Các Luật Việt Nam / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Các Văn Bản Pháp Luật Ở Việt Nam

Các Loại Văn Bản Pháp Luật Ở Việt Nam

Sơ Đồ Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật Việt Nam

Có Bao Nhiêu Bộ Luật Hình Sự

Mẫu Giấy Cam Kết Và Hướng Dẫn Chi Tiết

Google Cam Kết Tuân Thủ Pháp Luật Việt Nam

Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Hiện Nay., Quản Trị Công Ty Luật Theo Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Đang Có Hiệu Lực Pháp Luật Là, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Văn Bản Pháp Luật Việt Nam, Các Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Luật Pháp Việt Nam, Bộ Luật Pháp Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Các Loại Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Luật Hiến Pháp Việt Nam, Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Luật Dân Sự Pháp Tiếng Việt, Bộ Luật Dân Sự Pháp Bản Tiếng Việt, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Luận Văn Pháp Luật Về Giao Đất Tại Việt Nam, Nhà Nước Và Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Pháp Luật Việt Nam Về Công Ty Hợp Danh, Bộ Luật Dân Sự Pháp 1804 Bản Tiếng Việt, Hợp Đồng ủy Quyền Theo Pháp Luật Việt Nam, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Vấn Đề Mở Rộng Nguồn Của Pháp Luật Hình Sự Việt Nam, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Việt Nam, Pháp Luật Về Kiểm Soát Chuyển Giá ở Việt Nam, Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng Theo Pháp Luật Việt Nam, Đấu Thầu Quốc Tế Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam, Thừa Kế Thế Vị Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành, Xây Dựng Chế Định Pháp Luật Về Công Ty Hợp Vốn Đơn Giản ở Việt Nam, Hoàn Thiện Pháp Luật Về Giáo Dục Đại Học ở Việt Nam Hiện Nay, Bảo Hộ Chương Trình Máy Tính Theo Pháp Luật Việt Nam, Bảo Hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng Theo Pháp Luật Việt Nam, Tieu Luận Hệ Thống Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Báo Cáo Rà Soát Các Quy Định Của Pháp Luật Cạnh Tranh Việt Nam, Hoàn Thiện Pháp Luật Thi Hành án Dân Sự ở Việt Nam Hiện Nay, Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Căn Cứ Xác Định Hành Vi Hạn Chế Cạnh Tranh Theo Pháp Luật Việt Nam, Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Tiêu Chí Đánh Giá Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật ở Việt Nam Hiện, Nghị Quyết Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt N, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về , Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Luận Văn Thừa Kế Theo Di Chúc Theo Qui Định Của Pháp Luật Việt Nam, Thừa Kế Theo Di Chúc Theo Qui Định Của Pháp Luật Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Báo Cáo Kết Quả Qua Giám Sát Việc Tuân Thủ Hiến Pháp Và Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Xã, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Thực Trạng Thực Hiện Pháp Luật ở Việt Nam Hiện Nay, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Là Gì Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, Nghị Định Kiểm Tra Xử Lý Kỷ Luật Trong Thi Hành Pháp Luật Về Xử Lý Vi Phạm , Luật Phòng Chống Bệnh Truyền Nhiễm Thư Viện Pháp Luật, Phòng Chống Vi Phạm Kỷ Luật,pháp Luật Trong Quân Đội, Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Giám Định Tư Pháp, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Khoa Luật Đhqghn, Chương Trình Khung Pháp Luật Đại Cương Đại Học Luật Hà Nội, Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Số 80/2015/qh13, Văn Bản Pháp Luật Dành Cho Học Phần Luật Kinh Doanh, Văn Bản Pháp Luật Hiến Pháp, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Dự Thảo Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Đại Học Luật Hà Nội, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Luật Lao Động, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 2022, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Trường Đại Học Luật Hà Nội, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Học Luật Hà Nội, Luật Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật,

Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Hiện Nay., Quản Trị Công Ty Luật Theo Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Đang Có Hiệu Lực Pháp Luật Là, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Văn Bản Pháp Luật Việt Nam, Các Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Luật Pháp Việt Nam, Bộ Luật Pháp Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Các Loại Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Luật Hiến Pháp Việt Nam, Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Luật Dân Sự Pháp Tiếng Việt, Bộ Luật Dân Sự Pháp Bản Tiếng Việt, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Luận Văn Pháp Luật Về Giao Đất Tại Việt Nam, Nhà Nước Và Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Pháp Luật Việt Nam Về Công Ty Hợp Danh, Bộ Luật Dân Sự Pháp 1804 Bản Tiếng Việt, Hợp Đồng ủy Quyền Theo Pháp Luật Việt Nam, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Vấn Đề Mở Rộng Nguồn Của Pháp Luật Hình Sự Việt Nam, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Việt Nam, Pháp Luật Về Kiểm Soát Chuyển Giá ở Việt Nam, Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng Theo Pháp Luật Việt Nam, Đấu Thầu Quốc Tế Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam, Thừa Kế Thế Vị Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành, Xây Dựng Chế Định Pháp Luật Về Công Ty Hợp Vốn Đơn Giản ở Việt Nam, Hoàn Thiện Pháp Luật Về Giáo Dục Đại Học ở Việt Nam Hiện Nay, Bảo Hộ Chương Trình Máy Tính Theo Pháp Luật Việt Nam, Bảo Hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng Theo Pháp Luật Việt Nam, Tieu Luận Hệ Thống Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Báo Cáo Rà Soát Các Quy Định Của Pháp Luật Cạnh Tranh Việt Nam, Hoàn Thiện Pháp Luật Thi Hành án Dân Sự ở Việt Nam Hiện Nay, Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Căn Cứ Xác Định Hành Vi Hạn Chế Cạnh Tranh Theo Pháp Luật Việt Nam, Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Tiêu Chí Đánh Giá Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật ở Việt Nam Hiện, Nghị Quyết Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt N, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam,

Sách Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật

Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp Tndn 2022

Hệ Thống Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Gtgt (Word) ?? Web Viewhệ Thống Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế. Hệ Thốngcác Văn Bản Pháp Luật Về

Các Vấn Đề Về Thuế Nhà Thầu Cập Nhật Theo Văn Bản Pháp Luật Tháng 12/2018

Tổng Hợp Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Hiện Hành Về Thuế Xuất Nhập Khẩu

Hệ Thống Pháp Luật Các Án Lệ Việt Nam

Mẫu Sổ Nghị Quyết Chuyen Môn Tổ

Hệ Thống Sổ Sách Nhà Trường Thcs

Cách Viết Sổ Nghị Quyết Chi Bộ

Bộ Công Thương Báo Cáo Về Phương Án Tăng Giá Điện Theo Nghị Quyết Số 30/nq

Ý Kiến Đbqh Tp.cần Thơ: Về Đánh Giá Kết Quả Triển Khai Công Tác Cải Cách Hành Chính

Gọi đặt hàng 24/24 từ thứ 2 đến thứ 7: 0909 366 858

Nhà Sách Pháp Luật xin trân trọng giới thiệu cuốn” Hệ thống Pháp Luật Các Án Lệ và Các Nghị Quyết của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn áp dụng pháp luật về hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình trong công tác xét xử của tòa án nhân dân 2000 – 2022.

của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn áp dụng pháp luật về hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình trong công tác xét xử của tòa án nhân dân 2000 – 2022.

quả của quá trình nghiên cứu, , tạo thêm hành lang pháp lý cho Thẩm phán xem xét và áp dụng trong xét xử. Án lệ được công bố và áp dụng tại Việt Nam sẽ góp phần giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, công bằng, minh bạch để chất lượng xét xử ngày được nâng cao. Ngày 7/10/2018, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 199/QĐ-CA về việc công bố án lệ. Theo đó án lệ đã được ban hành kèm theo Quyết định này bao gồm: Án lệ số 17/2018/AL về tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” có đồng phạm; Án lệ số 18/2018/AL về hành vi giết người đang thi hành công vụ trong tội “Giết người”; Án lệ số 19/2018/AL về xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong tội “Tham ô tài sản” Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan

hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc; Án lệ số 21/2018/AL về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng cho thuê tài sản; Án lệ số 22/2018/AL về không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; Án lệ số 23/2018/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm; Án lệ số 24/2018/AL về di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân; Án lệ số 25/2018/AL về không phải chịu phạt cọc vì lý do khách quan; Án lệ số 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản. Trước đó, các án lệ từ 01 đến 16 đã được ban hành kèm theo các quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06-04-2016; Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17-10-2016; Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28-12-2017.

Nhằm giúp quý độc giả nắm bắt kịp thời, đầy đủ, chính xác và có hệ thống các văn bản nêu trên của Tòa án nhân dân tối cao. Tiến sĩ Trần Văn Hà bên Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học ­ Tòa án nhân dân tối cao đã biên soạn , Nhà xuất bản Thông Tin và Truyền Thông xuất bản cuốn sách. của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao

Nội dung cuốn sách gồm các phần chính sau đây:

Phần II. Tổng hợp các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động từ năm 2000 – 2022

Hy vọng rằng đây sẽ là tài liệu hữu ích để bạn đọc, đặc biệt là các thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, điều tra viên, các học viên tư pháp, luật sư và những người làm công tác, áp dụng trong thực tiễn xét xử.

Trân trọng giới thiệu cuốn sách đến bạn đọc.

Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24-04-2018 Hướng áp dụng Điều 66 và Điều 106 của Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện;

Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15-05-2018 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại tòa án nhân dân;

Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13-01-2017 Ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng hành chính;

Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-05-2017 Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án ;…

Để giúp các đơn vị hành chính, sự nghiệp, các cơ quan quản lý và đông đảo bạn đọc thuận tiện trong việc áp dụng tìm hiểu triển khai thực hiện, Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân tối cao về hình sự, dân sự, hành chính, thương, mại, hôn nhân và gia đình 2007-2018 – Sách Pháp Luật Bình Luận Bộ Luật

Ngoài ra cuốn sách còn in các văn bản pháp luật, chính sách pháp luật như sách, còn hiệu lực hoặc có thể vận dụng để bạn bạn đọc tham khảo và áp dụng trong công việc, Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân , là tài liệu thực sự cần thiết đối với lãnh đạo và cán bộ, công chức và người lao động của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể. Hy vọng cuốn sách này rất hữu ích cho các bạn có nhu cầu sử dụng. Sách đẹp, khổ 20*27 cm, dày 368 trang, Giá: 350.000đ. Nộp lưu chiểu quý II / 2022.

