Bố Cục Văn Bản Dọn Về Làng / Top 1 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Đọc Thêm Dọn Về Làng

Ngày soạn: Ngày dạy: …………Tiết: 34

I. Mục tiêu bài học. 1.Kiến thức– Giúp HS hiểu được:Vẻ đẹp rất riêng của thơ Nông Quốc Chấn, đại diện cho thơ của tầng lớp trí thức dân tộc ít người.Cảm nhận vẻ đẹp về nội dung và hình thức của bài thơ ” Dọn về làng”.– Cảm nhận được khát vọng về với nhân dân và đất nước với những kỷ niệm sâu nặng nghĩa tình trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhà thơ.2. Kĩ năng : – Rèn thêm kĩ năng đọc hiểu thơ cho học sinh. Phát huy năng lực tự đọc, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản lý bản thân, năng lực giao tiếp Tiếng Việt, năng lực thưởng thức văn học và cảm thụ thẩm mỹ. – Thấy được những đặc sắc nghệ thuật thơ Chế Lan Viên: sáng tạo hình ảnh, liên tưởng phong phú, bất ngờ, cảm xúc gắn với suy tưởng.3. Về thái độ, phẩm chất:– Thái độ : – Về phẩm chất: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. 4. Định hướng góp phần hình thành năng lực– Năng lực chung: Phát huy năng lực tự học và tự chủ, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực thưởng thức văn học và cảm thụ thẩm mỹ…– Năng lực riêng: Năng lực đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại. II. Chuẩn bị bài học:1. Chuẩn bị của giáo viên: Giáo án/thiết kế bài học. Các slides trình chiếu (nếu có). Các phiếu học tập, bao gồm: các sơ đồ để HS điền thông tin, các bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá HS trong quá trình đọc hiểu.2. Chuẩn bị của học sinh: Chuẩn bị bài ở nhà theo các yêu cầu sau: Đọc trước bài trong SGK Ngữ văn 12, Tập một. Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu cuối bài. Các sản phẩm chuẩn bị được giao (diễn kịch, thực hiện hoạt động nhóm trong dạy học dự án…)III. Tiến trình bài học Gv cho hs xem đoạn phim tài liệu về chiến dịch biên giới năm 1950 giải phóng Cao – Bắc – Lạng.HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HSNỘI DUNG BÀI HỌC

Hoạt động 1: khởi động– Mục tiêu: hs nắm được các kiến thức cơ bản về chiến dịch biên giới 1950. Tích hợp kiến thức lịch sửGv cho hs xem đoạn phim tài liệu về chiến dịch biên giới năm 1950 giải phóng Cao – Bắc – Lạng.? GV đặt câu hỏi: Cảm nhận về chiến dịch biên giới năm 1950 giải phóng Cao- Bắc- Lạng.

Bố Cục Trong Văn Bản

Bài tập minh họa

Đề bài: Đọc văn bản sau và cho biết:

a. Văn bản được chia thành mấy phần, nội dung của từng phần là gì?

b. Nhận xét về nhiệm vụ của từng phần trong văn bản trên và cho biết chúng có quan hệ với nhau như thế nào?

NGƯỜI THẦY ĐẠO CAO ĐỨC TRỌNG

Ông Chu Văn An đời Trần nổi tiếng là một thầy giáo giỏi, tính tình cứng cỏi, không màng danh lợi. Học trò theo ông rất đông. Nhiều người đỗ cao và sau này giữ những trọng trách trong triều đình như các ông Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát; vì thế vua Trần Minh Tông vời ông ra dạy thái tử học. Đến đời Dụ Tông, vua thích vui chơi, không coi sóc tới việc triều đình, lại tin dùng bọn nịnh thần. Ông nhiều lần can ngăn nhưng vua không nghe. Cuối cùng ông trả lại mũ áo cho triều đình, từ quan về làng. Học trò của ông, từ người làm quan to tới những người bình thường, khi có dịp thăm thầy cũ, ai cũng giữ lễ. Nếu họ có điều gì không phải, ông trách mắng ngay, có khi không cho vào thăm. Khi ông mất, mọi người đều thương tiếc. Ông được thờ tại Văn Miếu ở kinh đô Thăng Long.

