Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Nghị Quyết 2334 Của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc

--- Bài mới hơn ---

  • Công Bố 8 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố 9 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố 4 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố Các Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố 3 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Nghị quyết 2334 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã được thông qua vào ngày 23 Tháng 12 năm 2022 và quan ngại hoạt động định cư của Israel trên vùng đất Israel bị chiếm đóng trong chiến tranh sáu ngày năm 1967. Nghị quyết gọi các hoạt động định cư một “trắng trợn vi phạm” luật pháp quốc tế mà có “không có giá trị pháp lý” và yêu cầu Israel ngừng hoạt động như vậy và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình như là một thế lực quyền đóng theo Công ước Geneva thứ tư.

    Việc thông qua nghị quyết “đã nhận được tiếng vỗ tay trong một căn phòng chật cứng người”. Đây là nghị quyết của Hội đồng bảo an đầu tiên được thông qua về Israel và Palestine từ năm 2009, và là nghị quyết đầu tiên để giải quyết các vấn đề khu định cư của Israel với đặc như vậy kể từ khi Nghị quyết 465 vào năm 1980. Trong khi nghị quyết không bao gồm bất kỳ xử phạt hoặc biện pháp cưỡng chế, theo tờ báo Israel Haaretz nó “có thể có hậu quả nghiêm trọng đối với Israel nói chung và đặc biệt cho các công trình định cư” trong trung hạn đến dài hạn.

    Năm 2011, dưới thời chính quyền Barack Obama, Mỹ đã sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn một nghị quyết tương tự của Liên Hiệp Quốc.

    Văn bản Nghị quyết

    Nghị quyết quy định rằng tất cả các biện pháp nhằm thay đổi cơ cấu dân số và tình trạng của vùng lãnh thổ Palestine bị Israel chiếm đóng, bao gồm xây dựng và mở rộng các khu định cư, chuyển định cư Do Thái, tịch thu đất đai, phá hủy nhà cửa và di dời dân thường Palestine đều vi phạm quốc tế luật nhân đạo, nghĩa vụ của Israel như điện chiếm theo Công ước Geneva thứ tư, và các nghị quyết trước đó.

    Nghị quyết cũng lên án mọi hành động bạo lực chống lại dân thường, kể cả khủng bố, khiêu khích và phá hoại. Theo tờ New York Times, đây là “nhằm vào các nhà lãnh đạo Palestine, người Israel cáo buộc của việc khuyến khích các cuộc tấn công vào thường dân Israel”. Nghị quyết nhắc lại hỗ trợ cho các giải pháp hai nhà nước và nhận thấy rằng các hoạt động giải quyết được “đẩy vào tình trạng nguy hiểm đối với” khả năng tồn tại của nó.

    Dự thảo ban đầu được Ai Cập soạn thảo. Tuy nhiên, vào ngày 22 tháng 12, tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump đã kêu gọi Tổng thống Ai Cập Abdel Fattah el-Sisi rút đề nghị, và Ai Cập đã rút lại kiến nghị sau những gì đại sứ nước này gọi là một “áp lực”. Sau đó, ngày 23 tháng 12, dự thảo đã được đưa lên và đề xuất một lần nữa bởi Malaysia, New Zealand, Senegal và Venezuela. [2] Nghị quyết được thông qua với tỷ lệ 14-0; tất cả các thành viên bỏ phiếu thuận cho nghị quyết ngoại trừ Hoa Kỳ bỏ phiếu trắng. Đại sứ Mỹ Samantha Power giải thích bỏ phiếu trắng, bằng cách nói rằng một mặt Liên Hợp Quốc thường không công bằng nhằm vào Israel, rằng có những vấn đề quan trọng chưa được giải quyết bởi nghị quyết, và rằng Hoa Kỳ không đồng ý với mỗi từ trong văn bản; trong khi mặt khác, bà cho rằng nghị quyết này phản ánh tình hình thực địa, mà nó tái khẳng định sự đồng thuận rằng các hoạt động định cư là không hợp pháp, và các hoạt động định cư đã trở nên “tồi tệ hơn nhiều” vì nó gây nguy hiểm đến tính sống còn của hai nhà nước.

    Các phương tiện truyền thông và các nhà quan sát phản Mỹ có ý kiến trái ngược nhau về truyền thống lâu đời của nó về sự phủ quyết nghị quyết nhắm vào Israel về các vấn đề khu định cư. Trong cuộc họp qua nghị quyết này, đại sứ Israel Danny Danon tố cáo các thành viên đã chấp thuận nó, so sánh nó để cấm người Pháp “xây dựng ở Paris”.

