Bất Cập Trong Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Bài 2: Những Bất Cập Trong Quy Trình Xây Dựng Pháp Luật

Một Số Bất Cập, Hạn Chế Trong Việc Thực Hiện Các Quy Định Pháp Luật Về Hoạt Động Thanh Tra. Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất

Bài Giảng Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật

Đề Thi Hết Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Lớp Quốc Tế 39

Pháp Luật Đầu Tư Xây Dựng Ở Nước Ta: Thực Trạng Và Giải Pháp

Định Mức Chi Soạn Thảo Đề Cương Chi Tiết Dự Thảo Văn Bản Pháp Luật

QĐND – Không thể phủ nhận những cố gắng, nỗ lực của các cơ quan chức năng trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Thực tế việc xây dựng các văn bản này trong thời gian gần đây đã có chất lượng vượt xa so với nhiều năm trước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà tình trạng “luật khung”, luật “trên trời”, luật “chờ hướng dẫn”… như ý kiến của một số đại biểu Quốc hội vẫn xảy ra. Đặc biệt là vẫn còn nhiều bất cập trong quy trình xây dựng pháp luật.

Các văn bản quy phạm pháp luật ra đời là để giải quyết, điều chỉnh các quan hệ, hành vi pháp lý nảy sinh trong xã hội. Các quan hệ, hành vi pháp lý phát triển đến đâu thì các văn bản quy phạm pháp luật phải được điều chỉnh đến đó. Tuy nhiên, trên thực tế do một số cơ quan, một số ngành tự cho mình là quan trọng nên muốn có luật, pháp lệnh cho riêng mình và vận động, thuyết phục xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật. Kết quả là bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật nhanh chóng đi vào thực tiễn và được cả xã hội đón nhận thì cũng có những văn bản quy phạm pháp luật ý nghĩa điều chỉnh thực tiễn không cao hoặc rất yếu. Ngược lại, nhiều vấn đề rất cần phải được quy định, điều chỉnh thì lại thiếu các văn bản pháp lý điều chỉnh.

Trong lĩnh vực giáo dục, Thông tư số 04/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số điều trong Quy chế thi tốt nghiệp phổ thông cũng gặp sự cố và bộ này đã phải gấp rút ban hành tiếp thông tư “sửa đổi của sửa đổi” vì muốn cấm “phát tán video tiêu cực” mà quên rằng làm như thế là vi phạm nghiêm trọng quyền khiếu nại, tố cáo của người dân…

Mặt khác, cũng có khá nhiều luật ban hành rồi nhưng do các điều khoản trong luật khá chung chung, gọi là “luật khung”, nhiều nội dung trong luật lại không thi hành được do thiếu các văn bản dưới luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Tình trạng luật chờ nghị định của Chính phủ, nghị định chờ thông tư của các bộ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đã xảy ra. Có những thông tư khi về đến địa phương lại có thêm những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện… Điều này lý giải vì sao luật chậm đi vào cuộc sống.

Những hạn chế, bất cập nêu trên do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có các nguyên nhân từ phía Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Trong thời gian qua, mặc dù các cơ quan của Quốc hội đã được tăng cường, nhưng so với phạm vi, tính chất và yêu cầu của hoạt động lập pháp của Quốc hội thì vẫn chưa thật tương xứng với khối lượng công việc phải đảm nhiệm. Mặt khác, Quốc hội nước ta không hoạt động thường xuyên nên đa số đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm các chức vụ trong bộ máy chính quyền hoặc các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Sự kiêm nhiệm này là cần thiết và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, nhưng cũng ảnh hưởng đến việc làm nhiệm vụ lập pháp của đại biểu Quốc hội.

Cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay thường là các cơ quan hành pháp. Ví dụ soạn thảo dự án Luật Giáo dục là Bộ Giáo dục và Đào tạo; soạn thảo dự án Luật Xây dựng được giao cho Bộ Xây dựng; soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của một tỉnh về viện phí thường giao cho sở y tế…, đó là biểu hiện của tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Cơ quan soạn thảo thường căn cứ vào thực tiễn của cơ quan mình, đưa ra những quy định có lợi cho cơ quan mình, đẩy những khó khăn cho cơ quan khác…

Người được giao thực hiện nhiệm vụ soạn thảo, góp ý, thẩm định v.v.. đôi khi chưa được trang bị đủ những kỹ năng cần thiết, hoặc không có đủ thời gian, nguồn lực, sự trợ giúp về chuyên môn để hiểu và quyết định các vấn đề đang được đặt ra cũng đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng công tác xây dựng pháp luật. (Còn nữa)

Bài 1: Bước tiến dài trong xây dựng pháp luật

Bài 3: Cần đổi mới quy trình soạn thảo, thẩm tra

Cần Sửa Đổi Những Bất Cập Của Luật Xây Dựng

Bất Cập Trong Xây Dựng Và Ban Hành Luật: Chỉ Dấu Của Hiện Trạng Gì?

Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Lớp Hình Sự 39

Hệ Thống Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Ngành Xây Dựng Tiếp Tục Được Hoàn Thiện

Công Cụ Tìm Kiếm Văn Bản, Tài Liệu

Một Số Bất Cập Trong Thực Hiện Pháp Luật Về Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

Hướng Dẫn Soạn Chiếc Thuyền Ngoài Xa

Phân Tích Chiếc Thuyền Ngoài Xa Đầy Đủ Nhất

Hướng Dẫn Soạn Vợ Chồng A Phủ Ngắn Gọn

Đọc Hiểu Văn Bản: Sang Thu (Hữu Thỉnh)

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 12: Vợ Nhặt

Võ Tuyết Hà – Sở Tư pháp Quảng Bình

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật nước ta đang song song tồn tại 2 văn bản luật quy định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đó là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân năm 2004 (gọi tắt là Luật năm 2004) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (gọi tắt là Luật năm 2008). Theo quy định của 2 văn bản luật này, thì đối với các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Trung ương, nội dung, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo Luật 2008; còn các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương là Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp, thì nội dung, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngoài việc tuân thủ theo Luật năm 2004 còn được thực hiện theo Luật năm 2008. Điều này đã dẫn đến một số bất cập trong việc triển khai thực hiện các luật nói trên ở địa phương. Nhân đây tôi xin trao đổi một số vấn đề xung quanh quy định về nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật năm 2008, thì “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”.

Mặt khác, tại khoản 12 Điều 2 Luật năm 2008, thì trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có “văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân”, và tại Điều 21 Luật năm 2008 quy định “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân được ban hành theo nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân”.

Như vậy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thì “nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục” được thực hiện theo quy định của Luật năm 2004, còn các vấn đề khác như: Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản, ngôn ngữ kỹ thuật văn bản, tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hiệu lực và nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật… thì được thực hiện theo quy định của Luật năm 2008. Việc cùng một lúc phải áp dụng 2 luật đã dẫn đến một số bất cập trong quá trình thực hiện, đó là:

Thứ nhất, về tính khả thi của văn bản

Khoản 2 Điều 1 Luật năm 2008 quy định: “Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”.

Luật năm 2004 và Luật năm 2008 đã quy định cụ thể, chi tiết các vấn đề về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản  để các chủ thể có thẩm quyền tuân thủ thực hiện. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện, các tổ chức, cá nhân thực hiện không đúng hoặc không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà 2 luật trên quy định, thì văn bản được ban hành đó không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một vấn đề khó bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng. Vì theo quy định trên, trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật nếu thiếu một trong các thủ tục như lấy ý kiến, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương, hoặc không gửi hồ sơ đến cơ quan tư pháp thẩm định theo quy định của pháp luật… thì văn bản đó không được coi là văn bản quy phạm pháp luật.

Thực tiễn trong những năm qua, ở địa phương việc khảo sát, lấy ý kiến góp ý của đối tượng chịu sự tác động đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ít được thực hiện, điều này xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng vấn đề cốt lõi nhất đó là kinh phí cấp riêng cho hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn quá khiêm tốn, thậm chí có địa phương chưa có, trong khi đó hàng năm ở một tỉnh thông thường Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành khoảng từ 40 đến 60 văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm cả nghị quyết, quyết định, chỉ thị quy phạm pháp luật). Đặc biệt là các năm đầu của một giai đoạn mới, sau các kỳ Đại hội Đảng để triển khai, thể chế hóa các văn kiện, nghị quyết của Đảng thành pháp luật, đòi hỏi phải ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hơn, vì vậy, vấn đề kinh phí đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn dẫn đến việc thực hiện đúng quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật trong khảo sát, lấy ý kiến góp ý của đối tượng chịu sự tác động khó được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Riêng việc thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, khó có thể khẳng định chắc chắn rằng tất cả các địa phương trên toàn quốc thực hiện 100% văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh ban hành được thẩm định hoặc lấy ý kiến góp ý của cơ quan tư pháp. Riêng ở tỉnh Quảng Bình, 9 tháng đầu năm 2011, ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 05 quyết định quy phạm pháp luật, nhưng trong số đó có 04 văn bản quy phạm pháp luật được Sở Tư pháp thẩm định, 01 văn bản không qua Sở Tư pháp thẩm định. Vậy trường hợp này giải quyết ra sao khi không coi nó là văn bản quy phạm pháp luật, do đó, không thể áp dụng các biện pháp sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành theo Điều 9 của Luật này và nội dung của văn bản này không trái với các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành?

