Bố Cục Của Văn Bản Vietjack / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Bố Cục Của Văn Bản

Thông Báo Là Gì? Các Loại Thông Báo?

Thông Báo Là Gì? Mẫu Thông Báo Và Hướng Dẫn Cách Viết Thông Báo?

Nguồn Gốc Của Văn Bản Là Gì

Phê Bình Văn Bản Là Gì?

Kỹ Thuật Trình Bày Văn Bản Hành Chính Là Gì?

1.1. Bố cục của văn bản

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi

Ngữ liệu: SGk trang 24

Câu 1: Văn bản trên có thể chia làm mấy phần? Chỉ ra các phần đó

Văn bản trên có thể chia làm: 3 phần

Các phần đó gồm: Phần 1: câu mở bài

Phần 2: từ “học trò theo ông” đến “cho vào thăm”

Phần 3: câu kết bài.

Câu 2: Hãy cho biết nhiệm vụ của từng phần trong văn bản trên

Nhiệm vụ của từng phần:

Phần 1: từ: “Ông Chu Văn An” đến “không màng danh lợi”: Giới thiệu ông Chu Văn An

Phần 2: “Học trò theo học rất đông…có khi không cho vào thăm”: Công lao, uy tín, tính cách của ông Chu Văn An

Phần 3: Còn lại: Tình cảm của mọi người đối với ông Chu Văn An

Câu 3: Phân tích mối quan hệ giữa các phần trong văn bản trên

Phân tích mối quan hệ giữa các phần:

Gắn bó chặt chẽ với nhau, phần trước là tiền đề cho phần sau.

Câu 4: Từ việc phân tích trên, hãy cho biết một cách khái quát: Bố cục của văn bản gồm mấy phần? Nhiệm vụ của từng phần là gì? Các phần của văn bản quan hệ với nhau như thế nào?

Bố cục của văn bản thường gồm 3 phần:

Nhiệm vụ của từng phần: Phần mở bài: giới thiệu nội dung, thu hút sự chú ý của người đọc.

Phần thân bài: phát triển và giải quyết một cách cụ thể vấn đề đã nêu ở phần mở bài, duy trì sự chú ý của người đọc.

Phần kết bài: tóm tắt kết luận và đáp ứng sự chờ đợi của người đọc.

Câu 1: Phần Thân bài văn bản Tôi đi học của Thanh Tịnh kể về những sự kiện nào? Các sự kiện ấy được sắp xếp theo trình tự nào?

Phần thân bài của văn bản Tôi đi học của Thanh Tịnh được sắp xếp dựa trên cơ sở là hồi kí: nhớ lại các sự việc, tình tiết diễn ra vào buổi đầu đi học.

Các sự kiện ấy được sắp xếp theo trình tự: không gian, thời gian và dòng cảm xúc

Câu 2: Văn bản Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng chủ yếu trình bày diễn biến tâm trạng của cậu bé Hồng. Hãy chỉ ra những diễn biến của tâm trạng cậu bé trong phần Thân bài.

Diễn biến của tâm trạng cậu bé trong phần Thân bài:

Tình cảm và thái độ: Tình cảm: Thương mẹ sâu sắc

Thái độ: Căm ghét những kẻ nói xấu mẹ, những cổ tục đã đầy đọa mẹ

Niềm vui hồn nhiên được ở trong lòng mẹ

Câu 3: Khi tả người, vật, con vật, phong cảnh,… em sẽ lần lượt miêu tả theo trình tự nào? Hãy kể một số trình tự thường gặp mà em biết

Cách sắp xếp:

Phần thân bài lần lượt trình bày bề con người của ông:

Học trò theo học rất đông

Nhiều người đỗ cao.

Vì thế ông được nhà vua “vời ông ra dạy thái tử học”.

Nhưng đến đời Dụng Tông “vua thích vui chơi, không coi sóc việc triều đình, lại tinh dùng bọn nịnh thần”.

Nhiều lần ông can ngăn, nhà vua không nghe nên ông trả mũ áo từ quan về làng…

Câu 5: Từ các bài tập trên và bằng những hiểu biết của mình, hãy cho biết cách sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản.

Yêu cầu của phần thân bài: Triển khai cụ thể chi tiết và toàn diện vấn đề đã được đặt ra ở phần mở đầu.

Nội dung cơ bản của phần thân bài. Lần lượt trình bày các bộ phận, các phần của vấn đề đặt ra trong văn bản. Thông thường các bộ phận, các phần trên tương ứng một luận điểm. Từng luận điểm lại được triển khai thành các luận cứ để làm sáng tỏ hoặc chứng minh theo luận điểm.

Các luận điểm cấn được sắp xếp theo một trật tự nhất định, phản ánh mối quan hệ logic nội tại của chúng.

Soạn Bài : Bố Cục Trong Văn Bản

Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản

Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản (Chi Tiết)

Bố Cục Trong Văn Bản

Bố Cục Của Văn Bản Là Gì?

Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản

Tóm Tắt Nội Dung Chính, Lập Dàn Ý Phân Tích, Bố Cục

Mở Bài Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân, 4 Cách Mở Bài

Phân Tích Nhân Vật Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân

Phương Pháp Viết Mở Bài, Kết Bài Hay

Soạn Văn Bản Làng Của Nhà Văn Kim Lân Ngữ Văn 9

Soạn bài Bố cục của văn bản

Bố cục của văn bản:

Câu 1 + 2 :(trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Bố cục văn bản đã cho trong SGK (3 phần):

– Phần 1 (từ đầu … danh lợi): giới thiệu khái quát nhân vật.

– Phần 2 (tiếp … không cho vào thăm): đạo cao đức trọng của thầy Chu Văn An.

– Phần 3 (còn lại): niềm tiếc thương và sự tôn kính của người đời với thầy.

Câu 3 : (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Mối quan hệ các phần trong văn bản: Phần 1 nêu ý khái quát toàn bài; Phần 2 triển khai luận điểm; Phần 3 kết thúc luận đề.

Câu 4 :(trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Bố cục một văn bản:

– Mở bài : giới thiệu nội dung, thu hút sự chú ý của người đọc.

– Thân bài : phát triển và giải quyết một cách cụ thể vấn đề đã nêu ở phần mở bài, duy trì sự chú ý của người đọc.

– Kết bài : tóm tắt kết luận và đáp ứng sự chờ đợi của người đọc.

Cách bố trí, sắp xếp nội dung phần thân bài của văn bản

Câu 1 : (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Phần Thân bài văn bản “Tôi đi học”, Thanh Tịnh hồi tưởng lại những kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên: trên đường đến trường, trên sân trường, vào lớp học. Tác giả sắp xếp các sự việc theo trình tự thời gian: từ nhà đến trường đến khi vào lớp học. Và trình tự không gian: con đường làng → trên sân trường → trong lớp học.

Câu 2 : (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Những diễn biến tâm trạng của cậu bé Hồng trong phần Thân bài :

– Khi nói chuyện với người cô: uất ức, mong nhớ, thương mẹ.

– Khi gặp mẹ: sung sướng, hạnh phúc.

Câu 3 : (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Khi tả người, vật, con vật, phong cảnh,… có thể tả theo trình tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ cao xuống thấp, ngoại hình đến nội tâm, từ khái quát đến cụ thể, chung đến riêng, hoặc ngược lại…

Câu 4 : (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Các sự việc trong phần Thân bài của văn bản Người thầy đạo cao đức trọng có hai đoạn. Mỗi đoạn thể hiện một mặt của vấn đề, trước về đạo cao (thầy giáo giỏi), sau về đức trọng (không màng danh lợi)

Câu 5 : (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Cách sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản:

Luyện tập

Câu 1 : (trang 26 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

a. Miêu tả từ xa đến gần rồi lại ra xa, từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài.

– Cảnh đàn chim khi mới thấy (từ xa)

– Cảnh đàn chim đậu trong vườn cây khi đến gần

– Chim đậu và làm tổ trong vườn

– Cảnh đàn chim khi thuyền đã đi xa.

b. Miêu tả theo thời gian sáng-chiều-tối.

c. Sự việc sắp xếp theo mạch suy luận: nêu luận đề rồi đưa ra dẫn chứng.

Câu 2 : (trang 27 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Trình bày về lòng thương mẹ của chú bé Hồng ở văn bản Trong lòng mẹ :

– Suy nghĩ, thái độ của Hồng trước những lời xúc xiểm nói xấu mẹ của bà cô.

– Sự sung sướng, hạnh phúc của bé Hồng khi gặp lại mẹ qua hành động, qua cảm xúc chân thật.

Câu 3 : (trang 27 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Cách sắp xếp chưa hợp lí. Cần phải giải thích nghĩa của câu tục ngữ trước (nghĩa đen và nghĩa bóng). Sau đó mới lấy ví dụ chứng minh → chuyển ý (b) lên trước ý (a). Trong phần ví dụ cần sắp xếp từ phạm vi nhỏ đến lớn (người chịu đi chịu học → các vị lãnh tụ → thời kì đổi mới).

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

On Tap Doc Hieu Van Ban

Đề Kiêm Tra 1 Tiết Văn Bản Làng

Bài Làng(Tiết 2) Bai 1 Langkim Lantiet 2 Ppt

Tuyển Tập Đề Đọc Hiểu Làng Của Kim Lân

Các Đề Văn Về Bài Làng

Bố Cục Của Văn Bản Là Gì?

Bố Cục Trong Văn Bản

Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản (Chi Tiết)

Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản

Soạn Bài : Bố Cục Trong Văn Bản

Bố Cục Của Văn Bản

Trong bất kỳ văn bản, hợp đồng, bài tập làm văn hay đoạn văn ngắn đều viết theo một bố cục rõ ràng. Nó giúp người đọc dễ dàng hiểu được ý nghĩa và nội dung câu chuyện, thông báo hoặc mô tả đó. Cách viết theo lối logic đó gọi là bố cục trong văn bản.

Định nghĩa bố cục trong văn bản

Một văn bản bất kỳ không thể viết một cách tùy ý về mặt nội dung và bố cục trình bày. Bố cục văn bản là cách sắp xếp, bố trí các thành phần nội dung theo một trình tự, hệ thống một cách rõ ràng, rành mạch và hợp lý. Trong bất kỳ một văn bản nào thì bố cục cũng đều chia thành 3 phần chính gồm: mở bài, thân bài và kết luận.

Vai trò và yêu cầu trong bố cục văn bản

Để viết được đoạn văn bản, hợp đồng hay một đoạn văn bạn cần hiểu được vai trò và bố cục một văn bản mẫu như sau:

Vai trò của bố cục văn bản

Giúp người viết trình bày được vấn đề một cách rành mạch, rõ ràng và chi tiết nhất.

Tác giả có thể sắp xếp nội dung theo thời gian, diễn biến câu chuyện hợp lý.

Giúp người đọc hiểu rõ nội dung mà mình đang đọc.