    Nghị quyết đặc biệt gây tranh cãi ở Israel, do những lời chỉ trích của chính phủ Israel. Chính phủ Israel triệu hồi đại sứ của mình từ New Zealand và Senegal (Israel không có quan hệ ngoại giao với Venezuela hoặc Malaysia) và hủy bỏ tất cả các chương trình viện trợ cho Senegal để đáp trả với đoạn văn của nghị quyết. Israel cũng đã hủy bỏ kế hoạch thăm của Ngoại trưởng Senegal tới Israel, và các chuyến viếng thăm khác của đại sứ không thường trú của Senegal và New Zealand. Một chuyến thăm dự kiến ​​của thủ tướng Ukraine cũng đã bị hủy bỏ bởi Israel. Netanyahu cũng tuyên bố rằng: “Nghị quyết đã được thông qua bởi Liên Hiệp Quốc ngày hôm qua là một phần của tiếng hót thiên nga của thế giới cũ mà có thành kiến ​​chống lại Israel. Nhà lãnh đạo đối lập Israel Isaac Herzog, trả lời rằng ông Netanyahu đã “tuyên chiến tối nay đối với thế giới, với Hoa Kỳ, Châu Âu, và đang cố gắng bình tĩnh chúng ta bằng sự yêu mến.”

    Ngay sau khi đoạn văn của Nghị quyết, chính phủ Israel tuyên bố sẽ không tuân thủ các điều khoản của nó. Văn phòng của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho rằng “chính quyền Obama không chỉ thất bại trong việc bảo vệ Israel chống lại điều này băng đảng tại Liên Hợp Quốc, nó đã cấu kết với nó đằng sau hậu trường”, nói thêm: “Israel trông đợi được làm việc với Tổng thống đắc cử Trump và với tất cả bạn bè của chúng tôi trong Quốc hội, đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ như nhau, để phủ nhận những ảnh hưởng có hại của nghị quyết vô lý này. “

    Chính phủ Israel cũng lo ngại rằng lời kêu gọi của nghị quyết để phân biệt giữa các vùng lãnh thổ của Israel và các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng sẽ khuyến khích phong trào tẩy chay, tước bỏ và cấm vận Netanyahu said that Israel have to reevaluate its ties with UN following the adaptation by Security Council.. Netanyahu nói rằng Israel phải đánh giá lại mối quan hệ với Liên Hiệp Quốc sau sự thích ứng của Hội đồng Bảo an.

    Trưởng đoàn đàm phán Palestine Saeb Erekat cho biết, “đây là một ngày chiến thắng cho luật pháp quốc tế, một chiến thắng cho ngôn ngữ văn minh, thương lượng và sự bác bỏ hoàn toàn đối với các lực lượng cực đoan ở Israel. Cộng đồng quốc tế đã nói với dân Israel rằng cách đối với an ninh và hòa bình sẽ không được thực hiện thông qua chiếm đóng, mà là thông qua hòa bình, chấm dứt sự chiếm đóng và thành lập một nhà nước Palestine sống bên cạnh nhà nước Israel trên tuyến biên giới 1967.”

    1. “Israel’s Settlements Have No Legal Validity, Constitute Flagrant Violation of International Law, Security Council Reaffirms: 14 Delegations in Favour of Resolution 2334 (2016) as United States Abstains”. UN. Ngày 23 tháng 12 năm 2022.
    2. Ravid, Barak. “Analysis Understanding the UN Resolution on Israeli Settlements: What Are the Immediate Ramifications?”, Haaretz (ngày 24 tháng 12 năm 2022): “But it is the first to deal so specifically with the settlements in over 35 years. The pvious such resolution, Resolution 465, was adopted by the Security Council in March 1980 (you can read it in full here). That being said, since 1980, the Israeli-Palestinian conflict has undergone dramatic changes, the extent of the Israeli settlement enterprise has grown dramatically, and international community’s focus on the settlements as a threat to the viability of the two-state solution has also increased markedly.”
    3. “Full text of US envoy Samantha Power’s speech after abstention on anti-settlement vote”.
    4. Israeli ambassador recalled from New Zealand after UN resolution, NZ Herald
    5. Raphael Ahren (ngày 24 tháng 12 năm 2022). “PM cancels visit of Ukrainian PM after Kiev supports anti-settlements resolution”.
    6. Peter Baker,’U.S. Transition Puts Israeli Focus Back on Palestinians,’New York Times ngày 24 tháng 12 năm 2022.
    7. “Israeli settlements: UN Security Council calls for an end”. . Ngày 23 tháng 12 năm 2022.
    8. “Israel to re-assess U.N. ties after settlement resolution, says Netanyahu”. Ngày 25 tháng 12 năm 2022 – qua Reuters.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mỹ Phủ Quyết Dự Thảo Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Về Jerusalem
  • Việt Nam Và Việc Thực Thi Các Nghị Quyết Trừng Phạt Triều Tiên Của Hội Đồng Bảo An Lhq
  • Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Thông Qua Nghị Quyết 2371 Trừng Phạt Bắc Triều Tiên
  • Đề Xuất Của Việt Nam Được Đưa Vào Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Lhq
  • Điểm Mới 11 Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 8
  • Mỹ Phủ Quyết Dự Thảo Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Về Jerusalem

