Các Kỳ Họp Đặc Biệt Khẩn Cấp Của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc

Đại Hội Đồng Lhq Thông Qua Nghị Quyết Kêu Gọi Dỡ Bỏ Lệnh Cấm Vận Của Mỹ Đối Với Cuba

Nghị Quyết 1803 (Xvii) Ngày 14/12/1962 Của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc Về ‘chủ Quyền Vĩnh Viễn Đối Với Tài Nguyên Thiên Nhiên’

Công Tác Cán Bộ Là “công Việc Gốc” Của Đảng

Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng Theo Nghị Quyết Số 04

Cần Nghị Quyết Về Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng

Nghị quyết 377A (V) năm 1950 – Các khía cạnh pháp lý – Danh sách các kỳ họp đặc biệt khẩn cấp trong lịch sử – Quyền phủ quyết (quyền veto)

Ngày 21 tháng 12 năm 2022 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã triệu tập lại kỳ họp đặc biệt khẩn cấp thứ 10 ( emergency special sessions) để xem xét việc Tổng thống Mỹ Donald Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel vào ngày 06/12/2017. Đây là phiên họp thứ 17 trong chuỗi các phiên họp thuộc kỳ họp đặc biệt khẩn cấp thứ 10. Cho đến hiện nay, Đại hội đồng chỉ có 10 kỳ họp đặc biệt khẩn cấp; có kỳ họp chỉ họp một phiên, có kỳ họp được triệu tập và triệu tập lại nhiều phiên (xem danh sách bên dưới).

Cơ sở pháp lý để triệu tập phiên họp này là Nghị quyết 377 (V) của Đại hội đồng thông qua ngày 03/11/1950. Tiêu đề của Nghị quyết này là “Đoàn kết vì Hoà bình” (Uniting for Peace), do đó, đôi khi cũng được gọi là Nghị quyết Đoàn kết vì Hoà bình. Nghị quyết này được đưa ra nhằm phản ứng lại tình trạng bế tắc của Hội đồng Bảo an khi Liên Xô với quyền phủ quyết (quyền veto, xem giải thích thêm về quyền này ở cuối bài) của mình liên tục ngăn Hội đồng thông qua các hành động trong bối cảnh Chiến tranh Triều Tiên năm 1950.

“… nếu Hội đồng Bảo an, do không có sự thống nhất giữa các thành viên thường trực, thất bại trong việc thực thi trách nhiệm chính yếu trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế trong bất kỳ trường hợp nào có mối đe dọa đến hòa bình, vi phạm hòa bình hay có hành vi xâm lược, Đại hội đồng sẽ xem xét vấn đề ngay lập tức với quan điểm nhằm đưa ra khuyến nghị phù hợp cho các Thành viên về các biện pháp tập thể, bao gồm việc sử dụng lực lượng vũ trang khi cần thiết trong trường hợp vi phạm hòa bình hay có hành vi xâm lược nhằm duy trì hay khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế. Nếu không đang trong kỳ họp, Đại hội đồng có thể họp trong một phiên họp đặc biệt khẩn cấp trong 24 giờ kể từ khi có yêu cầu. Phiên họp đặc biệt khẩn cấp sẽ được triệu tập nếu được Hội đồng Bảo an bằng bỏ phiếu của bảy thành viên bất kỳ hoặc được đa số Thành viên của Liên hợp quốc yêu cầu.”

Như vậy, có ba điều kiện để triệu tập một kỳ họp đặc biệt khẩn cấp bao gồm: (i) Hội đồng Bảo an không thể thực thi trách nhiệm của mình do việc sử dụng quyền phủ quyết của thành viên thường trực, (ii) có mối đe dọa đến hòa bình, vi phạm hòa bình hay có hành vi xâm lược, và (iii) có nghị quyết triệu tập của Hội đồng Bảo an hay theo đa số các quốc gia thành viên.

***

Hiến chương Liên hợp quốc quy định trách nhiệm chính yếu duy trì hòa bình và an ninh quốc tế là của Hội đồng Bảo an, do đó, việc Đại hội đồng tự ra nghị quyết nhận trách nhiệm này – nếu Hội đồng không làm tròn được trách nhiệm đó – đặt ra câu hỏi liệu Nghị quyết 377 (V) có vi phạm vào quyền hạn của Hội đồng hay không. Trong các án lệ của mình, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã khẳng định trách nhiệm của Đại hội đồng đối với việc duy trì hòa bình an ninh quốc tế theo Nghị quyết 377 (V). Trong khi trách nhiệm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế được quy định là ” trách nhiệm chính yếu” (primary responsibility) của Hội đồng Bảo an, thì trách nhiệm này không phải là độc quyền (exclusive).

Trong 10 kỳ họp đặc biệt khẩn cấp, 07 kỳ do Hội đồng Bảo an triệu tập, 03 kỳ do sáng kiến của các quốc gia. Cụ thể: Ý kiến tư vấn của Tòa ICJ năm 2004, đoạn 26. Xem Nghị quyết ES-10/14 ngày 12/12/2003.

Lễ Công Bố Các Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

Quốc Hội Ban Hành Nghị Quyết Phê Chuẩn Bổ Nhiệm 3 Thẩm Phán Tandtc

Công Bố 19 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Và Nhân Sự

Tổng Hợp 18 Văn Bản Hướng Dẫn Bộ Luật Hình Sự 2022

Nghị Quyết 01 Hướng Dẫn Bộ Luật Hình Sự

Nghị Quyết 2334 Của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc

Công Bố 8 Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố 9 Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố 4 Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố Các Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố 3 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

Nghị quyết 2334 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã được thông qua vào ngày 23 Tháng 12 năm 2022 và quan ngại hoạt động định cư của Israel trên vùng đất Israel bị chiếm đóng trong chiến tranh sáu ngày năm 1967. Nghị quyết gọi các hoạt động định cư một “trắng trợn vi phạm” luật pháp quốc tế mà có “không có giá trị pháp lý” và yêu cầu Israel ngừng hoạt động như vậy và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình như là một thế lực quyền đóng theo Công ước Geneva thứ tư.

Việc thông qua nghị quyết “đã nhận được tiếng vỗ tay trong một căn phòng chật cứng người”. Đây là nghị quyết của Hội đồng bảo an đầu tiên được thông qua về Israel và Palestine từ năm 2009, và là nghị quyết đầu tiên để giải quyết các vấn đề khu định cư của Israel với đặc như vậy kể từ khi Nghị quyết 465 vào năm 1980. Trong khi nghị quyết không bao gồm bất kỳ xử phạt hoặc biện pháp cưỡng chế, theo tờ báo Israel Haaretz nó “có thể có hậu quả nghiêm trọng đối với Israel nói chung và đặc biệt cho các công trình định cư” trong trung hạn đến dài hạn.

Năm 2011, dưới thời chính quyền Barack Obama, Mỹ đã sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn một nghị quyết tương tự của Liên Hiệp Quốc.

Văn bản Nghị quyết

Nghị quyết quy định rằng tất cả các biện pháp nhằm thay đổi cơ cấu dân số và tình trạng của vùng lãnh thổ Palestine bị Israel chiếm đóng, bao gồm xây dựng và mở rộng các khu định cư, chuyển định cư Do Thái, tịch thu đất đai, phá hủy nhà cửa và di dời dân thường Palestine đều vi phạm quốc tế luật nhân đạo, nghĩa vụ của Israel như điện chiếm theo Công ước Geneva thứ tư, và các nghị quyết trước đó.

Nghị quyết cũng lên án mọi hành động bạo lực chống lại dân thường, kể cả khủng bố, khiêu khích và phá hoại. Theo tờ New York Times, đây là “nhằm vào các nhà lãnh đạo Palestine, người Israel cáo buộc của việc khuyến khích các cuộc tấn công vào thường dân Israel”. Nghị quyết nhắc lại hỗ trợ cho các giải pháp hai nhà nước và nhận thấy rằng các hoạt động giải quyết được “đẩy vào tình trạng nguy hiểm đối với” khả năng tồn tại của nó.

Dự thảo ban đầu được Ai Cập soạn thảo. Tuy nhiên, vào ngày 22 tháng 12, tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump đã kêu gọi Tổng thống Ai Cập Abdel Fattah el-Sisi rút đề nghị, và Ai Cập đã rút lại kiến nghị sau những gì đại sứ nước này gọi là một “áp lực”. Sau đó, ngày 23 tháng 12, dự thảo đã được đưa lên và đề xuất một lần nữa bởi Malaysia, New Zealand, Senegal và Venezuela. [2] Nghị quyết được thông qua với tỷ lệ 14-0; tất cả các thành viên bỏ phiếu thuận cho nghị quyết ngoại trừ Hoa Kỳ bỏ phiếu trắng. Đại sứ Mỹ Samantha Power giải thích bỏ phiếu trắng, bằng cách nói rằng một mặt Liên Hợp Quốc thường không công bằng nhằm vào Israel, rằng có những vấn đề quan trọng chưa được giải quyết bởi nghị quyết, và rằng Hoa Kỳ không đồng ý với mỗi từ trong văn bản; trong khi mặt khác, bà cho rằng nghị quyết này phản ánh tình hình thực địa, mà nó tái khẳng định sự đồng thuận rằng các hoạt động định cư là không hợp pháp, và các hoạt động định cư đã trở nên “tồi tệ hơn nhiều” vì nó gây nguy hiểm đến tính sống còn của hai nhà nước.

Các phương tiện truyền thông và các nhà quan sát phản Mỹ có ý kiến trái ngược nhau về truyền thống lâu đời của nó về sự phủ quyết nghị quyết nhắm vào Israel về các vấn đề khu định cư. Trong cuộc họp qua nghị quyết này, đại sứ Israel Danny Danon tố cáo các thành viên đã chấp thuận nó, so sánh nó để cấm người Pháp “xây dựng ở Paris”.

Nghị quyết đặc biệt gây tranh cãi ở Israel, do những lời chỉ trích của chính phủ Israel. Chính phủ Israel triệu hồi đại sứ của mình từ New Zealand và Senegal (Israel không có quan hệ ngoại giao với Venezuela hoặc Malaysia) và hủy bỏ tất cả các chương trình viện trợ cho Senegal để đáp trả với đoạn văn của nghị quyết. Israel cũng đã hủy bỏ kế hoạch thăm của Ngoại trưởng Senegal tới Israel, và các chuyến viếng thăm khác của đại sứ không thường trú của Senegal và New Zealand. Một chuyến thăm dự kiến ​​của thủ tướng Ukraine cũng đã bị hủy bỏ bởi Israel. Netanyahu cũng tuyên bố rằng: “Nghị quyết đã được thông qua bởi Liên Hiệp Quốc ngày hôm qua là một phần của tiếng hót thiên nga của thế giới cũ mà có thành kiến ​​chống lại Israel. Nhà lãnh đạo đối lập Israel Isaac Herzog, trả lời rằng ông Netanyahu đã “tuyên chiến tối nay đối với thế giới, với Hoa Kỳ, Châu Âu, và đang cố gắng bình tĩnh chúng ta bằng sự yêu mến.”