Tạo nên tính nghệ thuật và sự thuyết phục cho văn bản.

Các yêu cầu một bố cục văn bản bất kỳ

Phải thể hiện rõ mục đích khi phân chia bố cục văn bản, mở bài, thân bài và kết bài nên viết những nội dung gì để phù hợp với văn bản.

Giữa các phần phải phân biệt rạch ròi nhưng tạo thành một thể thống nhất về mặt nội dung chung.

Các thành phần trong bố cục văn bản

Một văn bản rõ ràng và mạch lạc thường có 3 phần chính gồm: mở bài, thân bài và kết bài.

Phần mở bài: Giới thiệu nội dung tổng quát về câu chuyện, thông tin về tác giả, nhân vật chính hay sự vật, sự việc chính.

Ví dụ: Khi mô tả về người mẹ nên giới thiệu khái quát về tên, tuổi, nghề nghiệp và mục đích cần mô tả thông tin về người mẹ. Hoặc khi phân tích một bài thơ, đoạn văn thì đoạn mở đầu nên giới thiệu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm…

Phần thân bài: Từ những nội dung đã giới thiệu từ phần mở bài, phần thân bài chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích, mô tả nội dung đó. Từ đó giải quyết những nhiệm vụ đã đặt ra, đây là phần quan trọng nhất trong bố cục văn bản vì vậy câu từ, cách sử dụng các loại động từ, danh từ, tính từ nên lựa chọn phù hợp với mục đích và nội dung văn bản. Người dùng có hiểu được vấn đề bạn trình bày hay không phụ thuộc vào phần thân bài này.

Phần kết bài: Khẳng định những nội dung đã phân tích ở phần thân bài và đưa ra kết luận chung cho toàn bộ văn bản. Phần kết luận nên viết ngắn gọn, xúc tích.

Các loại bố cục văn bản thường gặp

Trong chương trình ngữ văn lớp 8, thường các bạn hay gặp 2 loại bố cục văn bản chính gồm:

Văn bản miêu tả

Có thể là miêu tả cảnh vật, con người, động vật, hình ảnh, âm thanh…. Loại văn bản này khá phổ biến trong chương trình ngữ văn cấp trung học cơ sở.

Phần mở bài: Mô tả khái khát đối tượng cần miêu tả như hình dáng, màu sắc, kích thước…

Phần kết bài: Phát biểu cảm nghĩ, nhận xét về đối tượng đó.

Văn bản tự sự

Nói lên cảm nghĩ, tâm sự hay nhận xét về con người, cảnh vật, tác phẩm văn học, tác giả…. Loại văn bản này thường khó viết và yêu cầu bố cục, cách trình bày và câu chữ hơn văn bản miêu tả.

Phần mở bài: Giới thiệu về nhân vật, sự việc cần phân tích.

Phần thân bài: Mô tả chi tiết diễn biến tâm lý, cảm xúc của nhân vật.

Phần kết bài: Sử dụng khoảng 2 đoạn để kết thúc câu chuyện.

Kết luận: Việc hiểu rõ rõ và nắm vững bố cục của văn bản sẽ giúp các bạn dễ dàng làm các bài văn phân tích theo đúng yêu cầu mà thầy cô đã đề ra.

Văn Bản Hành Chính Cá Biệt Là Gì

Thông Báo Tiếng Anh Là Gì? Có Những Loại Thông Báo Tiếng Anh Nào?

Thông Báo Tiếng Anh Là Gì ? Dịch Thông Báo Trong Tiếng Anh

Mẫu Văn Bản Thông Báo Bằng Tiếng Anh

Mất Gốc Tiếng Anh Nên Bắt Đầu Từ Đâu?

Bố Cục Trong Văn Bản

Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản (Chi Tiết)

Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản

Soạn Bài : Bố Cục Trong Văn Bản

Bố Cục Của Văn Bản

Thông Báo Là Gì? Các Loại Thông Báo?

Bài tập minh họa

Đề bài: Đọc văn bản sau và cho biết:

a. Văn bản được chia thành mấy phần, nội dung của từng phần là gì?

b. Nhận xét về nhiệm vụ của từng phần trong văn bản trên và cho biết chúng có quan hệ với nhau như thế nào?

NGƯỜI THẦY ĐẠO CAO ĐỨC TRỌNG

Ông Chu Văn An đời Trần nổi tiếng là một thầy giáo giỏi, tính tình cứng cỏi, không màng danh lợi. Học trò theo ông rất đông. Nhiều người đỗ cao và sau này giữ những trọng trách trong triều đình như các ông Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát; vì thế vua Trần Minh Tông vời ông ra dạy thái tử học. Đến đời Dụ Tông, vua thích vui chơi, không coi sóc tới việc triều đình, lại tin dùng bọn nịnh thần. Ông nhiều lần can ngăn nhưng vua không nghe. Cuối cùng ông trả lại mũ áo cho triều đình, từ quan về làng. Học trò của ông, từ người làm quan to tới những người bình thường, khi có dịp thăm thầy cũ, ai cũng giữ lễ. Nếu họ có điều gì không phải, ông trách mắng ngay, có khi không cho vào thăm. Khi ông mất, mọi người đều thương tiếc. Ông được thờ tại Văn Miếu ở kinh đô Thăng Long.

(Theo Phan Huy Chú)

a. Văn bản trên có 3 phần

Mở bài. Từ đầu đến “danh lợi“: Giới thiệu khái quát về nhân vật Chu Văn An

Thân bài. Từ “Học trò theo ông” đến “không cho vào thăm“: Những biểu hiện chứng tỏ “đạo cao đức trọng” của thầy Chu Văn An.

Kết bài. Từ “Khi ông mất” đến hết: Tình cảm của người đời dành cho Chu Văn An khi ông mất

b. Ba phần mở bài, thân bài, kết bài có nhiệm vụ khác nhau trong việc triển khai nội dung của văn bản.

Thân bài: Cụ thể hoá, làm rõ nội dung đã nêu ở mở bài.

Kết bài: Thâu tóm, nhấn mạnh nội dung đã biểu đạt trong thân bài.

⇒ Như vậy, dù mỗi phần của văn bản có nhiệm vụ khác nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc với nhau.

Bố Cục Của Văn Bản Là Gì?

Văn Bản Hành Chính Cá Biệt Là Gì

Thông Báo Tiếng Anh Là Gì? Có Những Loại Thông Báo Tiếng Anh Nào?

Thông Báo Tiếng Anh Là Gì ? Dịch Thông Báo Trong Tiếng Anh

Mẫu Văn Bản Thông Báo Bằng Tiếng Anh

Soạn Bài: Bố Cục Của Văn Bản

Bài Văn Mẫu Phân Tích Những Bài Học Được Rút Ra Từ Văn Bản Mẹ Tôi

Sau Khi Học Xong Các Văn Bản: Tôi Đi Học Của Thanh Tịnh, Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng, Tức Nước Vỡ Bờ Của Ngô Tất Tố, Lão Hạc Của Nam Cao Và Cô Bé Bán Diêm Của An

Phân Tích Những Bài Học Được Rút Ra Từ Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A

Phân Tích Những Bài Học Được Rút Ra Từ Văn Bản Mẹ Tôi

Cho Câu Chủ Đề:”đpạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nhà Văn Nguyên Hồng Đã Thể Hiện Tình Yêu Thương Mãnh Liệt Của Bé Hồng Với Mẹ Của Mình”. Hãy Viết Đoạn Văn Diễn Dịc

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

II. HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI

1. Bố cục của văn bản

a) Văn bản Người thầy đạo cao đức trọng có thể chia làm ba phần. Phần Mở bài từ đầu đến không màng danh lợi. Phần Thân bài tiếp theo đến không cho vào thăm. Phần Kết bài còn lại.

Phần Thân bài trình bày về thầy Chu Văn An có nhiều học trò giỏi, thầy được vua mời dạy thái tử, thầy can ngăn vua và từ quan, thầy rất nghiêm khắc với học trò.

2. Cách bố trí, sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản

a) Phần Thân bài của văn bản Tôi đi học kể về những sự kiện sau: trên đường đến trường, trên sân trường, khi vào lớp học. Các sự kiện này được sắp xếp theo trình tự thời gian (từ nhà đến trường) và không gian (trên đường, trên sân trường, trong lớp học).

b) Phần Thân bài của văn bản Trong lòng mẹ trình bày diễn biến tâm trạng của bé Hồng: bé Hồng thương mẹ, căm thù những cổ tục đã đày đoạ mẹ, không nghe lời xúc xiểm của người cô để xa lánh mẹ. Tiếp theo là lòng khao khát được gặp mẹ, nỗi vui sướng mê man khi được ở trong lòng mẹ.

c) Trình tự khi miêu tả người có thể miêu tả dáng người, nét mặt, quần áo, giọng nói, sở thích, tình cảm.

Khi miêu tả con vật thì tả hình dáng, các bộ phận đặc trưng của con vật đó, sau đó chú ý đến tiếng kêu, màu lông, thói quen, quan hệ của con vật với con người.

Tả phong cảnh thì chú ý đến không gian từ xa đến gần, từ ngoài vào trung tâm, từ khái quát đến các chi tiết tiêu biểu. Cũng có thể kết hợp với thời gian buổi sáng nhìn thế nào, buổi chiều có gì khác,…

d) Phần Thân bài trong văn bản Người thầy đạo cao đức trọng trình bày việc Chu Văn An có nhiều học trò, học trò nhiều người đỗ cao, ông được vua mời dạy thái tử. Các chi tiết này làm rõ cho điều Chu Văn An là người thầy giáo giỏi.

Chi tiết Chu Văn An nhiều lần can ngăn vua, vua không nghe, ông trả lại mũ áo, ông trách mắng học trò, có khi không cho vào thăm thể hiện rõ tính tình cứng cỏi (với vua và với học trò) và không màng danh lợi của Chu Văn An.

III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Phân tích cách trình bày ý trong các đoạn trích:

a) Đoạn này trình bày về cánh rừng chim. Các ý sắp xếp theo trình tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, từ gần ra xa.

b) Đoạn này trình bày vẻ đẹp cúa Ba Vì theo mùa trong năm, nhưng tập trung vào tả vẻ đẹp của Ba Vì theo thời điểm buổi chiều, buổi tối khi có trăng.

c) Đoạn này trình bày về trí tưởng tượng cúa dân chúng. Hai ví dụ sắp xếp một cách ngẫu nhiên, một bên là lịch sử, một bên là truyền thuyết có cốt lõi lịch sử.

2. Nếu phải trình bày về lòng thương mẹ của chú bé Hồng ở văn bản Trong lòng mẹ, em cần trình bày một số ý và sắp xếp như sau:

– Hồng rất muốn đi thăm mẹ mình. Em biết ý xấu của người cô nên đã từ chối.

– Hồng không giấu được tình thương mẹ nên đã để nước mắt ròng ròng rơi xuống.

– Hồng muốn nghiến nát những cổ tục đã đày đoạ mẹ.