(Theo Phan Huy Chú)

a. Văn bản trên có 3 phần

Mở bài. Từ đầu đến “danh lợi“: Giới thiệu khái quát về nhân vật Chu Văn An

Thân bài. Từ “Học trò theo ông” đến “không cho vào thăm“: Những biểu hiện chứng tỏ “đạo cao đức trọng” của thầy Chu Văn An.

Kết bài. Từ “Khi ông mất” đến hết: Tình cảm của người đời dành cho Chu Văn An khi ông mất

b. Ba phần mở bài, thân bài, kết bài có nhiệm vụ khác nhau trong việc triển khai nội dung của văn bản.

Thân bài: Cụ thể hoá, làm rõ nội dung đã nêu ở mở bài.

Kết bài: Thâu tóm, nhấn mạnh nội dung đã biểu đạt trong thân bài.

⇒ Như vậy, dù mỗi phần của văn bản có nhiệm vụ khác nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc với nhau.

Bài Thơ: Dọn Về Làng (Nông Quốc Chấn

I. Giới thiệu1. Tác giảa. Cuộc đời

Nông Quốc Chấn (1923 – 2002) tên khai sinh Nông Văn Quỳnh, dân tộc Tày, quê ở Ngân Sơn, Bác Cạn sớm giác ngộ cách mạng. Là một trong những gương mặt văn hoá tiêu biểu, đại diện cho tầng lớp trí thức dân tộc ít người trưởng thành trong cách mạng. Nhiều năm vừa đóng vai trò tích cực trong lĩnh vực quản lý văn hoá, văn nghệ, vừa bền bỉ sáng tác.

b. Sự nghiệp văn học

Nông Quốc Chấn để lại một sự nghiệp văn học có giá trị. Tác phẩm tiêu biểu:– Tập thơ: Tiếng ca người Việt Bắc (1959); Đèo gió (1968); Suối và biển (1984)…– Tiểu luận: Đường ta đi (1970); Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977)

Đặc điểm sáng tác: Thơ ông mang cảm xúc chân thành, giản dị, lối diễn đạt tự nhiên mà giàu hình ảnh – lời thơ toát lên nét riêng biệt trong suy tư và diễn đạt của người miền núi.

2. Tác phẩma. Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ

Dọn về làng được viết bằng tiếng Tày, tác giả tự dịch ra tiếng Việt, in trong tập Tiếng ca người Tây Bắc (1959). Dọn về làng viết 1950, viết về quê hương tác giả trong những năm kháng chiến chống Pháp đau thương mà anh dũng, được trao giải nhì tại đại hội liên hoan thanh niên, sinh viên thế giới tại Béc- lin. Sau đó, tác phẩm được dịch đăng trên tạp chí Châu Âu.

b. Thể loại: Thơ tự do

c. Bố cục: Chia làm hai phần– Khổ 1, 5, 6: niềm vui Cao – Bắc – Lạng được giải phóng– Khổ 2, 3, 4: Nỗi thống khổ của nhân dân và tội ác của giặc.

d. Chủ đề

Thông qua lời người con tâm sự với “mẹ” (cụ thể và khái quát), bài thơ là nỗi đau khổ của nhân dân và là bản cáo trạng tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Đồng thời cũng nói lên niềm vui của nhân dân được giải phóng, niềm tin vào tương lai tươi sáng của quê hương và lòng biết ơn của người dân miền núi đối với bộ đội giải phóng và nhân dân.

II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN1. Nỗi thống khổ của nhân dân và tội ác của giặca. Nỗi thống khổ của nhân dân

Cuộc sống cay đắng đủ mùi (mấy năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy – chạy hết núi lại khe cay đắng đủ mùi, cơn sấm sét sụp xuống khiến tan nhà nát cửa – đường đi lại vắt bám đầy chân):– Cuộc sống không ổn định, luôn phập phồng lo âu.– Chạy giặc loạn lạc trong cảnh mưa bão mịt mù, sấm sét dữ dội.– Sống đói khát, ngột ngạt, kinh hoàng.– Chết không ai chôn.

