đơn yêu cầu gia hạn trước khi hết thời hạn được xác định trong quyết định hành chính;

    b) Đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực tương ứng.

    2. Thời gian gia hạn tối đa bằng thời hạn quy định trong quyết định hành chính lần đầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    3. Cơ quan ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cấp đổi, cấp lại quyết định hành chính trong các trường hợp sau đây:

    a) Quyết định hành chính bị hư hỏng, rách nát, mất;

    b) Quyết định hành chính hết thời hạn và pháp luật cho phép cấp đổi, cấp lại.

    4. Trình tự, thủ tục gia hạn, cấp đổi, cấp lại quyết định hành chính được thực hiện theo quy định tại Điều 18 Luật này.

    1. Quyết định hành chính trái pháp luật khi việc ban hành vi phạm một trong các quy định sau đây:

    a) Không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

    b) Không đúng hình thức theo quy định của pháp luật;

    c) Không tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật;

    d) Nội dung của quyết định hành chính trái với quy định của pháp luật;

    đ) Hết thời hiệu do pháp luật quy định.

    2. Quyết định hành chính trái pháp luật có thể bị tạm đình chỉ, hủy bỏ.

    1. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, cơ quan hành chính cấp trên hoặc tòa án quyết định việc tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính trong các trường hợp sau đây:

    a) Có dấu hiệu cho rằng quyết định hành chính trái pháp luật hoặc quyết định hành chính có nội dung ảnh hưởng xấu đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự an toàn xã hội;

    b) Việc tiếp tục thi hành quyết định hành chính đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng.

    2. Quyết định tạm đình chỉ phải nêu rõ căn cứ, lý do; xác định thời hạn tạm đình chỉ.

    3. Khi quyết định tạm đình chỉ có hiệu lực thì tạm ngưng việc thi hành quyết định hành chính cho đến khi có quyết định xử lý về nội dung được nêu tại điểm a khoản 1 Điều này.

    1. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, cơ quan hành chính cấp trên bãi bỏ quyết định hành chính trong các trường hợp sau đây:

    a) Nội dung của quyết định hành chính không hợp lý, không phù hợp với điều kiện thực tế;

    b) Hoàn cảnh thực tế thay đổi làm cho nội dung của quyết định hành chính không thể thực hiện được trên thực tế;

    c) Do chính sách, pháp luật thay đổi làm cho quyết định hành chính trái pháp luật cần phải bãi bỏ;

    d) Việc tiếp tục thi hành quyết định hành chính làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng.

    2. Việc bãi bỏ làm chấm dứt hiệu lực của quyết định hành chính kể từ ngày quyết định bãi bỏ có hiệu lực.

    3. Nếu việc bãi bỏ quyết định hành chính ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đối tượng thi hành thì cơ quan, người có thẩm quyền bãi bỏ quyết định hành chính phải thông báo và tạo điều kiện cho đối tượng thi hành trình bày ý kiến trước khi quyết định.

    4. Quyết định bãi bỏ phải xác định rõ thời điểm có hiệu lực, hậu quả pháp lý của việc bãi bỏ và thời hạn khiếu nại. Trường hợp buộc phải thu hồi quyết định hành chính và các giấy tờ, văn bằng, chứng chỉ kèm theo thì phải nêu rõ trong quyết định bãi bỏ.

    1. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, cơ quan hành chính cấp trên hoặc tòa án quyết định việc hủy bỏ quyết định hành chính trong các trường hợp sau đây:

    a) Thuộc trường hợp quy định tại điểm a, d và đ khoản 1 Điều 37 Luật này;

    b) Được ban hành do có hành vi gian dối, đe dọa, hối lộ, hoặc do dựa trên thông tin không chính xác dẫn đến sai sót nghiêm trọng về nội dung;

    c) Có sự vi phạm nghiêm trọng quy định về trình tự, thủ tục ban hành theo quy định của pháp luật.

    2. Quyết định hành chính có thể bị hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung.

    Việc hủy bỏ làm chấm dứt hiệu lực của quyết định hành chính kể từ thời điểm ban hành quyết định hành chính. Trường hợp các bên đã hưởng quyền, lợi ích từ quyết định hành chính bị hủy bỏ thì phải hoàn trả lại các quyền, lợi ích đã nhận và khôi phục lại tình trạng ban đầu theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

    3. Trường hợp quyết định hành chính trái pháp luật do lỗi của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính nhưng đã tạo ra quyền, lợi ích cho tổ chức, cá nhân mà họ không biết quyết định hành chính đó trái pháp luật và quyền, lợi ích đó đã được hưởng thì không bị hủy bỏ, trừ trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng hoặc trường hợp việc thi hành quyết định hành chính có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích cộng đồng.

    4. Trường hợp quyết định hủy bỏ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đối tượng thi hành quyết định đó thì cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hủy bỏ phải thông báo trước và tạo điều kiện cho người đó trình bày ý kiến về việc ban hành quyết định đó.

    5. Quyết định hủy bỏ của cơ quan hành chính phải xác định rõ thời điểm có hiệu lực, hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ và thời hạn khiếu nại. Trường hợp hủy bỏ dẫn đến việc phải thu hồi quyết định hành chính và giấy tờ, đồ vật theo quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này thì phải nêu rõ trong quyết định hủy bỏ đó.