– Những ý xấu của người cô không làm cho Hồng xa lánh mẹ, trái lại làm cho Hồng càng yêu thương mẹ hơn.

3. Cách sắp xếp trên chưa hợp lí. Trước hết cần phải giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ trước. Từ đó mới lấy ví dụ để chứng minh. Trong các ví dụ thì nói khái quát về những người chịu đi, chịu học trước, sau đó mới nói tới các vị lãnh tụ, rồi nói đến thời kì đổi mới (theo trình tự thời gian).

Kí Ức Tuổi Thơ Qua 2 Văn Bản Trong Lòng Mẹ Và Tôi Đi Học

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Văn Bản Cổng Trường Mở Ra Của Lý Lan

Em Hãy Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Hình Tượng Người Mẹ Trong Hai Văn Bản

Soạn Bài Lớp 9: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh

Soạn Văn Bài 3: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh

Soạn Bài: Bố Cục Của Văn Bản Lớp 8

Thế Nào Là Văn Thuyết Minh? Văn Bản Thuyết Minh Cần Được Trình Bảy Chính Xác, Rõ Ràng, Chặt Chẽ Và

Bài Thơ Tôi Yêu Em

Tin Học 6 Bài Thực Hành 5: Văn Bản Đầu Tiên Của Em

Giáo Án Tin Lớp 6 Tiết 40+ 41: Thực Hành 5 Văn Bản Đầu Tiên Của Em

Giáo Án Tin Học 6 Tiết 41: Bài Thực Hành 5. Văn Bản Đầu Tiên Của Em (Tt)

Soạn bài: Bố cục của văn bản lớp 8

Soan bai Bo cuc van ban. Soạn bài: Bố cục của văn bản lớp 8 mà chúng tôi giới thiệu sẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ nhằm hỗ trợ tốt nhất cho quá trình tìm hiểu bài học của người học.

I. Bố cục của văn bản

Câu 1: Văn bản trên được chia làm ba phần

Phần 1: Từ đầu đến học trò theo ông

Phần 2: Tiếp đó cho đến cho vào thăm

Phần 3: Đoạn còn lại (kết bài)

Câu 2: Nhiệm vụ của từng phần trong văn bản

– Phần mở bài: Giới thiệu nội dung, thu hút sự chú ý của người đọc.

– Phần thân bài: Phân tích sâu, phát triển và giải quyết các vấn đề cụ thể đã nêu lên ở phần mở bài, duy trì sự chú ý của người đọc

– Phần kết luận: Kết luận lại vấn đề một cách ngắn gọn.

Câu 3: Phân tích mối quan hệ giữa các phần trong văn bản

Như chúng ta đã biết, văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó là thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dụng, hoàn thiện về hình thức. Vì vậy, mối quan hệ giữa các phần trong đoạn văn phải chặt chẽ, thống nhất để người đọc dễ dang nắm bắt được nội dung mà người viết muốn gửi gắm ở trong từng tác phẩm của mình.

II. Cách bố trí, sắp xếp nội dung phần thân bài của văn bản

1. Phần thân bài của văn bản Tôi đi học của tác giả Thanh Tịnh được sắp xếp dựa trên cở sở là hồi kí, đó là sự nhớ lại, hồi ức về cái sự việc đã xảy ra trong ngày đầu tựu trường.

2. Đối với văn bản Trong lòng mẹ của tác giả Nguyên Hồng thì tác giả đã trình bày theo diễn biến tâm trạng của bé Hồng qua các sự việc. Đó là một cậu bé đáng thương, tội nghiệp và yêu thương người mẹ của mình vô bờ bến. Điểm diễn tả đặc sắc, đầy ấn tượng của nhà văn là kể lại qua trí nhớ của bé khi gặp lại người mẹ của mình

TỪ KHÓA TÌM KIẾM BỐ CỤC VĂN BẢN BO CUC VAN BAN HƯỚNG DẪN SOẠN VĂN BỐ CỤC VĂN BẢN Theo chúng tôi

Thể Thức Văn Bản Của Đoàn Tncs Hồ Chí Minh

Khái Quát Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật Bài Động Phong Nha

Soạn Bài: Động Phong Nha

Soạn Bài Động Phong Nha

Động Phong Nha: Nội Dung, Dàn Ý, Tóm Tắt, Bố Cục, Tác Giả

Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Lớp 8

Tóm Tắt, Bố Cục Văn Bản Những Đứa Trẻ Lớp 9

Soạn Bài : Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản

Soạn Bài Dọn Về Làng (Nông Quốc Chấn)

Bài Thơ: Dọn Về Làng (Nông Quốc Chấn

Đọc Thêm Dọn Về Làng

Chắc hẳn bạn đang cần tìm những hướng dẫn để soạn bài bố cục của văn bản tốt hơn? Thật tuyệt!

Ở bài viết này với những hướng dẫn trả lời chi tiết các câu hỏi trang 24 đến 27 sách giáo khoa bạn không chỉ có thể soạn bài tốt hơn, mà còn nắm vững những kiến thức quan trọng của bài học này.

Hướng dẫn trả lời các câu hỏi sách giáo khoa:

I. Bố cục của văn bản

Bài tập – Trang 24 sgk

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi.

NGƯỜI THẦY ĐẠO CAO ĐỨC TRỌNG Ông Chu Văn An đời Trần nổi tiếng là một thầy giáo giỏi, tính tình cứng cỏi, không màng danh lợi. Học trò theo ông rất đông. Nhiều người đỗ cao và sau này giữ những trọng trách trong triều đình như các ông Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát, vì thế vua Trần Minh Tông vời ông ra dạy thái tử học. Đến đời Dụ Tông, vua thích vui chơi, không coi sóc tới việc triều đình, lại tin dùng bọn nịnh thần. Ông nhiều lần can ngăn nhưng vua không nghe. Cuối cùng ông trả lại mũ áo cho triều đình, từ quan về làng. Học trò của ông, từ người làm quan to tới những người bình thường, khi có dịp thăm thầy cũ, ai cũng giữ lễ. Nếu họ có điều gì không phải, ông trách mắng ngay, có khi không cho vào thăm. Khi ông mất, mọi người đều thương tiếc. Ông được thờ tại Văn Miếu ở kinh đô Thăng Long. (Theo Phan Huy Chú)

1. Văn bản trên có thể chia làm mấy phần? Chỉ ra các phần đó.

2. Hãy cho biết nhiệm vụ của từng phần trong văn bản trên.

3. Phân tích mối quan hệ giữa các phần trong văn bản trên.

4. Từ việc phân tích trên, hãy cho biết một cách khái quát: Bố cục của văn bản gồm mấy phần? Nhiệm vụ của từng phần là gì? Các phần của văn bản quan hệ với nhau như thế nào?

1. Văn bản trên chia làm 3 phần:

a) Mở bài: Từ Ông Chu Văn An… đến không màng danh lợi.

b) Thân bài: Từ Học trò theo ông… đến cho vào thăm.

c) Kết bài: Từ Kìn ông mất… đến thương tiếc.

2. Nhiệm vụ của từng phần

a) Mở bài: Giới thiệu Chu Văn An, người thầy đạo cao đức trọng

b) Thân bài: Triển khai vấn đề đã giới thiệu: Hai ý kiến đánh giá

– Chu Văn An là người tài cao.

– Chu Văn An là người đức trọng được học trò kính trọng

c) Kết bài: Kết thúc vấn đề: Đánh giá chung: ông mất ai cũng thương tiếc.

3. Mối quan hệ giữa các phần trong văn bản

– Phần mở bài: Giới thiệu vấn đề.

– Phần thân bài: Triển khai làm rõ vấn đề đã giới thiệu.

– Phần kết bài: Kết thúc vấn đề: Đánh giá chung.

– Bố cục văn bản gồm 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.

– Nhiệm vụ của từng phần:

II. Cách bố trí, sắp xếp nội dung phần thân bài

Trong ba phần của văn bản, phần Mở bài, Kết bài thường ngắn gọn, được tổ chức tương đối ổn định. Thân bài là phần phức tạp nhất, được tổ chức theo nhiều kiểu khác nhau.

1 – Trang 25 SGK

Phần Thân bài văn bản Tôi đi học của Thanh Tịnh kể về những sự kiện nào ? Các sự kiện ấy được sắp xếp theo trình tự nào ?

Phần Thân bài của văn bản Tôi đi học:

– Gồm có các sự kiện sau: Trời cuối thu, lá rụng, các em nhỏ đến trường, hồi ức về tâm trạng của nhân vật tôi: Trên đường đi, khi đến sân trường, khi nghe thầy giáo đọc tên, khi vào lớp học.

– Các sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian (hiện tại → quá khứ) và không gian từ trên con đường làng → vào lớp học.

2 – Trang 25 SGK

Văn bản Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng chủ yếu trình bày diễn biến tâm trạng của cậu bé Hồng. Hãy chỉ ra những diễn biến của tâm trạng cậu bé trong phần Thân bài.

Trả lời

Phần Thân bài của văn bản Trong lòng mẹ:

+ Gồm có hai sự kiện: sự kiện người cô gọi đến nói chuyện và sự kiện người mẹ trở về.

+ Hai sự kiện này sắp xếp theo trình tự thời gian trước và sau ngày giỗ đầu người cha của cậu bé Hồng.

+ Diễn biến tâm trạng của cậu bé từ đau đớn uất ức mong nhớ (khi nói chuyện với người cô) chuyển sang sung sướng, hạnh phúc rạo rực say mê (khi được gặp lại mẹ).

3 – Trang 25 SGK

Khi tả người, vật, con vật phong cảnh,… em sẽ lần lượt miêu tả theo trình tự nào ? Hãy kể một số trình tự thường gặp mà em biết.

Tuỳ theo từng đối tượng và mục đích miêu tả, người ta có thể miêu tả theo trình tự từ khái quát đến cụ thể hoặc ngược lại. Một số cách sắp xếp trình tự miêu tả thường gặp:

– Tả người: Tả từ ngoại hình đến suy nghĩ, tình cảm, tính cách hoặc ngược lại; Có thể bắt đầu việc miêu tả bằng cách kể tiểu sử (lai lịch, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội,…) rồi đến khắc hoạ chân dung, tính cách,…;

– Tả vật, con vật: tả từ đặc điểm chung, khái quát đến đặc điểm riêng của từng phần, từng bộ phận;

– Tả cảnh vật: tả từ khái quát đến cụ thể, từ xa đến gần, từ cao đến thấp hoặc ngược lại; cũng có thể tả lần lượt từng khía cạnh của cảnh vật: âm thanh, ánh sáng, màu sắc, đường nét,…

Ví dụ: Cảnh Động Phong Nha được miêu tả theo thứ tự từ xa tới gần, từ ngoài vào trong. Cảnh Sông nước Cà Mau miêu tả theo thứ tự từ hẹp đến rộng từ dưới sông lên hai bờ sông.