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 2334 Của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc
  • Công Bố 8 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố 9 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố 4 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố Các Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Cập nhật lúc 08:27, Thứ tư, 20/12/2017

    Một phiên họp của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc

    về Jerusalem trong tháng 12/2017. (Ảnh: Getty Images)

    Bản dự thảo nghị quyết dài 1 trang này đã được đệ trình lên các nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc xem xét vào tuần trước. Trong đó có nội dung nhằm tái khẳng định lập trường của cơ quan quyền lực Liên hợp quốc nhằm kêu gọi các nước không thiết lập Đại sứ quán tại Jerusalem. Bản dự thảo nghị quyết nêu rõ, bất kỳ quyết định, biện pháp hay hành động nào có thể dẫn tới việc thay đổi quy chế của Jerusalem đều không mang tính pháp lý, cần phải được bãi bỏ. Quy chế của Jerusalem là một vấn đề phải được giải quyết bởi chính người Israel và Palestine. Ngoài ra, bản dự thảo nghị quyết cũng kêu gọi các nước không công nhận bất cứ hành động hay biện pháp nào đi ngược lại các bản nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đồng thời kiềm chế trước việc thành lập các phái đoàn ngoại giao tại Jerusalem.

    Bản dự thảo nghị quyết này được xem là phản ứng của cộng đồng quốc tế trước việc Tổng thống Mỹ Donald Trump, ngày 6/12 đã quyết định rời Đại sứ quán từ Tel Aviv tới Jerusalem và tuyên bố rằng “đã đến lúc” công nhận thành phố linh thiêng này là thủ đô của Israel.

    Lý giải về việc Mỹ phủ quyết bản dự thảo của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về Jerusalem, Đại diện thường trực của Mỹ tại Liên hợp quốc – bà Nikki Jaley nêu rõ, đây là biện pháp nhằm bảo vệ quyền tối cao của nước Mỹ và Washington có quyền lựa chọn địa điểm để đặt Đại sứ quán.

    Phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Đặc phái viên của Liên hợp quốc về tiến trình hòa bình Trung Đông – ông Nickolay E. Mladenov cho biết, kể từ sau tuyên bố mới nhất của ông D.Trump, bạo lực tại khu vực đã có dấu hiệu leo thang. Tính cho tới nay, đã có ít nhất 27 cuộc tấn công tên lửa được thực hiện từ Dải Gaza, chưa kể tới các cuộc đụng độ giữa lực lượng an ninh Israel và người biểu tình Palestine vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, đi kèm theo là những lời kêu gọi về một phong trào nổi dậy mới tại Palestine.

    Thu Lan (Theo NHK, TASS, The New York Times)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Và Việc Thực Thi Các Nghị Quyết Trừng Phạt Triều Tiên Của Hội Đồng Bảo An Lhq
  • Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Thông Qua Nghị Quyết 2371 Trừng Phạt Bắc Triều Tiên
  • Đề Xuất Của Việt Nam Được Đưa Vào Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Lhq
  • Điểm Mới 11 Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 8
  • Quốc Hội Công Bố Nghị Quyết Về Đầu Tư Sân Bay Long Thành Giai Đoạn 1
  • Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Thông Qua Nghị Quyết 2371 Trừng Phạt Bắc Triều Tiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Việt Nam Và Việc Thực Thi Các Nghị Quyết Trừng Phạt Triều Tiên Của Hội Đồng Bảo An Lhq
  • Mỹ Phủ Quyết Dự Thảo Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Về Jerusalem
  • Nghị Quyết 2334 Của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc
  • Công Bố 8 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố 9 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Hội đồng bảo an Liên hợp quốc hôm 5/8 (theo giờ địa phương) đã mở cuộc họp dưới sự chủ trì của Ai Cập, nước Chủ tịch luân phiên trong tháng này, và thông qua dự thảo nghị quyết mới số 2371 về cấm vận Bắc Triều Tiên, với sự nhất trí của toàn bộ các nước thành viên, trong đó có cả Nga và Trung Quốc.

    Nghị quyết lần này có nội dung cấm hoàn toàn việc xuất khẩu khoáng sản và thủy sản của Bắc Triều Tiên, trong đó có than đá, mặt hàng xuất khẩu chính của miền Bắc, cũng như sắt và quặng sắt.

    Bắc Triều Tiên dự kiến sẽ phản đối quyết liệt nghị quyết mới lần này do nội dung nghị quyết đặt trọng tâm vào việc ngăn chặn dòng tiền của miền Bắc, gây sức ép khiến nước này phải giải trừ hạt nhân và tên lửa.

    Hội đồng bảo an lên án các vụ phóng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) của Bình Nhưỡng gần đây với lời lẽ quyết liệt nhất, hối thúc Bắc Triều Tiên dừng phóng tất cả các loại tên lửa, giải trừ vũ khí hạt nhân và chương trình phát triển hạt nhân “một cách toàn diện, có thể kiểm chứng và không thể đảo ngược”.