Hiện nay, việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP). Nhưng tại Mục 4, Chương III, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP chỉ quy định việc xử lý đối với trường hợp văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không ban hành theo đúng hình thức, thẩm quyền. Cụ thể đó là: Văn bản có chứa quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ban hành nhưng không được ban hành bằng hình thức nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc văn bản có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hoặc người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc ở cấp tỉnh, cấp huyện ban hành mới bị xử lý. Còn việc xử lý đối với văn bản ban hành không đúng trình tự, thủ tục thì không quy định.

Thứ hai, về quy định một văn bản có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản theo quy định tại Điều 9 Luật năm 2008

Tại khoản 3 Điều 9 Luật năm 2008 quy định: “Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành”. Nội dung này chưa được điều chỉnh trong Luật năm 2004.

Thứ ba, về hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

Điều 79 Luật năm 2008 quy định về hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật như sau: Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây: Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý; quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

Tại khoản 2, Điều 51 Luật năm 2004 quy định: Không quy định hiệu lực trở về trước đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.

Như vậy, Luật năm 2008 cho phép quy định hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật, tuy rằng có cấm các trường hợp cụ thể nhưng Luật năm 2004 bắt buộc “không được quy định hiệu lực trở về trước của văn bản”. Trong trường hợp này việc áp dụng văn bản phải được thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 83 Luật năm 2008, cụ thể: Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau. Vậy phải áp dung các quy định của Luật năm 2008 để thực hiện.

Thực tế cho thấy, quá trình thẩm định một số dự thảo văn bản không có sự thống nhất giữa cơ quan thẩm định và cơ quan soạn thảo văn bản. Một số quy định có lợi cho địa phương, cho cơ quan nhà nước và thậm chí cho một nhóm đối tượng thì cơ quan soạn thảo quy định hiệu lực áp dụng hiệu lực trở về trước và họ cũng không phải là không có lý khi áp dụng quy định này. Vậy, vấn đề này cần giải quyết sao đây?

Nguồn: http://www.moj.gov.vn (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật)

Bộ Nội Vụ Ban Hành Văn Bản Số 5898/bnv

Thêm Bản Án 10 Năm Tù Cho Nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Dương

Tuyển Dụng Chuyên Viên Chính Sách Tại Hồ Chí Minh

Quản Lý Công Văn, Văn Bản Nội Bộ, Quy Trình

Ban Hành Hệ Thống Quy Chế Quy Trình Chính Sách

Cần Sửa Đổi Những Bất Cập Của Luật Xây Dựng

Bài 2: Những Bất Cập Trong Quy Trình Xây Dựng Pháp Luật

Một Số Bất Cập, Hạn Chế Trong Việc Thực Hiện Các Quy Định Pháp Luật Về Hoạt Động Thanh Tra. Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất

Bài Giảng Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật

Đề Thi Hết Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Lớp Quốc Tế 39

Pháp Luật Đầu Tư Xây Dựng Ở Nước Ta: Thực Trạng Và Giải Pháp

Nhìn chung, tôi cho rằng hệ thống pháp luật nước ta có một số vấn đề tồn tại cần phải xem xét: Hệ thống pháp luật chưa thật sự đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ; phương thức xây dựng các luật còn theo kiểu “luật khung”, “luật ống” dẫn đến tình trạng khó đấu tranh với các lợi ích cục bộ ngay từ bản thân các bộ, ngành đề xuất xây dựng luật; khâu yếu kém nhất chính là công tác thực thi pháp luật (trong đó bao gồm quy định về các điều kiện, cơ chế của một số văn bản dưới luật); thủ tục hành chính nhìn chung còn rườm rà, bất cập; trách nhiệm và năng lực thi hành công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước còn hạn chế; tệ nạn nhũng nhiễu chưa được khắc phục triệt để.

Các giai đoạn đầu tư nên theo luật chuyên ngành

Không thể phủ nhận Luật Xây dựng 2014 đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội nói chung và thị trường bất động sản nói riêng; nâng cao chất lượng phát triển đô thị và các công trình xây dựng, nhà ở. Tuy nhiên, sau hơn 4 năm thực thi, luật đã bộc lộ những khiếm khuyết, không còn phù hợp nên cần thiết phải được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung. Cụ thể như, Luật Xây dựng chỉ nên là luật chuyên ngành về lĩnh vực xây dựng, không nên có nội dung như Chương II với 36 điều (từ Điều 13 đến Điều 48) quy định về “quy hoạch xây dựng” mà nên đưa nội dung ấy vào Luật Quy hoạch đô thị.

Mặt khác, cần tích hợp quy trình cấp giấy phép xây dựng với quy trình thẩm định và thiết kế xây dựng (phân cấp, phân quyền cho các Sở Xây dựng). Thực tế, Sở Xây dựng chúng tôi đã làm khá tốt (tích hợp quy trình thẩm định thiết kế và cấp phép giấy phép xây dựng), rút ngắn được thời gian cấp giấy phép từ 122 ngày xuống chỉ còn 42 ngày. Về lâu dài nên xã hội hóa công tác thẩm định thiết kế cơ sở. Có như vậy, mới nâng cao được vai trò, hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng. Bộ Xây dựng chỉ nên thẩm định thiết kế cơ sở đối với các công trình đặc biệt, có ảnh hưởng lớn về mặt an toàn hoặc lợi ích cộng đồng.

Quy hoạch vùng thiếu điều phối chung

Riêng đối với vấn đề quy hoạch vùng trong xây dựng, mặt tích cực là thể hiện tầm nhìn quốc gia trong trung hạn và dài hạn, thể hiện ý chí của Nhà nước về các định hướng phát triển. Quy hoạch vùng chính là lợi ích của Nhà nước, đại diện cho lợi ích công cộng, đồng thời là công cụ hiệu quả để điều chỉnh các hoạt động kinh tế – xã hội khác theo nguyên tắc định hướng cho sự phát triển chung trên cơ sở tuân thủ quy hoạch. Chính vì vậy, quy hoạch vùng phải phù hợp với mục tiêu kinh tế – xã hội, với lợi ích công cộng có tính đến hiệu quả đầu tư và tính khả thi.

Bất Cập Trong Xây Dựng Và Ban Hành Luật: Chỉ Dấu Của Hiện Trạng Gì?

Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Lớp Hình Sự 39

Hệ Thống Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Ngành Xây Dựng Tiếp Tục Được Hoàn Thiện

Công Cụ Tìm Kiếm Văn Bản, Tài Liệu

Tìm Kiếm Văn Bản Luật

Bất Cập Trong Xây Dựng Và Ban Hành Luật: Chỉ Dấu Của Hiện Trạng Gì?

Cần Sửa Đổi Những Bất Cập Của Luật Xây Dựng

Bài 2: Những Bất Cập Trong Quy Trình Xây Dựng Pháp Luật

Một Số Bất Cập, Hạn Chế Trong Việc Thực Hiện Các Quy Định Pháp Luật Về Hoạt Động Thanh Tra. Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất

Bài Giảng Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật

Đề Thi Hết Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Lớp Quốc Tế 39

(TBKTSG) – LTS: Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) để cho ý kiến đối với báo cáo của Chính phủ về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội tuần qua, những vấn đề mà UBTVQH nêu ra cho thấy dấu hiệu không tích cực về tình trạng làm luật chứ không chỉ là thực thi luật. TBKTSG trao đổi với luật sư Nguyễn Tiến Lập về căn nguyên của tình trạng này.

TBKTSG: Theo Nghị quyết 718 của Quốc hội thì Chính phủ được giao chủ trì chuẩn bị 75 dự án luật, pháp lệnh dự kiến phải được ban hành, sửa đổi, bổ sung để triển khai thi hành Hiến pháp. Tuy nhiên, theo thống kê của Ủy ban Pháp luật, sau gần năm năm thực hiện, còn tới 17 dự án (chiếm 22,6%) chưa đưa vào chương trình xây dựng. Trong đó, so với thời hạn dự kiến, có 13 dự án quá hạn từ 2-4 năm. Sự chậm trễ này phản ánh hoặc gây ra điều gì, thưa ông?

– LS. Nguyễn Tiến Lập: Mấy năm gần đây có một hiện tượng mới trong khâu lập pháp ở nước ta, đó là nhiều dự án luật trình ra Quốc hội không suôn sẻ, hoặc chậm trễ về tiến độ hoặc không bảo đảm về nội dung nên cứ được trình ra rồi lại bị rút về. Bên cạnh đó, ngay cả những luật lớn đã được Quốc hội thông qua cũng có chất lượng thấp, điển hình như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và cả Bộ luật Dân sự. Nhiều người coi đó chỉ là lỗi kỹ thuật hay câu chuyện hy hữu, riêng tôi nhìn thấy đó là những dấu hiệu của một thực trạng với những vấn đề nghiêm trọng.