Công ty Sách Pháp Luật: Bán sỉ và lẻ Sách Bình LuậnChiết Khấu Cao có Hóa Đơn Tài chính, Sách chính hãng, giá rẻ uy tín chất lượng,Giao Sách sau 1 tiếng tại TP. HCM và TP. Hà Nội;

Địa chỉ: Phố . Đội Cấn, P. Cống Vị ,Q. Ba Đình. TP. HÀ NÔI

Chi Nhánh I : 282 Nam Kỳ Khởi Nghĩa , P7. Quận 3 TP. HCM

Website: http://sachphapluat.com.vn – Email: sachphapluatct@gmail.com

Bảo hành chính hãng

Vận chuyển Giao Sách tại địa chỉ theo yêu cầu

Miễn phí vận chuyển Giao hàng trong 24h

Gọi 0909 366 858 hoặc 0283 636 2182 liên hệ shop để mua với giá rẻ nhất

Thanh toán khi nhận hàng

Tổng Hợp 32 Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Toà Án Nhân Dân Tối Cao Trong Lĩnh Vực Dân Sự (Từ Năm 1990 Đến Tháng 9 Năm 2022)

Sách Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Giảm Đến 50% Tại Tp.hcm

Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Về Hình Sự, Dân Sự

Án Lệ Việt Nam Các Văn Bản Pháp Luật Tham Chiếu Và Một Số Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao

Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Về Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Kinh Tế, Lao Động Từ Năm 2007

Các Loại Văn Bản Pháp Luật Ở Việt Nam

Sơ Đồ Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật Việt Nam

Có Bao Nhiêu Bộ Luật Hình Sự

Mẫu Giấy Cam Kết Và Hướng Dẫn Chi Tiết

Google Cam Kết Tuân Thủ Pháp Luật Việt Nam

Google Cam Kết Tuân Thủ Pháp Luật, Bảo Vệ Người Dùng Việt Nam

Các Loại Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Có Mấy Loại, Văn Bản Pháp Luật Gồm Mấy Loại, Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, Có Những Loại Văn Bản Pháp Luật Nào, Văn Bản Pháp Luật Gồm Những Loại Nào, Có Bao Nhiêu Loại Văn Bản Pháp Luật, Các Loại Tài Sản Theo Quy Định Của Pháp Luật, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Là Gì Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Hiện Nay., Quản Trị Công Ty Luật Theo Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Đang Có Hiệu Lực Pháp Luật Là, Hãy Phân Tích Quan Hệ Pháp Luật Và Phân Loại, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Luật Pháp Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Pháp Việt Nam, Các Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Luật Hiến Pháp Việt Nam, Luật Dân Sự Pháp Tiếng Việt, Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Dân Sự Pháp Bản Tiếng Việt, Pháp Luật Việt Nam Về Công Ty Hợp Danh, Nhà Nước Và Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Luận Văn Pháp Luật Về Giao Đất Tại Việt Nam, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Dân Sự Pháp 1804 Bản Tiếng Việt, Hợp Đồng ủy Quyền Theo Pháp Luật Việt Nam, Vấn Đề Mở Rộng Nguồn Của Pháp Luật Hình Sự Việt Nam, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt, Pháp Luật Về Kiểm Soát Chuyển Giá ở Việt Nam, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Việt Nam, Xây Dựng Chế Định Pháp Luật Về Công Ty Hợp Vốn Đơn Giản ở Việt Nam, Thừa Kế Thế Vị Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành, Hoàn Thiện Pháp Luật Về Giáo Dục Đại Học ở Việt Nam Hiện Nay, Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Bảo Hộ Chương Trình Máy Tính Theo Pháp Luật Việt Nam, Bảo Hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng Theo Pháp Luật Việt Nam, Báo Cáo Rà Soát Các Quy Định Của Pháp Luật Cạnh Tranh Việt Nam, Tieu Luận Hệ Thống Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đấu Thầu Quốc Tế Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam, Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng Theo Pháp Luật Việt Nam, Hoàn Thiện Pháp Luật Thi Hành án Dân Sự ở Việt Nam Hiện Nay, Căn Cứ Xác Định Hành Vi Hạn Chế Cạnh Tranh Theo Pháp Luật Việt Nam, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Tiêu Chí Đánh Giá Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật ở Việt Nam Hiện, Nghị Quyết Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt N, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về , Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Phương Pháp Loại Bỏ Mangan, Phương Pháp Giải Bài Tập ăn Mòn Kim Loại, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Các Loại Tệ Nạn Xã Hội Phổ Biến Và Phương Pháp Phòng Chống, Đề án Hoàn Thiện Khung Pháp Lý Để Quản Lý Xử Lý Đối Với Các Loại Tài Sả, Luận Văn Thừa Kế Theo Di Chúc Theo Qui Định Của Pháp Luật Việt Nam, Thừa Kế Theo Di Chúc Theo Qui Định Của Pháp Luật Việt Nam, Hãy Kể Tên 5 Loại Thức ăn Của Vật Nuôi Được Dự Trữ Bằng Phương Pháp Làm , Viết Tắt Các Loại Văn Bản Đảng, Quy Định 6 Loại Đường Bộ Việt Nam, Khái Niệm 12 Từ Loại Tiếng Việt, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Văn Bản Sống Chết Mặc Bay Được Viết Theo Thể Loại Nào, Văn Bản Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Được Viết Theo Thể Loại Nào, Hệ Thống Phân Loại Đất Ngập Nước Việt Nam, Báo Cáo Kết Quả Qua Giám Sát Việc Tuân Thủ Hiến Pháp Và Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Xã, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Định Luật ôm Cho Các Loại Đoạn Mạch, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Hãy Phân Tích Rõ Hơn Về Việc Tiếng Việt Thuộc Loại Hình Ngôn Ngữ Đơn Lập, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết,

Các Loại Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Có Mấy Loại, Văn Bản Pháp Luật Gồm Mấy Loại, Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, Có Những Loại Văn Bản Pháp Luật Nào, Văn Bản Pháp Luật Gồm Những Loại Nào, Có Bao Nhiêu Loại Văn Bản Pháp Luật, Các Loại Tài Sản Theo Quy Định Của Pháp Luật, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Là Gì Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Hiện Nay., Quản Trị Công Ty Luật Theo Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Đang Có Hiệu Lực Pháp Luật Là, Hãy Phân Tích Quan Hệ Pháp Luật Và Phân Loại, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Luật Pháp Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Pháp Việt Nam, Các Văn Bản Pháp Luật ở Việt Nam, Luật Hiến Pháp Việt Nam, Luật Dân Sự Pháp Tiếng Việt, Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Dân Sự Pháp Bản Tiếng Việt, Pháp Luật Việt Nam Về Công Ty Hợp Danh, Nhà Nước Và Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Luận Văn Pháp Luật Về Giao Đất Tại Việt Nam, Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Bộ Luật Dân Sự Pháp 1804 Bản Tiếng Việt, Hợp Đồng ủy Quyền Theo Pháp Luật Việt Nam, Vấn Đề Mở Rộng Nguồn Của Pháp Luật Hình Sự Việt Nam, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt Nam, Đề Cương Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Việt, Pháp Luật Về Kiểm Soát Chuyển Giá ở Việt Nam, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Việt Nam, Xây Dựng Chế Định Pháp Luật Về Công Ty Hợp Vốn Đơn Giản ở Việt Nam, Thừa Kế Thế Vị Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành, Hoàn Thiện Pháp Luật Về Giáo Dục Đại Học ở Việt Nam Hiện Nay, Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam, Bảo Hộ Chương Trình Máy Tính Theo Pháp Luật Việt Nam, Bảo Hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng Theo Pháp Luật Việt Nam, Báo Cáo Rà Soát Các Quy Định Của Pháp Luật Cạnh Tranh Việt Nam, Tieu Luận Hệ Thống Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đấu Thầu Quốc Tế Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam, Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng Theo Pháp Luật Việt Nam, Hoàn Thiện Pháp Luật Thi Hành án Dân Sự ở Việt Nam Hiện Nay, Căn Cứ Xác Định Hành Vi Hạn Chế Cạnh Tranh Theo Pháp Luật Việt Nam, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình,

Các Văn Bản Pháp Luật Ở Việt Nam

Sách Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật

Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp Tndn 2022

Hệ Thống Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Gtgt (Word) ?? Web Viewhệ Thống Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế. Hệ Thốngcác Văn Bản Pháp Luật Về

Các Vấn Đề Về Thuế Nhà Thầu Cập Nhật Theo Văn Bản Pháp Luật Tháng 12/2018

Chương I : Các Luật Cờ Tướng Việt Nam Cơ Bản

Nếu Là Người Chơi Cờ Tướng Hay, Bạn Phải Biết 20 Nước Cờ Này

Quân Mã Trong Cờ Tướng, Hình Tượng, Vai Trò Và Cách Dùng

Các Nước Cản Trong Cờ Tướng Bạn Cần Biết

Tìm Hiểu Ý Nghĩa Các Quân Cờ Tướng

Cùng Tìm Hiểu Ý Nghĩa Của Các Quân Cờ Trong Cờ Tướng

CHƯƠNG I : Các luật cờ tướng Việt Nam cơ bản

Luậtcờ tướng Việt Nam hiện hành như sau:

I . Điều 1: MỤC ĐÍCH CỦA MỘT VÁN CỜ

Ván cờ được tiến hành giữa hai đấu thủ, một người cầm quân Trắng, một người cầm quân Đen. Mục đích của mỗi đấu thủ là tìm mọi cách đi quân trên bàn cờ theo đúng luật để chiếu bí Tướng (hay Soái) của đối phương, giành thắng lợi.

II . Điều 2: BÀN CỜ VÀ QUÂN CỜ

1. Bàn cờ:

– Bàn cờ tướng Việt Nam cũng theo khuôn mẫu bàn cờ tướng chung, đó là, bàn cờ là một hình chữ nhật do 9 đường dọc và 10 đường ngang cắt vuông góc tạ 90 điểm hợp thành. Một khoảng trống gọi là sông (hay hà) nằm ngang giữa bàn cờ, chia bàn cờ thành hai phần đối xứng bằng nhau. Mỗi bên có một cung Tướng hình vuông so 4 ô hợp thành tại các đường dọc 4, 5, 6 kể từ đường ngang cuối của mỗi bên, trong 4 ô này có vẽ 2 đường chéo xuyên qua ( Như hình ).

Bàn cờ và các khu vực trên bàn cờ

– Theo quy ước về in ấn, bàn cờ được đặt đứng. Bên dưới là bên Trắng (đi tiên), bên trên là ben Đen (đi hậu). Các đường dọc bên Trắng được đánh số từ 1 đến 9 từ phải qua trái. Các đường dọc bên Đen được đánh số từ 9 tới 1 từ phải qua trái.

2. Quân cờ:

– Mỗi ván cờ lúc bắt đầu phải có đủ 32 quân, gồm 7 loại chia đều cho mỗi bên gồm 16 quân Trắng và 16 quân Đen. 7 loại quân có ký hiệu và số lượng như sau (Như hình):

Quân cờ và tên gọi

– Quy định quân cờ Tướng chỉ có hai màu là Trắng và Đen. Các văn bản ghi chép đều thống nhất dùng hai màu này. Các loại quân cờ hiện nay được chơi có nhiều màu. Nếu là 2 màu Đỏ và Xanh thì Đỏ được coi là Trắng, Xanh là Đen. Còn với các màu khác thì quy ước màu nhạt là Trắng, màu sẫm là Đen.

– Trên sách báo, quân nào chữ đen trên nền trắng được gọi là quân Trắng, quân nào có chữ trắng trên nền đên được gọi là quân Đen.

– Đấu thủ cầm quân Trắng được đi trước

III . Điều 3: XẾP QUÂN KHI BẮT ĐẦU VÁN ĐẤU

– Khi bắt đầu ván đấu, mỗi bên phải xếp quân của mình theo quy định trên các giao điểm (như hình)

IV . Điều 4: ĐI QUÂN

Quân cờ được xếp tại các giao điểm và di chuyển từ giao điểm này sang giao điểm khác theo đúng quy định cho từng loại quân.

Nước đi dầu tiên của ván cờ thuộc bên Trắng, sau đó đến bên Đen và luân phiên thứ tự đó cho đến khi kết thúc ván cờ.

Mỗi nước đi, mỗi bên chỉ được di chuyển một quân đúng theo quy định.

Nếu đấu trực tiếp một ván thì phải bốc thăm chọn người đi trước. Nếu đấu hai hoặc nhiều ván thì bốc thăm quyết định người đi trước ván đầu, sau đó thay phiên nhau cầm quân Trắng, Đen. Thi đấu theo hệ vòng tròn, mỗi ván căn cứ vào số (còn lại là mã số, ấn định cho mỗi đấu thủ trước khi bắt thăm) cảu đấu thủ trong bảng để xác định ai là người được đi trước.

Thi đấu theo hệ Thụy Sĩ thì mỗi vòng đấu đều phải sắp xếp lại theo nhóm điểm, màu quân và bốc thăm theo quy định (xem chương VI)

Cách đi từng loại quân quy định như sau.

Tướng (hay Soái): mỗi nước được đi một bước ngang dọc tùy ý nhưng chỉ trong cung Tướng. Hai Tướng (Soái) không được đối mặt nhau trực tiếp trên cùng một đường thẳng. Nếu đối mặt, bắt buộc phải có quân cảu bất kỳ bên nào đứng che mặt.

Sĩ: Mỗi nước đi từng bước một theo đường chéo trong cung Tướng.

Tượng: Mỗi nước đi chéo hai bước tại trận địa bên mình, không được qua sông. Nếu ở giữa đường chéo đó có quân khác đứng thì quân Tượng bị cản, không đi được (xem hình)

Quân Tướng

Minh họa nước cản tượng :

Tượng trắng bị tướng trắng cản nên không thể đi đến điểm 4 mà chỉ có thể đi đến vị trí 1,2,3

Xe: Mỗi nước được đi dọc hoặc đi ngang, không hạn chế số bước đi nếu không có quân khác đứng cản đường.