    Tuy nhiên, nội dung cấm xuất khẩu dầu thô cho miền Bắc vẫn không thể vượt qua được “cửa ải” là Nga và Trung Quốc, không xuất hiện trong nghị quyết mới lần này, dự kiến sẽ một lần nữa làm dấy lên tranh cãi về hiệu quả của nỗ lực cấm vận.

    Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lao động ra nước ngoài của miền Bắc, vốn là một kênh thu ngoại tệ quan trọng của nước này, sẽ bị đóng băng từ thời điểm nghị quyết được thông qua. Bắc Triều Tiên hiện đang có hơn 50.000 lao động làm việc tại hơn 40 quốc gia trên toàn thế giới.

    Hội đồng bảo an bổ sung vào danh sách cấm vận bốn tổ chức của miền Bắc là Ngân hàng thương mại Chosun, Tập đoàn phát triển ở nước ngoài Mansudae (Mansudae Overseas Project Group of Companies), Tổng công ty bảo hiểm quốc gia Bắc Triều Tiên (Korean National Insurance Company), Ngân hàng phát triển tín dụng Koryo (Koryo Credit Development Bank). Danh sách cấm vận còn bổ sung thêm chín cá nhân, bao gồm cả Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc tế Ilsim Choe Chun-yong, Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại Chosun Han Jang-su.

    Ủy ban cấm vận Bắc Triều Tiên trực thuộc Hội đồng bảo an cũng đã chỉ định các tàu thuyền của miền Bắc là đối tượng vi phạm nghị quyết của Hội đồng bảo an, cấm các nước thành viên Liên hợp quốc cho phép các tàu thuyền nói trên của miền Bắc cập cảng nước mình. Nghị quyết mới cũng cấm vận các quốc gia có hợp tác đầu tư với Bắc Triều Tiên dưới bất cứ hình thức nào.

    Phát biểu tại phiên biểu quyết cùng ngày, Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Nikki Haley, người đóng vai trò chủ đạo trong nghị quyết lần này, đánh giá các biện pháp cấm vận mới sẽ giáng đòn trừng phạt nặng nề vào miền Bắc, khiến tổng kim ngạch xuất khẩu của Bình Nhưỡng giảm đi một phần ba.

    Bà Haley nhấn mạnh Bắc Triều Tiên đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn, kêu gọi cộng đồng quốc tế có thêm những hành động bổ sung.

    Đại sứ Trung Quốc tại Liên hợp quốc Lưu Kết Nhất hối thúc Bắc Triều Tiên dừng các hành vi đẩy cao thêm căng thẳng, nhưng cũng đồng thời yêu cầu Mỹ và Hàn Quốc dừng kế hoạch triển khai tổ hợp tên lửa đánh chặn tầm trung cao (THAAD) bởi điều này sẽ không giúp ích cho tiến trình giải quyết vấn đề hạt nhân, tên lửa miền Bắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Xuất Của Việt Nam Được Đưa Vào Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Lhq
  • Điểm Mới 11 Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 8
  • Quốc Hội Công Bố Nghị Quyết Về Đầu Tư Sân Bay Long Thành Giai Đoạn 1
  • Quốc Hội Thông Qua Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Các Kỳ Họp Đặc Biệt Khẩn Cấp Của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Hội Đồng Lhq Thông Qua Nghị Quyết Kêu Gọi Dỡ Bỏ Lệnh Cấm Vận Của Mỹ Đối Với Cuba
  • Nghị Quyết 1803 (Xvii) Ngày 14/12/1962 Của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc Về ‘chủ Quyền Vĩnh Viễn Đối Với Tài Nguyên Thiên Nhiên’
  • Công Tác Cán Bộ Là “công Việc Gốc” Của Đảng
  • Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng Theo Nghị Quyết Số 04
  • Cần Nghị Quyết Về Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Nghị quyết 377A (V) năm 1950 – Các khía cạnh pháp lý – Danh sách các kỳ họp đặc biệt khẩn cấp trong lịch sử – Quyền phủ quyết (quyền veto)

    Ngày 21 tháng 12 năm 2022 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã triệu tập lại kỳ họp đặc biệt khẩn cấp thứ 10 ( emergency special sessions) để xem xét việc Tổng thống Mỹ Donald Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel vào ngày 06/12/2017. Đây là phiên họp thứ 17 trong chuỗi các phiên họp thuộc kỳ họp đặc biệt khẩn cấp thứ 10. Cho đến hiện nay, Đại hội đồng chỉ có 10 kỳ họp đặc biệt khẩn cấp; có kỳ họp chỉ họp một phiên, có kỳ họp được triệu tập và triệu tập lại nhiều phiên (xem danh sách bên dưới).