Để có hoạt động làm luật tốt, cần có các điều kiện tối thiểu về bộ máy, con người và phương pháp tốt nhưng những điều này ở ta chưa đảm bảo.

Tuy nhiên, trên tất cả, để có được một hệ thống pháp luật ổn định như một ngôi nhà chung vững chắc, tôi thấy một vấn đề hệ trọng cần được xử lý ở tầm cải cách. Đó là phân định giữa pháp luật và chính sách. Pháp luật của chúng ta đã và đang phải tải quá nhiều chính sách các loại. Chính sách vốn nặng về biện pháp giải quyết các vấn đề cụ thể gắn với nguồn lực vật chất của chính quyền, do đó nó thường xuyên bị điều chỉnh bởi tình thế, dẫn đến phải sửa đổi pháp luật liên miên. Cái gánh nặng này e rằng ngày càng trở nên nặng hơn và làm cho Quốc hội quá tải, một khi các cơ quan chính phủ có xu hướng muốn đưa vào luật tất cả những cái gì mình muốn làm.

TBKTSG: Phiên họp của UBTVQH nói trên có đề cập đến việc các bộ, ngành có tâm lý làm gì động vướng một chút là đề nghị sửa luật ngay và Chính phủ cũng dễ dàng đồng ý. Phải chăng một phần nguyên nhân nằm ở đây, dẫn đến hệ thống pháp luật của chúng ta thiếu ổn định?

– Có thể nói rằng cách đây hàng chục năm hầu như không có hiện tượng này. Chính phủ và các bộ, ngành thực hiện quản lý nhà nước trực tiếp đối với mọi hoạt động kinh tế – xã hội nên sử dụng phương tiện chủ yếu là các nghị định và thông tư. Trong bối cảnh chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, ý thức pháp quyền của người dân và doanh nghiệp tăng lên, Chính phủ và các bộ, ngành buộc phải thực hiện chức năng hành pháp, tức thi hành các đạo luật do Quốc hội ban hành. Tuy nhiên, vì thiếu các cải cách thể chế bài bản và hệ thống, Chính phủ và các bộ, ngành vẫn tiếp tục duy trì phương thức can thiệp trực tiếp và cụ thể, trong khi không còn được tự do sử dụng các phương tiện pháp lý như cũ. Hậu quả là các cơ quan hành pháp buộc phải thông qua Quốc hội để luật hóa nhiều vấn đề nội dung mà trước đó chỉ được quy định ở tầm nghị định và thông tư.

Vấn đề ở chỗ việc luật hóa không đơn giản bởi khác với nghị định và thông tư, một đạo luật phải đối diện với sự xem xét ngặt nghèo theo các tiêu chí chuyên nghiệp từ người dân và cả cộng đồng quốc tế. Điều này chính là nguyên nhân sâu sa dẫn đến sự bất cập từ khâu soạn thảo văn bản, thẩm định và thông qua dự án luật. Cho nên, nếu có bộ trưởng nào ngần ngại và lúng túng khi giải trình các dự án luật do bộ mình soạn thì cũng là dễ hiểu.

Một quy trình làm luật hợp lý không phải nhằm tạo ra những sản phẩm đạt chuẩn để cố gắng đưa nó vào cuộc sống mà ngược lại, tìm ra những điều gì thuận với cuộc sống tự nhiên để phản ánh và thừa nhận nó trong văn bản pháp luật.

TBKTSG: Về tổng thể, theo ông, đâu là giải pháp để nâng cao chất lượng làm luật?

– Nói về hệ thống pháp luật Việt Nam, chúng ta nên nhớ bao gồm các văn bản của ít nhất 15 loại hình và cấp độ ban hành khác nhau. Điều đó có nghĩa rằng việc kiểm soát chất lượng trong xây dựng và ban hành toàn bộ các văn bản này dường như bất khả thi. Ngoài ra, cần lưu ý là chất lượng làm luật chỉ phản ánh một phần của chất lượng pháp luật nói chung.

Vậy, tiêu chí đánh giá chất lượng của văn bản pháp luật là gì? Sẽ có những câu trả lời khác nhau. Chẳng hạn với Luật Đất đai, mặc dù Nhà nước rất quan tâm và đầu tư lớn cho việc xây dựng và hoàn thiện luật này, nhưng cho đến nay, số lượng tranh chấp và khiếu kiện đất đai không hề giảm, trái lại có xu hướng tăng và nguy cơ gây bất ổn cả về chính trị, kinh tế và xã hội. Điều đó có nghĩa rằng không thể tách rời giữa hai khâu ban hành và thực thi pháp luật, và việc đơn thuần cải tiến một số hoạt động trong khâu làm luật sẽ không có nhiều ý nghĩa. Cho nên theo tôi, cái gốc của vấn đề không chỉ là tăng cường năng lực kỹ thuật của các cơ quan soạn thảo hay thẩm định các dự án luật, mà phải thay đổi tư duy về quản trị xã hội đồng thời với xác định lại vai trò và chức năng của bản thân Nhà nước.

Từ góc độ ngắn hạn, cần thực hiện ngay các yêu cầu và quy trình đánh giá tác động chính sách khi đề xuất dự án luật cũng như tiến hành nghiêm túc và thực chất các khâu tham vấn, phản biện xã hội độc lập đối với dự thảo văn bản luật. Cho tầm nhìn dài hạn, cần thiết có những cải cách mạnh mẽ và toàn diện để nâng cao chất lượng của thể chế nói chung hơn là chỉ nâng cao chất lượng văn bản pháp luật. Theo đó, cần có cả các thay đổi về tổ chức, chức năng và thẩm quyền của Quốc hội và Chính phủ, song hành với cải cách tư pháp. Tôi vẫn cho rằng về cơ bản, một quy trình làm luật hợp lý không phải nhằm tạo ra những sản phẩm đạt chuẩn để cố gắng đưa nó vào cuộc sống mà ngược lại, tìm ra những điều gì thuận với cuộc sống tự nhiên để phản ánh và thừa nhận nó trong văn bản pháp luật.

Phỏng vấn do Mỹ Lệ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online thực hiện.

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 23/09/2018

Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Lớp Hình Sự 39

Hệ Thống Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Ngành Xây Dựng Tiếp Tục Được Hoàn Thiện

Công Cụ Tìm Kiếm Văn Bản, Tài Liệu

Tìm Kiếm Văn Bản Luật

Ban Hành Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Quản Lí Sử Dụng Đất Đai Và Tổ Chức Thực Hiện Các Văn Bản

Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng

Kế Toán Thuế Trọn Gói Công Ty Xây Dựng

Hướng Dẫn Làm Kế Toán Xây Dựng

Kế Toán Trưởng Tiếng Anh Là Gì? Trọn Bộ Thuật Ngữ Tiếng Anh Ngành Kế Toán

Chuyên Mục: Tìm Hiểu Luật Kế Toán (Phần 1) .công An Tra Vinh

Top 3 Thông Tư Về Hóa Đơn Kế Toán Cần Lưu Ý

 

1. Chi phí dự toán:

– Về khối lượng:

+ Quyết toán khống khối lượng, không đúng thực tế thi công;

+ Tính toán khối lượng sai so thiết kế và bản vẽ hoàn công;

+ Tính trùng khối lượng xây lắp của công trình (thường xẩy ra ở những điểm giao);

+ Quyết toán không trừ sản phẩm, vật tư thu hồi;

– Về đơn giá:

+ Áp dụng sai giá khu vực, giá trúng thầu hoặc đơn giá công trình;

+ Áp dụng sai hệ số vận chuyển, hệ số điều chỉnh giá;

+ Vật tư đưa vào công trình không đúng chủng loại quy định;

+ Tính sai khối lượng vật liệu được tính chênh lệch giá do áp dụng sai định mức;

+ Áp dụng sai thời điểm được quy định tính chênh lệch giá…;

+ Áp dụng sai chỉ số trượt giá: sai nguồn chỉ số, sai thời điểm.

 

2. Đối với chi phí khác:

– Chi phí bồi thường, hỗ trợ không đúng với khối lượng thực tế, bồi thường sai diện tích đất, sai đơn giá, tiền bồi thường không được thanh toán đầy đủ đến tay người dân được bồi thường, thanh toán cho cả diện tích đất công cộng, xác định sai cấp nhà, loại đất, …

– Các chứng từ chi phí không hợp lệ, quyết toán vượt giá trị hợp đồng đã ký kết.

– Không ghi thu hồi giá trị sản phẩm thu được trong thời gian sản xuất thử hoặc thu hồi giá trị phế liệu sau đầu tư.

– Quyết toán tiền bảo hiểm công trình nhưng thực tế không mua.

– Nhận tiền bồi thường bảo hiểm công trình nhưng không giảm chi phí công trình.

– Tính và phân bổ lãi vay đầu tư không đúng quy định.

– Không nộp ngân sách nhà nước các khoản cho thuê trụ sở, thiết bị, tài sản.

– Vật tư, thiết bị tồn đọng không khớp với sổ sách.