Mã: Đi theo đường chéo hình chữ nhật của hai ô vuông liền nhau. Nếu ở giao điểm liền kề bước thẳng dọc ngang có một quân khác đứng thì Mã bị cản, không đi được (Như hình)

Minh họa nước cản mã :

Mã đen bị tướng trắng cản nên không thể đi đến vị trí 3,4, chỉ có thể đến vị trí 1,2,5,6,7,8

Pháo: Khi không bắt quân, mỗi nước đi ngang, dọc giống Xe; khi bắt quân đối phương thì trên đường đi giữa Pháo và quân bị bắt buộc phải có một quân khác bất kỳ đứng làm “ngòi”. Pháo không có ngòi hay có hai ngòi trở lên thì không được quyền bắt quân đối phương.

Tốt (Binh): Mỗi nước đi một bước. Khi chưa qua sông Tốt chỉ được tiến. Khi Tốt đã qua sông được quyền đi tiến và đi ngang, không được phép lùi.

V . Điều 5: BẮT QUÂN

Khi một quân đi tới một giao điểm khác đã có quân đối phương đứng thì được quyền bắt quân đó, đồng thời chiếm giữ vị trí quân bị bắt.

Không được bắt quân bên mình. Được phép cho đối phương bắt đầu quân mình hay chủ động hiến quân mình cho đối phương, trừ Tướng (Soái).

Quân bị bắt phải bị loại và bị nhấc ra khỏi bàn cờ.

VI . Điều 6: CHIẾU TƯỚNG

Quân của một bên đi một nước uy hiếp để nước tiếp theo chính quân đó hoặc quân khác bắt được Tướng (Soái) của đối phương thì gọi đó là nước chiếu tướng. Bên bị chiếu Tướng phải tìm cách chống đỡ ứng phó, tránh nước chiếu Tướng. Nếu không sẽ bị thua ván cờ. Khi đi nước chiếu Tướng, bên đi có thể hô “chiếu Tướng!”hay không cần hô cũng được. Tướng bị chiếu từ cả bốn hướng (bị chiếu cả từ phía sau)

Ứng phí với nước chiếu Tướng.

– Để không thua cờ, bên bị chiếu Tướng phải ứng phó theo các cách sau:

Di chuyển Tướng sang vị trí khác để tránh nước chiếu.

Bắt quân đang chiếu.

Dùng quân khác cản quân chiếu, đi quân che đỡ cho Tướng

Luật Cờ Tướng Luat Co Tuong Doc

Giải Vô Địch Cờ Tướng Nhanh Và Chớp Nhoáng Toàn Quốc Năm 2022

Những Luật Cơ Bản Trong Thi Đấu Cờ Tướng (Phần 2)

Nghệ Thuật Chơi Game Cờ Tướng Úp Cho Các Tân Thủ

Hướng Dẫn Cách Chơi Cờ Úp

Các Loại Nguồn Của Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay

Tìm Hiểu Ngành Nghề: Ngành Luật Thương Mại Quốc Tế Là Gì?

Obamacare Là Gì ? Quyền Lợi Của Chương Trình Obamacare

Obamacare “làm Chúng Ta Lâm Bệnh”

Tại Sao Đảng Cộng Hòa Ghét Obamacare?

Obamacare Là Gì? Mọi Điều Về Obamacare Nhất Định Phải Biết

“Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”; “nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các pháp luật, tức là những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”. Nói chung, các điều ước quốc tế do Việt Nam ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập thực tế vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật nước ta. Nó là nguồn nội dung trong trường hợp các quy định của nó được chuyển hóa thành các quy định trong các VBQPPL. Ví dụ, việc chúng ta gia nhập Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ ( ) đã dẫn đến việc ban hành Luật Bình đẳng giới trong đó có nhiều nội dung là sự cụ thể hóa các quy định của Công ước này. Nhiều quy định của các điều ước quốc tế khác đã được chuyển hóa thành các quy định trong các đạo luật của Việt Nam, nhất là khi chúng ta đã gia nhập WTO.

Điều ước quốc tế trở thành nguồn hình thức của pháp luật trong trường hợp nó được áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế. Việc áp dụng này đã được thừa nhận trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của nước ta.

Nói chung, trong lĩnh vực luật quốc tế thì điều ước quốc tế là nguồn cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất. Còn đối với pháp luật quốc gia, vai trò của điều ước quốc tế ngày càng quan trọng và có vị thế ngày càng cao hơn, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Điều đó được thể hiện rõ trong các quy định được nêu trong nhiều VBQPPL hiện hành của nước ta là: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì tuân theo các quy định của điều ước quốc tế đó”.

Phong tục tập quán

Có nhiều quan niệm khác nhau về phong tục tập quán, song dưới góc độ coi nó là một dạng quy phạm xã hội thì có thể hiểu phong tục tập quán là những cách ứng xử hay những thói quen ứng xử hoặc những quy tắc xử sự chung được hình thành một cách tự phát trong một cộng đồng dân cư nhất định, được bảo đảm thực hiện bằng thói quen, bằng sức thuyết phục của chúng, bằng dư luận xã hội và có thể bằng cả một số biện pháp cưỡng chế phi nhà nước.

Theo quan niệm trên thì tất cả các loại tập quán như tập quán thông thường, tập quán chung, tập quán pháp luật và tập quán địa phương đều có thể trở thành nguồn của pháp luật.

Phong tục tập quán vừa có thể là nguồn nội dung, vừa có thể là nguồn hình thức của pháp luật. Những phong tục tập quán tiến bộ, tốt đẹp, phù hợp với ý chí của Nhà nước, được Nhà nước thừa nhận sẽ trở thành nguồn nội dung của pháp luật. Ví dụ, việc Nhà nước thừa nhận phong tục ăn Tết Nguyên đán, phong tục Giỗ tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 âm lịch đã dẫn đến quy định cho phép người lao động, cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên… được nghỉ làm việc, học tập trong những ngày này.

Ngoài ra, trong một số lĩnh vực, các quy tắc và quan niệm đạo đức chính thống, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng có thể trở thành nguồn nội dung của pháp luật. Các quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con cái, của ông bà và các cháu, của vợ và chồng, của các thành viên khác trong gia đình với nhau trong pháp luật hôn nhân và gia đình là sự thể chế hóa các quan niệm đạo đức truyền thống, là sự thừa nhận các quy tắc đạo đức thịnh hành trong xã hội;…

Ngược lại, có những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu, phản tiến bộ khiến Nhà nước ban hành VBQPPL nhằm xóa bỏ, loại trừ dần chúng khỏi đời sống xã hội. Ví dụ, sự tồn tại của phong tục đốt pháo gây lãng phí tiền bạc, tai nạn thương tâm dẫn đến việc Nhà nước ban hành quy định cấm sản xuất và đốt pháo để loại trừ phong tục này.

Phong tục tập quán là nguồn hình thức của pháp luật trong những trường hợp nó được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế. Việc thừa nhận phong tục tập quán là nguồn hình thức của pháp luật đã được thể hiện cụ thể trong một số đạo luật của nước ta. Ví dụ, Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán;… Tập quán… không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”; hoặc theo Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì, “trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”.

Trong loại nguồn này còn bao gồm cả các tập quán quốc tế đã được thừa nhận và áp dụng tại Việt Nam như các tập quán thương mại quốc tế.

Nói chung, phong tục tập quán chỉ được coi là nguồn thứ yếu của pháp luật Việt Nam bởi các quy định của nó chủ yếu tồn tại dưới dạng bất thành văn nên thường chỉ được hiểu một cách ước lệ, thiếu rõ ràng, cụ thể, khó bảo đảm cho việc hiểu và áp dụng thống nhất trong phạm vi rộng. Song, ưu điểm của phong tục tập quán là hình thành từ thực tiễn cuộc sống, từ những thói quen ứng xử hàng ngày nên rất gần gũi với nhân dân và thường được nhân dân tự giác thực hiện. Vì vậy, phong tục tập quán có thể góp phần bổ sung cho chỗ thiếu của pháp luật, khắc phục những lỗ hổng của pháp luật nên cần được tiếp tục sử dụng cùng với các VBQPPL. Điều cần thiết hiện nay là phải có hình thức xác định cụ thể những tập quán được Nhà nước thừa nhận để bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và bảo đảm công bằng xã hội.

Án lệ hay các quyết định, bản án của tòa án

Theo Từ điển Black’s Law thì, án lệ (pcedent) có hai nghĩa:

Trong pháp luật, án lệ là một vụ việc đã được xét xử hoặc quyết định của toà án được xem như sự cung cấp quy định hoặc quyền lực cho quyết định của một vụ việc giống hoặc tương tự xảy ra về sau, hoặc cho một vấn đề tương tự của pháp luật, hoặc khi nếu các sự kiện là khác nhau thì nguyên tắc chi phối vụ việc đầu tiên có thể áp dụng được cho các sự kiện khác nhau chút ít.

Một án lệ là một quyết định của toà án chứa đựng trong nó một nguyên tắc. Nguyên lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của nó thường được gọi là nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể. Một quyết định cụ thể là bắt buộc đối với các bên, nhưng nó là bản tóm tắt của nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể mà chỉ có nó có hiệu lực pháp luật.

Cũng có thể nói một cách khái quát là, một vụ việc trở thành án lệ vì quy định chung như vậy là cần thiết đối với quyết định thực tế có thể được đưa ra là sự biến dạng trong những trường hợp phụ.

Thường cũng có thể chấp nhận, tôn trọng một án lệ không phải bởi nó bao quát một logic ổn định mà bởi từ các phần của nó có thể nảy sinh ra ý tưởng về mẫu mới của quyết định”[6].

Từ điển này còn giải thích: án lệ bắt buộc là án lệ mà toà án bắt buộc phải tuân theo, ví dụ, toà án cấp thấp hơn bị giới hạn bởi một cách áp dụng của một toà án cấp cao hơn trong một vụ xét xử tương tự. Án lệ để giải thích là án lệ chỉ có thể được áp dụng cho một quy định pháp luật hiện đã có rồi. Án lệ gốc là án lệ tạo ra và áp dụng một quy định mới của pháp luật. Án lệ có sức thuyết phục là một án lệ mà toà án có thể hoặc là tuân theo hoặc là từ chối, nhưng điều khoản của nó phải được tôn trọng và cân nhắc cẩn thận.

Từ quan niệm trên, có thể hiểu án lệ là quyết định hoặc lập luận, nguyên tắc hoặc sự giải thích pháp luật do toà án đưa ra khi giải quyết một vụ việc cụ thể được nhà nước thừa nhận làm mẫu hoặc làm cơ sở để toà án dựa vào đó đưa ra quyết định hoặc lập luận để giải quyết vụ việc khác xảy ra về sau có nội dung hoặc tình tiết tương tự. Án lệ được coi là nguồn của pháp luật cũng bao gồm nhiều loại như: án lệ bắt buộc, án lệ để giải thích, án lệ gốc.

Án lệ là loại nguồn rất quan trọng của pháp luật ở các nước thuộc hệ thống thông luật. Nó có một số ưu điểm sau: đề cập đến các vụ việc đã xảy ra trong thực tế mà không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, vì vậy, nó thường phong phú và đa dạng hơn pháp luật thành văn; góp phần bổ sung cho những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn và khắc phục được tình trạng thiếu pháp luật; tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được dễ dàng, thuân lợi hơn. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, án lệ vẫn chưa được thừa nhận một cách chính thức; song, nếu theo tinh thần của Nghị quyết số 48 thì trong tương lai gần, án lệ có thể được coi là một trong các nguồn hình thức của pháp luật nước ta. Vấn đề cần phải nghiên cứu ở nước ta hiện nay là những bản án loại nào và của toà nào có thể trở thành án lệ? Chủ thể, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thừa nhận nó ra sao? Nếu một bản án được thừa nhận là án lệ thì phần nào trong bản án sẽ bị bắt buộc phải tuân theo hoặc phải tôn trọng? Đây là những câu hỏi mà các nhà chuyên môn, các nhà hoạt động thực tiễn phải trả lời. Theo chúng tôi, đó nên là các bản án của Toà án nhân dân tối cao.

Quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp

Loại nguồn dự kiến này mới chỉ được đề cập đến trong Nghị quyết số 48 nói trên mà dường như chưa có tiền lệ ở Việt Nam và cũng chưa được thừa nhận chính thức về mặt Nhà nước. Chỉ mới có quy định của các tổ chức chính trị – xã hội là đã được thừa nhận một cách gián tiếp trong một số văn bản. Ví dụ, Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2003) đã thừa nhận một cách gián tiếp rằng quy định của các tổ chức chính trị – xã hội cũng có thể được thừa nhận là một trong các nguồn hình thức của pháp luật thông qua việc thừa nhận những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội cấp xã… cũng là cán bộ, công chức. Theo đó, những cán bộ, công chức thuộc loại này nếu vi phạm kỷ luật của các tổ chức đó thì khi xử lý họ, quy định của các tổ chức đó cũng sẽ được viện dẫn và áp dụng.

Đối với các quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp thì vấn đề cần làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn là quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp nào có thể được thừa nhận là một trong các loại nguồn của pháp luật? Đó là những quy tắc điều chỉnh những quan hệ xã hội nào, về những vấn đề gì? Nói chung, đây là vấn đề khá mới mẻ, cần phải được cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định thừa nhận nó là một trong các loại nguồn của pháp luật nước ta.

Nguồn Của Luật Hành Chính Là Gì? Phân Loại Nguồn Luật Hành Chính?

Nguồn Của Pháp Luật Là Gì? Các Loại Nguồn Của Pháp Luật

Đại Học Kiểm Sát Có Những Ngành Gì? Có Nên Học Ở Đây Hay Không?

Tính Chất Hoạt Động Của Nghề Luật Sư

Nghề Luật Và Nghề Luật Sư

Hình Luật Việt Nam Qua Các Chặng Đường Lịch Sử (I)

Thi Công Nhà Phố Tân Bình

Cách Đọc Địa Chỉ Nhà, Nguyên Tắc Đánh Số Hẻm, Số Nhà Và Cách Ghi Đúng

Chế Độ Dưỡng Sức Sau Sinh: Điều Kiện, Mức Hưởng Và Thủ Tục

Thời Gian Nghỉ Dưỡng Sức, Phục Hồi Sức Khỏe Sau Ốm Đau, Thai Sản

Khi Nào Được Nghỉ Dưỡng Sức Sau Ốm Đau Và Trở Lại Làm Việc Sau Nghỉ Ốm ?

Phần 1 – HÌNH LUẬT VIỆT NAM TRƯỚC THỜI NGUYỄN

Xét về cổ luật ở nước ta, có tác giả viện dẫn một đoạn trong sách Hậu Hán Thư do Phạm Việp soạn vào thế kỷ thứ V, dịch nghĩa như sau: “(Mã Viện) có điều trần tâu lên luật của người Việt so sánh với luật Hán hơn 10 điều. Rồi ban bố rõ phép cũ cho người Việt biết, để bó buộc dân Việt. Từ đó về sau, dân Lạc Việt phải tuân theo phép cũ của Mã Viện” (Tạp chí Đại học – số 7 – Sài Gòn – tháng 1.1959, trang 89) – (Vũ Văn Mẫu – Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử – Quyển thứ nhất – Sài Gòn 1973 – trang 126)

Chi tiết này khiến nhiều người tin rằng từ thời Hai bà Trưng trở về trước, dân ta đã có bộ luật riêng, song cũng có người đưa ra nhiều luận cứ bác bỏ hoặc hoài nghi về tính xác thực của giả thuyết này. Dù sao, đây cũng là một chi tiết thú vị dành cho các nhà nghiên cứu Hán-Nôm về cổ luật Việt Nam.

Sau thời Trưng vương, trong gần 900 năm Bắc thuộc, sinh hoạt ở nước ta bị chi phối bởi hai bộ luật:

– Luật nhà Hán do Tiêu Hà soạn dưới thời Hán Cao Tổ (206-194 trước CN), dựa vào bộ Pháp Kinh do Lý Khôi thảo ra từ thời Chiến quốc (403-232 trước CN)

– Luật nhà Đường (618-907) có tên Đường Luật Sớ Nghị, do Phòng Huyền Linh và Trường Tôn Vô Kỵ soạn dưới đời vua Đường Cao Tổ, dựa vào bộ luật do Tô Uy soạn dưới đời Tùy (589-617)

Sau khi nước ta giành lại được nền độc lập lâu dài, nhà Đinh tiếp nối nhà Ngô đã ban hành những điều luật hết sức nghiêm khắc để trừng trị kẻ phạm tội như bỏ vào vạc dầu sôi, thả vào chuồng thú cho cọp xé xác… Điều này thể hiện quyết tâm củng cố uy quyền của Đinh Bộ Lĩnh, đồng thời để ngăn ngừa sự trỗi dậy của những sứ quân đã bị ông đánh dẹp.

Bộ luật có qui củ đầu tiên của nước ta có lẽ là bộ Hình thư, được ban hành năm 1042, đời vua Lý Thái Tông (1028-1054). Sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1782-1840) đã viết về Hình thư như sau: “Buổi đầu , trong việc hình ngục, kiện cáo phiền nhiễu, pháp quan câu nệ luật văn, chuộng sự nghiêm khắc, phần nhiều oan uổng sai phạm. Thái Tông thường lấy làm thương dân, mới sai quan Trung thư sửa định luật lệnh, tham chước những điều thông dụng trong thời ấy, chia làm môn loại, chép rõ điều mục, thành bộ Hình thư của một đời để cho nhà người xem dễ hiểu. Sách làm xong, có chiếu ban hành, nhân dân lấy làm tiện. Đến đó, phép xử tội tất rõ ràng” ( Sđd – Tập II – NXB Khoa học Xã hội- Hà Nội 1992, trang 288).

Đáng tiếc là bộ Hình thư cũng chung số phận với hầu hết sách vở của ta soạn trước thời Lê, đều bị quan quân nhà Minh tịch thu và chở hết về Kim Lăng vào thập niên đầu thế kỷ XV. Để biết được chút ít về bộ luật này, phải dựa vào những bộ sách khác. Năm 1230, nhà Trần cho soạn sách Quốc Triều Hình Luật, dựa vào các lệ đời trước để làm. Sách “Cố Sự Sao” nhận định: “Hình pháp nhà Trần rất tàn khốc, kẻ ăn trộm và kẻ trốn tránh thì bị chặt ngón chân, giao cho người (sự chủ) được thỏa ý (xử trị) hoặc cho voi giày chết” (Phan Huy Chú – sđd – trang 290). Đời Trần Dụ Tông (1341-1369), hai đại thần Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn được lệnh soạn bộ Hình Luật Thư, nay cũng không còn.

Đến thời Lê, đã có nhiều điều kiện để tìm hiểu về luật pháp, vì đã giành lại nền độc lập sau 10 năm kháng chiến và đẩy lùi quân phương Bắc. Thời kỳ cực thịnh về hành chánh và pháp luật kéo dài 70 năm (1428-1497), trải qua các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, và nhất là đời Lê Thánh Tông. Năm 1428, Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi với niên hiệu Thuận Thiên, đặt ra những luật lệ mới, chủ yếu dựa vào luật nhà Đường, chia hình phạt ra làm ngũ hình (5 loại hình phạt): xuy (phạt bằng roi), trượng (phạt bằng gậy), đồ (làm việc nặng nhọc), lưu (đi đày), tử (xử tử). Năm sau (1429), nhà vua ban hành một điều luật khác: “…Đánh bạc thì chặt bàn tay 5 phân, đánh cờ thì chặt bàn tay 2 phân. Lại còn những kẻ vô cớ không phải việc công mà họp nhau uống rượu thì bị 100 trượng, kẻ dung túng thì tội giảm một bậc …” (Phan Huy Chú – sđd – trang 292).

Tuy nhiên, phải đợi đến đời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức, bộ hình luật tiến bộ và đầy đủ nhất thời đó mới ra đời với cái tên “Quốc triều Hình luật”, về sau, các nhà nghiên cứu gọi ngắn gọn là luật Hồng Đức. Bộ luật này dựa phần nào các bộ luật đời Tùy, Đường, có trên 700 điều, được Phan Huy Chú đánh giá là “cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân” (LTHCLC). Sau thời kỳ Hồng Đức, giai đoạn nhiễu nhương của xã hội Đại Việt kéo dài gần 300 năm, khởi đầu từ việc Mạc Đăng Dung soán ngôi vua Lê đến thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh và cuối cùng là sự kết thúc của triều đại nhà Lê (1788). Trong những điều kiện như vậy, luật lệ không được chú trọng đúng mức, nhiều trường hợp cần sửa đổi cho phù hợp với hiện trạng xã hội, song họ Trịnh ở phương Bắc và họ Nguyễn ở phương Nam bận đối phó nhau nên xao lảng việc củng cố sinh hoạt xã hội thông qua luật lệ. Nói chung, trong suốt thời nhà Lê kéo dài 360 năm (1428-1788), bộ luật Hồng Đức là văn kiện pháp lý cơ bản nhất.

Tính nhân bản nổi bật trong tinh thần bộ luật Hồng Đức thể hiện qua những hình phạt qui định cho các tội bất hiếu (chửi rủa ông bà, cha mẹ, không tuân lệnh cha mẹ…), tội loạn luân (thông dâm với thân thuộc từ hàng thứ tư trở lên, hoặc với tỳ thiếp của cha hay của ông) … Trong xã hội phong kiến nặng tinh thần trọng nam khinh nữ, coi thường những quyền lợi chính đáng của người phụ nữ, thì bộ luật thời Lê Thánh Tông dành cho phái nữ sự đối xử tương xứng hơn. Những bất công nặng nề được nhà vua lưu ý và chỉnh sửa bằng luật pháp. Trong một chỉ dụ, nhà vua nêu rõ những qui định về việc cưới hỏi để bảo vệ quyền lợi những phụ nữ sắp về nhà chồng. Khi đã làm lễ hỏi rồi thì không được để đến ba bốn năm sau mới rước dâu. Trong 24 điều luật phổ biến trong dân, vua Lê Thánh Tông đề ra những khoản khá tiến bộ (so với thời đó), trong quan hệ vợ chồng, nhất là trong việc bảo vệ người phụ nữ, ví dụ như:

– Điều 3: vợ chồng cần kiệm làm ăn, ân nghĩa trọn vẹn, duy chỉ có khi nào người vợ phạm tội thất xuất thì mới được bỏ, chứ không được khiên ái, cẩu dung, làm hại đến phong hóa.

– Điều 17: Các hàng quán bên đường có phụ nữ đi xa đến trọ thì phải phòng giữ. Nếu để hà hiếp ô nhục người ta, việc phát giác ra thì người phạm tội và người chủ nhà đều phải trị tội cả. (Trần Trọng Kim – Việt Nam Sử Lược – NXB Văn Học – Hà Nội-2012, trang 267-268).

Tuy nhiên, tiến bộ hơn cả là những quy định có tính răn đe, trừng trị những hành vi sách nhiễu dân chúng, quan lại câu kết nhau để làm điều sai quấy:

“Năm thứ 8 (1477), sắc dụ rằng các quan Thừa (ty), Hiến (ty), phủ huyện các xứ, về những việc thường xảy ra ở dân gian, như đại hạn mà không đảo vũ, ngập lụt mà không khơi nước, việc lợi mà không làm ngay, việc hại mà không trừ ngay, thì xử tội lưu. Lại định luật cấm giao thông, phàm quan võ văn nếu là người thân thích của (các võ quan), hai vệ (Cẩm) y, Kim (ngô) mà tìm cớ tặng biếu, đi lại ăn uống, thì kẻ cầu giao hảo, và người cùng giao hảo đều bị bắt giao cho Đình úy xử trị. Quan ở ngoài mà giao thông với quan trong nội thì xử chém. Quan có trách nhiệm mà không tra xét nếu ra thì xử tội lưu.