    Cơ sở pháp lý để triệu tập phiên họp này là Nghị quyết 377 (V) của Đại hội đồng thông qua ngày 03/11/1950. Tiêu đề của Nghị quyết này là “Đoàn kết vì Hoà bình” (Uniting for Peace), do đó, đôi khi cũng được gọi là Nghị quyết Đoàn kết vì Hoà bình. Nghị quyết này được đưa ra nhằm phản ứng lại tình trạng bế tắc của Hội đồng Bảo an khi Liên Xô với quyền phủ quyết (quyền veto, xem giải thích thêm về quyền này ở cuối bài) của mình liên tục ngăn Hội đồng thông qua các hành động trong bối cảnh Chiến tranh Triều Tiên năm 1950.

    “… nếu Hội đồng Bảo an, do không có sự thống nhất giữa các thành viên thường trực, thất bại trong việc thực thi trách nhiệm chính yếu trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế trong bất kỳ trường hợp nào có mối đe dọa đến hòa bình, vi phạm hòa bình hay có hành vi xâm lược, Đại hội đồng sẽ xem xét vấn đề ngay lập tức với quan điểm nhằm đưa ra khuyến nghị phù hợp cho các Thành viên về các biện pháp tập thể, bao gồm việc sử dụng lực lượng vũ trang khi cần thiết trong trường hợp vi phạm hòa bình hay có hành vi xâm lược nhằm duy trì hay khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế. Nếu không đang trong kỳ họp, Đại hội đồng có thể họp trong một phiên họp đặc biệt khẩn cấp trong 24 giờ kể từ khi có yêu cầu. Phiên họp đặc biệt khẩn cấp sẽ được triệu tập nếu được Hội đồng Bảo an bằng bỏ phiếu của bảy thành viên bất kỳ hoặc được đa số Thành viên của Liên hợp quốc yêu cầu.”

    Như vậy, có ba điều kiện để triệu tập một kỳ họp đặc biệt khẩn cấp bao gồm: (i) Hội đồng Bảo an không thể thực thi trách nhiệm của mình do việc sử dụng quyền phủ quyết của thành viên thường trực, (ii) có mối đe dọa đến hòa bình, vi phạm hòa bình hay có hành vi xâm lược, và (iii) có nghị quyết triệu tập của Hội đồng Bảo an hay theo đa số các quốc gia thành viên.

    ***

    Hiến chương Liên hợp quốc quy định trách nhiệm chính yếu duy trì hòa bình và an ninh quốc tế là của Hội đồng Bảo an, do đó, việc Đại hội đồng tự ra nghị quyết nhận trách nhiệm này – nếu Hội đồng không làm tròn được trách nhiệm đó – đặt ra câu hỏi liệu Nghị quyết 377 (V) có vi phạm vào quyền hạn của Hội đồng hay không. Trong các án lệ của mình, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã khẳng định trách nhiệm của Đại hội đồng đối với việc duy trì hòa bình an ninh quốc tế theo Nghị quyết 377 (V). Trong khi trách nhiệm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế được quy định là ” trách nhiệm chính yếu” (primary responsibility) của Hội đồng Bảo an, thì trách nhiệm này không phải là độc quyền (exclusive).

    Trong 10 kỳ họp đặc biệt khẩn cấp, 07 kỳ do Hội đồng Bảo an triệu tập, 03 kỳ do sáng kiến của các quốc gia. Cụ thể: Ý kiến tư vấn của Tòa ICJ năm 2004, đoạn 26. Xem Nghị quyết ES-10/14 ngày 12/12/2003.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Công Bố Các Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Quốc Hội Ban Hành Nghị Quyết Phê Chuẩn Bổ Nhiệm 3 Thẩm Phán Tandtc
  • Công Bố 19 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Và Nhân Sự
  • Tổng Hợp 18 Văn Bản Hướng Dẫn Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Nghị Quyết 01 Hướng Dẫn Bộ Luật Hình Sự
  • Các Cơ Chế Của Liên Hợp Quốc Về Bảo Vệ Và Thúc Đẩy Quyền Con Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Qua Đèo Ngang – Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Giáo Án Ngữ Văn 7: Qua Đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan)
  • Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Văn Bản Quản Lí Hành Chính Nhà Nước
  • Tìm Hiểu Về Chuyên Ngành Quản Lý Nhà Nước – Hubt
  • Ngô Thị Bích Quyên – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Topcareer

    Về cơ bản, cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người được thể hiện ở bộ máy các cơ quan và quy tắc, thủ tục về thúc đẩy, bảo vệ quyền con nguởi trong tổ chức Liên hợp quốc. Dựa trên địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy thì các cơ quan về quyền con người của Liên hợp quốc được chia thành hai dạng: Các cơ quan được thành lập (hoặc dựa trên) Hiến chương (charter – based mechanism) và cơ chế qua charter bodies, và các cơ quan được thảnh lập theo hoặc dựa trên một số điều ước quan trọng về quyền con người (treaty bodies). Một số tài liệu gọi hệ thống các cơ quan và thủ tục này là cơ chế dựa trên Hiến chương (charter based mechanism) và cơ chế dựa trên điều ước (treaty based mechanism).