Ngay sau khi đoạn văn của Nghị quyết, chính phủ Israel tuyên bố sẽ không tuân thủ các điều khoản của nó. Văn phòng của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho rằng “chính quyền Obama không chỉ thất bại trong việc bảo vệ Israel chống lại điều này băng đảng tại Liên Hợp Quốc, nó đã cấu kết với nó đằng sau hậu trường”, nói thêm: “Israel trông đợi được làm việc với Tổng thống đắc cử Trump và với tất cả bạn bè của chúng tôi trong Quốc hội, đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ như nhau, để phủ nhận những ảnh hưởng có hại của nghị quyết vô lý này. “

Chính phủ Israel cũng lo ngại rằng lời kêu gọi của nghị quyết để phân biệt giữa các vùng lãnh thổ của Israel và các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng sẽ khuyến khích phong trào tẩy chay, tước bỏ và cấm vận Netanyahu said that Israel have to reevaluate its ties with UN following the adaptation by Security Council.. Netanyahu nói rằng Israel phải đánh giá lại mối quan hệ với Liên Hiệp Quốc sau sự thích ứng của Hội đồng Bảo an.

Trưởng đoàn đàm phán Palestine Saeb Erekat cho biết, “đây là một ngày chiến thắng cho luật pháp quốc tế, một chiến thắng cho ngôn ngữ văn minh, thương lượng và sự bác bỏ hoàn toàn đối với các lực lượng cực đoan ở Israel. Cộng đồng quốc tế đã nói với dân Israel rằng cách đối với an ninh và hòa bình sẽ không được thực hiện thông qua chiếm đóng, mà là thông qua hòa bình, chấm dứt sự chiếm đóng và thành lập một nhà nước Palestine sống bên cạnh nhà nước Israel trên tuyến biên giới 1967.”

“Israel’s Settlements Have No Legal Validity, Constitute Flagrant Violation of International Law, Security Council Reaffirms: 14 Delegations in Favour of Resolution 2334 (2016) as United States Abstains”. UN. Ngày 23 tháng 12 năm 2022.

Ravid, Barak. “Analysis Understanding the UN Resolution on Israeli Settlements: What Are the Immediate Ramifications?”, Haaretz (ngày 24 tháng 12 năm 2022): “But it is the first to deal so specifically with the settlements in over 35 years. The pvious such resolution, Resolution 465, was adopted by the Security Council in March 1980 (you can read it in full here). That being said, since 1980, the Israeli-Palestinian conflict has undergone dramatic changes, the extent of the Israeli settlement enterprise has grown dramatically, and international community’s focus on the settlements as a threat to the viability of the two-state solution has also increased markedly.”

“Full text of US envoy Samantha Power’s speech after abstention on anti-settlement vote”.

Israeli ambassador recalled from New Zealand after UN resolution, NZ Herald

Raphael Ahren (ngày 24 tháng 12 năm 2022). “PM cancels visit of Ukrainian PM after Kiev supports anti-settlements resolution”.

Peter Baker,’U.S. Transition Puts Israeli Focus Back on Palestinians,’New York Times ngày 24 tháng 12 năm 2022.

“Israeli settlements: UN Security Council calls for an end”. . Ngày 23 tháng 12 năm 2022.

“Israel to re-assess U.N. ties after settlement resolution, says Netanyahu”. Ngày 25 tháng 12 năm 2022 – qua Reuters.

Mỹ Phủ Quyết Dự Thảo Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Về Jerusalem

Việt Nam Và Việc Thực Thi Các Nghị Quyết Trừng Phạt Triều Tiên Của Hội Đồng Bảo An Lhq

Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Thông Qua Nghị Quyết 2371 Trừng Phạt Bắc Triều Tiên

Đề Xuất Của Việt Nam Được Đưa Vào Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Lhq

Điểm Mới 11 Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 8

Mỹ Phủ Quyết Dự Thảo Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Về Jerusalem

Nghị Quyết 2334 Của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc

Công Bố 8 Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố 9 Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố 4 Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố Các Nghị Quyết Của Quốc Hội

Cập nhật lúc 08:27, Thứ tư, 20/12/2017

Một phiên họp của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc

về Jerusalem trong tháng 12/2017. (Ảnh: Getty Images)

Bản dự thảo nghị quyết dài 1 trang này đã được đệ trình lên các nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc xem xét vào tuần trước. Trong đó có nội dung nhằm tái khẳng định lập trường của cơ quan quyền lực Liên hợp quốc nhằm kêu gọi các nước không thiết lập Đại sứ quán tại Jerusalem. Bản dự thảo nghị quyết nêu rõ, bất kỳ quyết định, biện pháp hay hành động nào có thể dẫn tới việc thay đổi quy chế của Jerusalem đều không mang tính pháp lý, cần phải được bãi bỏ. Quy chế của Jerusalem là một vấn đề phải được giải quyết bởi chính người Israel và Palestine. Ngoài ra, bản dự thảo nghị quyết cũng kêu gọi các nước không công nhận bất cứ hành động hay biện pháp nào đi ngược lại các bản nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đồng thời kiềm chế trước việc thành lập các phái đoàn ngoại giao tại Jerusalem.

Bản dự thảo nghị quyết này được xem là phản ứng của cộng đồng quốc tế trước việc Tổng thống Mỹ Donald Trump, ngày 6/12 đã quyết định rời Đại sứ quán từ Tel Aviv tới Jerusalem và tuyên bố rằng “đã đến lúc” công nhận thành phố linh thiêng này là thủ đô của Israel.

Lý giải về việc Mỹ phủ quyết bản dự thảo của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về Jerusalem, Đại diện thường trực của Mỹ tại Liên hợp quốc – bà Nikki Jaley nêu rõ, đây là biện pháp nhằm bảo vệ quyền tối cao của nước Mỹ và Washington có quyền lựa chọn địa điểm để đặt Đại sứ quán.

Phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Đặc phái viên của Liên hợp quốc về tiến trình hòa bình Trung Đông – ông Nickolay E. Mladenov cho biết, kể từ sau tuyên bố mới nhất của ông D.Trump, bạo lực tại khu vực đã có dấu hiệu leo thang. Tính cho tới nay, đã có ít nhất 27 cuộc tấn công tên lửa được thực hiện từ Dải Gaza, chưa kể tới các cuộc đụng độ giữa lực lượng an ninh Israel và người biểu tình Palestine vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, đi kèm theo là những lời kêu gọi về một phong trào nổi dậy mới tại Palestine.

Thu Lan (Theo NHK, TASS, The New York Times)

Việt Nam Và Việc Thực Thi Các Nghị Quyết Trừng Phạt Triều Tiên Của Hội Đồng Bảo An Lhq

Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Thông Qua Nghị Quyết 2371 Trừng Phạt Bắc Triều Tiên

Đề Xuất Của Việt Nam Được Đưa Vào Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Lhq

Điểm Mới 11 Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 8

Quốc Hội Công Bố Nghị Quyết Về Đầu Tư Sân Bay Long Thành Giai Đoạn 1

Các Trường Hợp Hủy Nghị Quyết Đại Hội Đồng Cổ Đông

Dự Thảo Án Lệ Số 19

Các Bước Triệu Tập Họp Hội Đồng Quản Trị

Tỷ Lệ Thông Qua Nghị Quyết Trong Cuộc Họp Đại Hội Đồng Cổ Đông

Hội Đồng Quản Trị Có Được Quyết Định Thành Lập Chi Nhánh Không

Sách Quy Định Về Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên & Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii.

Hiện nay việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông ở các công ty còn gặp không ít sai sót và bất cập dẫn đến việc Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông phải bị hủy bỏ. Vậy có những trường hợp hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông nào? Và khi nào yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và chủ thể nào có quyền yêu cầu?

1. CƠ SỞ PHÁP LÝ

– Luật Doanh nghiệp 2014.

2. NỘI DUNG TƯ VẤN

2.1.

HÌNH THỨC THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG 

Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được thông qua theo hai hình thức:

– Biểu quyết trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông

– Lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản

2.1.1. Biểu quyết trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông

– Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông chỉ được coi là hợp lệ khi số cổ đông đại diện dự họp đại diện ít nhất 51% số cổ phần có quyền biểu quyết.

– Trường hợp cuộc họp lần 1 không đủ điều kiện thì tiến hành cuộc họp lần 2 trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuộc họp lần 1 khai mạc và chỉ được tiến hành khi số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 30% vốn điều lệ.

– Nếu cuộc họp lần 2 cũng không đủ điều kiện thì tiến hành triệu tập cuộc họp lần 3 trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày cuộc họp lần 2 khai mạc.

– Cuộc họp lần 3 sẽ được tiến hành không phụ thuộc vào số lượng cổ đông dự họp và cổ đông có quyền ủy nhiệm người khác bằng văn bản để thay thế mình dự cuộc họp đại hội đồng cổ đông.

2.1.2. Lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản

– Khi xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty, cần có quyết định thông qua của Đại hội đồng cổ đông và không thuộc trường hợp bắt buộc phải thực hiện bằng hình thức biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp thì Hội đồng quản trị có quyền lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản.

– Những trường hợp quyết định Đại hội đồng cổ đông phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết là:

+ Sửa đổi, bổ sung các nội dung của Điều lệ công ty

+ Định hướng phát triển công ty

+ Loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại

+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

+ Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, hoặc một tỷ lệ, giá trị khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định

+ Thông qua báo cáo tài chính hằng năm

+ Tổ chức lại, giải thể công ty

2.2.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ NGHỊ QUYẾT ĐƯỢC THÔNG QUA 

– Nghị quyết về nội dung sau đây được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định:

a) Loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại;

b) Thay đổi ngành, nghề và lĩnh vực kinh doanh;

c) Thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý công ty;

d) Dự án đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, hoặc tỷ lệ, giá trị khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định;

đ) Tổ chức lại, giải thể công ty;

e) Các vấn đề khác do Điều lệ công ty quy định.

– Các nghị quyết khác được thông qua khi được số cổ đông đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành ( trừ trường hợp bầu Hội đồng quản trị, ban kiểm soát và các vấn đề nêu trên)

2.3.

YÊU CẦU HỦY BỎ NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG 

– Sau khi thông qua nghị quyết doanh nghiệp gửi thông báo đến cổ đông có quyền dự họp, gửi biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông đến tất cả các cổ đông trong thời hạn 15 ngày.

– Nhưng khi các cổ đông nhận thấy biên bản họp hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông không hợp lệ, sai quy định thì có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy bỏ nghị quyết.

– Việc yêu cầu hủy bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông được quy định cụ thể tại Điều 147 trong Luật Doanh nghiệp. Cụ thể như sau:

Điều 147. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông

Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:

1. Trình tự và thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 148 của Luật này;

2. Nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.

2.4. QUYỀN YÊU CẦU HỦY BỎ NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG 

Để có quyền yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông phải đảm bảo 2 điều kiện sau đây:

– Sở hữu 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên (nếu Điều lệ Công ty quy định tỉ lệ khác nhỏ hơn thì theo quy định của Điều lệ);

– Thời gian sở hữu số cổ phần nói trên: liên tục ít nhất 06 tháng tính đến thời điểm muốn yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.