” Năm thứ 19 (1488), có chiếu định kỳ hạn (xử) việc kiện nhỏ là 5 ngày, việc kiện lớn là 10 ngày…” (Phan Huy Chú – sđd)

Hoặc:

Điều 13- (trong hai điều kể trên):

Quan dân đều phải hiếu đễ và chăm chỉ làm ruộng, cùng giúp đỡ lẫn nhau, khi đi làm việc quan không được trễ biếng, trốn tránh

Điều 22 – Những người làm quan phủ, huyện mà biết khuyên bảo dân gian làm điều lễ nghĩa khiêm nhường, có quan Thừa chính, Hiến sát xét thực thì được cho vào hạng tốt, nếu ai không chăm dạy bảo dân thì cho là người không xứng chức

(Trần Trọng Kim – sđd – trang 268-269)

Điều đáng nhấn mạnh ở đây là dưới triều Lê, vào đầu thế kỷ XVIII, lần đầu tiên nước ta có một bộ luật tố tụng riêng. Đó là bộ Quốc Triều Khán Tụng Điều Lệ hay Quốc Triều Từ Tụng Điều Lệ gồm tất cả 31 chương. Điều này ngay cả luật pháp Trung Quốc thời đó cũng chưa từng có. Trong tác phẩm Dân Luật Khái Luận, giáo sư Vũ Văn Mẫu đã nhận định rằng nền luật pháp triều Lê là một phản ành trung thực của xã hội Việt Nam. Do phù hợp với các điều kiện xã hội và tôn giáo đương thời, bộ luật này tác động rất mạnh lên sinh hoạt của xã hội. Các điều khoản của nó còn để lại dấu ấn trong nhiều phong tục của ta về hôn nhân, gia đình sau này.

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đáng ghi nhận, vẫn còn có một vài điều đáng chê trách, tiêu biểu là những quy định về việc dùng tiền chuộc tội. Theo luật thời đó, người bị tội trượng có thể bỏ ra từ 1 đến 5 tiền để chuộc, tùy người phạm tội là quan hay dân, địa vị càng cao, nộp tiền chuộc càng nhiều, ví dụ để giảm được một trượng, thường dân phải nộp 1 tiền, còn quan lại hàm tứ phẩm phải nộp 4 tiền. Xem như thế có thể thấy, ngay cả trong tệ đoan này, sự cư xử với người phạm tội cũng có phần công bằng và hợp lý, người hiểu biết rộng, có địa vị cao trong xã hội thì khi phạm tội, bị xử nặng và chuộc tội nhiều tiền hơn người dân thường, nghèo hơn và ít hiểu biết hơn. Nhiều tội hình khác cũng được dùng tiền để chuộc, ngay cả với tội giết người. Ở tội này, quan nhất phẩm phải đền mạng đến 15.000 quan tiền, còn thường dân chỉ đền 150 quan…

Đến đời chúa Trịnh Tạc (1657-1682), quy định về việc dùng tiền chuộc tội bị bãi bỏ.

14 Quy Định Của Luật Giao Thông Đường Bộ 2022 Ai Cũng Cần Biết

Vi Phạm Luật Giao Thông Đường Bộ

Luật Giao Thông Đường Sắt

Tải Luật Đường Sắt 2022 Hiện Nay

Luật Đường Sắt Hiện Nay

Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Luật Lao Động Việt Nam

50 Điểm Mới Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp: Nhiều Đổi Mới Chính Sách Đối Với Người Học

Điều Kiện Thành Lập Hoạt Động Giáo Dục Nghề Nghiệp

Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp Đã Sửa Đổi, Bổ Sung, Bãi Bỏ Những Điều Khoản Nào Của Luật Giáo Dục?

Lại “kiến Nghị Khẩn” Về Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp

Thanh Tra Chấp Hành Các Quy Định Của Pháp Luật Về Giáo Dục Nghề Nghiệp

44844

Khái niệm: Nguyên tắc cơ bản của Luật lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật Lao động trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về Lao động .

Cơ sở hình thành: các nguyên tắc cơ bản của luật lao động được hình thành từ những cơ sở

– Các quan điểm , tư tưởng đường lối mang tính chất định hướng , chỉ đạo về lĩnh vực Lao động, sử dụng Lao động , bảo vệ Lao động , thực hiện quan hệ lao động trong các nội dung, nghị quyết tại các cuộc họp Đại hội, Hội nghị của Đảng và Nhà nước.

– Các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật và văn bản dưới luật

– Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa về kinh tế-xã hội trong đó có cả lĩnh vực lao động Mỗi một ngành luật độc lập đều có những nguyên tắc cơ bản cụ thể, ví dụ như bộ luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật thương mại, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hành chính, luật đất đai ,….. Đều có những nguyên tắc cụ thể.

Nếu như luật dân sự bao gồm 5 nguyên tắc là nguyên tắc bình đẳng( Khoản 1 Điều 3 BLDS 2022); nguyên tắc tự do cam kết thỏa thuận (Khoản 2 Điều 3 BLDS 2022); nguyên tắc thiện chí trung thực (Khoản 3 Điều 3 BLDS 2022); nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Khoản 4 Điều 3 BLDS 2022) và nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự (Khoản 5 Điều 3 BLDS 2022).

Thì luật thương mại cũng bao gồm 6 nguyên tắc sau: Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại; Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại; Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên; Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại; Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng; Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại

Hay luật hình sự cũng có 5 nguyên tắc cơ bản, đó là nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc hành vi và nguyên tắc có lỗi, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm dân sự

Luật đất đai bao gồm 5 nguyên tắc: nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu, nguyên tắc thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, nguyên tắc sử dụng đất đai một cách hợp lý, tiết kiệm, cải tạo và bồi bổ đất đai, nguyên tắc quan tâm đến lợi ích của người sử dụng đất, nguyên tắc ưu tiên bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp.

2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật lao động

Và cũng tương tự các ngành luật trên, luật lao động bao gồm 5 nguyên tắc cơ bản, đó là:

a) Nguyên tắc bảo vệ người lao động

– Đảm bảo quyền được tự do làm việc , nơi làm việc của người lao động

+ Vấn đề tự do việc làm, nơi làm việc là một trong những nội dung mà nhà nước, pháp luật quan tâm, vừa mang tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài trong chính sách phát triển của đất nước

+ Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ đảm bảo về mặt pháp lý cho người lao động trong phạm vi , khả năng, nguyện vọng của mình, có cơ hội để tìm kiếm việc làm, có quyền làm việc, quyền lựa chọn công việc để làm phù hợp với nhu cầu , khả năng của bản thân với điều kiện sinh hoạt, điều kiện sống của bản thân và gia đình , phát huy hết những tố chất , khả năng từ đó đảm bảo năng suất chất lượng và hiệu quả công việc

– Đảm bảo về thu nhập cho người lao động

+ Trong nền KTTT hiện nay, pháp luật không quy định mức tiền lương mà người sử dụng lao động trả cho người lao động mà tạo điều kiện cho các chủ thể thỏa thuận với nhau trên cơ sở ý chí của các bên , thời gian, năng suất , hiệu quả công việc

+ Nội dung: thể hiện rất rõ ở chỗ pháp luật quy định về việc trả lương như trả lương trên cơ sở thỏa thuận của các bên nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu , trả lương làm thêm giờ, trả lương đầy đủ và đúng thời hạn,…..

– Đảm bảo an toàn vệ sinh cho người lao động trong quá trình làm việc

– Đảm bảo quyền được nghỉ ngơi cho người lao động

+ Nghỉ ngơi là một quyền không thể thiếu của người lao động, do đó pháp luật luôn quan tâm đến quyền nghỉ ngơi này nhằm đảm bảo cho người lao động tái sản xuất sức lao động, duy trì ổn định sức lao động, duy trì quan hệ lao động, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên

+ Nội dung: bao gồm nghỉ được hưởng lương, nghỉ không được hưởng lương, nghỉ theo thỏa thuận với người sử sụng lao động,

– Đảm bảo quyền được gia nhập, thành lập tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật

– Đảm bảo thực hiện bảo hiểm xã hội cho người lao động

+ Thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động có ý nghĩa thiết thực, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động. Khắc phục được khó khăn, tạo tâm lý an toàn và tăng hiệu quả trong sản xuất kinh doanh khi người lao động gặp các rủi ro

+ Nội dung thể hiện ở chỗ các chủ thể đều phải tham gia đóng góp. Do đó để bảo đảm quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, luật lao động không chỉ quy định quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm mà còn quy định trách nhiệm của nhà nước, của các đơn vị sử dụng lao động trong việc đóng góp và thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động, không được có sự phân biệt đối xử trong việc thực hiện bảo hiểm. Nếu thực hiện Bảo hiểm mà không đảm bảo đúng theo quy định thì cũng có quyền yêu cầu cơ quan tổ có thẩm quyền để bảo vệ cho người lao động

– Đảm bảo quyền được đình công và các quyền khác của người lao động

+ Đình công là một trong những quyền tất yếu của người lao động được pháp luật quy định và bảo vệ

+ Quyền được đình công là quyền của tập thể người lao động đấu tranh để đảm bảo các lợi ích thông qua việc tập thể người lao động ngừng việc trong một thời gian nhất định, đưa ra những yêu cầu buộc người sử dụng lao động phải chấp nhận

+ Trong quá trình khai thác sử dụng sức lao động, nếu xảy ra các xung đột về quyền, nghĩa vụ thì tập thể người lao động cũng có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết để bảo vệ những lợi ích đó. Trường hợp có sự thiệt hại thì cũng có quyền yêu cầu được bồi thường

b) Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật lao động. Bởi lẽ, người sử dụng lao động là một bên của quan hệ lao động, cùng với việc bảo vệ người lao động, không thể không tính đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.

Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định: ” công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”, và Điều 58 Hiến pháp cũng quy định là công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác. Nếu như người lao động có quyền tự do lựa chọn việc làm, được hưởng các quyền lợi trong lao động, thì người sử dụng lao động trong bất kỳ thành phần kinh tế nào cũng có quyền tuyển chọn lao động, quyền tăng hoặc giảm lao động phù hợp nhu cầu sản xuất, kinh doanh, quyền ban hành nội quy và các quy chế lao động, có quyền khen thưởng, kỷ luật, chấm dứt hợp đồng lao động v.v… theo quy định của pháp luật. Nếu tài sản của người sử dụng lao động bị người lao động làm thiệt hại thì họ có quyền yêu cầu được bồi thường. Người sử dụng lao động cũng có quyền phối hợp với tổ chức Công đoàn trong quá trình sử dụng lao động để quản lý lao động dân chủ và hiệu quả; có quyền thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể trong đơn vị cho phù hợp với tình hình sản xuất, kinh doanh và khả năng kinh tế, tài chính của đơn vị mình.

Trong quá trình hoạt động, người sử dụng lao động có quyền tham gia các tổ chức của người sử dụng lao động. Nếu các quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm thì họ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ cho mình.

c) Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội

Quan hệ lao động vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội. Khi điều tiết quan hệ lao động, Nhà nước phải chú ý đến các bên trong quan hệ này, nhất là người lao động, về tất cả các phương diện như: lợi ích vật chất, tinh thần, nhu cầu xã hội v. v… và đặt những vấn đề đó trong mối tương quan phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định: ” phải có chính sách xã hội là động lực để phát triển kinh tế, nhưng đồng thời phải có chính sách kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện chính sách xã hội”. Như vậy, bên cạnh mục tiêu kinh tế như lợi nhuận, tiền lương, sự tăng trưởng trong sản xuất, kinh doanh, Luật lao động phải giải quyết các vấn đề xã hội như: việc làm, công bằng, dân chủ, tương trợ cộng đồng ngay trong quá trình lao động, ngay tại các doanh nghiệp. Nếu pháp luật lao động tách rời hoặc coi nhẹ chính sách xã hội thì sẽ không hạn chế được những tiêu cực của cơ chế thị trường; ngược lại, nếu coi trọng các vấn đề xã hội quá mức so với điều kiện kinh tế thì sẽ không có tính khả thi. Ở tầm vĩ mô, Chính phủ có sự hỗ trợ về tài chính cho những địa phương, ngành có nhiều người thiếu việc làm, hoặc mất việc làm do thay đổi cơ cấu công nghệ. Pháp luật lao động cũng có những ưu tiên về vay vốn, giảm thuế cho những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động tàn tật, lao động nữ để giải quyết các vấn đề xã hội và đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Quán triệt nguyên tắc này, pháp luật lao động đã góp phần quan trọng bảo vệ người lao động, khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp nhằm tăng trưởng kinh tế đất nước, xây dựng xã hội công bằng và văn minh

d) Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

e) Nguyên tắc tự do lựa chọn việc làm và tuyển dụng lao động

Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm chủ trương của đảng là:xây dựng hệ thống pháp luật về lao động và thị trường sức la động nhằm đảm bảo quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao động ,thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động,đảm bảo quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động.