4 – Trang 25 SGK

Phân tích trình bày làm sáng tỏ luận đề “Chu Văn An là người thầy đạo cao đức trọng”.

– Ta thấy phần thân bài lần lượt trình bày bề con người của ông:

Học trò theo học rất đông

Nhiều người đỗ cao.

Vì thế ông được nhà vua “vời ông ra dạy thái tử học”.

Nhưng đến đời Dụng Tông “vua thích vui chơi, không coi sóc việc triều đình, lại tinh dùng bọn nịnh thần”. Nhiều lần ông can ngăn, nhà vua không nghe nên ông trả mũ áo từ quan về làng…

– Việc trình bày phần này đã nêu ra những luận cứ “người thầy giỏi, người tôi trung thành, có đạo đức” để làm sáng tỏ và chứng minh cho luận điểm “Chu Văn An là người thầy đạo cao đức trọng”.

5 – Trang 25 SGK

Từ các bài tập trên và bằng những hiểu biết của mình, hãy cho biết cách sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản.

– Người ta thường sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản theo 1 số cách sau: (không gian – thời gian, khái quát – cụ thể, mạch phát triển của vấn đề, mạch suy luận, liên tưởng, …)

III. Luyện tập

1 – Trang 26 SGK

Phân tích cách trình bày ý trong các đoạn trích sau:

a) Tôi vội ra khoang trước nhìn. Xa xa từ vệt rừng đen, chim cất cánh tua tủa bay lên, giống hệt đàn kiến từ lòng đất chui ra, bò li ti đen ngòm lên da trời.

Càng đến gần, những đàn chim đen bay kín trời, cuốn theo sau những luồng gió vút làm tôi rối lên, hoa cả mắt. Mỗi lúc, tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động như tiếng xóc những rổ tiền đồng. Chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá. Cồng cộc đứng trong tổ vươn cánh như tượng những người vũ nữ bằng đồng đen đang vươn tay múa. Chim già đẫy, đầu hói như những ông thầy tu mặc áo xám, trầm tư rụt cổ nhìn xuống chân. Nhiều con chim rất lạ to như con ngỗng đậu đến quằn nhánh cây. Chim tập trung về đây nhiều không thể nói được. Chúng đậu và làm tổ thấp lắm, đứng dưới gốc cây có thể thò tay lên tổ nhặt trứng một cách dễ dàng. Xa xa thấp thoáng có người quảy giỏ, cầm sáo trúc để bắt chim, coi bộ dễ hơn bắt gà trong chuồng. Tiếng chim kêu vang động bên tai, nói chuyện không nghe nhau được nữa. Thuyền chúng tôi tiếp tục chèo, đi tới ba nghìn thước rồi mà vẫn thấy chim đậu trắng xóa trên những cành cây gie sát ra sông. (Theo Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam )

b) Vẻ đẹp của Ba Vì biến ảo lạ lùng từng mùa trong năm, từng giờ trong ngày. Thời tiết thanh tịnh, trời trong trẻo, ngồi phóng tầm mắt qua những thung lũng xanh biếc, Ba Vì hiện lên như hòn ngọc bích. Về chiều, sương mù tỏa biếc, Ba Vì nổi bồng bềnh như vị thần bất tử ngự trên sóng. Những đám mây nhuộm màu biến hóa muôn hình, nghìn dạng tựa như nhà ảo thuật có phép tạo ra một chân trời rực rỡ. Khi vầng sáng nan quạt khép lại dần, trăng vàng mịn như một nốt nhạc bay lên bầu trời, ru ngủ muôn đời thần thoại.

+ Đoạn văn gồm có 4 ý:

* Ý một (đoạn đầu tiên): cảnh đàn chim khi mới nhìn thấy (từ xa)

* Ý hai (đoạn hai): tả cảnh đàn chim đậu trong vườn cây ở trên cao (khi đến gần).

* Ý ba (đoạn ba): cảnh đàn chim đậu trong vườn cây ở dưới thấp (đến tận nơi).

* Ý bốn (đoạn bốn): cảnh đàn chim khi thuyền đã đi xa (cảnh lùi dần).

+ Đoạn văn tả cảnh Ba Vì theo trình tự thời gian: sáng – chiều – tối. Sự biến ảo lạ lùng của Ba Vì trong từng giờ, từng ngày.

+ Gồm có ba ý:

* Ý một (Thời tiết đến hòn ngọc bích): Cảnh Ba Vì buổi sáng sớm.

* Ý hại (tiếp đến chân trời rực rỡ): Cảnh Ba Vì lúc chiều về.

* Ý ba (còn lại): Cảnh trăng lên lúc buổi tối

+ Đoạn văn nói về sức sống của dân tộc Việt Nam qua trí tưởng tượng.

+ Gồm có 2 ý:

* Ý một (từ đầu đến đáng lưu uất): Thể hiện trí tưởng tượng tìm cách chữa lại đau thương cho những người anh hùng bậc trung nghĩa.

*Ý hai (còn lại): Lấy dẫn chứng về cuộc đời Hai Bà Trưng và Phù Đổng Thiên Vương để minh họa làm sáng tỏ cho ý trên.

2 – Trang 27 SGK

Nếu phải trình bày lòng thương mẹ của chú bé Hồng ở văn bản Trong lòng mẹ, em sẽ trình bày những ý gì và sắp xếp chúng ra sao?

Trình bày về lòng thương mẹ của chú bé Hồng ở văn bản Trong lòng mẹ:

Dù non một năm Hồng không nhận được tin tức của mẹ nhưng em không hề trách hay ghét bỏ mẹ mình.

Căm ghét và mong muốn mãnh liệt muốn xóa bỏ những hủ tục đã đày đọa mẹ.

Bình tĩnh, tự tin đối đáp lại bà cô dù trong lòng vô cùng tổn thương.

Luôn tin rằng mẹ sẽ về mà không cần gửi thư bảo mẹ.

– Khi sống trong những lời giả dối, thâm độc, xúc phạm của bà cô:

Thoáng thấy bóng ai giống mẹ, em đuổi theo ngay.

Nhận ra mẹ, em thấy mẹ thật tươi đẹp lạ thường và thấy giây phút đó thật “rạo rực”

Được gặp mẹ Hồng sung sướng đến òa khóc, quên những tủi cực đã chịu mà chỉ tận hưởng sự vỗ về, yêu thương của mẹ.

– Khi gặp lại và nằm trong lòng mẹ:

3 – Trang 27 SGK

Để chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ Đi một ngày đàng, học một sàng khôn, có bạn dự đinh sắp xếp trong phần Thân bài các ý sau:

a) Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ:

– Các vị lãnh tụ bôn ba tìm đường cứu nước.

– Những người thường xuyên chịu khó hòa mình vào đời sống sẽ nắm chắc tình hình, học hỏi được nhiều điều bổ ích.

– Trong thời kì đổi mới, nhờ giao lưu với nước ngoài, ta học tập được công nghệ tiên tiến của thế giới.

b) Giải thích câu tục ngữ:

– Nghĩa đen và nghĩa bóng của vế đi một ngày đàng.

– Nghĩa đen và nghĩa bóng của vế học một sàng khôn.

Theo em, cách sắp xếp trên đã hợp lý chưa? Nếu chưa hợp lý thì nên sửa lại như thế nào?

– Cách sắp xếp phần thân bài như trên là không hợp lý.

+ Trước hết, cần giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ.

+ Sau đó chứng minh:

Những người thường xuyên chịu khó hòa mình vào đời sống sẽ nắm chắc tình hình, học hỏi được nhiều điều bổ ích ⟶ các vị lãnh tụ bôn ba tìm đường cứu nước ⟶ trong thời kì đổi mới, nhờ giao lưu với nước ngoài, ta học tập được công nghệ tiên tiến của thế giới. (trình bày theo trình tự thời gian)

Soạn bài bố cục của văn bản ngắn nhất

Bài tập trang 24 SGK Ngữ văn 8 tập 1

I. Bố cục của văn bản

1. Văn bản có thể chia làm 3 phần:

+ Phần 1: Câu đầu tiên.

+ Phần 2: Từ Học trò đến không cho vào thăm.

+ Phần 3: Khi ông mất đến hết.

2. Phần 1: giới thiệu nhà giáo Chu Văn An.

Phần 2: Những câu chuyện về đạo đức làm thầy của Chu Văn An.

Phần 3: Sự kính trọng của người đời sau đối với Chu Văn An.

Bài 1 trang 25 SGK Ngữ văn 8 tập 1

II. Cách bố trí, sắp xếp nội dung phần thân bài của văn bản

Bài 2 trang 25 SGK Ngữ văn 8 tập 1

Phần Thân bài văn bản “Tôi đi học”, Thanh Tịnh hồi tưởng lại những kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên: trên đường đến trường, trên sân trường, vào lớp học. Tác giả sắp xếp các sự việc theo trình tự thời gian: từ nhà đến trường đến khi vào lớp học. Và trình tự không gian: con đường làng → trên sân trường → trong lớp học.

Diễn biến tâm trạng của Hồng trong văn bản Trong lòng mẹ ở phần thân bài:

– Yêu và mong nhớ người mẹ

– Đau đớn và tủi nhục trước sự cay độc của bà cô

– Căm giận những hủ tục đã đày đọa mẹ

– Vững tin về mẹ

Bài 3 trang 25 SGK Ngữ văn 8 tập 1

– Sung sướng tột cùng khi gặp lại mẹ

Bài 4 trang 25 SGK Ngữ văn 8 tập 1

Khi tả người, vật, con vật, phong cảnh,… có thể tả theo trình tự từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ cao xuống thấp, ngoại hình đến nội tâm, từ khái quát đến cụ thể, chung đến riêng, hoặc ngược lại…

Phần Thân bài của văn bản Người thầy đạo cao đức trọng:

– Gồm có hai đoạn, mỗi đoạn thể hiện một khía cạnh của vấn đề.

Bài 5 trang 25 SGK Ngữ văn 8 tập 1

– Đoạn thứ nhất người thầy đạo cao (thầy giáo giỏi). Đoạn thứ hai người thầy đức trọng (cứng cỏi không màng danh lợi).

Cách sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản:

Bài 1 trang 26 SGK Ngữ văn 8 tập 1

III. Luyện tập

– Cách sắp xếp theo trình tự: từ xa đến gần, từ trong ra ngoài, từ gần ra xa.

– Tác giả tập trung tả vẻ đẹp của Ba Vì theo thời điểm chủ yếu là buổi chiều và ban đêm khi có trăng lên.

Bài 2 trang 27 SGK Ngữ văn 8 tập 1

– Cách sắp xếp đối xứng: một bên là lịch sử, một bên là truyền thuyết có cốt lõi lịch sử.

Phản ứng tâm lí của cậu bé Hồng trước những lời xúc phạm của người cô đối với mẹ.

Cảm giác sung sướng hạnh phúc rạo rực ngây ngất của cậu bé Hồng khi được gặp lại mẹ, được nằm trong lòng mẹ.