3. Sai sót về thuế khác:

– Lao động thời vụ theo công trình không đăng ký MST TNCN, không khấu trừ 10%, hoặc 20% (đối với cá nhân không cư trú), không có cam kết Mẫu 02/CK-CN.

- Nguyên vật liệu xuất kho đưa vào công trình không khớp với dự toán hạng mục công trình.

– Hóa đơn Nguyên vật liệu sau ngày nghiệm thu công trình.

– Và một số lỗi nhỏ khác.

– Không kê khai các khoản thu từ thanh lý NVL, công cụ, dụng cụ, lán trại tạm… do hư hỏng, thừa, không có nhu cầu sử dụng.

– Hạch toán chi phí nguyên vật liệu vào thẳng chi phí trong khi chưa nghiệm thu công trình.

– Lấy hóa đơn của các công trình khác mà chủ đầu tư không có nhu cầu sử dụng hóa đơn thành chi phí công trình khác.

– Lập bảng kê, biên nhận NVL hoặc ghi cao giá các vật liệu theo quy định không cần hóa đơn (đất, đá, cát, sỏi, …. theo Luật Thuế TNDN)

– Lập khống hồ sơ nhân công.

– Các doanh nghiệp thi công san nền, xây dựng cơ sở hạ tầng thường xuyên Lấy hóa đơn khống như: hóa đơn lắp đặt máy, vận chuyển máy, sửa chữa máy, nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng máy thi công…

– Trích lập chi phí bảo hành cao hơn quy định, không hoàn nhập chi phí bảo hành.

4. Sai sót sổ sách kế toán:

– Tài khoản 131:

   + Số dư bên nợ: Cơ quan Thuế sẽ kiểm tra hợp đồng, nếu đã nghiệm thu mà vẫn treo công nợ là truy thu TNDN, GTGT

   + Số dư bên có: Cơ quan Thuế sẽ kiểm tra hợp đồng, nếu đã trả tiền, đã hoàn thành sao lại không hạch toán DT mà hạch toán trả trước.

– Tài khoản 331; tài khoản khác tương tự.

Các Quy Định Mới Ban Hành

Điều Kiện Tiêu Chuẩn Về Người Làm Kế Toán

Website Ldld Quan Binh Tan

Đề Cương Tập Huấn Công Tác Tài Chính Công Đoàn Cơ Sở

Tải Về Luật Kế Toán 2022

Những Hạn Chế, Bất Cập Và Giải Pháp Để Xây Dựng Văn Bản Quy Phạp Pháp Luật Thời Gian Đến Đạt Hiệu Quả Cao

Vấn Đề Pháp Lý Và Những Tranh Chấp Trong Hợp Đồng Xây Dựng Thường Gặp

Bài Tập Lớn Học Kỳ Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Hoạt Động Thẩm Định, Thẩm Tra Dự Thảo Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

Những Mẫu Thư Tiếng Anh Thương Mại Cần Dùng

Biên Bản Thanh Lý Hợp Đồng Tiếng Anh

Mẫu Hợp Đồng Mua Bán Bằng Tiếng Anh

Trong những năm qua, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật

(VBQPPL) của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã từng bước

đi vào kế

hoạch hoá khi thực hiện Chương

trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh và Chương trình xây

dựng quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh đã góp phần

quan trọng vào việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế – văn

hóa – xã

hội, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn;

đồng thời tạo sự phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong việc

soạn thảo, thẩm định,

ban hành VBQPPL

của HĐND, UBND

các cấp. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp

chế, cán bộ làm công tác văn bản các cấp thường xuyên được bồi dưỡng

nghiệp vụ

và tập huấn nghiệp vụ soạn thảo, kiểm tra VBQPPL.

Một số ngành, địa phương cũng rất quan tâm công tác soạn thảo, ban hành,

kiểm

tra văn bản đã có sự đầu tư thích đáng cho hoạt động này. Tuy nhiên, bên

cạnh

những kết quả đạt được nêu trên, việc ban hành VBQPPL ở ngành, địa

phương vẫn còn những hạn chế sau:

– Một số sở, ngành chưa chủ

mà mình quản lý, mà chỉ thực hiện đề nghị ban hành VBQPPL khi phát sinh yêu cầu

hoặc văn bản của trưng ương; đồng thời các sở, ngành khi đăng ký dự kiến xây

dựng VBQPPL thì lại không đảm bảo đầy đủ các nội dung theo quy định, chưa sát với

yêu cầu quản lý nhà nước. Điều này đã dẫn đến tình trạng nhiều văn bản ban hành

không đảm bảo về tiến độ, phải chuyển sang năm sau hoặc không được ban hành.

– Trong quá trình dự thảo VBQPPL một số sở, ngành chưa tuân thủ đầy đủ về trình tự, thủ

tục xây dựng VBQPPL (theo Quyết định số 02/2012/QĐ-UBND

ngày 18/01/2012 về ban hành Quy trình xây dựng, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL

của HĐND và UBND các cấp trên địa bàn tỉnh), như: chưa tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng

quan hệ xã hội trước khi xây dựng dự thảo văn bản (kể cả đánh giá tác động các

quy định về thủ tục hành chính); chưa lấy ý kiến góp ý đối với dự thảo văn bản

hoặc có lấy ý kiến góp ý nhưng chưa đảm bảo thời gian theo quy định, đối tượng

lấy ý kiến hẹp, chất lượng ý kiến góp ý không cao. Kết quả là chất lượng của

một số dự thảo VBQPPL không cao, chưa đảm bảo

về thể thức, kỹ thuật trình bày, nội dung đơn giản, sơ sài, thậm chí có văn bản

chỉ sao chép các VBQPPL ở Trung ương… cho nên

nhìn chung tính khả thi của VBQPPL ở các

cấp sau khi ban hành không cao.

– Dự thảo văn bản gửi thẩm định không đúng

quy định làm ảnh hưởng đến thời gian thẩm định và bị động cho cơ quan thực hiện

chức năng thẩm định. Đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định còn nhiều hạn chế về

trình độ, năng lực. Nội dung thẩm định phần lớn về thể thức, kỹ thuật trình bày

văn bản, chưa đi sâu phân tích nội dung và các quy định cụ thể của văn bản.

– Mặc dù nội dung thẩm định chủ yếu phát

hiện các lỗi về hình thức, kỹ thuật trình bày nhưng hầu hết các văn bản ban

hành vẫn chưa đảm bảo về mặt trình tự, thủ tục và thể thức, kỹ thuật trình bày

theo quy định của pháp luật.

– Vai trò của Mặt trận và các đoàn thể xã hội khi tham

gia phản biện xã hội đối với các VBQPPL còn

nhiều hạn chế; hoặc chưa được cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện theo đúng quy

định.

– Ở một số địa phương

việc niêm yết VBQPPL sau khi ban hành chưa được thực hiện; VBQPPL sau khi ban hành chưa gửi

Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp để kiểm tra theo thẩm quyền và gửi cho các cơ quan

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác

xây dựng, ban hành VBQPPL như đã nêu trên,

nhưng theo tôi có lẽ do các nguyên nhân sau:

-  Các cơ quan chuyên môn chưa thống nhất cách hiểu về khái niệm VBQPPL,

từ đó chưa phân biệt được VBQPPL với văn bản áp dụng pháp luật nên đã xây dựng và

trình cơ quan có thẩm quyền ban hành mà không đảm bảo yêu cầu về trình tự, thủ

tục, hình thức và nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật.

– Một số đơn vị, địa

phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xây dựng, ban hành VBQPPL,

những tác động mà VBQPPL mang lại cho đời sống, nên chưa chủ động đăng ký việc xây dựng, ban

hành VBQPPL thuộc lĩnh vực quản lý; chưa đầu tư nhiều về thời gian, con người cho

công tác xây dựng, ban hành văn bản; chưa thể hiện trách nhiệm cao đối với các

dự thảo VBQPPL được phân công phụ trách soạn thảo .

– Công tác phối hợp

giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong soạn thảo, ban hành chưa chặt

chẽ, hiệu quả, có nhiều cơ quan, đơn vị chỉ phối hợp mang tính hình thức.

– Cán bộ tham mưu

thực hiện công tác soạn thảo, xây dựng VBQPPL còn yếu về chuyên môn

nghiệp vụ, thụ động, chưa chịu khó nghiên cứu. Đội ngũ cán bộ pháp chế tại các

sở, ngành chưa phát huy được vai trò của mình trong công tác tham mưu thực hiện

nghiệp vụ pháp chế. Hầu hết cán bộ pháp chế đều bố trí kiêm nhiệm các nhiệm vụ

khác hoặc còn trẻ, chưa có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực pháp chế.

Để khắc phục những hạn chế và nâng cao chất lượng xây

dựng, ban hành VBQPPL trên địa bàn tỉnhtrong thời gian đến cần tập trung thực hiện các

giải pháp sau:   

– Nâng cao trách

nhiệm của HĐND, UBND các cấp trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm

pháp luật. HĐND, UBND các cấp cần nhận thấy trách nhiệm của mình trong việc chỉ

đạo thực hiện tốt công tác xây dựng và ban hành VBQPPL, phải xem công tác này

là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Trong đó, cần tập trung và tổ chức thực

hiện đúng các quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL, nhất là các khâu thẩm định

tính pháp lý, trình tự xem xét thông qua VBQPPL. Đồng thời, quan tâm xây dựng

đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản, bố trí kinh phí đảm bảo cho

hoạt động này.