    1. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính thu hồi quyết định và giấy tờ, hiện vật trong các trường hợp sau đây:

    a) Bị cơ quan quyết định hành chính bãi bỏ, hủy bỏ, và cần thiết phải thu hồi trên thực tế;

    b) Do việc cấp đổi, cấp lại quyết định hành chính;

    c) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    2. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm thu hồi quyết định hành chính và thu hồi văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, giấy đăng ký cùng các giấy tờ khác kèm theo quyết định hành chính đó; đồng thời thu hồi các đồ vật, tài sản có được từ quyết định hành chính bị bãi bỏ, hủy bỏ.

    1. Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát chung việc ban hành quyết định hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ.

    Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện giám sát chung việc ban hành quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện.

    Hội đồng nhân dân cấp xã giám sát chung việc ban hành quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp.

    Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát việc ban hành quyết định hành chính được thực hiện theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

    2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm giám sát đối với việc ban hành quyết định hành chính, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính.

    3. Việc giám sát của các cơ quan, tổ chức quy định tại Điều này được thực hiện thông qua việc tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị của người dân về ban hành quyết định hành chính trái pháp luật hoặc không hợp lý.

    1. Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính quy định tại Điều 2 Luật này có trách nhiệm tự kiểm tra quyết định hành chính do mình ban hành; kịp thời tạm đình chỉ, thu hồi, hủy bỏ, bãi bỏ theo quy định của Luật này.

    2. Khi phát hiện công văn, thông báo, kết luận hoặc các hình thức văn bản khác có nội dung, tính chất của quyết định hành chính thì cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm xử lý các văn bản đó, bảo đảm việc ban hành quyết định hành chính phải đúng hình thức do pháp luật quy định.

    3. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định tạm đình chỉ, bãi bỏ, hủy bỏ quyết định hành chính trái pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ xem xét, quyết định tạm đình chỉ, bãi bỏ, hủy bỏ quyết định hành chính trái pháp luật của Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ; Thủ trưởng các đơn vị được tổ chức theo ngành dọc cấp trên xem xét, quyết định tạm đình chỉ, bãi bỏ, hủy bỏ quyết định hành chính trái pháp luật của Thủ trưởng các đơn vị được tổ chức theo ngành dọc cấp dưới trực tiếp.

    5. Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có trách nhiệm kiểm tra, xử lý quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới khi nhận được kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân về dấu hiệu trái pháp luật hoặc không hợp lý của quyết định hành chính đó; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện xem xét, quyết định tạm đình chỉ, bãi bỏ, hủy bỏ quyết định hành chính trái pháp luật của Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp.

    6. Cơ quan, người ra quyết định thành lập cơ quan, tổ chức được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước xem xét, quyết định tạm đình chỉ, bãi bỏ, hủy bỏ quyết định hành chính trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước.

    7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

    1. Cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính theo quy định của pháp luật.

    2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc ban hành quyết định hành chính theo quy định của pháp luật.

    3. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật.

    Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình ban hành quyết định hành chính thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

    Quyết định hành chính trái pháp luật gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thì cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

    1. Các cơ quan nhà nước rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật có quy định về ban hành quyết định hành chính để phù hợp với quy định của Luật này.

    2. Căn cứ các nguyên tắc ban hành quyết định hành chính quy định tại Luật này, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước ban hành văn bản hướng dẫn việc ban hành quyết định hành chính thuộc thẩm quyền của mình.

    1. Chính phủ chịu trách nhiệm theo dõi việc thi hành Luật này và pháp luật về ban hành quyết định hành chính.

    2. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ trong việc theo dõi thi hành Luật này và pháp luật về ban hành quyết định hành chính trong phạm vi cả nước.

    3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện theo dõi thi hành pháp luật về ban hành quyết định hành chính trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo phân công của Chính phủ.

    Tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo dõi tình hình thi hành pháp luật về ban hành quyết định hành chính trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ.

    4. Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện theo dõi thi hành pháp luật về ban hành quyết định hành chính trong phạm vi quản lý ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

    Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã theo dõi tình hình thi hành pháp luật về ban hành quyết định hành chính trong phạm vi quản lý ở địa phương.

    Tổ chức pháp chế ở cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham mưu, giúp người đứng đầu cơ quan chuyên môn theo dõi tình hình thi hành pháp luật về ban hành quyết định hành chính.

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2022.

    Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa…, kỳ họp thứ… thông qua ngày … tháng … năm 20…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ủy Ban Pháp Luật Của Quốc Hội: Thẩm Tra Sơ Bộ Dự Án Luật Ban Hành Quyết Định Hành Chính
  • Quy Phạm Pháp Luật Hành Chính
  • Xử Lý Đối Với Quyết Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Đã Ban Hành Có Sai Sót
  • Ban Hành Quyết Định Hành Chính Về Đất Đai: Nhiều Sai Phạm, Dân Khởi Kiện
  • Tiểu Luận Xử Lý Quyết Định Hành Chính Ban Hành Trái Quy Định Trên Địa Bàn Huyện Quốc Oai
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100