Hình tượng người mẹ: chịu bao đau thương, mất mát nhưng can trường trước hoàn cảnh (đó là người mẹ đồng thời cũng là biểu tượng cho người mẹ chung, đó là quê hương đất nước).

b. Tội ác của giặc– Đốt nhà, cướp của, coi rẻ sinh mạng của nhân dân.– Vét hết quần áo, tra tấn, đánh đập.– Biện pháp liệt kê và tự sự mở ra một không gian nghệ thuật với bao chi tiết rất sống động; cảnh đau đớn và thương tâm được tái hiện một cách chân thực.

c. Lòng căm thù giặc sâu sắc

Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tànBăm thịt xương mày, tao mới hả!

– Đó chính là thảm hoạ của dân tộc ta và cũng là nỗi đau đớn của nhà thơ nói riêng và của nhân dân ta nói chung.– Bài thơ như bản cáo trạng kể tội thực dân xâm lược.– Qua đó, bộc lộ thái độ của tác giả về sức chịu đựng và tình cảm yêu nước của dân tộc vùng cao.

2. Niềm vui Cao – Bắc – Lạng được giải phóng: bằng một phong cách riêng, mang đậm màu sắc tư duy của người miền núi được thể hiện qua:

a. Bố cục giản dị– Mở đầu bài thơ là những cảm xúc diễn tả niềm vui Cao – Bắc – Lạng được giải phóng: Mọi người chuẩn bị “Dọn về làng” để khôi phục cuộc sống.– Tiếp theo là nỗi buồn tuổi, xót xa, căm giận bọn thực dân Pháp đã tàn phá, gieo rắc tội ác trên quê hương và gia đình tác giả.– Đoạn kết trở lại với niềm vui hân hoan vì từ nay quê hương được giải phóng – thanh bình trở lại– Cách kể theo trật tự: hiện tại – quá khứ – hiện tại.

b. Lối nói cụ thể, cảm xúc, suy nghĩ được diễn đạt giàu hình ảnh: Quê hương được hồi sinh, sức sống của dân tộc trỗi dậy mãnh liệt, từ âm thanh rộn ràng đến hình ảnh náo nức đáng yêu (người đông như kiến, súng đầy như củi, đường cái kêu vang tiếng ô tô… nhà lá). Điệp từ “không” để khẳng định từ nay làng sẽ đổi khác, sẽ hồi sinh và vươn mình.

c. Giọng điệu tươi vui, hân hoan, hồ hởi: Từ những chi tiết, âm thanh cụ thể, niềm vui tràn ngập như bay lên trên từng câu chữ mộc mạc. Qua đó, càng cho ta thấy khát vọng tự do của dân tộc ta.

III. TỔNG KẾT1. Giá trị nội dungBài thơ đã tái hiện được quá khứ đau thương cùng với niềm vui chiến thắng và giải phóng, cũng như ca ngợi sự hồi sinh, vươn dậy của quê hương và của đồng bào Cao – Bắc – Lạng.

2. Giá trị nghệ thuật – Bút pháp tương phản: Giọng kể có phong vị hồn nhiên, bộc lộ được dấu ấn cá nhân. Đậm màu sắc dân tộc qua cách sử dụng hình ảnh: chỉ số nhiều (người đông như kiến, súng đầy như củi, người nói cỏ lay trong rừng rậm), chỉ cái chết (cha ơi! cha không biết nói rồi….), chỉ cuộc sống yên ổn, no ấm (hổ không dám đến đẻ con trong vườn chuối, quả trong vườn không lo tự chín, tự rụng), không khí vui tươi, sinh động (đường cái kêu vang tiếng ô tô, trong rừng ríu rít tiếng cười con trẻ).– Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, thiên về ví von; cụ thể mà khái quát.