– Các cơ quan soạn

thảo, ban hành VBQPPL cần tuân thủ đúng trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành VBQPPL bao gồm:

 Lập Chương trình ban hành VBQPPL của HĐND, UBND hàng năm; thành lập Tổ soạn thảo;

khảo sát các quan hệ xã hội mà văn bản điều chỉnh, kể cả vấn đề đánh giá tác

động các quy định về thủ tục hành chính; tổ chức lấy ý kiến tham gia góp ý; xem

xét, thông qua; hoàn chỉnh, ký phát hành; công bố văn bản; tổ chức sơ kết, tổng

kết rút kinh nghiệm; đồng thời xem việc ban hành VBQPPL là nguồn lực góp phần

quan trọng vào việc phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, giữ vững an ninh,

chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

– Sớm xây dựng, kiện

toàn về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản. UBND các cấp cần quan tâm

bố trí đủ biên chế làm công tác văn bản tại cơ quan Tư pháp, đặc biệt là cấp

huyện và cấp xã; có kế hoạch quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công

chức làm công tác văn bản kịp thời nắm bắt các chủ trương, chính sách của Đảng,

pháp luật của Nhà nước; xây dựng Đề án thành lập Phòng pháp chế tại các cơ quan

chuyên môn thuộc UBND tỉnh theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày

04/7/2011 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp

chế, giúp Thủ trưởng các sở, ban ngành trong công tác xây dựng và ban hành văn

bản.

– Tăng cường và nâng

dựng, kiểm tra và xử lý VBQPPL; đồng thời đảm bảo các điều kiện vật chất và

kinh phí cho công tác xây dựng, kiểm tra VBQPPL theo quy định./.

Đặng

Văn

 

Quy Định Về Đầu Tư Còn Nhiều Bất Cập

Danh Mục Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Đấu Thầu

Tư Vấn Pháp Luật Thừa Kế

Mẫu Biên Bản Cam Kết Chịu Trách Nhiệm

Văn Bản Pháp Quy Về Thuế Gtgt.

Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Mới Nhất

Văn Bản Pháp Luật Về Xóa Đói Giảm Nghèo

Văn Bản Chỉ Đạo Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo

7. Thủ Tục Đề Nghị Xử Lý Xóa Hoặc Khoanh Nợ Cho Các Trường Hợp Hộ Vay Vốn Xóa Đói Giảm Nghèo Mất Khả Năng Thanh Toán.

Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới

Văn Bản Pháp Luật Ngành Điện

Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Mới Nhất, Hãy Chứng Minh Pháp Luật Là Phương Tiện Hữu Hiệu Nhất Mà Nhà Nước Sử Dụng , Văn Bản Pháp Luật Quy Định Những Vấn Đề Cơ Bản Nhất Quan Trọng Nhất Của N, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất Về Đất Đai, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Cao Nhất, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Văn Bản Pháp Luật Hình Sự Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất ở Nước Ta Là Gì, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất Về Pccc, Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Trình Bày Nội Dung Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Xây Dựng Nền Quốc Phòng, Trinh Bay Noi Dung Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan, Trinh Bay Noi Dung Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan, Văn Bản Hợp Nhất Luật Các Tổ Chức Tín Dụng, Dự Thảo Luật Xây Dựng Mới Nhất, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Trường Đại Học Luật Hà Nội, Vận Dụng Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh, Vận Dụng Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh Giữa Các Mặt Đối Lập, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng, áp Dụng Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Xây Dựng, ôn Thi Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, ôn Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật K33, ôn Tập Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Bộ Xây Dựng, Yêu Cầu Về Nội Dung Văn Bản Pháp Luật, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, ôn Tập Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Đề Thi Môn Pháp Luật Xây Dựng, Đề Thi Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Đề Thi Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Hlu, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Có Đáp án, Văn Bản áp Dụng Pháp Luật, Đề Cương Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Bãi Bỏ Văn Bản Vi Phạm Nội Dung Pháp Luật, Quy Trình Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Yếu Tố ảnh Hưởng Đến Nội Dung Pháp Luật, Đề Cương ôn Tập Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Sách Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Thông Tư 01 Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Quy Định Pháp Luật Về Thư Tín Dụng, Vận Dụng Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh Giữa Các Mặt Đối Lập Vào Thực Tiễn, Giáo Trình Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Mẫu Giấy Cho Vay Tiền Đúng Pháp Luật, Mẫu Giấy Vay Tiền Đúng Pháp Luật, Giấy Vay Tiền Đúng Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quyết Định Sa Thải Đúng Pháp Luật, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Hỏi – Đáp Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng, Pháp Luật Về Tuyeẻn Dung Công Chức, 4 Giai Đoạn Của Quá Trình áp Dụng Pháp Luật, Bài Thu Hoạch Nội Dung Đường Lối Chính Sách Pháp Luật, Phụ Lục Danh Mục Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Có Nội Dung Liên Quan, Xây Dựng Chế Định Pháp Luật Về Công Ty Hợp Vốn Đơn Giản ở Việt Nam, Đặc Trưng Của Pháp Luật Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Nghị Quyết Về Chương Trình Xây Dựng Luật Pháp Lệnh Năm 2022, Báo Cáo Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng Chống Tội Phạm, Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng, Chống Tội Phạm, Bồi Thường Thiệt Hại Do Vi Phạm Hợp Đồng Quy Định Của Pháp Luật Và Thực Tiễn áp Dụng, Tiêu Chí Đánh Giá Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật ở Việt Nam Hiện, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Đề án Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Phòng, Chống Tội Phạm, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, Nghị Quyết Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt N, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Nghị Quyết Điều Chỉnh Chương Trình Xây Dựng Luật, Pháp Lệnh Năm 2022, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi , 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan Dan, Đồng Chí Phân Tích Những Nội Dung Cơ Bản Về Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Cua, Noi Dung Duong Loi, Quan Diem, Chinh Sach Cua Dang, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Phân Tích Nội Dung Những Vấn Đề Pháp Lý Cơ Bản Về Đấu Thầu Quốc Tế Theo Quy Định Của Luật Đấu Thầu N, Pháp Luật Có Mấy Đặc Tính? Trình Bày Nội Dung Của Mỗi Đặc Tính. Lấy Ví Dụ Cụ Thể Để Minh Hoạ Mỗi Đặc, Pháp Luật Có Mấy Đặc Tính? Trình Bày Nội Dung Của Mỗi Đặc Tính. Lấy Ví Dụ Cụ Thể Để Minh Hoạ Mỗi Đặc, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Báo Cáo Kết Quả Qua Giám Sát Việc Tuân Thủ Hiến Pháp Và Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Xã, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn,

Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Mới Nhất, Hãy Chứng Minh Pháp Luật Là Phương Tiện Hữu Hiệu Nhất Mà Nhà Nước Sử Dụng , Văn Bản Pháp Luật Quy Định Những Vấn Đề Cơ Bản Nhất Quan Trọng Nhất Của N, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất Về Đất Đai, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Cao Nhất, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Văn Bản Pháp Luật Hình Sự Mới Nhất, Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Cao Nhất, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất ở Nước Ta Là Gì, Văn Bản Pháp Luật Mới Nhất Về Pccc, Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Trình Bày Nội Dung Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Xây Dựng Nền Quốc Phòng, Trinh Bay Noi Dung Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan, Trinh Bay Noi Dung Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan, Văn Bản Hợp Nhất Luật Các Tổ Chức Tín Dụng, Dự Thảo Luật Xây Dựng Mới Nhất, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Trường Đại Học Luật Hà Nội, Vận Dụng Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh, Vận Dụng Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh Giữa Các Mặt Đối Lập, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng, áp Dụng Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Xây Dựng, ôn Thi Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, ôn Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật K33, ôn Tập Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Bộ Xây Dựng, Yêu Cầu Về Nội Dung Văn Bản Pháp Luật, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, ôn Tập Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Đề Thi Môn Pháp Luật Xây Dựng, Đề Thi Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Đề Thi Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Hlu, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Có Đáp án, Văn Bản áp Dụng Pháp Luật, Đề Cương Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Bãi Bỏ Văn Bản Vi Phạm Nội Dung Pháp Luật, Quy Trình Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật, Yếu Tố ảnh Hưởng Đến Nội Dung Pháp Luật, Đề Cương ôn Tập Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật,

Top 8 Trang Web Tra Cứu Văn Bản Pháp Luật Tốt Nhất Hiện Nay 2022

Các Trang Web Tìm Kiếm Văn Bản Pháp Luật

Top 8 Website Tra Cứu Văn Bản Pháp Luật Tốt Nhất Hiện Nay 2022

Tổng Hợp Văn Bản Pháp Luật Về Đấu Thầu Năm 2022

Văn Bản Pháp Luật Về Đấu Thầu

Bất Cập Của Nghị Định 139 Về Xử Phạt Vphc Lĩnh Vực Xây Dựng

Bỏ Quy Định Xử Phạt Một Số Hành Vi Tại Nghị Định 139/2017/nđ

Bất Cập Trong Xử Lý Vi Phạm Trật Tự Xây Dựng Theo Nghị Định Số 139 2022 Nđ

Viện Chiến Lược Và Chính Sách Y Tế

Về Việc Xử Lý Kỷ Luật Cán Bộ, Công Chức

Hà Nội: Đến Năm 2022, Lực Lượng Công An Chính Quy Triển Khai Về 100% Các Xã

Theo quy định tại Khoản 12 Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh kho áng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở, thì:

Bất cập quy định 60 ngày làm thủ tục cấp phép

Đối với hành vi xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp trong trường hợp sửa chữa, cải tạo; hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp đối với trường hợp cấp phép xây dựng mới; hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng mà đang thi công xây dựng thì xử lý như sau:

– Lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm dừng thi công xây dựng công trình;

– Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh hoặc cấp giấy phép xây dựng;

(Hướng dẫn cách ghi biên bản vi phạm hành chính chuẩn nhất )

– Hết thời hạn 60 ngày, tổ chức, cá nhân vi phạm không xuất trình với người có thẩm quyền xử phạt giấy phép xây dựng hoặc giấy phép xây dựng được điều chỉnh thì bị áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm.