Về mặt nội dung của nguyên tắc này hiểu theo nghĩa chung nhất, khi một công dân có nhu cầu tham gia thị trường lao động thì pháp luật phải đảm bảo cho công dân có toàn quyền lựa chọn tư cách tham gia:là người lao động hay người sử dụng lao động. Với tư cách là người lao động điểm a khoản 1 điều 5 bộ luật lao động 2012 đảm bảo họ có quyền: làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử. Còn với tư cách người sử dụng lao động điểm a khoản 1 điều 6 bộ luật lao động 2012 quy định họ có quyền:tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh.Như vậy người sử dụng lao động có quyền quyết định về thời điểm, cách thức tổ chức, số lượng, chất lượng… tuyển dụng lao động và sau đó có quyền sắp xếp, bố trí, sử dụng lao động, chấm dứt quan hệ lao động… theo nhu cầu của đơn vị và không trái quy định của pháp luật.

Như vậy luật lao động bên cạnh các đối tượng điều chỉnh riêng, phương pháp điều chỉnh riêng thì luật lao động cũng có hệ thống các nguyên tắc hoạt động riêng không giống với nguyên tắc của luật dân sự, thương mại hay luật hành chính. Do đó nguyên tắc cơ bản đã góp phần làm rõ quan điểm luật lao động là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Cổng Tổng Cục Giáo Dục Nghề Nghiệp

Đặc Trưng Cơ Bản Và Nguyên Tắc Chuẩn Hóa Trong Giáo Dục Nghề Nghiệp

Toàn Văn Dự Thảo Luật Giáo Dục Năm 2022 ” Tài Liệu Miễn Phí Cho Giáo Viên, Học Sinh.

Quy Định Về Dạy Thêm Học Thêm 2022

Quy Định Về Mở Lớp Dạy Thêm, Trung Tâm Học Thêm Ngoài Trường

Giáo Dục Việt Nam Qua Các Thời Kì

Sự Giáo Dục Và Thi Cử Qua Các Thời Đại Ở Việt Nam

Giáo Dục Việt Nam Qua Các Thời Kỳ

Tóm Lược Lịch Sử Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam

Giáo Dục Bình Dương Qua Các Thời Kỳ

Sự Cần Thiết Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực

Năm 1924, cả Đông Dương (Việt-Miên-Lào), chỉ có 5 trường Trung Học Đệ Nhất Cấp và 3 trường Trung học đệ nhị cấp (Hà Nội: Lycée GIÁO DỤC VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ

Thời xưa cũng như hiện nay, được cắp sách tới trường là một hạnh phúc. Được mảnh bằng đại học trong tay thật là hãnh diện. Nếu cuộc đời sinh viên trong bốn năm đại học đầy những kỷ niệm của tuổi trẻ, thì những ngày thi cử phải thức khuya học bài cũng khó quên. Ở nước ngoài, nhát là ở Mỹ hay ở Nhật nếu ai chịu khó học thì thế nào cũng tốt nghiệp. Ngược lại, thế hệ chúng ta cũng như cha ông trước đây, học là một chuyện, thi đỗ lại là chuyện khác. Vì thế mới có câu “học tài thi phận”. Ngày nay đi học là để có một cái nghề nào đó để nuôi sống bản thân, làm thay đổi cuộc đời. Nhưng thời xưa thi đậu là để làm quan. Thời chiến tranh Việt Nam, thi đậu để khỏi phải đi lính.

I. Chế độ thi cử thời phong kiến.

Đề cập tới nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến tức là nói về xã hội từ thời Hùng Vương cho tới giữa sau thế kỷ thứ 19. Hơn 1000 năm dưới ách đô hộ của Trung Quốc, có thể nói mô hình giáo dục của xã hội Việt Nam thời bấy giờ rập khuôn Trung Quốc. Hay nói một cách khác, Nho giáo là trung tâm của chế độ thi cử thời phong kiến. Vì Việt Nam chưa có chữ viết nên chữ Nho là gốc. Nho giáo thời Nhà Lý (1009-1225) là thời kỳ hưng thịnh nhất và cũng là thời kỳ nền giáo dục Việt Nam theo mô hình Trung Quốc được thiết lập và phát triển đáng kể. Điểm đặc biệt là vua Lý Thánh Tông đã thành lập Văn Miếu tại thủ đô Thăng Long (Hà Nội) vào năm 1070. Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075. Sang đến thời vua Lý Nhân Tông, “Quốc Tử Giám” được thành lập để con vua và con các đại thần học. Đây là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam với hơn 4000 năm văn hiến. Hệ thống giáo dục thời đó gồm trường tư thục, còn gọi là trường làng dành cho đại chúng do các cụ đồ nho mở lớp dạy học. Cấp cao hơn nữa thì có trường quan học dành cho con cái của các quan huyện và phủ. Cấp cao nhất là trường Quốc Tử Giám dành cho con cái triều đình. Giai cấp xã hội thời phong kiến được phản ảnh khá rõ rệt qua cách xưng hô đối với học trò. Con vua, tức các hoàng tử được gọi là Tôn Sinh. Con các quan trong triều đình được gọi là Ấm Sinh. Con các quan huyện/phủ gọi là Cống Sinh.

Chế độ thi cử thời phong kiến được chia thành 3 cấp: Thi Hương, Thi Hội, và Thi Đình.

Thi Hương: Nghĩa là dầu ở đâu mà muốn ghi danh đi thi thì phải về tận quê hương mình để dự thi. Vì thế, thi Hương luôn luôn được tổ chức tại địa phương và được tổ chức từng 3 năm một vào các năm Tị-Sửu-Mẹo-Dần của 12 chi theo lịch Trung quốc. Theo giáo sư Phạm Văn Sơn (Việt Sử Toàn Thư), năm 1462 có 60,000 thí sinh ghi danh dự khoa thi Hương tại 12 trường thi trong cả nước. Trường thi không phải là một trường học như chúng ta thường nghĩ mà là một bãi đất trống rất rộng .Năm 1876 có 6 địa điểm thi: Huế, Bình Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định và Hà Nội. Mục đích mở các khoa thi thời bấy giờ không phải để khuyến khích dân chúng cắp sách đi học mà là để tuyển lựa người ra làm quan. Chẳng hạn khoa Thi Hương tại Hà Nội năm 1876 có 4,500 sĩ tử vác lều chõng đi thi, chỉ có 25 người đủ điểm đậu để được danh hiệu cử nhân, còn gọi là Hương cống, và 50 người đậu vớt (điểm thấp hơn) để được danh hiệu Tú tài, còn được gọi là sinh đồ. Năm 1884, triều đình ra điều lệ thi mới về tuyển người: nhất cử tam tú. Nghĩa là cứ lấy một người đỗ cử nhân thì cho 3 người đỗ tú tài. Thời gian thi không phải chỉ có một hai ngày mà tới cả tháng cho một khoa thi. Năm 1918 là năm khoa thi Hương được tổ chức lần cuối cùng của chế độ thi cử thời phong kiến tại 4 địa phương: Thừa Thiên, Bình Định, Nghệ An, và Thanh Hóa. Sở dĩ sau đó không còn tổ chức thi Hương nữa là vì chế độ thi cử của thực dân Pháp đã được thay thế.

Thi Hội: Nếu thi Hương được tổ chức tại các địa phương thì thi Hội chỉ được tổ chức tại triều đình mà thôi. Thi Hội được tổ chức cũng cứ 3 năm một lần, sau mỗi kỳ thi Hương. Nghĩa là ai đậu kỳ thi Hương thì sang năm được ghi danh thi Hội. Năm 1844, cả nước có 281 thí sinh về Kinh đô dự thi, và chỉ có 10 người đủ điểm để đậu chính bảng và 15 người đậu vớt gọi là phó bảng.

Thi Đình: Khác với Thi Hội, Thi Đình do chính nhà vua ra đề thi. Điểm đậu cao nhất là 10 điểm. Nếu ai đậu được điểm này gọi là Trạng Nguyên. Từ năm 1822 tới năm 1919, tổng số có 39 kỳ thi Đình để chọn được 219 tiến sĩ. Năm 1842 là năm có số đỗ tiến sĩ cao nhất là 13 vị. Năm 1865 số tiến sĩ đỗ thấp nhất chỉ có 3 vị. Như vậy, trung bình cứ mỗi kỳ thi Đình thì có 7 người đậu Tiến sĩ.

II. Chế độ thi cử thời Pháp thuộc.

Năm 1884, Hòa Ước Giáp Thân, đặt lãnh thổ Việt Nam dưới quyến bảo hộ trực tiếp của thực dân Pháp. Thời điểm này, chế độ giáo dục và thi cử tại Việt Nam được đổi từ mô hình Trung Quốc sang mô hình nước Pháp. Tiếng Hán nhường chỗ cho tiếng Quốc Ngữ và tiếng Pháp. Bậc tiểu học, trung học và đại học được qui định rõ rệt. Tuy nhiên, hệ thống trường Pháp dành cho con cái người Pháp hoặc những người Việt giàu có, và hệ thống trường Việt, còn gọi là trường Pháp-Việt, có phần khác nhau.

a/ Hệ thống trường Pháp:

 Tiểu học: 5 năm.

 Trung học đệ nhất cấp, còn gọi là Cao Đẳng Tiểu Học :4 năm

 Trung học đệ nhị cấp: 3 năm.

 Sau khi tốt nghiệp Trung học đệ nhị cấp, học sinh người Pháp về Pháp học đại học tại mẫu quốc.

b/ Hệ thống trường Pháp-Việt dành cho người Việt:

1. Hệ Sơ Cấp 3 năm. Chủ yếu học chữ Quốc Ngữ. Tiếng Pháp và tiếng Hán là phụ. Học sinh tốt nghiệp được cấp bằng Sơ Học Yếu Lược.

2. Hệ Sơ Đẳng 3 năm. Học tiếng Pháp là chính. Chữ Quốc Ngữ và chữ Hán trở thành môn phụ.

3. Hệ Cao Đẳng Tiểu Học: 4 năm. Tương đương trung học đệ nhất cấp (thời Việt Nam Cộng Hòa), hoặc Trung học cơ sở theo cách gọi trong nước hiện nay. Tốt nghiệp được cấp bằng Thành Chung.

4. Hệ Lycée Pháp-Việt: 3 năm. Tương đương trung học đệ nhị cấp hoặc Trung học phổ thông. Năm 1929, ở Hà Nội có trường Trung Học Bảo Hộ; ở Sài Gòn có trường Trung Học Petrus Lý; và ở Huế có trường Quốc Học. Số học sinh học tại 3 trường này như sau: Hà Nội: 164 học sinh; Sài Gòn: 159 học sinh; và Huế: 77 học sinh.

Để đào tạo số người thông dịch tiếng Pháp, năm 1886, thực dân Pháp thành lập Trường Thông Ngôn Hà Nội, hệ 4 năm. Tương đương trung học đệ nhất cấp. Điều kiện nhập học là phải tốt nghiệp cấp tiểu học. Năm 1904, trường này được đổi tên là Trường Thành Chung. Sau 4 năm thi tốt nghiệp để lấy bằng Thành Chung, tức bằng Trung học đệ nhất cấp, hoặc bằng Trung học cơ sở theo cách gọi trong nước hiện nay. Các quan thời vua Bảo Đại như ông Ngô Đình Khả hoặc ông Nguyễn Hữu Bài đều tốt nghiệp bằng Thành Chung.