Hướng Dẫn Phân Tích Đọc Hiểu : Dọn Về Làng

I – KIẾN THỨC CƠ CẦN NẮM VỮNG

được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000. Tác phẩm chính : 1. Nông Quốc Chấn (1923 – 2002) tên khai sinh là Nông Văn Quỳnh, dân tộc Tày, quê ở xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Cạn. Tham gia cách mạng từ năm 1942 trong phong trào thanh niên cứu quốc ở địa phương và bắt đầu làm thơ bằng tiếng Tày. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nông Quốc Chấn hoạt động ở tỉnh và thơ ông bắt đầu được biết đến rộng rãi. Ông từng là Giám đốc Sở Văn hoá khu tự trị Việt Bắc, Thứ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin. Nông Quốc Chấn Việt Bắc đánh giặc (1948), Tiếng ca người Việt Bắc (1959), Đèo gió (1968), Dòng thác (1977), Suối và biển (1984).

2. Bài thơ Dọn về làng được sáng tác năm 1950. Chiến dịch Biên giới của quân và dân ta đã đập tan hệ thống đồn, bốt của quân Pháp trên phòng tuyến biên giới dọc theo đường số Bốn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn. Tác phẩm được giải thưởng tại Đại hội liên hoan Thanh niên, sinh viên thế giới ở Béc-lin năm 1951 và được đưa vào tuyển tập Thơ Việt Nam 1945 -1956.

II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

1. Cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao – Bắc – Lạng và tội ác của thực dân Pháp được thể hiện đậm nét từ câu thơ thứ 7 đến câu 37 của bài thơ.

Chú ý đến những chi tiết thể hiện tình cảnh người dân phải đi khỏi làng để tránh giặc :

Chạy hết núi lại đến khe, cay đắng đủ mùi Mẹ địu em chạy tót lên rừng Lần đi trước, mẹ vẫy con sau lưng Tay dắt bà, vai đeo đầy tay nải

Đến những cái chết tức tưởi và nỗi đau xót của những người còn sống :

Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng Con cởi áo liệm thân cho bố, Mẹ con ẵm cha đi nằm ở chân rừng Máu đầy tay, nước mắt tràn đầy mặt…

Qua đó ta thấy được tội ác dã man của thực dân Pháp : đốt làng, cướp của, chém giết những người dân vô tội.

2. Nét độc đáo trong cách thể hiện niềm vui Cao – Bắc – Lạng được giải phóng ở phần đầu và phần cuối của bài thơ.

Với người con, mẹ luôn là người sẻ chia những niềm vui nỗi buồn một cách tự nhiên, chân thành nhất. Nhân vật trữ tình trong bài thơ cũng đã bày tỏ niềm vui với người mẹ của mình trước cảnh quê hương được giải phóng, sự lựa chọn ấy giúp thể hiện niềm vui một cách chân thành, sâu sắc.

Niềm vui quê hương giải phóng được thể hiện bằng một phong cách riêng, đậm màu sắc độc đáo của tư duy miền núi. Cách thể hiện niềm vui cũng mang phong cách riêng : lối nói cụ thể ; cảm xúc, suy nghĩ được diễn đạt bằng những câu thơ giàu hình ảnh.

Sự đối lập của đọạn thơ này với đoạn thơ nói về tội ác của quân thù :

3. Bài thơ thể hiện rất rõ bản sắc dân tộc miền núi trong cách xây dựng hình ảnh. Đó là những hình ảnh giản dị, gần gũi với đời sống hằng ngày của người dân miền núi, lối diễn đạt tự nhiên ; không cầu kì, hoa mĩ. Chính điều đó đã tạo nên nét đặc sắc của bài thơ.

Có thể nhận thấy điều đó qua những câu thơ như :

– Người đông như kiến, súng đầy như củi

– Mấy tháng năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy XEM THÊM : Hướng dẫn đọc hiểu, phân tích Tây Tiến – Ngữ văn 12 ” TẠI ĐÂY ”