Và tại Điều 5 của Thông tư 03/2018/TT-BXD quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở cũng quy định: Trong thời hạn tối đa 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm có trách nhiệm thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng và xuất trình người có thẩm quyền xử phạt giấy phép xây dựng được cấp hoặc được điều chỉnh.

Như vậy, theo Nghị định 139/2017/NĐ-CP và Thông tư 03/2018/TT-BXD thì đối với công trình đang thi công xây dựng thì không phân biệt trường hợp đủ điều kiện cấp phép hay không đủ điều kiện cấp phép đều quy định trong thời hạn 60 ngày tổ chức, cá nhân vi phạm phải làm thủ tục xin cấp Giấy phép xây dựng, nếu quá 60 ngày mà không có giấy phép xây dựng hoặc không điều chỉnh giấy phép xây dựng thì bị áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình vi phạm.

Quy định này không thật sự phù hợp với thực tế, vì nhiều trường hợp vi phạm khi lập biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt đã biết trường hợp này KHÔNG THỂ VÀ KHÔNG ĐƯỢC CẤP GIẤY PHÉP XÂY DỰNG nên việc quy định thời hạn 60 ngày để xin phép xây dựng là không cần thiết và gây khó khăn cho việc xử lý vi phạm, vì để thời gian càng dài thì sẽ phát sinh thêm vi phạm và khi cưỡng chế sẽ gây thiệt hại cho cả người vi phạm và cả nhà nước.

Chỉ công trình đủ điều kiện mới để 60 ngày xin phép

Trước đây theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 180/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành việc xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị (đã hết hiệu lực từ ngày 15/01/2008), thì : Đối với những công trình xây dựng không có Giấy phép xây dựng nhưng đủ điều kiện để cấp Giấy phép xây dựng theo quy định thì xử lý như sau:

– Những công trình xây dựng phải bị lập biên bản ngừng thi công xây dựng, yêu cầu chủ đầu tư làm thủ tục xin cấp Giấy phép xây dựng gồm: công trình xây dựng phù hợp vị trí quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; công trình xây dựng trên đất ở có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, phù hợp quy hoạch xây dựng; xây dựng mới trên nền nhà cũ hoặc cải tạo nhà đang ở phù hợp quy hoạch xây dựng; công trình xây dựng trên đất có đủ điều kiện về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai;

Trong thời hạn tối đa 60 ngày, kể từ ngày có quyết định đình chỉ thi công xây dựng, chủ đầu tư không xuất trình Giấy phép xây dựng do cơ quan có thẩm quyền cấp thì bị cưỡng chế phá dỡ;

(Công trình đang xây dựng có được cấp giấy phép xây dựng?)

Nghị định 180 quy định rõ chỉ những trường hợp đủ điều kiện cấp giấy phép xây dựng thì mới cho thời hạn 60 ngày để làm thủ tục cấp giấy phép xây dựng, còn nếu trường hợp vi phạm không đủ điều kiện cấp giấy phép xây dựng thì áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ngay chứ không đợi hết 60 ngày.

So với Nghị định 180 thì Nghị định 139 quy định thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm làm thủ tục xin cấp, điều chỉnh giấy phép xây dựng. Tuy nhiên lại không phù hợp với thực tế vì nhiều trường hợp khi phát hiện vi phạm thì cơ quan có thẩm quyền đã xác định được chắc chắn công trình vi phạm đó sẽ không được cấp giấy phép xây dựng.

(Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính sẽ bị cắt điện, cắt nước )

Thiết nghĩ cơ quan có thẩm quyền cần sớm nghiên cứu điều chỉnh việc áp dụng biện pháp buộc khắc phục hậu quả tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm quy định tại Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP theo hướng: Đối với trường hợp vi phạm mà đủ điều kiện cấp giấy phép xây dựng thì tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức vi phạm có 60 ngày để làm thủ tục cấp giấy phép xây dựng. Còn đối với những trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy phép xây dựng thì quy định theo hướng áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tháo dỡ công trình ngay chứ không để 60 ngày xin giấy phép xây dựng, vì có để 60 ngày cũng không thể xin cấp giấy phép được. Quy định theo hướng này đảm bảo xử lý kịp thời các công trình xây dựng không phép, bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương, giảm thiệt hại cho cá nhân, tổ chức vi phạm.

(Xây dựng công trình không phép – Chủ thầu, thợ xây có bị xử phạt?)

Phương Thảo

Căn Cứ Nghị Định Số 83/2012/nđ

Không Rải Tiền, Mã Trong Lễ Tang Cán Bộ Công Chức

Quy Định Tang Lễ Có Không Quá 7 Vòng Hoa Bị ‘tuýt Còi’

Quy Định Mới Về Tổ Chức Lễ Tang Cán Bộ, Công Chức Viên Chức

Những Dự Luật Mới ‘rùm Beng’ & Í Ẹ

Bài Giảng Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật Trong Xây Dựng

Những Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Mới: Doanh Nghiệp Cần Quan Tâm

Cần Hoàn Thiện Các Quy Định Pháp Luật Về Kiểm Soát Ô Nhiễm Môi Trường Biển

Các Văn Bản Pháp Luật Về Quản Lý, Bảo Vệ Và Phát Triển Bền Vững Tài Nguyên Và Môi Trường Biển, Hải Đảo Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Thuận

Thực Trạng Pháp Luật Kiểm Soát Ô Nhiễm Môi Trường Biển Ở Việt Nam Hiện Nay

Vndoc Tải Tài Liệu, Văn Bản Pháp Luật, Biểu Mẫu Miễn Phí

Bµi gi¶ng

hÖ thèng v¨n b¶n ph¸p luËt

trong x©y dùng

12/15/15

Hệ thống văn bản Pháp luật về

Xây dựng của ViệtNam

Hệ thống VBPL về XD của VN: Các văn bản pháp qui về xây

dựng của Việt Nam có thể chia thành 2 nhóm nội dung:

Nhóm các văn bản quản lý hành chính; Nhóm này bao gồm:

Luật, Pháp lệnh do Quốc hội và Chủ tịch nước ban hành

Nghị định, Quyết định, Chỉ thị do Chính phủ và Thủ tướng ban

hành

Quyết định, Thông tư, Chỉ thị và các văn bản công bố của các

Bộ, Ngành ban hành

Nhóm các văn bản quản lý kỹ thuật, bao gồm:

Qui chuẩn xây dựng (QCXD)

Tiêu chuẩn xây dựng (TCXD), bao gồm cả các Qui trình, qui

phạm, các Hướng dẫn kỹ thuật,

Có thể hình dung hệ thống văn bản pháp qui của Việt Nam như

sau:

12/15/15

Hệ thống văn bản pháp qui về xây dựng của VN

Các VBPQ do

Quốc hội ban hành

Luật

Pháp lệnh

Các VBPQ do

Chính phủ và

Thủ tướng ban hành

Nghị định CP;

Các VBPQ quản lý

hành chính NN

Luật XD, Luật Đấu thầu

Luật Đầu tư, Luật Đất đai

Luật Dân sự, Luật Thuế, …

Luật TC & QC kỹ thuật

Quyết định,

Chỉ thị của TTg

Các VBPQ kỹthuật

do các Bộ, Ngành

ban hành

(riêng QCXD

Thông tư,

Quyết định, Chỉ thị

Các Văn bản công bố

Các Qui chuẩn XD

Các Tiêu chuẩn XD

bắt buộc & tự nguyện

Các hướng dẫn

Qui phạm kỹ thuật

12/09/NĐ-CP

99/07/NĐ-CP & 03/08

209/04/NĐ-CP & 49/08

58/08/NĐ-CP & 85/09/NĐ

cac NĐ 08/05; 49/08; 71/05

Các TT, QĐ, … của các

Bộ: XD, TC, KHĐT,

KHCN, TNMT,

Các QCXDVN,

TCVN, TCXDVN

TCN, TCCS

Các Qui trình

áp dụng QCXD & TCXD

Hệ thống văn bản Pháp luật về

Xây dựng của ViệtNam

Có thể nhận thấy:

Các VBPQ do Quốc hội (và Chủ tịch nước), Chính

phủ (và Thủ tướng) ban hành phục vụ quản lý hành

chính nhà nước và đều có tính bắt buộc áp dụng.