2.5. THỜI HIỆU YÊU CẦU HỦY BỎ NGHỊ QUYẾT 

Theo quy định tại Điều 147 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì việc yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông thực hiện trong 90 ngày kể từ ngày nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông.

LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN TRỰC TIẾP: 1900 0192

Phụ trách nội dung: ThS. LS. Phan Công Tiến – Luật sư điều hành Equity Law Firm

Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bình Vượng Tower, số 200 đường Quang Trung, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Email: [email protected][email protected]

Fanpage: https://www.facebook.com/equitylaw.vn

Zalo liên hệ Luật sư: chúng tôi     

Quét mã QR Zalo Luật sư:

– TRÌNH TỰ HỌP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

– THỦ TỤC THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH – CÔNG TY CỔ PHẦN

– NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

Điều Kiện Để Được Hưởng Án Treo Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự Năm 2022

Website Trường Mầm Non Đại Hòa

Quy Định Về Hội Đồng Trường Mầm Non

Một Số Vấn Đề Về Việc Áp Dụng, Thay Đổi, Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Tại Chương Viii Của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Trên Thực Tiễn

Nghị Quyết 11 Hđnd Tỉnh Yên Bái Về Việc Ban Hành Một Số Nhiệm Vụ, Giải Pháp Cấp Bách Thực Hiện Dự Toán Ngân Sách Địa Phương Năm 2022 Để Ứng Phó Với Dịch Covid

Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Thông Qua Nghị Quyết 2371 Trừng Phạt Bắc Triều Tiên

Việt Nam Và Việc Thực Thi Các Nghị Quyết Trừng Phạt Triều Tiên Của Hội Đồng Bảo An Lhq

Mỹ Phủ Quyết Dự Thảo Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Về Jerusalem

Nghị Quyết 2334 Của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc

Công Bố 8 Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố 9 Nghị Quyết Của Quốc Hội

Hội đồng bảo an Liên hợp quốc hôm 5/8 (theo giờ địa phương) đã mở cuộc họp dưới sự chủ trì của Ai Cập, nước Chủ tịch luân phiên trong tháng này, và thông qua dự thảo nghị quyết mới số 2371 về cấm vận Bắc Triều Tiên, với sự nhất trí của toàn bộ các nước thành viên, trong đó có cả Nga và Trung Quốc.

Nghị quyết lần này có nội dung cấm hoàn toàn việc xuất khẩu khoáng sản và thủy sản của Bắc Triều Tiên, trong đó có than đá, mặt hàng xuất khẩu chính của miền Bắc, cũng như sắt và quặng sắt.

Bắc Triều Tiên dự kiến sẽ phản đối quyết liệt nghị quyết mới lần này do nội dung nghị quyết đặt trọng tâm vào việc ngăn chặn dòng tiền của miền Bắc, gây sức ép khiến nước này phải giải trừ hạt nhân và tên lửa.

Hội đồng bảo an lên án các vụ phóng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) của Bình Nhưỡng gần đây với lời lẽ quyết liệt nhất, hối thúc Bắc Triều Tiên dừng phóng tất cả các loại tên lửa, giải trừ vũ khí hạt nhân và chương trình phát triển hạt nhân “một cách toàn diện, có thể kiểm chứng và không thể đảo ngược”.

Tuy nhiên, nội dung cấm xuất khẩu dầu thô cho miền Bắc vẫn không thể vượt qua được “cửa ải” là Nga và Trung Quốc, không xuất hiện trong nghị quyết mới lần này, dự kiến sẽ một lần nữa làm dấy lên tranh cãi về hiệu quả của nỗ lực cấm vận.

Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lao động ra nước ngoài của miền Bắc, vốn là một kênh thu ngoại tệ quan trọng của nước này, sẽ bị đóng băng từ thời điểm nghị quyết được thông qua. Bắc Triều Tiên hiện đang có hơn 50.000 lao động làm việc tại hơn 40 quốc gia trên toàn thế giới.

Hội đồng bảo an bổ sung vào danh sách cấm vận bốn tổ chức của miền Bắc là Ngân hàng thương mại Chosun, Tập đoàn phát triển ở nước ngoài Mansudae (Mansudae Overseas Project Group of Companies), Tổng công ty bảo hiểm quốc gia Bắc Triều Tiên (Korean National Insurance Company), Ngân hàng phát triển tín dụng Koryo (Koryo Credit Development Bank). Danh sách cấm vận còn bổ sung thêm chín cá nhân, bao gồm cả Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc tế Ilsim Choe Chun-yong, Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại Chosun Han Jang-su.

Ủy ban cấm vận Bắc Triều Tiên trực thuộc Hội đồng bảo an cũng đã chỉ định các tàu thuyền của miền Bắc là đối tượng vi phạm nghị quyết của Hội đồng bảo an, cấm các nước thành viên Liên hợp quốc cho phép các tàu thuyền nói trên của miền Bắc cập cảng nước mình. Nghị quyết mới cũng cấm vận các quốc gia có hợp tác đầu tư với Bắc Triều Tiên dưới bất cứ hình thức nào.

Phát biểu tại phiên biểu quyết cùng ngày, Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Nikki Haley, người đóng vai trò chủ đạo trong nghị quyết lần này, đánh giá các biện pháp cấm vận mới sẽ giáng đòn trừng phạt nặng nề vào miền Bắc, khiến tổng kim ngạch xuất khẩu của Bình Nhưỡng giảm đi một phần ba.

Bà Haley nhấn mạnh Bắc Triều Tiên đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn, kêu gọi cộng đồng quốc tế có thêm những hành động bổ sung.

Đại sứ Trung Quốc tại Liên hợp quốc Lưu Kết Nhất hối thúc Bắc Triều Tiên dừng các hành vi đẩy cao thêm căng thẳng, nhưng cũng đồng thời yêu cầu Mỹ và Hàn Quốc dừng kế hoạch triển khai tổ hợp tên lửa đánh chặn tầm trung cao (THAAD) bởi điều này sẽ không giúp ích cho tiến trình giải quyết vấn đề hạt nhân, tên lửa miền Bắc.

Đề Xuất Của Việt Nam Được Đưa Vào Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Lhq

Điểm Mới 11 Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 8

Quốc Hội Công Bố Nghị Quyết Về Đầu Tư Sân Bay Long Thành Giai Đoạn 1

Quốc Hội Thông Qua Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022

Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc

Nghị Quyết 1803 (Xvii) Ngày 14/12/1962 Của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc Về ‘chủ Quyền Vĩnh Viễn Đối Với Tài Nguyên Thiên Nhiên’

Công Tác Cán Bộ Là “công Việc Gốc” Của Đảng

Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng Theo Nghị Quyết Số 04

Cần Nghị Quyết Về Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng

Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng Theo Lời Dạy Của Người

Triển Khai Quyết Liệt, Có Hiệu Quả Các Nghị Quyết Về Công Tác Xây Dựng Đảng

NGHỊ QUYẾT 1803 (XVII) NGÀY 14/12/1962 CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC VỀ “CHỦ QUYỀN VĨNH VIỄN ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN”

Đại Hội đồng,

Nhắc lại các Nghị quyết 523 (VI) ngày 12-1/1952 và 626 (VII) ngày 21/12/1952 của Đại Hội đồng,

Ghi nhớ, trong Nghị quyết 1314 (XIII) ngày 12/12/1958, Đại Hội đồng đã thành lập Ủy ban về chủ quyền vĩnh viễn đối với tài nguyên thiên nhiên và hướng dẫn Ủy ban tiến hành một cuộc khảo sát toàn diện về thực trạng chủ quyền vĩnh viễn đối với tài nguyên thiên nhiên, một phần cấu thành cơ bản của quyền tự quyết, với những khuyến nghị trong trường hợp cần thiết, tiến hành khảo sát toàn diện về thực trạng chủ quyền vĩnh viễn của các dân tộc và quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản của mình, và cần quan tâm thỏa đáng đến các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia theo quy định của luật quốc tế, và chú trọng khuyến khích sự hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế của các nước đang phát triển.

Ghi nhớ Nghị quyết 1515 (XV) ngày 15/12/1960, trong đó Đại Hội đồng khuyến nghị rằng quyền chủ quyền của mỗi quốc gia được khai thác tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản của mình cần phải được tôn trọng,

Xét rằng, mọi biện pháp trong vấn đề này cần dựa trên cơ sở công nhận quyền bất khả xâm phạm của tất cả các quốc gia được tự do khai thác tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản của mình phù hợp với lợi ích quốc gia và tôn trọng độc lập về kinh tế của các quốc gia,

Lưu ý rằng, vấn đề tiếp quản của các quốc gia và chính phủ đang được Ủy ban Luật pháp quốc tế xem xét như là một vấn đề ưu tiên,

Xét rằng, cần thúc đẩy sự hợp tác quốc tế nhằm phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, và rằng, các hiệp định về kinh tế và tài chính được ký kết giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển cần phải được dựa trên những nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc và quốc gia,

Xét rằng, việc thực hiện trợ giúp kỹ thuật và kinh tế, cung cấp các khoản vay và tăng đầu tư nước ngoài không phải phụ thuộc vào điều kiện trái với lợi ích của các quốc gia tiếp nhận.

Xét những lợi ích mang lại từ việc trao đổi thông tin khoa học và kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản, và vai trò quan trọng của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác trong vấn đề này,

Chú trọng đặc biệt đến vấn đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, và bảo đảm sự độc lập về kinh tế của những nước này,

Lưu ý rằng, sự thành lập và tăng cường chủ quyền vĩnh viễn của các quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản sẽ củng cố sự độc lập về kinh tế của những nước này.

Mong muốn rằng Liên Hợp Quốc cần tiếp tục xem xét về vấn đề chủ quyền vĩnh viễn đối với tài nguyên thiên nhiên trên tinh thần hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển kinh tế, đặc biệt là sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển,

Tuyên bố rằng,

1. Quyền của các quốc gia và dân tộc về chủ quyền vĩnh viễn đối với tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản phải được thực hiện vì lợi ích phát triển của quốc gia, sự phồn vinh của nhân dân các quốc gia đó.

3. Trong trường hợp được phép, vốn được nhập và thu nhập từ nguồn vốn đó sẽ do các quy định của pháp luật quốc gia hiện hành và pháp luật quốc tế điều chỉnh. Lợi nhuận thu được, trong từng trường hợp, phải được chia theo tỷ lệ tự do thỏa thuận giữa các nhà đầu tư với quốc gia tiếp nhận. Cần có sự quan tâm thỏa đáng nhằm đảm bảo rằng không có bất kỳ sự xâm phạm nào, vì bất kỳ lý do gì, tới chủ quyền của quốc gia đó về tài nguyên thiên nhiên.

5. Việc thực hiện chủ quyền tự do và có lợi của các dân tộc và quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên phải được đảm bảo thực hiện hơn nữa trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia về bình đẳng chủ quyền.

6. Hợp tác quốc tế vì mục đích phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, cho dù dưới hình thức đầu tư tư bản công hay tư, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, trợ giúp kỹ thuật, hay trao đổi thông tin khoa học, sẽ nhằm đảm bảo hơn nữa sự phát triển đất nước một cách độc lập của các quốc gia này và cần dựa trên sự tôn trọng về chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản của các quốc gia này.