    1.  Cơ chế dựa trên Hiến chương (Charter – based mechanism)

    Bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc nên cả 6 cơ quan chính (Đại hội đồng – General essembly; Hội đồng bảo an – Security council, Hội đồng kinh tế và xã hội – Economic and social council Ecosoc; Hội đồng quản thác – Trusteeship council và Tòa án quốc tế – Intemetional court of justice) đều có trách nhiệm trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, có một số cơ quan giúp việc về quyền con người; xây dựng và thực thi quy chế để huy động sự tham gia, hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (quốc tế, khu vực và quốc gia) vào hoạt động thúc đầy và bảo vệ quyền con người. Cụ thể như sau:

    1.1.   Hội đồng quyền con người của Liên hợp quốc

    Hội đồng quyền con người của Liên hợp quốc (UN Human Rights Council – HRC) là cơ quan mới được thành lập theo Nghị quyết số 60/251 ngày 03/4/2006 của Đại hội đồng Liên hợp quốc để thay thế cho Ủy ban quyền con người (CHR). Do Ủy ban quyền con người trước đây và Hội đồng quyền con người (HRC) hiện nay, đóng vai trò “đầu tàu” trong bộ máy các cơ quan về quyền con người Liên hợp quốc, nên sự kiện thành lập HRC được nhiều tổ chức và chuyên gia đánh giá là hứa hẹn mở ra “một trang mới” trong hoạt động của Liên hợp quốc trên lĩnh vực này.

    Phương thức hoạt động của HRC là đưa ra báo cáo hoạt động hàng năm với Đại hội đồng hay còn gọi là cơ chế “Đánh giá định kỳ chung (phổ quát) – Universal Periodic Review – UPR). Thay thế cho phương thức hoạt động của ủy ban nhân quyền trước đây là: Hàng năm, chọn ra các vụ việc nghiêm trọng nhất về quyền con người xảy ra ở các quốc gia trên thế giới để đưa ra xem xét, đánh giá, thì Hội đồng quyền con ngưòi tiến hành một thủ tục mới là đánh giá định kỳ chung (UPR). UPR sẽ đánh giá định kỳ việc tuân thủ các nghĩa vụ và cam kết về quyền con người của tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc dựa trên các báo cáo từ các nguồn khác nhau.

    Để thực hiện UPR, một Nhóm công tác (working group) về UPR do HRC thành lập sẽ tiến hành ba kỳ họp mỗi năm, mỗi kỳ họp kéo dài 2 tuần để đánh giá 16 quốc gia. Như vậy, mỗi năm UPR sẽ đánh giá đuợc 48 quốc gia và phải mất bốn năm để hoàn tất thủ tục này với toàn bộ 192 quốc gia thành viên của Liên hơp quốc (dự tính đến hết năm 2011, với 12 kỳ họp mới có thể kết thúc vòng đánh giá đầu tiên theo UPR).

    Tiến trình UPR về cơ bản bao gồm các bước như sau:

    -          Xem xét, đánh giá: Được thực hiện ở Geneva dưới dạng đối thoại trong ba giờ giữa quốc gia được xem xét với các thành viên Nhóm công tác về UPR, các quốc gia thành viên và quan sát viên của HRC.

    -          Thực hiện các khuyến nghị: Quốc gia được xem xét sẽ áp dụng các khuyến nghị đã nêu trong báo cáo và thông báo về kết quả của việc áp dụng các khuyến nghị đó trong lần báo cáo định kỳ tiếp theo của nước mình.

    1.2.  Ủy ban cố vấn (Advisory Committee)

    Tương tự như mô hình tiểu ban thúc đẩy và bảo vệ quyền con người của CHR trước đây, HRC thành lập một ủy ban cố vấn để hỗ trợ Hội đồng trong các hoạt động chuyên môn. Ủy ban này bao gồm 18 chuyên gia được Hội đồng bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín từ danh sách các ứng cử viên mà các quốc gia thành viên đề cử. Mặc dù vậy, các chuyên gia thành viên của ủy ban hoạt động với tư cách cá nhân. Nhiệm kỳ của mỗi chuyên gia là 3 năm, chỉ được bầu lại một lần.

    Cơ cấu của ủy ban cố vấn được cân nhấc để đảm bảo tính cân bằng về giới và về khu vực địa lý. Cụ thể, để đảm bảo sự cân bằng về khu vực địa lý, thành phần của ủy ban được phân bổ như sau: Các quốc gia châu Phi: 5 ghế; các quốc gia Châu Á: 5 ghế; các quốc gia Đông Âu: 2 ghế; các quốc gia Châu Mỹ La tinh và Caribê: 3 ghế; các quốc gia Tây Âu và các quốc gia ở khu vực khác: 3 ghế.