Trong khi đó, các VBPQ do các Bộ, Ngành ban hành

gồm các loại:

Các Thông tư, Quyết định, Chỉ thị, phục vụ việc quản

lý hành chính: bắt buộc áp dụng

Các Văn bản công bố để áp dụng không có tính bắt buộc

(đây là một hình thức mới xuất hiện)

Các Qui chuẩn và TC kỹ thuật bắt buộc áp dụng

Các tiêu chuẩn, qui trình, qui phạm, hướng dẫn kỹ thuật

khuyến khích, tự nguyện áp dụng.

12/15/15

Hệ thống pháp luật trong hoạt động

xây dựng

Phần I: Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1 Giới thiệu chung:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam theo Hiến

pháp năm 1992 và Luật ban hành vản bản quy phạm pháp

luật (có hiệu lực từ 01/01/1997, được sửa đổi, bổ sung năm

2002) bao gồm: .

Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật, nghị

quyết

Văn bản do ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành: pháp

lệnh, nghị quyết

12/15/15

Phần I : Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1 Giới thiệu chung:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam

theo Hiến pháp năm 1992 và Luật ban hành vản

bản quy phạm pháp luật (có hiệu lực từ 01/01/1997,

được sửa đổi, bổ sung năm 2002) bao gồm: .

– Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật,

nghị quyết.

– Văn bản do ủy ban thường vụ Quốc hội ban

hành: pháp lệnh, nghị quyết.

12/15/15

Phần I: Giới thiệu chung về hệ thống văn bản

quy phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN

Việt Nam

1.1 Giới thiệu chung:

Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành

văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, ủy

ban thường vụ Quốc hội:

+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

+ Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết

định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;

+ Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng,

Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;

12/15/15

Phần I : Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy phạm

pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1 Giới thiệu chung:

– Văn bản do HĐND, UBND ban hành để thi hành

văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, ủy

ban Thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ

quan nhà nước cấp trên; văn bản do ủy ban

nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết

của Hội đồng nhân dân cùng cấp:

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

+ Quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân.

12/15/15

Phần I : Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1 Giới thiệu chung:

Căn cứ vào trình tự ban hành và giá trị pháp

lý, các văn bản quy phạm pháp luật được chia

thành hai loại là các văn bản luật và các văn bản

dưới luật.

Các văn bản luật:

– Văn bản luật là văn bản quy phạm pháp luật do

Quốc hội, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nư

ớc ban hành.

– Mọi văn bản khác (dưới luật) khi ban hành đều

phải dựa trên cơ sở của văn bản luật và không đư

ợc trái với các quy định trong các văn bản đó.

12/15/15

Phần I : Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1 Giới thiệu chung:

1.1.1 Văn bản luật có các hình thức là hiến pháp

và luật (hoặc bộ luật).

– Hiến pháp (bao gồm hiến pháp và các đạo luật

về bổ sung hay sửa đổi hiến pháp)

– Luật (bộ luật), nghị quyết của Quốc hội có chứa

đựng quy phạm pháp luật là những văn bản quy

phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan quyền lực

nhà nước cao nhất ban hành để cụ thể hóa hiến

pháp, nhằm điều chỉnh các loại quan hệ xã hội

trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước.

12/15/15

Phần I : Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1 Giới thiệu chung:

1.1.2. Các văn bản dưới luật (văn bản quy phạm pháp

luật dưới luật)

– Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp

luật do cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự,

thủ tục và hình thức được pháp luật quy định.

Những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các

văn bản luật, vì vậy khi ban hành phải chú ý sao

cho những quy định của chúng phải phù hợp với

những quy định của hiến pháp và luật.

– Giá trị pháp lý của từng loại văn bản dưới luật cũng

khác nhau, tùy thuộc vào thẩm quyền của cơ quan ban

hành chúng.

12/15/15

Phần I : Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1.2. Các văn bản dưới luật Theo Hiến pháp

1992, hiện nay ở nước ta có những loại văn bản

dưới luật sau:

1. Pháp lệnh do ủy ban thường vụ Quốc hội ban

hành

2. – Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội

3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

4. Nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết

định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

12/15/15

Phần I : Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

5. Quyết định, chỉ thị, thông tư, của Bộ trưởng,

thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

6. Thông tư liên tịch.

7. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp.

8. Quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân các

cấp

12/15/15

Phần I : Giới thiệu chung về hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.2 Hiệu lực của văn bản pháp luật

1. Hiệu lực về thời gian

2. Hiệu lực về không gian

3. Hiệu lực về đối tượng áp dụng

12/15/15

Phần II : khái niệm pháp luật xây dựng

Hệ thống các luật và văn bản quy phạm pháp

luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các mối

quan hệ về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và mỹ thuật

phát sinh trong quá trìnhXD:

Hiến pháp

Các Luật

Các Pháp lệnh

Các nghị định, quyết định cấp chính phủ

Những quyết định, thông tư, chỉ thị cấp Bộ

Các quy định của UBND tỉnh, TP. Trực thuộc trung ư

ơng

12/15/15

Phần II : khái niệm pháp luật xây dựng

2.1 Mục đích và yêu cầu của pháp luật xây dựng

Phần II : khái niệm pháp luật xây dựng

12/15/15

Phần II : khái niệm pháp luật xây dựng

2.3

12/15/15

Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật xây

dựng

1. Phải tuân thủ quy hoạch đã được duyệt

2. Phải đảm báo các yêu cầu về kỹ thuật và chất lư

ợng trong xây dựng

3. Bảo đảm an toàn lao động, an toàn xây dựng công

trình

4. Bảo đảm mỹ thuật, cảnh quan đô thị

5. Bảo vệ môi trường sinh thái và vệ sinh công cộng

6. Bảo đảm mức chi phí, giá cả hợp lý, phù hợp với

đơn giá và khung giá do nhà nước quy định

7. Bảo vệ các quan hệ xã hội trong xây dựng

Phần III : Luật xây dựng

Luật Xây dựng của Nước CHXHCNVN số 16/2003/QH11 ngày

26 tháng 11 năm 2003 có 9 chương, 123 điều. Luật này

có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 (điều 122).

3.1 Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật Xây dựng

(LXD):

1. Đối tượng điều chỉnh của Luật Xây dựng (LXD):

LXD quy định về hoạt động XD, quyền và nghĩa vụ của

tổ chức cá nhân đầu tư XD công trình và hoạt động XD.

– LXD áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước, tổ

chức cá nhân nước ngoài đầu tư XD công trình và hoạt động

XD trên lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà

nước CHXHCNVN kí kết hoặc tham gia có quy định khác với

Luật Xây dựng thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế

đó.

12/15/15

sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng luật xây dựng

sự cần thiết

quan đIểm chỉ đạo

– Việc lập QHXD chưa được tiến hành đồng bộ, quản

lý chưa chặt chẽ

– QH chung các đô thị đ ã có nhưng QH chi tiết chưa

theo kịp yêu cầu

-QHXD điểm dân cư nông thôn chưa được quan tâm

Phải thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách

của Đảng trong lĩnh vực xây dựng

Thị trường xây dựng hình thành và phát triển với sự

tham gia của nhiều thành phần kinh tế nhưng thiếu cơ

chế quản lý phù hợp, nhất là về điều kiện hành nghề,

năng lực nghề nghiệp của tổ chức, cá nhân …

Quản lý Nhà nước về xây dựng còn phân tán, chồng

chéo. Sự phân cấp, phân công trong quản lý Nhà nư

ớc về xây dựng chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý.