7. Việc vi phạm quyền của các dân tộc và quốc gia có chủ quyền vĩnh viễn đối với tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản là trái với tinh thần và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, và cản trở sự phát triển hợp tác quốc tế và gìn giữ hòa bình.

8. Các hiệp định về đầu tư nước ngoài được ký kết một cách tự nguyện bởi hoặc giữa các quốc gia có chủ quyền cần được thực hiện với thiện chí hữu nghị; các quốc gia và các tổ chức quốc tế cần nghiêm túc và có ý thức tôn trọng chủ quyền vĩnh viễn của các dân tộc và quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản của họ, phù hợp với Hiến chương và các nguyên tắc được quy định trong Nghị quyết này.

Đại Hội Đồng Lhq Thông Qua Nghị Quyết Kêu Gọi Dỡ Bỏ Lệnh Cấm Vận Của Mỹ Đối Với Cuba

Các Kỳ Họp Đặc Biệt Khẩn Cấp Của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc

Lễ Công Bố Các Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

Quốc Hội Ban Hành Nghị Quyết Phê Chuẩn Bổ Nhiệm 3 Thẩm Phán Tandtc

Công Bố 19 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Và Nhân Sự

Nghị Quyết 759/2014/ubtvqh13 Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Quy Định Chi Tiết Về Hoạt Động Tiếp Công Dân Của Các Cơ Quan Của Quốc Hội, Đại Biểu Quốc Hội, Hội Đồng Nhân Dân Và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp

Cổng Điện Tử Đại Biểu Dân Cử Tỉnh Bắc Giang

Nâng Cao Vai Trò Tiếp Công Dân Và Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo

Hội Nghị Ban Thường Vụ Thành Ủy: Thảo Luận, Cho Ý Kiến Thông Qua Các Nghị Quyết Về Công Tác Giải Phóng Mặt Bằng, Công Tác Đảm Bảo An Ninh Trật Tự.

Hội Đồng Nhân Dân Huyện Kỳ Anh: Khảo Sát Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Số 30/2012/nq

Kế Hoạch Thực Hiện Công Tác Đảm Bảo An Ninh Trật Tự Năm Học 2022

Căn cứ Luật tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 83/2007/QH12;

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11;

Căn cứ Luật khiếu nại số 02/2011/QH13;

Căn cứ Luật tố cáo số 03/2011/QH13;

Căn cứ Luật tiếp công dân số 42/2013/QH13,

Điều 1. Trách nhiệm tiếp công dân và tổ chức việc tiếp công dân

1. Các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

2. Các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

Điều 2. Nơi tiếp công dân

1. Các cơ quan của Quốc hội tiếp công dân tại nơi tiếp công dân sau đây:

a) Địa điểm tiếp công dân của Quốc hội.

Địa điểm tiếp công dân của Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội bố trí tại địa điểm thuận lợi cho việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, bảo đảm hoạt động bình thường của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội;

b) Nơi tiếp công dân khác do các cơ quan của Quốc hội lựa chọn khi cần thiết.

2. Đại biểu Quốc hội thực hiện việc tiếp công dân tại nơi tiếp công dân sau đây:

a) Trụ sở tiếp công dân của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh) nơi đại biểu Quốc hội ứng cử;

b) Nơi tiếp công dân khác do Đoàn đại biểu Quốc hội bố trí.

Trường hợp đại biểu Quốc hội chuyển sinh hoạt đến Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác thì thực hiện việc tiếp công dân ở nơi chuyển đến.

Điều 3. Tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội

1. Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, điều hòa, phối hợp và tổ chức việc tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

3. Các cơ quan của Quốc hội cử đại diện để tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

b) Khi xét thấy cần thiết theo đề nghị của Ban dân nguyện hoặc đề nghị trực tiếp của công dân.

4. Cơ quan của Quốc hội có trách nhiệm thông báo dự kiến lịch tiếp công dân theo quy định tại khoản 3 Điều này cho Ban dân nguyện để xây dựng lịch tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội và niêm yết công khai tại địa điểm tiếp công dân của Quốc hội, đồng thời thông báo cho công dân đã đề nghị được tiếp biết.

Điều 4. Trách nhiệm của Ban dân nguyện trong việc tiếp công dân và tổ chức việc tiếp công dân

Ban dân nguyện thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức công tác tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Ban dân nguyện thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

1. Đại diện cho các cơ quan của Quốc hội thực hiện tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở Trung ương và địa điểm tiếp công dân của Quốc hội.

Khi công dân đề nghị được gặp trực tiếp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội để trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì Ban dân nguyện có trách nhiệm chuyển đề nghị đó đến cơ quan mà công dân đề nghị. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm xem xét đề nghị đó để trả lời công dân.

2. Phối hợp, tổ chức phục vụ hoạt động tiếp công dân khi có yêu cầu của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội.

4. Quy định nội quy tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân của Quốc hội.

5. Xây dựng các báo cáo chung về tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

Điều 5. Tiếp công dân của đại biểu Quốc hội

1. Đại biểu Quốc hội tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:

a) Theo sự phân công của Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội;

b) Công dân trực tiếp hoặc thông qua Đoàn đại biểu Quốc hội yêu cầu được gặp đại biểu Quốc hội để trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc khi đại biểu Quốc hội thấy cần thiết.

2. Việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội được quy định như sau:

a) Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm dự kiến lịch tiếp công dân chung của các đại biểu Quốc hội trong Đoàn trình Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội xem xét quyết định;

b) Đại biểu Quốc hội thực hiện việc tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố.

Trường hợp không thể tham gia tiếp công dân theo lịch đã được công bố, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo với Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội để điều chỉnh lịch; đồng thời dự kiến thời gian cụ thể thực hiện việc tiếp công dân.

3. Trường hợp công dân yêu cầu gặp đại biểu Quốc hội để trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì đại biểu Quốc hội có trách nhiệm sắp xếp thời gian tiếp công dân; trường hợp chưa thể tiếp công dân được thì đại biểu Quốc hội yêu cầu Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội cử người nhận đơn hoặc hẹn tiếp công dân vào thời gian thích hợp.

Điều 6. Trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân của Đoàn đại biểu Quốc hội

Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn tiếp công dân. Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

1. Sắp xếp lịch tiếp công dân của các đại biểu Quốc hội trong Đoàn, trong đó phân công cụ thể lịch tiếp công dân, nơi tiếp công dân của đại biểu Quốc hội và thông báo cho đại biểu Quốc hội biết.

Lịch tiếp công dân phải được niêm yết công khai tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, nơi tiếp công dân khác do Đoàn đại biểu Quốc hội bố trí, đồng thời công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.

2. Bố trí nơi tiếp công dân để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện lịch tiếp công dân.

4. Chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo đề nghị của đại biểu Quốc hội trong Đoàn.

Điều 7. Tiếp công dân trong kỳ họp Quốc hội

2. Trong thời gian kỳ họp Quốc hội, khi cần thiết, được sự đồng ý của Chủ tịch Quốc hội, Ban dân nguyện mời đại diện Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ban công tác đại biểu, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tiếp công dân.

Điều 8. Trách nhiệm tiếp công dân và tổ chức việc tiếp công dân

1. Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.

2. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình tiếp công dân.

Điều 9. Nơi tiếp công dân

1. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện thực hiện việc tiếp công dân tại nơi tiếp công dân sau đây:

a) Trụ sở tiếp công dân cùng cấp;

b) Tại nơi tiếp công dân ở địa phương mà đại biểu ứng cử theo sự bố trí của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân chuyển sinh hoạt đến địa phương khác trong cùng đơn vị hành chính cấp đại biểu được bầu thì thực hiện việc tiếp công dân ở nơi chuyển đến.

2. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện việc tiếp công dân tại Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.

Điều 10. Tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

1. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện thực hiện việc tiếp công dân theo sự bố trí của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp; đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tiếp công dân theo sự bố trí của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã.

2. Việc tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định như sau:

a) Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã sắp xếp lịch tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp;

b) Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện việc tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố.

Trường hợp không thể thực hiện được việc tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố do có lý do chính đáng thì đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm thông báo đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện hoặc Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã để điều chỉnh lịch; đồng thời dự kiến thời gian cụ thể thực hiện việc tiếp công dân.

Điều 11. Tiếp công dân của Hội đồng nhân dân các cấp

Việc tiếp công dân được quy định như sau:

1. Lịch tiếp công dân phải được niêm yết công khai tại Trụ sở Hội đồng nhân dân và nơi tiếp công dân, đồng thời công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.

2. Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp cử đại diện tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố.

Điều 12. Trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân của Hội đồng nhân dân

1. Trong việc tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình tiếp công dân, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm sau đây:

a) Sắp xếp lịch tiếp công dân cho đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp và thông báo cho đại biểu biết.

Lịch tiếp công dân phải được niêm yết công khai tại nơi tiếp công dân, đồng thời công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương;

b) Bố trí nơi tiếp công dân để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân;

2. Ngoài nhiệm vụ quy định tại Khoản 1 Điều này, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện có trách nhiệm cử đại diện tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân cùng cấp.

Điều 13. Quan hệ phối hợp trong việc tiếp công dân của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương trong việc tiếp công dân; định kỳ 6 tháng một lần nghe Ủy ban nhân dân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở địa phương báo cáo về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội ở địa phương chuyển đến.

Điều 14. Tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; tổ chức nghiên cứu; chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền giải quyết; theo dõi, đôn đốc, giám sát việc giải quyết theo quy định của pháp luật.

2. Việc tiếp nhận, xử lý bước đầu, phân loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết của các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được thực hiện theo quy định tại Điều 25 và Điều 26 của Luật tiếp công dân.

Điều 15. Trách nhiệm thông báo về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được chuyển đến

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chuyển đến có trách nhiệm:

a) Thông báo việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do cơ quan, đại biểu quy định tại khoản này chuyển đến trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được;

Trường hợp vụ việc đã được giải quyết trước đó thì thông báo ngay cho cơ quan, đại biểu đã chuyển đơn biết.

2. Cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến người đã khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định tại Điều 28 của Luật tiếp công dân.

Điều 16. Trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Trong trường hợp cho rằng việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không đúng với quy định của pháp luật thì cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết xem xét lại; trường hợp vẫn không đồng ý với kết quả giải quyết lại thì có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cấp trên của người đứng đầu đó xem xét.

2. Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của cấp trên của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền thì cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội báo cáo với Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với Hội đồng nhân dân cùng cấp để thực hiện việc giám sát theo quy định của pháp luật.

Điều 17. Trách nhiệm của Văn phòng Quốc hội

Văn phòng Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:

1. Bảo đảm về cơ sở vật chất và phương tiện cần thiết để thực hiện việc tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân của Quốc hội.

2. Bảo đảm kinh phí và ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ công tác tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo của cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

Điều 18. Trách nhiệm của Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội và phục vụ Hội đồng nhândân cấp tỉnh

Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội và phục vụ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm sau đây:

3. Cử đại diện tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo yêu cầu của đại biểu Quốc hội.

4. Giúp Đoàn đại biểu Quốc hội tổng hợp tình hình tiếp công dân của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội; giúp Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp tổng hợp tình hình tiếp công dân của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Điều 19. Trách nhiệm của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện

Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm sau đây:

2. Cử đại diện phối hợp với Ban tiếp công dân cấp huyện thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân cùng cấp.