    Về hoạt động, ủy ban cố vấn họp tối đa 2 kỳ một năm, mỗi kỳ tối đa 10 ngày, ngoài ra có thể họp các kỳ bổ sung với sự chấp thuận của HRC. Về trách nhiệm, ủy ban cố vấn chịu sự điều phối của HRC. Hội đồng có thể yêu cầu toàn bộ, một nhóm thành viên hoặc một cá nhân thành viên của ủy ban cố vấn thực hiện những nhiệm vụ nhất định.

    2. Cơ chế dựa trên công ước (Treaty – based mechanism)

    Cơ chế này được dựa trên các ủy ban giám sát việc thực hiện một số công ước quốc tế về quyền con người (treaty-based bodies), được thành lập theo quy định của chính các công ước đó (ngoại trừ Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được thành lập theo một Nghị quyết của ECOSOC).

    Hiện tại, có 9 công ước được coi là điều ước quốc tế căn bản về quyền con người (core international human riẹhts treaties) của Liên hợp quốc. Một trong số đó hiện chưa có hiệu lực là Công ước về cưỡng bức đưa đi mất tích. Các công ước còn lại được giám sát bởi các ủy ban giám sát và một cơ quan tương tự là nhóm công tác. Cụ thể, các Ủy ban giám sát công ước đang hoạt động bao gồm: ủy ban về xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc (thành lập theo Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965); ủy ban quyền con người (thành lập theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966); ủy ban về xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ (thành lập theo Công ước quốc tế về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979); ủy ban chống tra tấn (thành lập theo Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác năm 1987); ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (thành lập theo một nghị quyết của ECOSOC); ủy ban về quyền trẻ em (thành lập theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989); Ủy ban bảo vệ quyền của những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ (thành lập theo Công ước về bảo vệ quyền của những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ năm 1990); ủy ban về quyền của người khuyết tật (thành lập theo Công uớc về quyền của người khuyết tật năm 2007).

    3. Những điểm khác biệt cơ bản giữa hai cơ chế

    Việc áp dụng cơ chế dựa trên Hiến chương là nghĩa vụ phổ quát, có tính chất bắt buộc giữa các quốc gia trên thế giới. Còn cơ chế dựa trên công ước thì phụ thuộc vào việc quốc gia đó tham gia vào điều ước như thế nào.

    1.Hiến chương Liên Hiệp Quốc của Liên Hiệp Quốc (Conference on International Organization) ký kết tại San Fransisco, California, Hoa Kỳ, ngày 26/6/1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24/10/1945 sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập – Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, Anh, Hoa Kỳ và nhiều nước khác.

    2. Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Khoa Luật – ĐHQGHN, 2009.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định Kỷ Luật Sinh Viên Vi Phạm Nội Quy
  • Mẫu Quyết Định Cử Đi Công Tác Năm 2022
  • Chợ Lách Sẳn Sàng Cho Năm Học Mới
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Huyện Can Lộc
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Huyện Bù Đăng Tổng Kết Năm Học 2022 – 2022
  • Báo Cáo Tổng Hợp Về Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Phủ Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Chính Phủ Báo Cáo Về Kết Quả Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Chính Phủ Chuẩn Bị Báo Cáo Thực Hiện Các Nghị Quyết Về Giám Sát Của Quốc Hội Cho Kỳ Họp Thứ 10
  • Báo Cáo Của Chính Phủ Về Việc Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Quốc Hội Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn
  • Sai Phạm Trong Kỳ Thi Thpt Quốc Gia Ảnh Hưởng Tiêu Cực Đến Niềm Tin Xã Hội
  • Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thưa các đồng chí Lão thành cách mạng và các vị khách, Thưa đồng chí, đồng bào,

    Theo Chương trình kỳ họp và thực hiện Nghị quyết số 74/2014/QH13 của Quốc hội, Chính phủ đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội 17 Báo cáo kết quả thực hiện 07 Nghị quyết về giám sát chuyên đề và 07 Nghị quyết về chất vấn từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến năm 2022.

    Theo phân công của đồng chí Thủ tướng, thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo tổng hợp một số nội dung chủ yếu của các báo cáo nêu trên như sau:

    1. Lĩnh vực Kế hoạch và Đầu tư

    Các nội dung giám sát và chất vấn tập trung vào quản lý và sử dụng vốn đầu tư công, ODA, vay ưu đãi, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, thu hút vốn đầu tư dưới hình thức đối tác công tư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tái cơ cấu kinh tế.

    Chính phủ, các Bộ, ngành tiếp tục tập trung hoàn thiện chính sách, pháp luật. Triển khai thực hiện Luật Đầu tư công. Tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Xây dựng và thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn. Bố trí vốn tập trung, khắc phục một bước tình trạng phân tán, dàn trải. Rà soát, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án quan trọng. Xác định rõ nguồn và khả năng cân đối vốn trước khi quyết định đầu tư. Kiểm soát, ưu tiên bố trí nguồn thanh toán nợ xây dựng cơ bản và thu hồi vốn ứng trước.

    Thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy nhanh giải ngân; tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi.