Chưa rõ ràng khi quy định quyền và nghĩa vụ của chủ

thể tham gia hoạt động xây dựng

Hệ thống văn bản QPPL về xây dựng thiếu đồng bộ,

chồng chéo, hiệu lực pháp luật thấp, mới chỉ dừng lại

ở Nghị định và văn bản hướng dẫn

12/15/15

Thừa kế và phát huy những ưu điểm, khắc phục như

ợc điểm và là bước pháp điển hoá hệ thống pháp luật

về xây dựng

Bảo đảm nâng cao hiệu lực QLNN, trách nhiệm của cơ

quan QLNN về xây dựng, của các tổ chức, cá nhân

tham gia hoạt động xây dựng, phân định rõ giữa

QLNN và QLSXKD trong xây dựng

Dự án

ĐTXDCT

11 điều (35:45)

Khảo sát, thiết

kế XD

16 điều (46:61)

Xây dựng

công trình

33 điều (62:94)

(62:94)

Lựa chọn nhà

thầu và HĐXD

16 điều (95:110)

(95:110)

phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

(điều 1 và 2)

hoạt động xây dựng

được quy định gồm

Lập quy hoạch XD

Lập dự án đầu tư XD công trình

Khảo sát XD, thiết kế XD

Thi công XD công trình

Giám sát thi công XD công trình

Quản lý dự án đầu tư XD công trình

Lựa chọn nhà thầu và hợp đồng XD

12/15/15

Các

nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xây dựng

(điều 4)

XD công trình

theo quy hoạch,

thiết kế; bảo

đảm mỹ quan,

bảo vệ môi trư

ờng, cảnh quan

chung; phù hợp

với điều kiện tự

nhiên, đặc điểm

văn hoá – xã hội;

kết hợp phát

triển kinh tế – xã

hội với an ninh quốc phòng

12/15/15

phân loại, phân cấp công trình

(điều 3)

Loại công trình theo

công năng sử dụng

Cấp công trình

Quy mô

Nhà ở

Giao thông

Năng lượng

Các công trình khác

12/15/15

Yêu cầu

kỹ thuật

Thuỷ lợi

của tổ chức, cá nhân tham gia hđxd

(điều 7)

Năng lực hành nghề

XD của các cá nhân

Xác định theo

cấp bậc

Xây dựng công cộng

Công nghiệp

quy định chung về điều kiện, năng lực

IV

Vật liệu

xây dựng

Tuổi thọ

Kinh nghiệm

Đạo đức

nghề nghiệp

Năng lực HĐXD

của các tổ chức

Xác định theo cấp

bậc trên cơ sở năng

lực hành nghề xây

dựng của cá nhân

trong tổ chức

Kinh nghiệm hoạt

động

Chứng chỉ

hành nghề

Khả năng tài chính

Chịu trách nhiệm

cá nhân về công

việc của mình

Thiết bị và năng lực

quản lý

Tổ chức, cá nhân nước ngoài HĐXD

trên lãnh thổ Việt Nam

Phải được cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng

có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động

các hành vi bị cấm trong hoạt động xD

(điều 10)

Xây dựng công trình nằm trong khu vực cấm xây dựng, lấn chiếm hành lang bảo vệ

công trình giao thông, thuỷ lợi, di tích văn hoá, lịch sử

Xây dựng công trình sai quy hoạch, vi phạm chỉ giới, cốt xây dựng, không có giấy phép

(đối với công trình phải có giấy phép)

Nhà thầu xây dựng vượt quá điều kiện năng lực hành nghề XD, năng lực hoạt động xây

dựng

Không tuân theo quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng

Vi phạm quy định về an toàn cho con người, tài sản, vệ sinh môi trường trong xây dựng

Cơi nới, lấn chiếm không gian, khu vực công cộng, lối đi, các sân bãi khác đã có quy

hoạch được duyệt và công bố

Đưa và nhận hối lộ, dàn xếp trong đấu thầu, mua bán thầu, thông đồng, bỏ giá thầu dưới

giá thành xây dựng công trình

Lạm dụng chức vụ, quyền hạn, dung túng, bao che vi phạm pháp luật về xây dựng

Cản trở hoạt động xây dựng đúng pháp luật

12/15/15

Các hành vi khác vi phạm pháp luật về xây dựng

Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Được Công Chứng, Chứng Thực

Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Của Hoạt Động Công Chứng, Chứng Thực

Công Chứng Là Gì Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành

Rà Soát, Hệ Thống Hóa Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Tài Nguyên Và Môi Trường

Công Tác Thi Hành Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường Trong Ngành Nông Nghiệp Quảng Ninh

Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới

Văn Bản Pháp Luật Ngành Điện

Bản Tin Thông Tin, Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật Về Y Tế Số 6/2019

Đẩy Mạnh Phổ Biến Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Và Tuyên Truyền Ngăn Ngừa Tội Phạm Trong Ngành Y Tế Quảng Ninh

Hệ Thống Một Số Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về An Toàn Thực Phẩm Do Ngành Y Tế Quản Lý

Văn Bản Pháp Luật Tỉnh Hưng Yên

Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Thôn Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Vvai Trò Của Nông Dân Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Hoi Nong Xa Voi Xay Dung Nong Thon Moi, Noi Dung 19 Tieu Chi Xay Dung Nong Thon Moigiai Doan 2022,2020, Xây Dựng Đề Cương Tuyên Truyền Miệng Về Xây Dựng Nông Thôn Mới , Nội Dung Thảo Luận Xây Dưng Nông Thôn Mới Kiểu Mẩu, Mẫu Báo Cáo 10 Năm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Kết Quả Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Chỉ Thị Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Sơ Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đề án Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Sơ Kết Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Kết Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Các Văn Bản Chỉ Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Xã, Đề Tài Xây Dựng Nông Thôn Mới, Sổ Tay Xây Dựng Nông Thôn Mới, Chu De Xay Dung Nong Thon Moi, Lời Mở Đầu Xây Dựng Nông Thôn Mới, Văn Bản Chỉ Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quy ước Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bản Cam Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Mẫu Báo Cáo Sơ Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Kết Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới Năm 2022, Mẫu Báo Cáo Tiến Độ Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Xây Dựng Nộng Thôn, Báo Cáo Kết Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới Năm 2022, Luận Văn Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Thực Tập Xây Dựng Nông Thôn Mới, Kế Hoạch Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 5 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Văn Bản Hướng Dẫn Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Lý Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 06 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quá Trình Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 17 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Sử Dụng Lao Động Nông Thôn, Nội Dung Đề án Đào Tạo Nghề Nông Thôn, Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Nghệ An, Bài Thu Hoạch Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 20 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Cẩm Nang Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Tiến Độ Xây Dựng Nông Thôn Mới, 9 Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí Số 19 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thông Tư Số 41 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Các Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 12 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Tổng Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Nghị Quyết Số 26 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Vai Trò Của Hệ Thống Chính Trị Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thanh Niên Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận án Tiến Sĩ Xây Dựng Nông Thôn Mới, Phương án Xây Dựng Khu Dân Cư Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Tiêu Chí 3.2 Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Hương ước Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khóa Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khóa Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Nghị Quyết Xây Dựng Nông Thôn Mới Cấp Xã, Nghị Quyết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tham Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Sử Dụng Lao Động Nông Thôn ở Hải Dương, Hướng Dẫn Về Quy Hoạch Xây Dựng Nông Thôn, Nghị Quyết Về Xây Dựng Nông Thôn Mới Cấp Xã, Bài Tiểu Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thuc Trang Xay Dung Nong Thon Moi, Nghị Quyết Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Thi Thuyết Trình Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tham Luận Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quyết Định Số 800 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Quốc Gia Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tham Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quyết Định Số 800 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Thạc Sĩ Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quyết Định Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Kế Hoạch Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bao Cao Truong Trinh Xay Dung Nong Thon Moi, Báo Cáo Kết Quả Mttq Tham Gia Xây Dựng Nông Thôn Mới, Chính Sách Hỗ Trợ Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kế Hoạch Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Bài Thuyết Trình Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thảm Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Moi, Quyết Định Số 491 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Thuyết Trình Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới, Chính Sách Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Tham Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới,

Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Thôn Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Vvai Trò Của Nông Dân Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Hoi Nong Xa Voi Xay Dung Nong Thon Moi, Noi Dung 19 Tieu Chi Xay Dung Nong Thon Moigiai Doan 2022,2020, Xây Dựng Đề Cương Tuyên Truyền Miệng Về Xây Dựng Nông Thôn Mới , Nội Dung Thảo Luận Xây Dưng Nông Thôn Mới Kiểu Mẩu, Mẫu Báo Cáo 10 Năm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Kết Quả Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Chỉ Thị Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Sơ Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đề án Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Sơ Kết Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Kết Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Các Văn Bản Chỉ Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Xã, Đề Tài Xây Dựng Nông Thôn Mới, Sổ Tay Xây Dựng Nông Thôn Mới, Chu De Xay Dung Nong Thon Moi, Lời Mở Đầu Xây Dựng Nông Thôn Mới, Văn Bản Chỉ Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quy ước Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bản Cam Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Mẫu Báo Cáo Sơ Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Kết Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới Năm 2022, Mẫu Báo Cáo Tiến Độ Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Xây Dựng Nộng Thôn, Báo Cáo Kết Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới Năm 2022, Luận Văn Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Thực Tập Xây Dựng Nông Thôn Mới, Kế Hoạch Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 5 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Văn Bản Hướng Dẫn Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Lý Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 06 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quá Trình Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 17 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Sử Dụng Lao Động Nông Thôn, Nội Dung Đề án Đào Tạo Nghề Nông Thôn, Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Nghệ An, Bài Thu Hoạch Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 20 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Cẩm Nang Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Tiến Độ Xây Dựng Nông Thôn Mới,

7. Thủ Tục Đề Nghị Xử Lý Xóa Hoặc Khoanh Nợ Cho Các Trường Hợp Hộ Vay Vốn Xóa Đói Giảm Nghèo Mất Khả Năng Thanh Toán.

Văn Bản Chỉ Đạo Công Tác Xóa Đói Giảm Nghèo

Văn Bản Pháp Luật Về Xóa Đói Giảm Nghèo

Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng

Top 8 Trang Web Tra Cứu Văn Bản Pháp Luật Tốt Nhất Hiện Nay 2022