3. Giúp Thường trực Hội đồng nhân dân tổng hợp tình hình tiếp công dân của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Điều 20. Trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã

Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm sau đây:

2. Chỉ đạo tổng hợp tình hình và xây dựng báo cáo về công tác tiếp công dân của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Điều 21. Hiệu lực thi hành

Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2014.

Điều 22. Trách nhiệm thi hành

Nghị Quyết 755 Và Nhà Tôi

Nghị Quyết Số 759/2014/ubtvqh13 Ngày 15/05/2014 Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Quy Định Chi Tiết Về Hoạt Động Tiếp Công Dân Của Các Cơ Quan Của Quốc Hội, Đại Biểu Quốc Hội, Hội Đồng Nhân Dân Và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp

Một Số Kết Quả Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Tiếp Công Tiếp Xúc Cử Tri, Giải Quyết Đơn Thư, Kiến Nghị Của Công Dân

Bàn Về Trách Nhiệm Tiếp Công Dân Của Đại Biểu Hđnd Các Cấp

Nghị Quyết 759/2014/ubtvqh13 Do Chủ Tịch Quốc Hội Kí Ngày 15/05/2014

Nghị Quyết Đại Hội Liên Đội

Nghị Quyết Đại Hội Liên Đội Nhiệm Kì 2022

Nghị Quyết Đại Hội Liên Đội Năm Học 2022

Nghị Quyết Đảng Ủy Tháng 9 Năm 2022

Thông Qua Nghị Quyết Giảm Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp Năm 2022

Quốc Hội Quyết Định Giảm 30% Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp Năm 2022

ĐỘI TNTP HỒ CHÍ MINH H. NINH PHƯỚC

LIÊN ĐỘI TRƯỜNG THCS PHƯỚC VINH

***

Phước Vinh, ngày 30 tháng 09 năm 2012

CHỈ TIÊU ĐẠI HỘI LIÊN ĐỘI NĂM HỌC 2012- 2013

I/ Chương trình ” hào truyền thống- Tiếp bước cha anh “:

100% Chi đội thực hiện tuyên truyền và tổ chức tìm hiểu về lịch sử, truyền thống lịch sử của dân tộc và của địa phương, của Đảng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh.

100% Chi đội triển khai và thực hiện có hiệu quả cuộc vận động thiếu nhi Ninh Phước thi đua thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy.

100% Đội viên, chi đội thực hiện tốt chương trình ” Thắp Sáng ước mơ thiếu nhi Việt Nam”

100% Đội viên thuộc, hiểu và thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy.

100% Đội viên, chi đội thực hiện tốt phong trào “Nghìn việc tốt” .

100% Đội viên, chi đội thực hiện tốt phong trào “Vòng tay bè bạn”, phong trào “Giúp bạn đến trường – cùng hướng tới tương lai”, phong trào “Kế hoạch nhỏ”, phong trào “Quỹ vì bạn nghèo”, phong trào “ơn đáp nghĩa”, thực hiện tốt công tác Trần Quốc Toản.

100% Chi đội có đội tuyên truyền măng non .

100% Chi đội tham gia chương trình phát thanh Khăn Quàng Đỏ

100% Chi đội tham gia quyên góp sách báo cho tủ sách Liên đội.

100% Chi đội mua và đọc báo đội hàng tuần.

100% Thực hiện tốt phong trào gương tốt đội viên hàng tuần, tháng, học kỳ và cả năm học.

100% Đội viên, chi đội thực hiện tốt phong trào “Chúng em kể chuyện bác Hồ”.

100% Chi đội GV phụ trách tham gia chương trình “Vì điểm tựa tiền tiêu”, “Vì đàn em thân yêu”

II/ Chương trình “Rèn đức luyện tài- hành trang tương lai”:

100% Đội viên, chi đội tham gia tốt chương trình “Trường học thân thiện- Học sinh tích cực”

100% Chi đội duy trì và xây dựng mới mô hình thi đua trong học tập và rèn luyện.

100% Chi đội tổ chức các câu lạc bộ học tập.

100% Đội viên, chi đội thực

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh Lần Thứ Xi, Nhiệm Kỳ 2022

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Lần Thứ Xix, Nhiệm Kỳ 2022

Toàn Văn Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tp Hà Nội Lần Thứ Xvi

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Bình Chánh Lần Thứ Xi, Nhiệm Kỳ 2022

Toàn Văn Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ

Nghị Quyết 759/2014/ubtvqh13: Quy Định Chi Tiết Về Hoạt Động Tiếp Công Dân Của Các Cơ Quan Của Quốc Hội, Đại Biểu Quốc Hội, Hội Đồng Nhân Dân Và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp

Sau 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 32: Còn Không Ít Việc Phải Làm

Tăng Cường Bảo Đảm Ttatgt Và Chống Ùn Tắc Giao Thông

Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (Chairman Of The Board) Là Gì?

Thông Qua 34 Nghị Quyết Quan Trọng

Tân Sơn: Chuyển Biến Nhờ Nghị Quyết 30A

Nghị quyết 759/2014/UBTVQH13: Quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Thuộc tính văn bản

Nghị quyết 759/2014/UBTVQH13: Quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Số ký hiệu759/2014/UBTVQH13Ngày ban hành15/05/2014Loại văn bảnNghị quyếtNgày có hiệu lực01/07/2014Nguồn thu thậpCông báo số 569 đến số 570, năm 2014Ngày đăng công báo07/06/2014NgànhNội vụLĩnh vựcCơ quan ban hành/ Chức danh / Người kýỦy ban thường vụ Quốc hộiChủ tịchNguyễn Sinh Hùng

Nội dung văn bản

Nội dung chính

Nghị quyết 759/2014/UBTVQH13: Quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nội dung File Word

Nghị quyết 759/2014/UBTVQH13: Quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Tải văn bản

Tải Nghị quyết 759/2014/UBTVQH13: Quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Tải bản Word

Nghị quyết 759/2014/UBTVQH13: Quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Đánh giá văn bản

5

/

5

(

11

bình chọn

)

Kết Quả Tổng Kết 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 759/2014/nq

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Tổng Kết 10 Năm Cải Cách Hành Chính

Cải Cách Hành Chính Tạo Thuận Lợi Để Dịch Chuyển Sang Phát Triển Chính Phủ Số

Thực Hiện Nghị Quyết 30C Của Chính Phủ: Nhiều Chuyển Biến Trong Cải Cách Hành Chính

Nhìn Lại 10 Năm Thực Hiện Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Giai Đoạn 2011

Báo Cáo Tổng Hợp Về Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội

Chính Phủ Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội

Chính Phủ Báo Cáo Về Kết Quả Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội

Chính Phủ Chuẩn Bị Báo Cáo Thực Hiện Các Nghị Quyết Về Giám Sát Của Quốc Hội Cho Kỳ Họp Thứ 10

Báo Cáo Của Chính Phủ Về Việc Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn

Sai Phạm Trong Kỳ Thi Thpt Quốc Gia Ảnh Hưởng Tiêu Cực Đến Niềm Tin Xã Hội

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thưa các đồng chí Lão thành cách mạng và các vị khách, Thưa đồng chí, đồng bào,

Theo Chương trình kỳ họp và thực hiện Nghị quyết số 74/2014/QH13 của Quốc hội, Chính phủ đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội 17 Báo cáo kết quả thực hiện 07 Nghị quyết về giám sát chuyên đề và 07 Nghị quyết về chất vấn từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến năm 2022.

Theo phân công của đồng chí Thủ tướng, thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo tổng hợp một số nội dung chủ yếu của các báo cáo nêu trên như sau:

1. Lĩnh vực Kế hoạch và Đầu tư

Các nội dung giám sát và chất vấn tập trung vào quản lý và sử dụng vốn đầu tư công, ODA, vay ưu đãi, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, thu hút vốn đầu tư dưới hình thức đối tác công tư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tái cơ cấu kinh tế.

Chính phủ, các Bộ, ngành tiếp tục tập trung hoàn thiện chính sách, pháp luật. Triển khai thực hiện Luật Đầu tư công. Tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Xây dựng và thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn. Bố trí vốn tập trung, khắc phục một bước tình trạng phân tán, dàn trải. Rà soát, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án quan trọng. Xác định rõ nguồn và khả năng cân đối vốn trước khi quyết định đầu tư. Kiểm soát, ưu tiên bố trí nguồn thanh toán nợ xây dựng cơ bản và thu hồi vốn ứng trước.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy nhanh giải ngân; tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi.

Quản lý chặt chẽ vốn chương trình mục tiêu quốc gia, tập trung cho các nhiệm vụ thật sự cần thiết, tạo điều kiện cho các Bộ, ngành địa phương chủ động bố trí vốn, bảo đảm hiệu quả. Chính phủ đã báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp này về tình hình thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 – 2022 và kế hoạch giai đoạn 2022 – 2022.

Nâng cao hiệu quả huy động các nguồn vốn ngoài nhà nước vào phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông và khuyến khích đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Thu hút đầu tư nước ngoài, ưu tiên các dự án có sức lan tỏa, công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, thân thiện với môi trường và sản phẩm có sức cạnh tranh cao.

Triển khai tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty; tập trung cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đã sắp xếp 464 DNNN, trong đó cổ phần hóa 404 doanh nghiệp.

Triển khai Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; phấn đấu đến hết năm 2022 các chỉ tiêu môi trường kinh doanh của Việt Nam đạt và vượt mức trung bình các nước ASEAN-6.

Tập trung thực hiện các đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng từ 79,9% năm 2011 lên 82,5% năm 2022. Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phát triển phù hợp hơn với kinh tế thị trường. Thực hiện Chiến lược Biển, gắn phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Tuy nhiên, việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư công ở một số nơi còn chưa nghiêm. Vẫn còn tình trạng điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư. Tình trạng chậm tiến độ, nợ đọng xây dựng cơ bản ở một số nơi khắc phục chậm. Hiệu quả đầu tư công chưa cao. Thu hút các nguồn vốn ngoài nhà nước tham gia vào đầu tư phát triển chưa thật hiệu quả. Nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA và vay ưu đãi còn hạn hẹp. Thu hút đầu tư xã hội và đầu tư nước ngoài vào cơ sở hạ tầng chưa nhiều. Tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm. Việc sắp xếp, cổ phần hóa DNNN ở nhiều ngành, lĩnh vực và sắp xếp, đổi mới nông lâm trường, công ty nông lâm nghiệp chưa đạt tiến độ đề ra; tỷ lệ vốn được cổ phần hóa còn thấp.

2. Lĩnh vực Tài chính

Các nội dung giám sát và chất vấn tập trung vào việc quản lý giá, thực hiện lộ trình giá thị trường, tái cấu trúc và phát triển thị trường chứng khoán, bảo hiểm, chống thất thu, bảo đảm cân đối NSNN và quản lý nợ công.