5. Hệ Đại Học được thiết lập đầu tiên ở Việt Nam khi Pháp thành lập trường đại học Y-Dược tại Hà Nội vào năm 1902. Năm 1938, trường này có cả thảy 208 sinh viên. Tổng số sinh viên Việt của 3 kỳ (Bắc-Trung-Nam) là 176 sinh viên, chiếm 85%. Số sinh viên còn lại là Pháp (25 sinh viên), Lào (2 sinh viên), Trung quốc (3 sinh viên), Cămbốt (1 sinh viên), và Ấn độ (1 sinh viên). Đại học Luật được thành lập năm 1918. Đại học Sư phạm: năm 1917 và đại học Nông-Lâm-Súc: năm 1918.

Điểm đặc biệt khá lý thú về tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học cũng như trung học thời Pháp thuộc. Theo giáo sư Chikada Masahiro, nhìn vào niên khóa 1928- 1929, tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học sơ cấp (lớp 1 tới lớp 3): 33.2%. Tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học sơ đẳng: 68%. Tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học cao đẳng (trung học đệ nhất cấp): 66.9%. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học đệ nhị cấp (tú tài ): 31%. Năm 1939, số người biết đọc tiếng quốc ngữ trong cả nước chỉ khoảng 1,800,000 người, tương đương khoảng 10% dân số. Như vậy, tỉ lệ mù chữ tại Việt Nam thời bấy giờ là 90%.

Albert Sarraut; Sài Gòn: Lycée Chasseloup Laubat; và Đà Lạt: Petit Lycée). Năm 1937, số học sinh học tại 3 trường này như sau: Trường Albert Sarraut: 1,126 học sinh (Pháp: 725 và Việt: 401); Trường Chasseloup Laurat: 979 (Pháp: 830; Việt: 149); Trường Petit Lycée ở Đà lạt: 387 (Pháp: 342; Việt: 47). III. Chế độ giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa (1955 – 1975):

Sau ngày ký Hiệp Định Geneve, Việt Nam bị chia làm hai. Miền Bắc theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, hệ thống giáo dục miền Bắc được cải tổ theo mô hình Liên Xô. Hệ thống giáo dục miền Nam cơ bản vẫn giữ mô hình của Pháp và dần dần theo mô hình của Mỹ. Thời Pháp thuộc, từ tiểu học đến hết trung học đệ nhị cấp là 13 năm (Sơ cấp: 3 năm; Sơ đẳng: 3 năm; Cao đẳng tiểu học: 4 năm; và Lycée: 3 năm). Thời Việt Nam Cộng Hòa chế độ 13 năm được cải tổ lại 12 năm cho 3 cấp như mô hình của Pháp: Cấp tiểu học: 5 năm; trung học đệ nhất cấp: 4 năm; và trung học đệ nhị cấp: 3 năm. Chế độ thi cử được áp dụng để tốt nghiệp các cấp vẫn còn rất khắt khe. Theo cựu phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giáo dục Nguyễn Lưu Viên, cứ 100 học sinh nhập học bậc tiểu học thì chì còn phân nửa đậu tiểu học, và chỉ có 7 em tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp. Dựa vào tài liệu của Bộ Giáo Dục miền Nam trước đây, tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học vào năm 1966 là 65% và tốt nghiệp tú tài II là 21%. Vì tình trạng chiến tranh, con số sinh viên lọt được vào cổng đại học thật trần ai. Theo thống kê, vào thập niên 1960, tỉ lệ tốt nghiệp tú tài I (lớp 11 bây giờ) là 33%, và tỉ lệ tốt nghiệp tú tài II (lớp 12) là 45%. Nghĩa là cứ 3 người học lớp 11 thì chỉ có 1 người đậu để vào lớp 12. Tỉ lệ tốt nghiệp lớp 12 trung bình là 50%.

Cấp Đại Học:

Sau 1950, miền Nam có 3 trường đại học lớn: Viện Đại Học Sài Gòn, Viện Đại Học Huế và Đại Học Đà Lạt. Trong số này, Đại học Sài gòn là lớn nhất. Niên khóa 1974-1975, tổng số sinh viên toàn miền Nam là 166,475 người thì Viện Đại Học Sài gòn đã chiếm tới hai phần ba số sinh viên. Niên khóa 1972-1973, tổng số giáo sư dạy đại học toàn miền Nam là 1,117. Trong số này có 174 giáo sư có bằng tiến sĩ. Riêng Viện Đại Học Sài gòn đã chiến tới 68% giáo sư trong tổng số giáo sư có học vị tiến sĩ toàn miền Nam.

Điểm đặc biệt chế độ đại học miền Nam thời bấy giờ là chế độ ghi danh và chế độ thi tuyển vào đại học sau khi lọt qua được hai cái cổng thi tốt nghiệp Tú I và Tú II. Chế độ ghi danh được áp dụng cho các khoa Luật, Văn và Khoa học. Còn chế độ thi tuyển được áp dụng cho khoa: Y-Nha-Dược-Kiến trúc-Sư phạm. Đó là lý do tại sao số sinh viên học ở trường Luật, trường Văn khoa và Khoa học lúc nào cũng đông.

IV. Chế độ giáo dục sau năm 1975:

Chiến tranh Việt nam chấm dứt vào ngày 30-4-1975. Cả nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy chế độ giáo dục miền Nam cũng được thống nhất theo mô hình của Liên xô. Tuy nhiên, từ tiểu học tới phổ thông, miền Bắc điều chỉnh lại giống chương trình miền Nam. Nghĩa là theo hệ 12 năm: tiểu học: 5 năm; trung học cơ sở: 4 năm; và trung học phổ thông: 3 năm. Riêng chế độ đại học thì 10 năm đầu sau giải phóng, tức thời bao cấp, được quản lý rất chặt chẽ. Vì thế các sinh hoạt cũng như số sinh viên hầu như không tăng. Nhưng từ khi trong nước bắt đầu có chương trình đổi mới, thì chế độ giáo dục cũng bắt đầu có bước tiến triển. Năm 1998, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mới có luật giáo dục (gồm 110 điều khoản). Điểm đặc biệt là cấp tiểu học được coi là nghĩa vụ. Ngày 27/6/2005, luật giáo dục thứ hai được ban hành. Luật năm 1998 cũng như năm 2005, cơ bản chế độ giáo dục vẫn do Nhà Nước quản lý. Đó là lý do mà ngày nay nạn tham nhũng đã xâm nhập vào ngành giáo dục. Đưa đến hiện tượng thương mại hóa bằng cấp. Từ bằng đại học đến tiến sĩ. Vì vậy mới có hiện tượng lạm phát văn bằng tiến sĩ. Năm 1990, lần đầu tiên (sau năm 1975) một số trường bán công và dân lập mới được cho phép thành lập. Tuy nhiên, nếu so với thời bao cấp thì chế độ giáo dục trong nước hiện nay được cải thiện rất nhiều.

Tóm lại, từ thời phong kiến tới thực dân và cận đại, thế hệ cha ông cũng như chính bản thân chúng ta đã không có được cơ hội học hành dễ dàng như ở Mỹ hiện nay. Thời bấy giờ, được cắp sách đi học là một may mắn. Tốt nghiệp cấp Tiểu học đã là mừng. Tốt nghiệp lớp trung học lại mừng hơn. Tốt nghiệp tú tài thì khỏi nói. Tốt nghiệp đại học chỉ là giấc mơ. Sở dĩ tỉ lệ tốt nghiệp các cấp từ tiểu học tới đại học rất thấp là do ảnh hưởng xã hội phong kiến, chính sách ngu dân của thực dân Pháp và chính sách “bắt lính” thời chiến tranh. Tuy nhiên, thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mặc dầu cả miền Nam phải đương đầu với cuộc chiến tàn khốc, nhưng nền giáo dục dưới chính thể tự do đã đạt được thành tích xóa nạn mù chữ mà đa số đã có được trình độ tiểu học. Từ năm 1955 tới 1975, chỉ sau 20 năm, miền Nam đã có được một tầng lớp đáng kể có trình độ từ tú tài đến đại học. Đây chính là nòng cốt cơ bản của lớp người tị nạn đã và đang đào tạo cho con cháu chúng ta tại các nước tư bản tiên tiến một thế hệ có nền học vấn đa số tốt nghiệp từ đại học trở lên. Thế hệ này là một tài nguyên vô cùng quí báu cho việc phát triển quê hương Việt Nam trong tương lai.

Hai Tin Buồn Đối Với Nhà Giáo Từ Ngày 1/7 Khi Luật Giáo Dục 2022 Được Áp Dụng

Luật Giáo Dục 2022 Có Hiệu Lực Thi Hành Từ Ngày 01/7/2020

Tìm Hiểu Luật Giáo Dục Quốc Phòng Và An Ninh

Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội Cho Ý Kiến Về Dự Án Luật Giáo Dục Quốc Phòng, An Ninh

Dự Thảo Nghị Định Sửa Đổi Nghị Định Quy Định Chi Tiết Luật Giáo Dục Quốc Phòng An Ninh

Giáo Dục Việt Nam Qua Các Thời Kỳ

Tóm Lược Lịch Sử Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam

Giáo Dục Bình Dương Qua Các Thời Kỳ

Sự Cần Thiết Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực

Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực 1

Kế Hoạch Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực

Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu đời. Từ khi cộng đồng người Việt xuất hiện đã lưu truyền việc giáo dục kiến thức để làm ra của cải vật chất, mưu sinh, dạy nhau tổ chức đời sống xã hội và giáo dục đạo đức nhân sinh, tạo nên nhân cách, con người Việt Nam.

1. Giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng nhà nước phong kiến. Nền giáo dục phong kiến do nhà nước chỉ đạo được hình thành và phát triển qua 10 thế kỷ, cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử. Các triều đại thường chú trọng việc xây dựng một trường đại học ở kinh đô, đặt các giáo chức ở các phủ, lộ để trông coi việc học hành. Tại các trường lớp tư gia, do các ông đồ ngồi dạy trẻ. Các ông đồ được người dân tôn kính, quý trọng bởi họ là những nhà Nho, bậc hưi quan, các nhà khoa bảng. Nội dung dạy và học từ lớp tư gia đến các trường lớp ở lộ, phủ, kinh đô đều lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa. Các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn tổ chức các khoa thi (thi hương, thi hội, thi đình hay thi tiến sĩ) về cơ bản là giống nhau. Từ năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh Kinh đầu tiên, đến năm 1919, nhà Nguyễn tổ chức khoa thi cuối cùng. Chế độ khoa cử của nền giáo dục phong kiến Việt Nam trải qua 844 năm với trên 180 khoá thi và hơn 2900 người đỗ từ tiến sĩ đến trạng nguyên. Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nhiều thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủ yếu cho hệ thống quan chức quản lý nhà nước và xã hội. Nền giáo dục ấy đã đào tạo nên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếng cùng những thế hệ tri thức giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam. Một nền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa, góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Tuy nhiên, ý thức tồn cổ của Nho giáo đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát triển của xã hội; phương pháp học khuôn sáo, giáo điều, nặng về tầm c hương trích cú, lý thuyết suông, chạy theo hư danh…là những hạn chế của nền giáo dục phong kiến Việt Nam. Cuối thế kỷ XIX, thực dân pháp xâm chiếm nước ta. Nền giáo dục phong kiến Việt Nam bị thay đổi toàn bộ, chữ Hán thay bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Từ nội dung chương trình sách giáo khoa đến cách học, cách dạy, cách tổ chức các kỳ thi thay đổi, hệ thống các trường từ sơ cấp, tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học phổ thông đến các trường chuyên nghiệp, đại học dần dần được hình thành, thay thế các trường lớp cả nền giáo dục phong kiến. Thực dân Pháp coi nền giáo dục phong kiến là công cụ quan trọng để chinh phục thuộc địa. Chúng mở các trường nhằm đào tạo một số công chức cho bộ máy cai trị, các cơ sở kinh doanh…Số trường học ít và số người đi học ngày càng ít hơn. Trong khoảng từ năm 1931 đến năm 1940, cứ 100 người dân chưa được 3 người đi học và hầu hết là học bậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạn dân mới có một sinh viên (cao đẳng, đại học). Mặc dù đã thực hiện một số chính sách giáo dục nô dịch với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhưng thực dân Pháp vẫn không đạt được kết quảmong muốn. Phần lớn những người Việt Nam được Pháp đào tạo vẫn có ý thức dân tộc, một số không nhỏ có tinh thần yêu nư ớc chống Pháp, trở thành chiến sĩ cách mạng và đảng viên cộng sản. Từ khi Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân chống thực dân Pháp, giáo dục được coi là bộ phận của Cách mạng Việt Nam. Hội truyền bá Quốc ngữ thành lập năm 1938, Ðề cương Văn hoá Việt Nam ra đời năm 1943 là những mốc quan trọng trong đấu tranh của Ðảng trên lĩnh vực văn hoá, giáo dục. Tư tưởng dân tộc, khoa học đại chúng là những nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục Cách mạng Việt Nam.