Cách sắp xếp phần thân bài như trên là không hợp lý.

– Trước hết, cần giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ.

– Sau đó chứng minh:

+ Những người thường xuyên chịu khó hòa mình vào đời sống sẽ nắm chắc tình hình, học hỏi được nhiều điều bổ ích

+ Các vị lãnh tụ bôn ba tìm đường cứu nước

+ Trong thời kì đổi mới, nhờ giao lưu với nước ngoài, ta học tập được công nghệ tiên tiến của thế giới.

Kiến thức cơ bản

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài bố cục của văn bản một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Trang Doan (Tổng hợp)

Thuyết Minh Về Quyển Sách Ngữ Văn 9 Tập 1 Có Dàn Ý Chi Tiết

Soạn Bài: Kiểm Tra Về Truyện Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9

Soạn Bài: Luyện Tập Tóm Tắt Tác Phẩm Tự Sự Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9

Soạn Bài: Kiểm Tra Truyện Trung Đại Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9

Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9

Bố Cục Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

Những Vấn Đề Cần Biết Về Quyết Định Hành Chính

Quy Định Về Căn Cứ Pháp Lý Ban Hành Quyết Định Hành Chính

Trao Đổi Về Cách Viện Dẫn Các Căn Cứ Ban Hành Trong Một Số Quyết Định (Cá Biệt) Hiện Nay

Đặc Điểm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt

Quyết Định Hành Chính Là Gì? Đặc Điểm Của Quyết Định Hành Chính?

46023

II. Bố cục nội dung của văn bản quy phạm pháp luật

Mẫu giấy và vùng trình bày văn bản

Tên cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (Chữ in hoa, cỡ 13, kiểu đậm)

Số, kí hiệu văn bản. (Chữ in thường, cỡ chữ 13, kiểu thường, đứng)

Địa điểm, thời gian ban hành văn bản (Cỡ 13, kiểu chữ thường, nghiêng).

Tên của văn bản (Chữ in hoa, cỡ 14, kiểu đậm)

Trích yếu văn bản (Cỡ 14, kiểu thường, đậm)

Phần chữ ký (Chữ in hoa, cỡ 13, kiểu đậm)

Dấu của văn bản quy phạm pháp luật

Nơi nhận (Chữ in thường, cỡ 13, kiểu nghiêng)

Việc đặt tên, đánh số cho các đơn vị trong văn bản.

Việc lựa chọn bố cục cụ thể cho từng văn bản quy phạm pháp luật

Căn cứ để phân chia, sắp xếp nội dung văn bản quy phạm pháp luật

I. Bố cục hình thức của văn bản quy phạm pháp luật

Khi xác lập bố cục hình thức của văn bản quy phạm pháp luật cần lưu ý một số vấn đề sau đây:

1. Mẫu giấy và vùng trình bày văn bản

Theo Quyết định 228/QĐ-BKHCN&MT của Bộ trưởng Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, ngày 31/12/1992 thì mẫu giấy và vùng trình bày văn bản được quy định như sau:

– Mẫu giấy: văn bản quy phạm pháp luật được trình bày trên giấy trắng có kích thước 210 x 297 mm (A4), sai số cho phép 2mm.

– Vùng trình bày: ở mặt trước, cách mép trên trang giấy 25mm, cách mép dưới 20mm, cách mép trái 30mm, cách mép phải 10mm. ở mặt sau, cách mép trên 25mm, cách mép dưới 20mm, cách mép trái 20mm, cách mép phải 20mm (xem Phụ lục 7 và Phụ lục 8)

Những văn bản có nhiều trang thì bắt đầu từ trang thứ hai phải ghi số trang bằng chữ ả Rập cách mép trên trang giấy 10mm, nằm giữa trang. Những văn bản có hai phụ lục trở lên thì phải ghi số thứ tự của phụ lục bằng số La Mã. Số trang của văn bản và số trang của phụ lục đều ghi chung số thứ tự.

Quốc hiệu được trình bày ở nửa bên phải trang giấy, gồm hai dòng, dòng trên viết bằng chữ in hoa (cỡ 13, kiểu đậm); dòng dưới bằng chữ thường (cỡ 13, kiểu đậm), có gạch cách nối giữa 3 từ; phía dưới có gạch ngang.

3. Tên cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (Chữ in hoa, cỡ 13, kiểu đậm)

Phần này được trình bày ở góc trái văn bản, ngang hàng với Quốc hiệu.

Trong văn bản quy phạm pháp luật phần này chỉ ghi tên cơ quan ban hành văn bản mà không ghi tên cơ quan cấp trên. Điều đó thể hiện sự độc lập của cơ quan khi ban hành văn bản.

4. Số, kí hiệu văn bản. (Chữ in thường, cỡ chữ 13, kiểu thường, đứng)

Phần này được đặt dưới tên cơ quan ban hành văn bản, giúp cho việc vào sổ, phân loại, sắp xếp vào hồ sơ, lưu trữ, viện dẫn, tra tìm văn bản được dễ dàng; nắm được số lượng văn bản mà cơ quan đã làm ra trong một năm.

Phần này có 2 yếu tố :

– Số, được đánh liên tục cho các văn bản quy phạm pháp luật do mỗi cơ quan ban hành trong một năm.

Trong văn bản quy phạm pháp luật, tiếp theo phần số, trước phần kí hiệu, là năm ban hành văn bản. Năm ban hành văn bản được ghi đầy đủ cả bốn chữ số. Phần năm ban hành văn bản phân cách các phần khác bằng dấu gạch chéo (/).

Ví dụ: Số 75/2001/…

– Kí hiệu được trình sau năm ban hành văn bản, gồm hai phần: chữ viết tắt của tên loại văn bản và chữ viết tắt tên cơ quan ban hành văn bản. Hai phần này nối với nhau bằng dấu gạch ngang.

Ví dụ: Số: 75/2001/NĐ – CP (2001- năm ban hành văn bản, NĐ – Nghị định, CP – Chính phủ).

5. Địa điểm, thời gian ban hành văn bản (Cỡ 13, kiểu chữ thường, nghiêng).

Địa điểm ban hành văn bản thường được xác lập bằng cách ghi tên tỉnh, nơi ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật. Địa điểm ghi trước, thời gian ghi sau, hai nội dung này cách nhau bởi dấu phẩy (,). Địa điểm, thời gian ban hành văn bản có thể được bố trí ở những vị trí khác nhau:

– Dưới quốc hiệu, hơi lệch về bên phải, được dùng với nghị định, quyết định, Chỉ thị, …

– Cuối văn bản, trước phần chữ kí, được dùng cho luật, pháp lệnh, …

6. Tên của văn bản (Chữ in hoa, cỡ 14, kiểu đậm)

Hiện nay, trong thực tiễn đang tồn tại một số cách thức xác lập tên văn bản quy phạm pháp luật sau đây:

– Tên văn bản gồm tên loại văn bản + của + tên cơ quan hoặc chức vụ người ban hành văn bản. Cách này được sử dụng cho nghị quyết, nghị định, quyết định.

– Tên văn bản gồm tên loại văn bản + tên loại việc văn bản giải quyết. Cách này được sử dụng cho luật, pháp lệnh.

– Tên văn bản là tên loại của văn bản, được dùng cho Hiến pháp, thông tư, chỉ thị.

7. Trích yếu văn bản (Cỡ 14, kiểu thường, đậm)

Đây là phần khái quát chính xác nội dung chính của văn bản. Có tác dụng giúp người đọc nhanh chóng nắm bắt được nội dung của văn bản; thuận tiện cho việc vào sổ, lập hồ sơ, tra tìm, viện dẫn văn bản.

Các văn bản quy phạm pháp luật đều có phần trích yếu, được trình bày ngay sau tên văn bản, trừ Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

8. Cơ sở của văn bản quy phạm pháp luật

a) Cơ sở pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật

Cơ sở của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn, mà dựa vào đó người soạn thảo xác lập dự thảo.

Cơ sở pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật (hay còn được gọi là căn cứ pháp lý) là những chuẩn mực pháp luật mà theo đó văn bản được ban hành.

Trong văn bản, phần cơ sở pháp lý thường được xác lập, trừ Hiến pháp và một số văn bản có nội dung là những vấn đề ít quan trọng.

Phần này nên được sử dụng để viện dẫn tên các văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở trực tiếp cho việc ban hành văn bản đang được soạn thảo.

Khi xác lập phần này, chỉ nên viện dẫn những văn bản thực sự có ý nghĩa đối với dự thảo, bao gồm:

+ Nhóm thứ nhất là các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp quy định về thẩm quyền ban hành văn bản, nhằm khẳng định rằng văn bản được ban hành đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Trong thực tiễn, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Vì vậy, khi lựa chọn cần chú ý để tránh viện dẫn những văn bản quy định chung chung về thẩm quyền hoặc quy định về thẩm quyền đối với loại công việc khác.

Hiện nay, có hai hướng xác lập phần cơ sở pháp lý thường được sử dụng sau đây:

– Thứ nhất, “công thức hóa” phần cơ sở pháp lý là cách xác lập phần này theo một “công thức” có sẵn, thống nhất. Đó là việc sử dụng câu bắt đầu bằng từ “căn cứ”. Nếu có nhiều văn bản cần viện dẫn thì trình bày bằng nhiều “căn cứ” khác nhau.

Cách này thường được sử dụng trong một số loại văn bản như: luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định.

– Thứ hai, xác lập theo hướng viết tự do, không lệ thuộc vào mẫu câu có sẵn. Cách này thường được sử dụng trong nghị quyết, chỉ thị, thông tư.

Về vị trí, các văn bản ở nhóm thứ nhất thường được viện dẫn ở ngay đầu văn bản (sau trích yếu).

b) Cơ sở thực tiễn

Các văn bản ở nhóm thứ hai có thể được viện dẫn ở phần kế liền với nhóm thứ nhất, cũng có thể được gắn liền với phần nội dung chính của dự thảo.

Cơ sở thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật thường là những hành vi mang tính thủ tục, trực tiếp làm phát sinh những vấn đề mà văn bản dự kiến ban hành cần giải quyết.

Nhằm phân biệt cơ sở thực tiễn với cơ sở pháp lý, người soạn thảo thường sử dụng một số “công thức”:

– Thứ nhất, dùng câu “Để giải quyết …” hoặc “Để thực hiện …”, ” Để nâng cao …“, … nhằm chỉ rõ mục đích ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ví dụ: “Để giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân” (Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế)

– Thứ hai, dùng câu ” xét”, nếu văn bản cần viện dẫn là những văn bản khác, như công văn, tờ trình của cấp dưới.

Bên cạnh đó, phần cơ sở thực tiễn có thể được xác lập theo hướng viết tự do, hoàn toàn không lệ thuộc vào mẫu câu có sẵn.

Về vị trí, cơ sở thực tiễn có thể được bố trí ở kế liền trước hoặc sau cơ sở pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật.