Tích cực triển khai Luật Giá. Thực hiện cơ chế giá thị trường; bình ổn giá đối với hàng hóa và dịch vụ thiết yếu; thực hiện lộ trình giá thị trường đối với điện, xăng dầu, than, dịch vụ y tế, giáo dục… gắn với hỗ trợ đối tượng chính sách, hộ nghèo.

Thực hiện các giải pháp bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước; tập trung chống thất thu, nợ đọng thuế, chuyển giá; tăng cường thanh tra, kiểm tra. Hiện đại hoá công tác quản lý; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức thuế, hải quan. Đã cắt giảm được 420 giờ nộp thuế; trên 98% các doanh nghiệp đã kê khai thuế qua mạng; 80% doanh nghiệp đã nộp thuế theo phương thức điện tử; trên 98% kim ngạch xuất nhập khẩu đã được thông quan điện tử.

Trong bối cảnh kinh tế phát triển không thuận lợi, tăng trưởng thấp hơn dự kiến trong khi nhu cầu tăng chi ngân sách nhà nước cho con người, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh và đầu tư phát triển là rất lớn, Quốc hội cho phép duy trì bội chi NSNN ở mức phù hợp (bình quân giai đoạn 2011 – 2022 là 5,3% GDP, năm 2022 là 5%).

Thực hiện các giải pháp tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công. Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật; ban hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về quản lý nợ công. Chỉ sử dụng nợ công cho đầu tư phát triển. Việc điều hành vay và trả nợ thực hiện theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và kế hoạch vay, trả nợ hàng năm được phê duyệt. Các chỉ tiêu nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn quy định. Cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng tỷ trọng vốn vay trung và dài hạn với lãi suất hợp lý để giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn. Quản lý chặt chẽ hơn các khoản vay Chính phủ bảo lãnh và vay của chính quyền địa phương. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc sử dụng vốn vay.

Tăng cường quản lý NSNN, từng bước cơ cấu lại các nhiệm vụ, chương trình, dự án theo hướng lồng ghép, tiết giảm, bảo đảm các nhiệm vụ chi cần thiết, quan trọng và theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định; xử lý nghiêm thất thoát, lãng phí.

Tuy nhiên, cân đối ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, cơ cấu chưa hợp lý, chi thường xuyên lớn, bội chi còn cao. Quản lý và sử dụng NSNN ở một số bộ ngành, địa phương còn chưa chặt chẽ. Còn tình trạng thất thu, nợ đọng thuế, chuyển giá và lãng phí trong chi NSNN. Nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn. Việc sử dụng các khoản vay do Chính phủ bảo lãnh và vay của chính quyền địa phương ở một số dự án hiệu quả còn thấp. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu nhìn chung còn chậm.

3. Lĩnh vực Ngân hàng

Nội dung chất vấn tập trung vào điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn, quản lý, kinh doanh vàng, ngoại tệ, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu.

Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng linh hoạt, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa. Điều chỉnh giảm lãi suất phù hợp với diễn biến vĩ mô và lạm phát; mặt bằng lãi suất hiện nay bằng khoảng 40% so với năm 2011. Thị trường tiền tệ dần ổn định, thanh khoản của nền kinh tế và toàn hệ thống được cải thiện. Điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt, ổn định thị trường ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế giai đoạn 2011 – 2014 tăng 12,6%/năm; dự kiến năm 2022 tăng khoảng 17%; cơ cấu chuyển dịch tập trung hơn cho các lĩnh vực ưu tiên.

Tháo gỡ khó khăn, đổi mới quy trình, thủ tục cho vay vốn tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn; triển khai một số chương trình tín dụng đặc thù như mô hình cho vay liên kết, hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao, chính sách cho vay đối với chăn nuôi, thủy sản, cà phê… Ban hành các chính sách mới về tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách. Triển khai 20 chương trình tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, học sinh sinh viên, hộ gia đình sản xuất kinh doanh ở vùng khó khăn… và một số các chương trình, dự án do các tổ chức nước ngoài, địa phương ủy thác. Từ năm 2011 đến tháng 9/2015, tổng doanh số cho vay đạt trên 171 nghìn tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay trên 137 nghìn tỷ đồng với hơn 8 triệu khách hàng.

Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh vàng; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm. Tình trạng “vàng hóa” trong nền kinh tế từng bước được ngăn chặn; biến động của giá vàng không ảnh hưởng nhiều đến ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối và kinh tế vĩ mô. Quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng đã cơ bản chuyển sang quan hệ mua, bán.

Tập trung triển khai thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo, cổ đông/nhóm cổ đông lớn, thao túng, chi phối trong hệ thống các TCTD về cơ bản đã được xử lý và kiểm soát. Đẩy mạnh sáp nhập, hợp nhất, mua lại trên nguyên tắc tự nguyện; giảm 17 tổ chức và 02 chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang trong quá trình thanh lý. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế có đánh giá tích cực về việc cơ cấu lại các TCTD của Việt Nam.

Thực hiện quyết liệt Đề án xử lý nợ xấu của các TCTD; tăng cường thu hồi, cơ cấu lại, phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của TCTD; phát huy vai trò của VAMC; nợ xấu đã được kiểm soát, đến cuối tháng 9/2015 còn 2,93%. Năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động của các TCTD được nâng lên, bảo đảm an toàn hệ thống.

Tuy nhiên, việc cơ cấu lại một số ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém và xử lý nợ xấu còn khó khăn. Còn một số vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động tín dụng, ngân hàng. Việc tiếp cận vốn tín dụng, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó khăn. Chất lượng tín dụng, quản trị và dịch vụ ngân hàng còn phải tiếp tục cải thiện và tăng cường ngày càng phù hợp hơn với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

4. Lĩnh vực Công Thương

Các nội dung chất vấn tập trung vào quy hoạch điện, thủy điện; lộ trình thực hiện thị trường cạnh tranh, chống độc quyền đối với điện, than, xăng dầu; công nghiệp hỗ trợ; quản lý và phát triển thị trường.

Đã phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực. Rà soát quy hoạch các dự án thủy điện, loại bỏ một số dự án hiệu quả thấp, tác động tiêu cực đến môi trường. Tăng cường quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác các công trình thủy điện, bảo đảm an toàn vận hành hồ chứa. Quan tâm trồng rừng thay thế; hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho người dân tái định cư các dự án thủy điện. Triển khai Chương trình cấp điện nông thôn miền núi và hải đảo, có trọng tâm, trọng điểm.

Thực hiện giá thị trường theo lộ trình đối với xăng dầu, than, điện gắn với hỗ trợ các đối tượng chính sách, hộ nghèo. Thực hiện thị trường phát điện và bán điện cạnh tranh; xóa độc quyền trong kinh doanh xăng dầu; xóa bao cấp giá bán than cho các hộ tiêu thụ trong nước từ quý IV/2012 và cho sản xuất điện từ tháng 4/2014.

Chủ động, tích cực đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về tiêu thụ, thúc đẩy mở cửa thị trường xuất khẩu. Tích cực thực hiện Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Triển khai đồng bộ các giải pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại; tăng cường kiểm tra, kiểm soát, nhất là tại các địa bàn trọng điểm, khu vực biên giới; phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc giải quyết đất ở và đất sản xuất, bảo đảm sinh kế cho người dân tái định cư các dự án thủy điện còn khó khăn; một số dự án nguồn điện chậm tiến độ; chất lượng hệ thống lưới truyền tải điện còn hạn chế. Cơ chế chính sách về phát triển công nghiệp hỗ trợ chậm được ban hành và thiếu đồng bộ. Đổi mới công nghệ, phát triển các ngành có công nghệ, giá trị gia tăng cao còn chậm. Tiêu thụ một số mặt hàng còn khó khăn. Nhập siêu trở lại. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại còn diễn biến phức tạp.

5. Lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Các nội dung giám sát chuyên đề và chất vấn tập trung vào tái cơ cấu; công tác quy hoạch; quản lý rừng; xây dựng nông thôn mới; cơ chế, chính sách hỗ trợ và đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; kiểm soát vật tư đầu vào.

Tập trung triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và các đề án chuyên ngành cụ thể. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa nông nghiệp; tăng cường vai trò của doanh nghiệp; phát triển kinh tế hộ gia đình; bảo vệ và phát triển rừng gắn với hỗ trợ giảm nghèo ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất, nhân rộng các mô hình hiệu quả… Hỗ trợ tín dụng, tháo gỡ khó khăn, thu mua tạm trữ lúa gạo; hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch; giảm thuế giá trị gia tăng đối với vật tư nông nghiệp; miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuỷ lợi phí cho các hộ gia đình, cá nhân trồng lúa. Ưu đãi ngư dân phát triển đội tàu đánh bắt cá xa bờ gắn với tổ chức lại hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá.

Triển khai Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; áp dụng các quy trình sản xuất tốt đối với các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản chính; triển khai các đề án nâng cao giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản. Tăng tỷ trọng sản phẩm qua chế biến, hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô; xây dựng thương hiệu gạo và các sản phẩm nông nghiệp quốc gia. Tăng cường nghiên cứu và chuyển giao các giống có chất lượng, giá trị cao cho nông dân.

Đã phê duyệt 06 quy hoạch nông nghiệp, 12 quy hoạch lâm nghiệp, 15 quy hoạch thủy lợi, 10 quy hoạch thủy sản… Phê duyệt quy hoạch sử dụng đất lúa đến năm 2022, duy trì 3,8 triệu ha đất trồng lúa; tăng cường quản lý, sử dụng linh hoạt, hiệu quả đất lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho người dân.

Rà soát, công khai quy hoạch 3 loại rừng. Tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp 5 năm (2011 – 2022) cấp quốc gia. Ban hành quy định về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông lâm nghiệp. Trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác.

Đã sửa đổi, bổ sung các tiêu chí; ban hành cơ chế chính sách, thực hiện nhiều giải pháp để huy động mọi nguồn lực xã hội cho xây dựng nông thôn mới. Trong giai đoạn 2011 – 2022, đã huy động được khoảng 852 nghìn tỷ đồng. Tính đến tháng 9/2015, cả nước đã có 1.132 xã (12,7 %) và 09 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Dự kiến hết năm 2022 sẽ có khoảng 1.500 xã đạt chuẩn nông thôn mới (16,8%), bình quân đạt 11,9 tiêu chí/xã (tăng 6,94 tiêu chí so với năm 2011).

Đến hết năm 2022, cơ bản hoàn thiện hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn vật tư nông nghiệp (phân bón, thức ăn chăn nuôi, giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản…). Hỗ trợ nông dân áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, hình thành các chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn; tăng cường kiểm soát chất lượng nông sản nhập khẩu.

Đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư xã hội cho phát triển nông nghiệp và cơ sở hạ tầng nông thôn. Vốn đầu tư từ NSNN và trái phiếu Chính phủ cho nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 – 2022 đạt trên 610 nghìn tỷ đồng, tăng 1,83 lần so với giai đoạn 2006 – 2010. Vốn đầu tư toàn xã hội cho sản xuất nông, lâm, thủy sản gấp 1,6 lần giai đoạn 2006 – 2010. Tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn tăng 21%/năm, cao hơn tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế (18,5%). Hàng năm, còn chi thêm 7 – 8 nghìn tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh.