2. Giáo dục Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.

a. Giai đoạn xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ. Giáo dục phục vụ kháng chiến và kiến quốc (1945- 1954).

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nền giáo dục mới được hình thành trên cơ sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục Pháp thuộc. Nền giáo dục mới dược tiến hành trên 3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng với mục tiêu cao cả là: “Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng?, đề cao tinh thần khoa học, học tập và giảng dạy bằng tiếng Việt từ các trường phổ thông đến đại học. Trong phiên họp đầu tiên sau ngày 2- 9- 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động chiến dịch chống nạn mù chữ trong cả nước. Các lớp học bình dân được mở ở khắp nơi. Sau một năm, cả nước có gần 75.000 lớp học bình dân, trên 95.000 giáo viên và 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ. Từ tháng 9/1945, cả nước cùng khai giảng năm học mới. Nhân ngày khai trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, trong đó Người chỉ rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là một phần lớn ở công học tập của các em.” Khi thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các trường học ở thành phố di chuyển về nông thôn và các khu an toàn. Phong trào xoá mù chữ vẫn được duy trì. Ðến năm 1950, cả nước có trên 10 triệu người được xoá mù chữ và đã có 10 tỉnh, 80 huyện, 1424 xã, 7248 thôn được công nhận đạt tiêu chuẩn xoán nạn mù chữ. Năm 1950, Trung ương Ðảng và Chính phủ quyết địng tiến hành cải cách giáo dục: Nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được thiết kế trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng?. Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Ðến năm học 1953- 1954, ở vùng giải phóng đã có 3673 trường cấp I, 397 trường cấp II, 34 trường cấp III, 5 trường trung học chuyên nghiệp và 4 trường đại học.

b.Giai đoạn giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng XHCN ở miền Bắc và thống nhất đất nước (1954- 1975).

Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trong kháng chiến chuyển hướng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọng trong quá trình xây dựng nền giáo dục XHCN. Hệ thống giáo dục mới này được tiến hành không chỉ ở giáo dục phổ thông, mà còn ở giáo dục đại học và chuyên nghiệp. Nội dung giáo dục mới mang tính chất toàn diện trên bốn mặt: đức, trí, thể, mỹ. Phương châm giáo dục là “liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội”. Do cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các trường học và các cơ sở giáo dục vừa tiến hành sơ tán, vừa tiếp tục duy trì việc dạy và học ở tất cả các lớp học, các ngành học. Có thể nói, ngành giáo dục của nước ta trong thời kỳ này đã giữ vững được quy mô, chất lượng giáo dục và đạt được nhiều kỳ tích lớn.

c.Giai đoạn xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất trong cả nước và đổi mới giáo dục Việt Nam.

Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng. Nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục là xây dựng một nền thống nhất theo định hướng XHCN. Giáo dục miền Nam, được sự hỗ trợ sức người, sức của từ miền Bắc, nhanh chóng khôi phục và hoạt động trở lại hoạt động bình thường. Ðến năm 1976, việc đào tạo sau đại học được triển khai, đến năm 1980 đã có 42 trường đại học và viện nghiên cứu khoa học được quyết định là cơ sở sau đại học. Tháng 1/1979, cuộc cách mạng lần thứ ba được triển khai. Hệ thống giáo dục mười hai năm được thiết kế thống nhất trong toàn quốc. Các bộ sách giáo khoa mới theo tinh thần và nội dung cải cách được thực hiện mỗi năm một lớp, bắt đầu từ năm học 1981- 1982. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp ở trung ương và địa phương được cải cách, từ mục tiêu đào tạo đến nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên, những khó khăn của nền kinh tế- xã hội nói chung và bản thân ngành giáo dục nói riêng đa tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của ngành, làm cho hệ thống giáo dục ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục đã xây dựng và triển khai chương trình phát triển giáo dục 3 năm (1987- 1990). Sau 3 năm đổi mới, ngành giáo dục đã dần tháo gỡ khó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém và thu được những kết quả đáng khích lệ. Năm 1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật phổ cập giáo dục tiểu học. Trước đó, Nhà nước đã quyết định phổ cập giáo dục tiểu học và xoa mù chữ là chương trình mục tiêu quốc gia, đặt mục tiêu đến năm 2000, tất cả các tỉnh, thành trong cả nước đều đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ. Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ tư (khoá VII) đã đề ra Nghị quyết về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết nêu lên 4 quan điểm chỉ đạophát triển giáo dục – đào tạo trong đó nhấn mạnh giáo dục và đào tạo cùng với kho học công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu. Tháng 12- 1996, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Ðảng khoá VIII tiếp tục ra Nghị quyết chuyên đề về giáo dục đào tạo. Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua luật Giáo dục, tháng 12 – 1998. Trong những năm cuối thập kỷ XX, Giáo dục – Ðào tạo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn. Quy mô giáo dục – đào tạo tăng nhanh. Tính đến tháng 8 ?1999, có hơn 93,7% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, 85% tỉnh, thành và 90% quận, huyện đạt chuẩn quốc gia vè xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Nhiều tỉnh đang tiến tới phổ cập trung học cơ sở. Giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực. Trên 100 trường dân tộc nội trú đã được xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho con em các dân tộc theo học. Ðội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olimpic quốc tế đem lại niềm tự hoà cho dân tộc Việt Nam. Hơn 25 năm qua, năm nào học sinh Việt Nam cũng mang về cho đất nước nhiều huy chương và nhiều giải cao trong các kỳ thi Olimpic về toán, vật lý, hoa học, sinh học, tin học, ngoại ngữ.

Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nền giáo dục XHCN, có tính nhân dân, tính dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Ðây là cơ sở cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Sự Giáo Dục Và Thi Cử Qua Các Thời Đại Ở Việt Nam

Giáo Dục Việt Nam Qua Các Thời Kì

Hai Tin Buồn Đối Với Nhà Giáo Từ Ngày 1/7 Khi Luật Giáo Dục 2022 Được Áp Dụng

Luật Giáo Dục 2022 Có Hiệu Lực Thi Hành Từ Ngày 01/7/2020

Tìm Hiểu Luật Giáo Dục Quốc Phòng Và An Ninh

Top Các Trường Đào Tạo Ngành Luật Danh Tiếng Ở Việt Nam

Những Nguyên Tắc Cơ Bản Của Các Bộ Luật Dân Sự Trên Thế Giới Và Kinh Nghiệm Cho Việt Nam

120 Câu Hỏi Đáp, Tình Huống Pháp Luật Phục Vụ Việc Dạy Và Học Pháp Luật Ở Các Trường Trung Học

Ngành Luật Thi Khối Nào?

Tình Huống Luật Dân Sự Và Hôn Nhân Gia Đình

Bộ Luật Dân Sự Hàn Quốc

Đại học Luật Hà Nội là một trường đại học công lập ở Việt Nam được thành lập vào năm 1979. Thời gian đầu thành lập, trường gặp nhiều khó khăn không chỉ về khâu tổ chức bộ máy nhà trường mà còn cả về vị trí địa lý và cơ sở vật chất. Với sự phấn đấu không ngừng của các thế hệ cán bộ, giảng viên và sự hỗ trợ của Bộ Tư pháp, Đại học Luật Hà Nội nay đã trở thành ngôi trường có quy mô đào tạo về ngành luật lớn nhất ở Việt Nam.

Với chương trình đào tạo và đội ngũ giảng viên chất lượng, sinh viên của trường sau khi tốt nghiệp được các đơn vị tuyển dụng đánh giá khá cao về kiến thức và kỹ năng so với mặt bằng chung của sinh viên luật hiện nay.

Giới thiệu về Đại học Luật Hà Nội (Nguồn: YouTube – chúng tôi Nông Quốc Bình)

Song song với Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật chúng tôi là ngôi trường trọng điểm thứ hai về đào tạo cán bộ pháp luật trong cả nước. Từ khi được thành lập đến nay, trường đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc đào tạo lực lượng lao động có chất lượng tham gia vào xây dựng cộng đồng, phát triển đất nước và hội nhập thế giới.

Hiện nay, trường có 7 chuyên ngành đào tạo Luật thương mại, Luật dân sự, Luật quốc tế, Luật hình sự, Luật hành chính, Quản trị – Luật và Anh văn pháp lý. Trường đào tạo đủ 3 cấp độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Bên cạnh đó, Đại học Luật chúng tôi có quan hệ hợp tác quốc tế với hơn 40 trường đại học trên thế giới nâng cao khả năng hội nhập quốc tế và phát triển các chương trình giảng dạy.

Đội ngũ cán bộ, viên chức lên đến 120 người. Trong đó, 78% giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên. Các thầy cô thường được cử đi học bồi dưỡng, trau dồi kiến thức ở cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Các chương trình đào tạo từng bước được chuẩn hóa. Đặc biệt, chương trình đào tạo chất lượng cao và liên kết với nước ngoài ngày càng được quan tâm và chú trọng.

Mặc dù là một khoa trẻ nhưng sau 10 năm xây dựng và phát triển, khoa Luật đã vươn lên đứng đầu toàn trường về số lượng sinh viên (hơn 3000 sinh viên) và cơ sở đào tạo trong cả nước. Toàn khoa có 43 cán bộ, giảng viên. Trong đó, có 10 tiến sĩ và 30 nghiên cứu sinh, thạc sĩ được đào tạo trong và ngoài nước.

Hiện nay, khoa đào tạo 2 ngành: Luật học và Luật kinh tế đối với trình độ cử nhân. Sinh viên được trang bị đầy đủ về kiến thức, kỹ năng và thái độ đảm bảo có khả năng công tác ngay sau khi tốt nghiệp hoặc nền tảng vững chắc để học cao hơn. Đối với trình độ thạc sĩ, khoa đang đào tạo chuyên ngành Lý luận, Lịch sử nhà nước và pháp luật.

Khoa Luật Đại học Cần Thơ được thành lập vào năm 2000 với ngành đào tạo: Luật học, Luật thương Mại, Luật tư pháp và Luật hành chính. Hàng năm khoa tuyển sinh khoảng 300 sinh viên luật chính quy tại trường, khoảng 900 sinh viên hệ vừa làm vừa học tại các đơn vị liên kết và 50 học viên cao học. Ngoài ra, khoa có mối quan hệ hợp tác quốc tế với nhiều trường ở các nước như Hà Lan, Pháp, Anh, Campuchia, Nhật Bản, Canada, Mỹ…

Đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ chuyên môn cao. Trong đó, có một số chuyên gia đầu ngành đáp ứng được yêu cầu đào tạo và nghiên cứu theo hướng chất lượng cao trong lĩnh vực kinh tế, luật và quản lý. Hoạt động đào tạo của trường nói chung và khoa nói riêng không ngừng phát triển về nội dung, chương trình đào tạo, công tác quản lý và các hoạt động đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên.

Mai Trâm (Tổng hợp)

Ngành Luật Học Trường Nào? Top 10 Trường Đào Tạo Ngành Luật Hàng Đầu Việt Nam

Học Ngành Luật Ra Trường Làm Gì? Thu Nhập Bao Nhiêu?

Tài Liệu Ôn Tập Môn Luật Dân Sự 1

Giới Thiệu Khoa Luật Dân Sự

Những Điều Cần Biết Khi Học Môn Dân Sự