9. Phần chữ ký (Chữ in hoa, cỡ 13, kiểu đậm)

Văn bản quy phạm pháp luật phải được người có thẩm quyền ký đúng thể thức. Nếu văn bản không có chữ ký hoặc chữ ký là của người không có thẩm quyền thì không được Nhà nước công nhận.

Phần ký được trình bày ở góc phải, cuối văn bản. Thể thức ký phải ghi trước chức vụ của người ký. Nếu văn bản được ban hành bởi cơ quan, tổ chức hoạt động theo chế độ tập thể thì khi ký phải ghi rõ TM. (thay mặt) trước tên cơ quan.

Nếu văn bản được ban hành bởi cơ quan hoạt động theo chế độ thủ trưởng thì khi ký văn bản không ghi thay mặt (TM. ), mà ghi rõ chức vụ của người ký.

Nếu văn bản do cấp phó ký khi được cấp trưởng uỷ quyền thì phải ghi KT. ( ký thay) cấp trưởng và chức vụ của người được uỷ quyền. Người được uỷ quyền không được uỷ quyền lại cho người khác.

Trong mọi trường hợp, người có thẩm quyền ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật không được uỷ quyền cho cấp dưới ký thừa lệnh (TL.) các văn bản quy phạm pháp luật.

Nếu người đứng đầu cơ quan mới được giao chức vụ là quyền trưởng thì khi ký ghi là Q.Trưởng …,

Người có thẩm quyền phải ký trực tiếp, không được ký bằng bút chì, bút mực màu đỏ hoặc bằng các vật liệu dễ phai mờ; phải viết rõ họ tên người ký bằng chữ thường, cách chức vụ của người ký 30mm.

Thông thường văn bản quy phạm pháp luật chỉ có một chữ ký nhưng cũng có trường hợp có nhiều chữ ký như đối với các văn bản liên tịch.

10. Dấu của văn bản quy phạm pháp luật

Sau khi văn bản quy phạm pháp luật đã được người có thẩm quyền ký đúng thể thức, văn thư phải đóng dấu vào văn bản. Tuyệt đối không đóng dấu khi chưa có chữ ký. Dấu đóng đúng chiều, rõ ràng, đúng mầu mực quy định và trùm lên l/4 đến l/3 chữ ký về phía bên trái. Chữ ký và dấu bảo đảm tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật.

11. Nơi nhận (Chữ in thường, cỡ 13, kiểu nghiêng)

Phần “Nơi nhận” được trình bày ở góc trái, cuối văn bản, ngang phần chữ ký. Người ký phải căn cứ vào yêu cầu cụ thể của từng việc và theo đúng những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, quan hệ công tác mà quyết định việc gửi văn bản. Nơi gửi, số lượng gửi được ghi rõ trong phần nơi nhận, có tác dụng giúp cho bộ phận văn thư biết phải nhân văn bản thành bao nhiêu bản và gửi tới đâu, tạo điều kiện cho việc thực hiện văn bản được nhanh chóng, thuận lợi.

Thông thường, văn bản quy phạm pháp luật được gửi tới các nhóm đối tượng sau:

– Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành văn bản;

– Các cơ quan, tổ chức có quyền kiểm tra, giám sát, kiểm sát hoạt động của cơ quan ban hành văn bản;

– Bộ phận lưu văn bản.

Bố cục hình thức phổ biến của văn bản quy phạm pháp luật được trình bày tại Phụ lục 9.

II. Bố cục nội dung của văn bản quy phạm pháp luật

1. Việc đặt tên, đánh số cho các đơn vị trong văn bản.

Về nguyên tắc chung, một văn bản quy phạm pháp luật có thể được chia thành Phần, Chương, Mục, Điều, Khoản, Điểm. Khi sử dụng các đơn vị này, cần lưu ý một số điểm sau đây:

– Có thể phối hợp phần chữ (Phần, Chương, Mục, Điều, Khoản, Điểm) với phần số (1, 2, a, b…) để trình bày mỗi đơn vị của văn bản.

Về phần chữ, nên lựa chọn những tên gọi nói trên mà không nên sử dụng những tên gọi khác (như “Tiết” …). Phần, Chương, Mục, Điều là tên gọi phần chữ của đơn vị có trong văn bản. Riêng đối với Khoản và Điểm thì không dùng các từ đó để đặt tên cho những nội dung tương ứng khi trình bày văn bản (tạo thành những đơn vị không có tên gọi), chỉ sử dụng các từ đó khi viện dẫn những đơn vị đó.

Số được dùng để ấn định vị trí của mỗi nội dung có trong văn bản, nên dùng số ả rập (dãy số tự nhiên). Số La Mã ít phổ biến nên không tiện lợi khi trình bày, viện dẫn văn bản. Chữ cái theo thứ tự bảng chữ cái không tự thể hiện rõ vị trí, số lượng chữ cái hạn chế, nên chỉ sử dụng số La Mã hoặc chữ cái để đánh số cho các đơn vị trong văn bản trong những trường hợp sau đây:

+ Các đơn vị cần đánh số có số lượng không quá lớn;

+ Khi văn bản cần được chia thành nhiều cấp độ và đã sử dụng hết những tên gọi nói trên để ấn định các đơn vị có trong văn bản.

– Các đơn vị có tên gọi như nhau được dùng tương ứng với những nội dung có vị trí, vai trò như nhau trong văn bản.

– Đơn vị lớn bao hàm nhiều đơn vị nhỏ hơn, tránh tình trạng trong đơn vị lớn chỉ có duy nhất 01 đơn vị nhỏ trực tiếp cấu thành nên nó. Ví dụ: trong Chương chỉ có 01 Mục.

2. Việc lựa chọn bố cục cụ thể cho từng văn bản quy phạm pháp luật

Có 2 kiểu bố cục sau đây thường được sử dụng trong thực tiễn:

Trên cơ sở bố cục chung được trình bày ở trên, tuỳ từng trường hợp, người soạn thảo lựa chọn bố cục cụ thể cho văn bản. Các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì bố cục nội dung có thể cũng khác nhau. Ngay trong một văn bản cụ thể, bố cục nội dung của từng phần cũng có thể không giống nhau.

Việc lựa chọn bố cục nội dung cho một đơn vị của văn bản hoặc cho cả văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu dựa vào các căn cứ sau đây:

* Xác lập các quy phạm đường lối, chủ trương, nguyên tắc: Các quy phạm loại này thường có số lượng tương đối nhỏ, không được trực tiếp áp dụng để giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong thực tiễn mà thường là cơ sở để ban hành những quy phạm pháp luật cụ thể, nên nội dung văn bản không cần thiết phân chia thành nhiều cấp độ.

* Xác lập các quy phạm giải thích, hướng dẫn: Các quy phạm giải thích chủ yếu có mục đích làm rõ nghĩa những đơn vị trong cùng văn bản hoặc trong một văn bản quy phạm pháp luật khác có nghĩa chưa rõ ràng, chưa chính xác. Các quy phạm hướng dẫn chủ yếu có mục đích chỉ ra cách thức tổ chức thực hiện văn bản, tức là đặt ra những quy định nhằm cụ thể hoá các quy định chung chung trong cùng văn bản hoặc trong văn bản quy phạm pháp luật khác.

+ Kiểu bố cục thứ hai phù hợp với việc xác lập các quy phạm pháp luật cụ thể. Số lượng các quy phạm này thường rất lớn, chúng được viện dẫn trong quá trình áp dụng pháp luật, do đó việc phân chia thành nhiều cấp độ là cần thiết, thuận tiện cho cả việc trình bày và việc viện dẫn văn bản về sau.

3. Căn cứ để phân chia, sắp xếp nội dung văn bản quy phạm pháp luật

Để bảo đảm sự hợp lý trong việc phân chia nội dung văn bản quy phạm pháp luật, cần căn cứ vào chính khả năng biểu đạt của từng khối ngôn ngữ có trong văn bản. Mỗi khối ngôn ngữ thể hiện một nội dung cụ thể. Mỗi nội dung được thể hiện đều có vị trí, vai trò nhất định trong văn bản.

Những nội dung có vai trò ngang bằng nhau và độc lập với nhau trong văn bản cần được bố trí thành những đơn vị có cùng cấp độ. Nếu trong cấp độ lớn, có nhiều nội dung nhỏ hơn thì những nội dung nhỏ hơn đó có thể được chia thành những cấp độ nhỏ hơn nữa.

Sau khi phân chia nội dung văn bản thành những đơn vị với nhiều cấp độ khác nhau như đã trình bày ở trên, cần sắp xếp các đơn vị đó theo một trật tự nhất định. Trật tự đó ảnh hưởng trực tiếp tới tính lô gich, sự hợp lý của văn bản.

Nội dung văn bản có thể được sắp xếp dựa vào những căn cứ sau đây:

– Mức độ quan trọng của vấn đề được biểu đạt trong các nội dung: tất cả các nội dung có cùng cấp độ được so sánh về mức độ quan trọng để ấn định vị trí của chúng trong văn bản. Dựa vào căn cứ này, thông thường các nội dung quan trọng hơn được xếp trước, các nội dung ít quan trọng hơn được xếp sau. Khi có nhiều nội dung cùng được so sánh thì có thể so sánh riêng từng cặp nội dung để xác định mức độ quan trọng của chúng. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng việc đánh giá chỉ mang tính tương đối, ước lệ.

Căn cứ này chỉ được sử dụng để sắp xếp những nội dung có quan hệ độc lập phối thuộc với nhau.

– Trình tự diễn biến của vấn đề được biểu đạt trong các nội dung: Trong trường hợp này cần dựa vào sự vận động, tiến triển mang tính quy luật tất yếu của các sự vật, hiện tượng hay quá trình được biểu đạt trong nhóm các nội dung để sắp xếp đơn vị ngôn ngữ trong văn bản. Theo đó thì việc gì tất yếu xảy ra trước thì xếp trước, việc gì xảy ra sau thì xếp sau.

Căn cứ này có thể được sử dụng để sắp xếp những nhóm nội dung sau đây:

+ Những nội dung có mối quan hệ “cái chung – cái riêng”;

+ Những nội dung có mối quan hệ “nhân – quả”;

+ Những nội dung có mối quan hệ về thủ tục được xác lập để giải quyết vấn đề được văn bản đề cập tới.

Nguồn: Sổ tay nghiệp vụ soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp

Việc phân chia, sắp xếp các nội dung trong văn bản quy phạm pháp luật cần được tiến hành thống nhất trong cả văn bản, tránh tình trạng ở mỗi đơn vị trong văn bản lại sử dụng những cách thức phân chia, sắp xếp khác nhau.

Kỹ Thuật Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính

Văn Bản Quyết Định Cá Biệt

Ai Là Người Có Thẩm Quyền Hủy Bỏ Quyết Định Hành Chính Của Chủ Tịch Xã?