Tăng trưởng nông nghiệp bình quân giai đoạn 2011 – 2022 đạt 3,1%/năm. Giá trị sản xuất, kim ngạch xuất khẩu, năng suất lao động đều tăng so với năm 2010.

Tuy nhiên, việc thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới chưa đạt yêu cầu; sản xuất nông nghiệp nhìn chung hiệu quả chưa cao; chưa xây dựng được nhiều thương hiệu mạnh; tiêu thụ nông sản và đời sống một bộ phận người dân nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. Quản lý quy hoạch phát triển nông nghiệp, vùng nguyên liệu còn nhiều vướng mắc. Việc đổi mới, phát triển các mô hình tổ chức, liên kết sản xuất và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm; năng suất lao động nông nghiệp còn thấp. Quản lý nhà nước về vật tư nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu và bảo đảm vệ sinh an toàn trong sản xuất, chế biến nông sản còn bất cập. Một số tiêu chí nông thôn mới còn chưa phù hợp; vốn đầu tư từ nguồn NSNN chưa đáp ứng được yêu cầu. Thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế.

6. Lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường

Các nội dung giám sát chuyên đề và chất vấn tập trung vào quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường.

Ban hành và triển khai các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013. Phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2022 và kế hoạch sử dụng đất 2011 – 2022 các cấp (100% cấp tỉnh, 96,82% cấp huyện, 84,75% cấp xã). Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai đạt 33,7% tổng số đơn vị cấp huyện; đã lập bản đồ địa chính trên 72,2% diện tích tự nhiên. Cơ bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị quyết của Quốc hội. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đất đai.

Ban hành và triển khai các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường. Tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề, các lưu vực sông lớn. Xây dựng và thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa đối với toàn bộ 11 lưu vực sông. Xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đạt 89,3%. Hoàn thiện hệ thống cảnh báo thiên tai trong cả nước. Điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội gắn với ứng phó biến đổi khí hậu.

Chú trọng quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả đất đai, nguồn nước, rừng, khoáng sản, tài nguyên biển. Ban hành các quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản. Tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; bảo vệ và phát triển rừng, tỷ lệ che phủ rừng năm 2022 đạt 40,73%. Tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản một số nơi còn lãng phí, hiệu quả chưa cao. Tình trạng vi phạm pháp luật đất đai còn nhiều, xử lý chưa nghiêm, gây thất thoát ngân sách. Ô nhiễm môi trường, nhất là tại làng nghề, khu, cụm công nghiệp, lưu vực sông cải thiện chậm. Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về môi trường còn thiếu và chưa đủ mạnh. Tình trạng ngập lụt ở một số thành phố khắc phục còn chậm. Nguồn lực cho bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu còn hạn chế.

7. Lĩnh vực Giao thông vận tải

Nội dung chất vấn tập trung vào bảo đảm trật tự an toàn giao thông, tái cơ cấu ngành, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch và việc triển khai các dự án trọng điểm quốc gia.

Triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Tập trung hoàn thiện pháp luật[38], đổi mới công tác tuyên truyền. Tăng cường quản lý phương tiện, đăng kiểm, kinh doanh vận tải. Đẩy mạnh tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm vi phạm. Tập trung đầu tư xây dựng, bảo trì, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông. Tổ chức giao thông hợp lý, xóa điểm đen, hoàn thiện hệ thống biển báo, thiết bị an toàn giao thông. Nâng cao chất lượng đào tạo, sát hạch lái xe. Việc kiểm soát tải trọng phương tiện đạt kết quả khá, lượng xe quá tải giảm. Tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí, số vụ giảm từ 44.500 vụ năm 2011 còn 21.900 vụ năm 2022; số người chết giảm từ 11.400 người còn 8.700 người; số người bị thương giảm từ 48.700 người còn 19.900 người. Số người chết giai đoạn 2011 – 2022 giảm 21% so với giai đoạn 2006 – 2010.

Triển khai Đề án tái cơ cấu ngành giao thông vận tải và các đề án tái cơ cấu chuyên ngành. Cơ bản hoàn thành sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành tại các doanh nghiệp trong lĩnh vực giao thông vận tải. Rà soát, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, đề án với mục tiêu phát triển thị trường, kết nối hài hòa, phát huy thế mạnh của các phương thức vận tải. Đẩy mạnh xã hội hóa vận tải, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Xếp hạng về năng lực, chất lượng hạ tầng giao thông và hoạt động logistics của Việt Nam tăng.

Hoàn thành trước thời hạn các dự án mở rộng Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên. Triển khai giai đoạn 1 của Đề án xây dựng cầu dân sinh; đã hoàn thành 187 cầu treo dân sinh trên địa bàn 28 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Đã đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo được trên 131 nghìn km đường giao thông nông thôn.

Tuy nhiên, tai nạn giao thông vẫn còn nghiêm trọng; chưa khắc phục tốt tình trạng ùn tắc giao thông tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người tham gia giao thông chưa cao. Công tác quản lý về kinh doanh vận tải và phương tiện chưa đáp ứng yêu cầu; các phương thức vận tải chưa được kết hợp tốt. Chất lượng một số công trình giao thông chưa bảo đảm. Huy động nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển hạ tầng giao thông còn hạn chế.

8. Lĩnh vực Xây dựng

Nội dung chất vấn tập trung vào thị trường bất động sản, nhà ở xã hội, chất lượng công trình, hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá đầu tư, quy hoạch xây dựng, quản lý đô thị.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra các dự án, công trình xây dựng. Điều chỉnh thanh toán, xuất toán, thu hồi các khoản chi không đúng quy định; xử lý nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm. Đã sửa đổi, bổ sung hơn 13.000 định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở cho việc lập đơn giá, quản lý chi phí và thanh, quyết toán công trình.

Đã ban hành Nghị định về Quản lý đầu tư phát triển đô thị. Rà soát, lập, điều chỉnh các quy hoạch vùng, quy hoạch chung các đô thị; triển khai các quy hoạch phân khu theo quy định của Luật Quy hoạch đô thị; đẩy mạnh công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới.

Tuy nhiên, tồn kho bất động sản vẫn còn khá lớn. Quản lý xây dựng, phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch ở nhiều địa phương còn yếu kém. Chất lượng một số công trình xây dựng còn thấp. Tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng vẫn gây nhiều bức xúc.

9. Lĩnh vực Lao động – Thương binh và Xã hội

Nội dung giám sát chuyên đề và chất vấn tập trung vào giảm nghèo, chính sách người có công, xuất khẩu lao động, đào tạo nghề và bảo hiểm xã hội.

Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, ưu tiên nguồn lực cho giảm nghèo bền vững, tập trung vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn đặc biệt khó khăn. Hoàn thiện và triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, học nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động, nhà ở, bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí cho học sinh dân tộc thiểu số, tín dụng ưu đãi hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, học sinh sinh viên… Đã ban hành chính sách hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng gắn với giảm nghèo ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số Đến cuối năm 2022, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn dưới 4,5%, riêng các huyện nghèo còn dưới 30%.

Tiếp tục hoàn thiện và tích cực thực hiện chế độ, chính sách người có công, đẩy nhanh tiến độ xét duyệt hồ sơ tồn đọng. Cơ bản hoàn thành tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công đối với gần 2,1 triệu người; hỗ trợ về nhà ở cho trên 72 nghìn hộ. Tiếp tục tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; thực hiện các đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Trong giai đoạn 2011 – 2022, đã đưa trên 450 nghìn người đi làm việc ở nước ngoài. Thúc đẩy mở rộng thị trường, nhất là thị trường có thu nhập cao. Đẩy mạnh công tác đào tạo, dạy ngoại ngữ; hỗ trợ các huyện nghèo xuất khẩu lao động. Kịp thời đưa người lao động về nước an toàn khi xảy ra xung đột ở nước sở tại. Tăng cường quản lý nhà nước; thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm<

Tổ chức, sắp xếp lại các trung tâm đào tạo nghề và giáo dục thường xuyên trên địa bàn cấp huyện. Đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chương trình, giáo trình và định hướng dạy nghề theo nhu cầu xã hội. Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách dạy nghề; ưu tiên hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo ở địa bàn đặc biệt khó khăn; nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Từ năm 2011 đến nay, tuyển mới dạy nghề đạt khoảng 9,2 triệu lượt người, trong đó hỗ trợ dạy nghề cho gần 2,4 triệu lao động nông thôn.

Triển khai thực hiện chính sách, pháp luật; đẩy mạnh thông tin truyền thông, nâng cao nhận thức, khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm xã hội. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng từ 9,7 triệu năm 2011 lên trên 12 triệu năm 2022.

Tuy nhiên, một số chính sách giảm nghèo còn chồng chéo, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Chưa giải quyết dứt điểm vướng mắc, tồn đọng trong thực hiện chính sách người có công. Còn tình trạng lao động làm việc ở nước ngoài vi phạm pháp luật; chưa đạt mục tiêu đề ra đối với xuất khẩu lao động ở các huyện nghèo. Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu dạy nghề; chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề còn hạn chế, nhất là đối với lao động nông thôn.

10. Lĩnh vực Y tế

Nội dung giám sát chuyên đề và chất vấn tập trung vào đầu tư cho y tế, chất lượng khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, quản lý thuốc chữa bệnh và cơ sở y tế tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đã ưu tiên bố trí khoảng 7% tổng chi ngân sách nhà nước (7,6% nếu tính cả trái phiếu Chính phủ) và đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích hợp tác công – tư đầu tư phát triển hệ thống cơ sở y tế Triển khai Đề án giảm quá tải bệnh viện; nâng cấp cơ sở vật chất; phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh, chuyển giao kỹ thuật, luân phiên cán bộ y tế xuống cơ sở… Ưu tiên sử dụng ngân sách địa phương và nguồn vốn ODA cho các trạm y tế xã. Nâng cao y đức, đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế. Tăng cường quản lý hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân; kiểm tra, giám sát việc cấp chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động.

Tích cực thực hiện Luật Bảo hiểm y tế; nâng mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo; khuyến khích mua theo hộ gia đình; góp phần giảm chi phí của người bệnh có bảo hiểm y tế

Tăng cường các biện pháp quản lý thuốc chữa bệnh, nhập khẩu trang thiết bị, vật tư y tế; thực hiện quy định về kê khai, công bố, niêm yết giá. Cải cách đấu thầu thuốc, bảo đảm công khai, minh bạch, giảm được giá nhiều loại thuốc. Phát triển công nghiệp dược, khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước.

Thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Triển khai các đề án Đẩy mạnh sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau an toàn; bảo đảm vệ sinh an toàn trong vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm. Triển khai hệ thống cảnh báo nhanh và phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm, ngăn chặn vận chuyển, kinh doanh gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập khẩu trái phép. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm vi phạm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng khám chữa bệnh còn chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là ở tuyến cơ sở; tình trạng quá tải bệnh viện tuyến trung ương chưa được khắc phục căn bản. Việc thanh toán khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, quản lý và đấu thầu thuốc, thiết bị, vật tư y tế còn bất cập. Một số cơ sở y tế chưa thực hiện nghiêm việc niêm yết, kê khai giá theo quy định. Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều yếu kém.

11. Lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo

Triển khai Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, chú trọng liên thông giữa các cấp học, trình độ, hình thức giáo dục, đào tạo. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá; tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia và xét tuyển đại học, cao đẳng năm 2022. Thực hiện Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; hướng dẫn nhà trường, giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và thực tiễn địa phương.

Giai đoạn 2011 – 2022, đã dành 20% tổng chi NSNN cho giáo dục đào tạo, trong đó giáo dục tiểu học chiếm 33%, trung học cơ sở chiếm 22%. Lồng ghép các nguồn vốn, chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án đầu tư khác cho giáo dục.

Điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường và ban hành quy định về thành lập, hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể cơ sở giáo dục đại học. Chú trọng đào tạo theo nhu cầu xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế. Thí điểm thực hiện cơ chế tự chủ đối với một số cơ sở giáo dục đại học công lập. Thực hiện công bố chuẩn đầu ra của các ngành, chuyên ngành đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học.

Tuy nhiên, giáo dục đại học, đào tạo nghề chưa thực sự gắn với nhu cầu xã hội, chất lượng chậm được cải thiện. Việc sử dụng kết quả kỳ thi trung học phổ thông quốc gia để tuyển sinh đại học, cao đẳng còn lúng túng. Cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu.

12. Lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Ban hành và triển khai thực hiện Chương trình hành động về phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng. Phát động nhiều cuộc vận động, phong trào văn hóa. Tăng cường đầu tư, khuyến khích các loại hình văn hóa, nghệ thuật, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Hoàn thiện pháp luật về di sản văn hóa. Chú trọng việc tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh.

Thực hiện Chiến lược phát triển thể dục thể thao và Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam. Ban hành các chính sách phát triển thể thao thành tích cao. Áp dụng cơ chế quản lý thể thao chuyên nghiệp đối với một số môn thể thao. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo vận động viên.

Thực hiện Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam và quy hoạch các vùng du lịch. Tăng cường liên kết, quảng bá, xúc tiến du lịch trong và ngoài nước gắn với xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia Việt Nam. Miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân một số nước. Chú trọng công tác bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách.

Tuy nhiên, vẫn còn những biểu hiện xấu về đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử; một số hoạt động lễ hội phản cảm, lãng phí; những lệch lạc trong sáng tác, biểu diễn. Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động văn hóa còn bất cập. Nhiều công trình thể thao sử dụng không đúng mục đích. Chất lượng dịch vụ du lịch nhìn chung còn thấp; lượng khách quốc tế đến Việt Nam ở mức thấp so với các nước trong khu vực.

13. Lĩnh vực Thông tin và Truyền thông

Xây dựng, trình Quốc hội dự án Luật Báo chí (sửa đổi). Ban hành và triển khai các quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện Tăng cường quản lý nhà nước; xây dựng, trình Quốc hội dự án Luật An toàn thông tin; triển khai hệ thống giám sát, quản lý, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng. Thực hiện Quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia. Đầu tư xây dựng, hiện đại hóa hệ thống hạ tầng viễn thông trong nước và kết nối quốc tế. Chú trọng nghiên cứu phát triển sản phẩm thông tin truyền thông có công nghệ cao. Phòng chống mã độc, tấn công mạng và các doanh nghiệp viễn thông, cung cấp dịch vụ mạng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm.

Tuy nhiên, sai phạm trong hoạt động báo chí còn nhiều; việc ngăn chặn thông tin sai trái, độc hại trên các trang tin điện tử, mạng xã hội rất khó khăn; việc bảo an toàn thông tin, an ninh mạng còn bất cập; chưa xử lý hiệu quả tình trạng tin nhắn rác, sim rác.

14. Lĩnh vực Tư pháp

Nội dung chất vấn tập trung vào triển khai thi hành Hiến pháp 2013, công tác xây dựng pháp luật và thi hành án dân sự.

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và nâng cao chất lượng cán bộ chuyên trách xây dựng pháp luật. Chính phủ đã chú trọng nội dung xây dựng pháp luật tại các phiên họp thường kỳ và tổ chức các phiên họp chuyên đề. Tình trạng nợ đọng văn bản được cải thiện Công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong quá trình soạn thảo văn bản được quan tâm hơn. Kiểm tra, xử lý các văn bản có nội dung trái pháp luật; chủ động phát hiện và tiếp thu phản ánh, kiến nghị; kịp thời xử lý những sai sót, bất cập.

Trình ban hành và triển khai thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự Tập trung kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường thanh tra, kiểm tra; siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ trong công tác thi hành án dân sự.

Tuy nhiên, việc chuẩn bị một số dự án Luật, Pháp lệnh vẫn còn chậm. Còn tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Một số quy định thiếu tính khả thi, chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật. Hiệu quả kiểm soát thủ tục hành chính chưa cao. Quản lý thi hành án dân sự vẫn còn bất cập; năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của một số công chức thi hành án dân sự chưa đáp ứng yêu cầu; số trường hợp vi phạm, bị xử lý có xu hướng tăng.

15. Lĩnh vực Nội vụ

Nội dung chất vấn tập trung vào tổ chức bộ máy biên chế, số lượng cấp phó, chất lượng cán bộ, công chức, viên chức và công tác cải cách hành chính.

Tổ chức, bộ máy cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương được sắp xếp, kiện toàn, cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Cơ quan chuyên môn ở địa phương được giữ ổn định. Triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Quản lý chặt chẽ biên chế công chức, kể cả biên chế dự phòng và số lượng người làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Triển khai xây dựng đề án vị trí việc làm. Thực hiện cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập; thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của một số cơ sở giáo dục đại học công lập.

Tổng số cán bộ cấp Thứ trưởng cơ bản không tăng so với đầu nhiệm kỳ; một số cơ quan tăng do sắp xếp tổ chức Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực và yêu cầu của công tác cán bộ; gần đây Bộ Chính trị điều động một số đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng về các Bộ, ngành. Việc tăng số lượng cấp phó các đơn vị thuộc một số bộ, ngành chủ yếu do sắp xếp, hợp nhất tổ chức bộ máy nội bộ đối với những lĩnh vực có phạm vi, đối tượng quản lý rộng. Số lượng cấp phó ở các Bộ, ngành và địa phương sẽ giảm trong quá trình thực hiện Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Triển khai các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Ban hành 47 tiêu chuẩn ngạch công chức, 21 bộ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức. Đổi mới công tác thi tuyển, thi nâng ngạch công chức theo nguyên tắc cạnh tranh; đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức. Thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thi tuyển và quản lý công chức.

Tích cực triển khai chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, tập trung vào cải cách thủ tục hành chính. Triển khai mô hình một cửa liên thông hiện đại tại 50% đơn vị cấp huyện; thí điểm tổ chức trung tâm hành chính công ở một số địa phương. Thời gian thực hiện thủ tục hành chính được cắt giảm đáng kểTriển khai cơ chế một cửa quốc gia, hệ thống hải quan điện tử, kết nối kỹ thuật một cửa ASEAN. Bước đầu thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Xây dựng các cơ sở dữ liệu điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Tăng cường họp, chỉ đạo điều hành trực tuyến và xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng. Triển khai xây dựng cổng thông tin và mạng hành chính điện tử bốn cấp, xây dựng Chính phủ điện tử.

Tuy nhiên, tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo. Việc đổi mới chế độ công vụ, công chức còn chậm; tinh giản biên chế còn khó khăn. Chất lượng của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực còn rườm rà. Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử còn chậm.

16. Lĩnh vực Thanh tra

Nội dung chất vấn tập trung vào giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng, công tác thanh tra và xây dựng ngành.

Đã ban hành và triển khai thực hiện các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân. Tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài; đã giải quyết xong 512/528 vụ việc, đạt tỷ lệ 97%. Rà soát 503 vụ việc tồn đọng khác, trong đó có 254 vụ việc đủ điều kiện chấm dứt thụ lý, 59 vụ việc đã có văn bản thông báo chấm dứt giải quyết. Lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương cơ bản thực hiện tốt việc tiếp công dân theo quy định.

Đã ban hành và triển khai thực hiện các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Chương trình hành động của Chính phủ và Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng. Đẩy mạnh phổ biến pháp luật và tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, cơ quan báo chí và người dân tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng. Tăng cường hợp tác quốc tế; chủ động, tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

Tăng cường chỉ đạo, giám sát hoạt động thanh tra, bảo đảm công tâm, khách quan, chính xác, đúng pháp luật; đã phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nhiều vi phạm, kịp thời chuyển những vụ việc có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan điều tra theo đúng quy định. Ban hành Nghị định về thực hiện kết luận thanh tra, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện và đôn đốc, kiểm tra, bảo đảm xử lý đến cùng kết luận thanh tra.

Triển khai xây dựng Chiến lược phát triển ngành Thanh tra; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; ban hành các tiêu chuẩn, chế độ, chính sách và chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, phẩm chất của cán bộ, công chức; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn ngành thanh tra.

17. Lĩnh vực An ninh, trật tự an toàn xã hội

Ban hành và tích cực triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đẩy mạnh thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp về an ninh; bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, các sự kiện quan trọng của đất nước. Phát hiện, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ.

Hoàn thiện pháp luật về phòng chống tội phạm và bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội và Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tội phạm. Huy động sự vào cuộc của hệ thống chính trị và toàn dân; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 138/CP trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa; mở nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm theo từng tuyến, địa bàn, loại tội phạm; điều tra khám phá kịp thời các vụ án đặc biệt nghiêm trọng. Từng bước kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Trình Quốc hội ban hành và tập trung triển khai thực hiện Luật Công an nhân dân. Kiện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường công tác cán bộ; chú trọng đào tạo nâng cao phẩm chất, trình độ cho cán bộ, chiến sỹ, nhất là các lực lượng trực tiếp chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tuy nhiên, tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại một số địa bàn vẫn còn phức tạp, đã xảy ra một số vụ án đặc biệt nghiêm trọng; một số tổ chức nhen nhóm hình thành trái pháp luật; còn bị động trong xử lý một số trường hợp gây rối trật tự công cộng.

Thưa Quốc hội,

Thời gian qua, Chính phủ, các Bộ, ngành đã nghiêm túc triển khai các Nghị quyết của Quốc hội và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Nhiều việc đã hoàn thành, cơ bản hoàn thành; một số việc mang tính chất thường xuyên, lâu dài, đang được triển khai tích cực và cũng có những việc triển khai còn chậm, chưa đạt yêu cầu đề ra do có bất cập trong cơ chế, chính sách, việc triển khai chưa quyết liệt, chưa đồng bộ, thiếu nguồn lực cần thiết và cần có thời gian.

Chính phủ tập trung chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương nỗ lực hơn nữa, tiếp tục triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội trong thời gian tới, nhất là những nội dung còn hạn chế, yếu kém.

Chính phủ xin báo cáo và nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội./.

VPCP

Công Bố 15 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

Công Bố 5 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

Công Bố 3 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

Công Bố Các Nghị Quyết Của Quốc Hội

Công Bố 4 Nghị Quyết Của Quốc Hội