Phụ Lục 5 Quy Định Kiểu, Cỡ Chữ Và Mẫu Trình Bày Dùng Trong Các Loại Văn Bản

Quyết Định Số 04 Qđhn Bqp Của Bộ Trưởng

Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản (Chi Tiết)

Soạn Bài Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục

Phân Tích Văn Bản Ông Giuốc

Kinh Doanh Dịch Vụ Đánh Máy Thuê Các Loại Văn Bản Hải Phòng

Cam Kết Bảo Đảm Đủ Các Điều Kiện An Toàn Về Phòng Cháy Và Chữa Cháy

Bản Cam Kết Phòng Cháy Chữa Cháy

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Phần I BỐ CỤC CỦA VĂN BẢN

Đọc văn bản Người thầy đạo cao đức trọng (trang 24 SGK Ngữ văn 8 tập 1) và trả lời các câu hỏi:

Trả lời câu 1 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Văn bản trên có thể chia làm mấy phần phần?

Trả lời:

Văn bản có thể chia làm 3 phần.

a) Mở bài: Từ Ông Chu Văn An… đến không màng danh lợi.

b) Thân bài: Từ Học trò theo ông… đến cho vào thăm.

c) Kết bài: Từ Kìn ông mất… đến thương tiếc.

Trả lời câu 2 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Nhiệm vụ của từng phần?

Trả lời:

a) Mở bài: Giới thiệu Chu Văn An, người thầy đạo cao đức trọng

b) Thân bài: Triển khai vấn đề đã giới thiệu: Hai ý kiến đánh giá

– Chu Văn An là người tài cao.

– Chu Văn An là người đức trọng được học trò kính trọng

c) Kết bài: Kết thúc vấn đề: Đánh giá chung: ông mất ai cũng thương tiếc.

Trả lời câu 3 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Mối quan hệ giữa các phần trong văn bản?

Trả lời:

– Phần mở bài: Giới thiệu vấn đề.

– Phần thân bài: Triển khai làm rõ vấn đề đã giới thiệu.

– Phần kết bài: Kết thúc vấn đề: Đánh giá chung.

Trả lời câu 4 (trang 24 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Từ việc phân tích trên, hãy cho biết: bố cục của văn bản gồm mấy phần? Nhiệm vụ của từng phần là gì? Các phần của văn bản quan hệ với nhau thế nào?

– Bố cục văn bản gồm 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.

– Nhiệm vụ của từng phần:

Phần II CÁCH BỐ TRÍ, SẮP XẾP NỘI DUNG PHẦN THÂN BÀI Trả lời câu 1 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Phân tích cách sắp xếp nội dung phần thân bài trong Tôi đi học?

Trả lời:

– Theo sự hồi tưởng những kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên của mình. Các cảm xúc lại được sắp xếp theo thứ tự thời gian: những cảm xúc trên đường đến trường, những cảm xúc khi vào lớp học

– Theo sự liên tưởng đối lập những cảm xúc về cùng một đối tượng : trước đây và buổi tựu trường đầu tiên.

Trả lời câu 2 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Phân tích diễn biến tâm trạng của bé Hồng ở đoạn trích Trong lòng mẹ.

Trả lời:

– Tình yêu thương mẹ và thái độ căm ghét tột cùng những cổ tục đã đày đọa mẹ của bé Hồng khi nghe bà cô xúc xiểm nói xấu mẹ.

– Niềm sung sướng hạnh phúc tột đỉnh của bé Hồng khi được ở trong lòng mẹ.

Trả lời câu 3 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Khi tả người, tả vật,… em sẽ lần lượt miêu tả theo trình tự nào? Hãy kể một số trình tự thường gặp mà em biết.

Trả lời:

– Không gian (tả phong cảnh).

– Chỉnh thể – bộ phận (tả người, vật, con vật).

– Tình cảm, cảm xúc (tả người).

Trả lời câu 5 (trang 25 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Từ bài tập trên và bằng hiểu biết của mình hãy cho biết cách sắp xếp nội dung phần thân bài của văn bản.

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 26 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Phân tích cách trình bày ý trong các đoạn trích sau.

– Cách sắp xếp theo trình tự: từ xa đến gần, từ trong ra ngoài, từ gần ra xa.

– Tác giả tập trung tả vẻ đẹp của Ba Vì theo thời điểm chủ yếu là buổi chiều và ban đêm khi có trăng lên.

– Cách sắp xếp đối xứng: một bên là lịch sử, một bên là truyền thuyết có cốt lõi lịch sử.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 27 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Nếu phải trình bày lòng thương mẹ của chú bé Hồng ở văn bản Trong lòng mẹ, em sẽ trình bày những ý gì và sắp xếp chúng ra sao?

Lời giải chi tiết:

– Hồng sống xa mẹ nên rất muốn được đi thăm mẹ, nhưng nhận ra dã tâm của người cô nên đã từ chối.

– Khi nghe bà cô nói những lời độc ác về mẹ, cậu bé không giấu nổi tình thương mẹ nên đã khóc.

– Hồng cảm thông, thấu hiểu nỗi khổ của mẹ nên muốn nghiền nát những cổ tục đày đọa mẹ

– Những ý xấu của người cô không làm cho Hồng xa lánh mẹ mà càng khiến em yêu thương mẹ nhiều hơn.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 27 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Theo em cách sắp xếp đã hợp lí chưa, nếu chưa hợp lí thì sửa lại như thế nào?

Lời giải chi tiết:

– Cách sắp xếp phần thân bài như trên là không hợp lý.

+ Trước hết, cần giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ.

+ Sau đó chứng minh:

Những người thường xuyên chịu khó hòa mình vào đời sống sẽ nắm chắc tình hình, học hỏi được nhiều điều bổ ích ⟶ các vị lãnh tụ bôn ba tìm đường cứu nước ⟶ trong thời kì đổi mới, nhờ giao lưu với nước ngoài, ta học tập được công nghệ tiên tiến của thế giới. (trình bày theo trình tự thời gian)

chúng tôi

Soạn Bài Ông Đồ Ngắn Gọn Và Hay Nhất

Bài Thơ Ông Đồ (Vũ Đình Liên)

Soạn Bài Ông Đồ (Vũ Đình Liên)

3 Cách Copy Ở Trang Web Không Cho Copy Nhanh Và Đơn Giản Nhất

Hướng Dẫn Cách Sao Chép Văn Bản Ở Trang Web Không Cho Copy

Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản

Soạn Bài : Bố Cục Trong Văn Bản

Bố Cục Của Văn Bản

Thông Báo Là Gì? Các Loại Thông Báo?

Thông Báo Là Gì? Mẫu Thông Báo Và Hướng Dẫn Cách Viết Thông Báo?

Nguồn Gốc Của Văn Bản Là Gì

Soạn bài Bố cục trong văn bản lớp 7

I. Bố cục và những yêu cầu về bố cục trong văn bản

Bố cục của văn bản

a. Em muốn viết một lá đơn xin gia nhập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Hãy cho biết những nội dung trong đơn ấy có cần sắp xếp theo trật tự không?

b. Sự sắp đặt nội dung các phần trong văn bản theo một trình tự hợp lí được gọi là bố cục. Em hãy cho biết vì sao khi xây dựng văn bản, cần phải quan tâm tới bố cục?

a. Trong đơn xin gia nhập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh những nội dung cần ghi có thể là: họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi học, nơi sống, lí do xin vào Đội. Những nội dung ấy cần được sắp xếp theo một trật tự trước sau rành mạch và hợp lí, không thể tự tiện muốn ghi nội dung nào trước cũng được.

b) Sự sắp đặt nội dung các phần trong vàn bản theo một trình tự hợp lí được gọi là bố cục. Khi xây dựng văn bản, cần phải quan tâm đến bố cục, vì nó giúp các ý được trình bày thành các phần mục rõ ràng giúp người đọc dễ tiếp nhận văn bản.

Những yêu cầu về bố cục trong: văn bản

Đọc hai truyện sau:

(1) Có một con ếch quen thói coi trời bằng vung, nên cứ nghênh ngang đi lại khắp nơi, nhâng nháo nhìn trời và kêu ồm ộp. Trước kia, ếch sống ở trong giếng. Tại vì năm ấy trời mưa, nước trong giếng dâng lên tràn bờ, đưa ếch ta ra ngoài.

Trước đó, ếch ta đã từ đáy giếng nhìn lên và nó thấy trời bé tị chỉ bằng cái vung thôi. Còn nó thì lại oai ghê lắm, Vì nó mà đã cất tiếng kêu thì tất cả bọn cua, ốc, nhái ở giếng đều phải hoảng sợ. Cuối cùng, nó bị một con trâu giẫm bẹp. Từ đấy, trâu trở thành bạn của nhà nông.

(2) Ngày xưa, có một anh tính rất hay khoe. Một hôm, anh ta may được cái áo mới, liền đem ra mặc, rồi đứng hóng ở cửa, đợi có ai qua người ta khen. Đứng mãi từ sáng đến chiều chả thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm.

Nhưng rồi anh ta cũng khoe được áo với một người rằng: “Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này, tôi chả thấy con lợn nào chạy qua cả Đấy là cho người kia tính cũng hay khoe, bỗng không biết từ đâu tất tưởi chạy đến hỏi anh ta: “Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?”

a. Hai câu chuyện trên đã rõ bố cục chưa?

b. Cách kể chuyện trên bất hợp lí ở chỗ nào?

c. Theo em, nên sắp xếp bố cục hai câu chuyện trên thế nào?

a. Hai câu chuyện trên chưa có bố cục. Trong truyện Ếch ngồi đáy giếng và Lợn cưới áo mới chúng chưa được sắp xếp một cách hợp lý theo trật tự logic làm cho, những giá trị trong một tác phẩm cũng bị giảm đi bởi sự sắp xếp đó khiến người đọc khó quan sát và quan sát nhưng không hiểu được nội dung hiện thực phê phán trong tác phẩm.

b. Các câu trên không hợp lý ở chỗ: nên đảo lộn lại trật tự các câu trong đoạn văn trên, nên trình bay ếch sống ở đâu trước hoàn cảnh sống của anh như thế nào, thứ 2 nên nói là vì hoàn cảnh sống như thế mà ếch huênh hoang nghênh ngáo, vì một trận bão mà ếch đã ra ngoài được và bị dẫm bẹp.

Văn bản 2: Trình bày lý do tại sao anh ta đứng hóng ở ngoài cửa, tiếp đó anh ta lấy cớ hỏi chuyện để khoa chiếc áo.

c. Nên sắp xếp lại bố cục theo một trận tự có mở đầu có thân bài và có kết thúc

Trong phần mở bài nên giới thiệu về vấn đề, thân bài khai triển vấn đề, 3 là kết luận lại vấn đề.

a. Hãy nêu nhiệm vụ của ba phần, Mở bài, Thân bài, Kết bài trong văn bản tự sự và miêu tả.

b. Có cần phân biệt rõ ràng nhiệm vụ từng phần không? Vì sao?

c. Nói như vậy có đúng không? Vì sao?

a.

– Nhiệm vụ của 3 phần trong văn bản miêu tả:

Mở bài: Giới thiệu đối tượng

Thân bài: Miêu tả về đối tượng.

Kết bài: Cảm nghĩ về đối tượng.

– Nhiệm vụ của 3 phần trong văn bản tự sự:

Mở bài: Giới thiệu sự việc.

Thân bài: Diễn biến của sự việc.

Kết bài: Cảm nghĩ về sự việc.

b. Trong bố cục ba phần của một văn bản, mỗi phần có một nhiệm vụ riêng, không trùng nhau. Phân biệt nhiệm vụ của từng phần cũng là nhằm đảm bảo tính chặt chẽ trong lập luận, thể hiện được sự rành mạch giữa các phần của bố cục chung.

c. Có bạn nói rằng phần mở bài chỉ là sự tóm tắt, rút gọn của phần thân bài, còn phần kết bài chẳng qua là sự lặp lại một lần nữa của mở bài. Nói như thế là không đúng. Vì mở bài chỉ là giới thiệu đối tượng và sự việc, còn kết luận là phần: bộc lộ cảm xúc cá nhân về đối tượng và sự việc.

d. Tuy nội dung chính của việc miêu tả được dồn cả vào phần thân bài, nhưng phần mở bài và kết bài vẫn rất cần thiết. Vì Mở bài, ngoài nhiệm vụ giới thiệu đề tài của văn bản, còn giúp người đọc đi vào đề tài đó một cách dễ dàng, tự nhiên và hứng thú. Còn kết luận đâu chỉ là nêu cảm nghĩ, lời hứa hẹn, mà còn làm cho văn bản để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người đọc.

II. Soạn bài Bố cục trong văn bản phần Luyện tập

Tìm những ví dụ thực tế để chứng tỏ rằng: Nếu chúng ta biết chú ý đến việc sắp xếp các ý cho rành mạch thì bài viết (lời nói) của chúng ta sẽ có hiệu quả thuyết phục cao. Ngược lại, nếu không biết sắp xếp các ý cho hợp lí thì bài viết (lời nói) của chúng ta sẽ không hiểu được, không tiếp nhận được.

Ví dụ chứng minh về sự cần thiết của việc sắp đặt ý tứ rành mạch.

Hai cách kể về chuyện Hai con dê (Tập đọc 1) sau:

a) Con nào cũng muốn tranh sang trước, không con nào chịu nhường con nào. Chúng húc nhau, cả hai đều rơi tõm xuống suối. Dê đen và dê trắng cùng qua một chiếc cầu hẹp. Dê đen đi đàng này lại. Dê trắng đi đàng kia sang.

b) Dê đen và dê trắng cùng qua một chiếc cầu hẹp. Dê đen đi đàng này lại. Dê trắng đi đàng kia sang. Con nào cũng muốn tranh sang trước, không con nào chịu nhường con nào. Chúng húc nhau, cả hai đều rơi tõm xuống suối.

Trong hai cách kể trên: cách a, kết quả sự việc trước nguyên nhân sự việc, làm cho người đọc khó hiểu và không có hứng thú. Cách b, Nguyên nhân sự việc trước kết quả sự việc, dễ hiểu vì câu chuyện có đầu có đuôi, làm người đọc tò mò theo dõi câu chuyện.

Hãy ghi lại bố cục của truyện Cuộc chia tay của những con búp bê. Bố cục ấy, theo em, đã rành mạch và hợp lí chưa? Có thể kể lại câu chuyện ấy theo một bố cục khác được không?

Bố cục của câu chuyện Cuộc chia tay của những con búp bê có thể gồm các phần nội dung sau:

– Mở bài: từ đầu đến …khóc nhiều: Truyện mở đầu bằng việc mẹ của Thành và Thuỷ bắt hai anh em phải chia đồ chơi cho nhau

– Thân bài: Sau đó dừng lại để kể về quá khứ rồi lại quay trở lại hiện tại để kể về cuộc chia tay thực sự đầy nước mắt của Thuỷ với cô giáo, với các bạn và với Thành

– Kết bài: Từ “Tôi mếu máo trả lời…” đến hết): Truyện kết thúc bằng cảnh Thành “mếu máo” nhìn em trèo lên xe và chiếc xe rồ máy, phóng đi mất hút.

Các phần của truyện được xếp đặt theo thứ tự thời gian và được phân biệt rạch ròi, cho nên bố cục đó là rành mạch và hợp lí. Tuy nhiên, câu chuyện ấy vẫn có thể được kể theo một bố cục khác cũng được, miễn là vẫn đảm bảo yêu cầu rành mạch, hợp lí.

Có một bạn được phân công báo cáo kinh nghiệm học tập tại Hội nghị học tốt của trường. Bạn ấy dự định viết bản báo cáo theo một bố cục ba phần (SGK, trang 30, 31). Bố cục trên đó đã rành mạch và hợp lí chưa? Vì sao? Theo em có thế bổ sung thêm điều gì?

Một bạn học sinh dự định viết văn bản báo cáo kinh nghiệm học tại Hội nghị học tốt của trường như sau:

(I) Mở bài: Chào mừng các đại biểu, các thầy cô và các bạn tham đi Hội nghị.

(II) Thân bài:

(1) Nêu rõ bản thân đã học thế nào trên lớp.

(2) Nêu rõ bản thân đã học thế nào ở nhà.

(3) Nêu rõ bản thân đã học thế nào trong cuộc sông.

(4) Nêu thành tích trong hoạt động Đội và thành tích văn nghệ của bản thân.

(III) Kết bài: Chúc Hội nghị thành công.

Bố cục bài báo cáo của bạn học sinh đó chưa thật rành mạch và hợp lí. Vì các phần (1), (2), (3) ở thân bài chỉ mới kể lại việc học tốt chưa nói kinh nghiệm tốt. Và lẽ ra phần (4) phải nói thành tích từ cần kinh nghiệm học tập, chứ không cần thiết kể thành tích hoạt động Đội và thành tích văn nghệ như trên.

– Phần Kết bài: Ngoài lời chúc Hội nghị thành công, phần này phải có nội dung khái quát lại những kinh nghiệm học tập đã trình bày, lời hứa sẽ tiếp tục phấn đấu để học tập tốt hơn trong thời gian tới.

-/-

Hướng dẫn soạn văn 7 bài Bố cục trong văn bản chi tiết nhất

Soạn bài Bố cục trong văn bản ngắn nhất

Lý thuyết

Bài 1 trang 28 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Bố cục của văn bản

a. Những nội dung trong đơn cần được sắp xếp theo trật tự. Không thể tùy thích ghi mà phải theo thứ tự.

b. Khi xây dựng văn bản cần quan tâm đến bố cục vì việc xây dựng bố cục thể hiện sự rành mạch, rõ ràng trong suy nghĩ, trong cách sắp xếp của người viết, giúp tạo hiệu quả trong giao tiếp.

Bài 2 trang 29 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Những yêu cầu về bố cục trong văn bản

a. Hai câu chuyện đã cho chưa có bố cục.

b. Sự bất hợp lí trong cách kể : Nội dung của câu chuyện không theo một trình tự nào cả, thiếu mạch lạc. Ở VB (1), khi đang kể việc ếch đã lên bờ, lại kể sang chuyện ếch sống trong giếng, rồi lại kể chuyện ếch ra ngoài giếng,… Ở VB (2), lí do khoe được áo lại được kể sau, cách kể không được hấp dẫn.

c. Bố cục hai câu chuyện nên được sắp xếp :

– VB (1) : ếch sống trong giếng → thấy trời bé tí → oai với bọn cua ốc → trời mưa, ra ngoài → quen thói nhâng nháo → bị trâu giẫm bẹp.

– VB (2) : Ở đoạn 2, nói về lí do trước khi về sự việc khoe được áo mới.

Bài 3 trang 29 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Các phần của bố cục

a. Nhiệm vụ các phần :

b. Nên phân biệt nhiệm vụ của mỗi phần. Vì chúng giúp tạo sự rành mạch, rõ ràng, tránh được lộn xộn.

d. Không thể đồng ý với ý kiến của bạn đó. Vì mỗi phần có chức năng và nhiệm vụ riêng, đều quan trọng như nhau.

Luyện tập

Bài 1 trang 30 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Những ví dụ :

– Câu chuyện Lợn cưới áo mới và Ếch ngồi đáy giếng được dẫn phần I.

– Trong thực tế : Kể chuyện em đi học muộn :

+ Đoạn văn chưa có bố cục rõ ràng : “Em đi học bằng xe đạp. Mọi người đi sát nhau, em vô tình bị ngã. Ngày hôm qua em đã đến trường muộn. Đường thì rất đông, xe cộ nhiều. Vì thế em bị muộn học.”

→ Đoạn văn đã sửa lại : “Ngày hôm qua em đã đến trường muộn. Đường thì rất đông, xe cộ nhiều. Em đi học bằng xe đạp. Mọi người đi sát nhau, em vô tình bị ngã. Vì thế em bị muộn học.”

Bài 2 trang 30 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Bố cục của truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” :

– Mở bài : Cảnh hai anh em chia đồ chơi (hiện tại)

– Thân bài : trở lại quá khứ – chia tay lớp học.

– Kết bài : hai anh em chia tay nhau (hiện tại)

* Bố cục này khá rành mạch và hợp lí. Một cách khác, có thể kể theo trình tự thời gian quá khứ đến hiện tại,…

Bài 3 trang 30 SGK Ngữ văn 7 tập 1

Bố cục khá rành mạch, nhưng chưa hoàn toàn hợp lí. Ở Mở bài, nên thêm phần giới thiệu họ tên, đề tài báo cáo sau lời chào. Thân bài nên bỏ phần (4). Kết bài nên trình bày khái quát những nội dung vừa nói và gợi mở định hướng.

Kiến thức cần ghi nhớ

– Văn bản không thể được viết một cách tùy tiện mà phải có bố cục rõ ràng. Bố cục là sự bố trí, sắp xếp các phần, các đoạn theo một trình tự, một hệ thống rành mạch và hợp lí.

– Các điều kiện để bố cục được rành mạch và hợp lí:

Nội dung các phần, các đoạn trong văn bản phải thống nhất chặt chẽ với nhau; đồng thời , giữa chúng lại phải có sự phân biệt rạch ròi.

Trình tự xếp đặt các phần, các đoạn phải giúp cho người viết (người nói) dễ dàng đạt được mục đích giao tiếp đã đặt ra.

– Văn bản thường được xây dựng theo một bố cục gồm có 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.

Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản (Chi Tiết)

Bố Cục Trong Văn Bản

Bố Cục Của Văn Bản Là Gì?

Văn Bản Hành Chính Cá Biệt Là Gì

Thông Báo Tiếng Anh Là Gì? Có Những Loại Thông Báo Tiếng Anh Nào?