    Quản lý chặt chẽ vốn chương trình mục tiêu quốc gia, tập trung cho các nhiệm vụ thật sự cần thiết, tạo điều kiện cho các Bộ, ngành địa phương chủ động bố trí vốn, bảo đảm hiệu quả. Chính phủ đã báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp này về tình hình thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 – 2022 và kế hoạch giai đoạn 2022 – 2022.

    Nâng cao hiệu quả huy động các nguồn vốn ngoài nhà nước vào phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông và khuyến khích đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Thu hút đầu tư nước ngoài, ưu tiên các dự án có sức lan tỏa, công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, thân thiện với môi trường và sản phẩm có sức cạnh tranh cao.

    Triển khai tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty; tập trung cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đã sắp xếp 464 DNNN, trong đó cổ phần hóa 404 doanh nghiệp.

    Triển khai Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; phấn đấu đến hết năm 2022 các chỉ tiêu môi trường kinh doanh của Việt Nam đạt và vượt mức trung bình các nước ASEAN-6.

    Tập trung thực hiện các đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng từ 79,9% năm 2011 lên 82,5% năm 2022. Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phát triển phù hợp hơn với kinh tế thị trường. Thực hiện Chiến lược Biển, gắn phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ chủ quyền biển đảo.

    Tuy nhiên, việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư công ở một số nơi còn chưa nghiêm. Vẫn còn tình trạng điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư. Tình trạng chậm tiến độ, nợ đọng xây dựng cơ bản ở một số nơi khắc phục chậm. Hiệu quả đầu tư công chưa cao. Thu hút các nguồn vốn ngoài nhà nước tham gia vào đầu tư phát triển chưa thật hiệu quả. Nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA và vay ưu đãi còn hạn hẹp. Thu hút đầu tư xã hội và đầu tư nước ngoài vào cơ sở hạ tầng chưa nhiều. Tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm. Việc sắp xếp, cổ phần hóa DNNN ở nhiều ngành, lĩnh vực và sắp xếp, đổi mới nông lâm trường, công ty nông lâm nghiệp chưa đạt tiến độ đề ra; tỷ lệ vốn được cổ phần hóa còn thấp.

    2. Lĩnh vực Tài chính

    Các nội dung giám sát và chất vấn tập trung vào việc quản lý giá, thực hiện lộ trình giá thị trường, tái cấu trúc và phát triển thị trường chứng khoán, bảo hiểm, chống thất thu, bảo đảm cân đối NSNN và quản lý nợ công.

    Tích cực triển khai Luật Giá. Thực hiện cơ chế giá thị trường; bình ổn giá đối với hàng hóa và dịch vụ thiết yếu; thực hiện lộ trình giá thị trường đối với điện, xăng dầu, than, dịch vụ y tế, giáo dục… gắn với hỗ trợ đối tượng chính sách, hộ nghèo.

    Thực hiện các giải pháp bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước; tập trung chống thất thu, nợ đọng thuế, chuyển giá; tăng cường thanh tra, kiểm tra. Hiện đại hoá công tác quản lý; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức thuế, hải quan. Đã cắt giảm được 420 giờ nộp thuế; trên 98% các doanh nghiệp đã kê khai thuế qua mạng; 80% doanh nghiệp đã nộp thuế theo phương thức điện tử; trên 98% kim ngạch xuất nhập khẩu đã được thông quan điện tử.

    Trong bối cảnh kinh tế phát triển không thuận lợi, tăng trưởng thấp hơn dự kiến trong khi nhu cầu tăng chi ngân sách nhà nước cho con người, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh và đầu tư phát triển là rất lớn, Quốc hội cho phép duy trì bội chi NSNN ở mức phù hợp (bình quân giai đoạn 2011 – 2022 là 5,3% GDP, năm 2022 là 5%).

    Thực hiện các giải pháp tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công. Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật; ban hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về quản lý nợ công. Chỉ sử dụng nợ công cho đầu tư phát triển. Việc điều hành vay và trả nợ thực hiện theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và kế hoạch vay, trả nợ hàng năm được phê duyệt. Các chỉ tiêu nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn quy định. Cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng tỷ trọng vốn vay trung và dài hạn với lãi suất hợp lý để giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn. Quản lý chặt chẽ hơn các khoản vay Chính phủ bảo lãnh và vay của chính quyền địa phương. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc sử dụng vốn vay.

    Tăng cường quản lý NSNN, từng bước cơ cấu lại các nhiệm vụ, chương trình, dự án theo hướng lồng ghép, tiết giảm, bảo đảm các nhiệm vụ chi cần thiết, quan trọng và theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định; xử lý nghiêm thất thoát, lãng phí.

    Tuy nhiên, cân đối ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, cơ cấu chưa hợp lý, chi thường xuyên lớn, bội chi còn cao. Quản lý và sử dụng NSNN ở một số bộ ngành, địa phương còn chưa chặt chẽ. Còn tình trạng thất thu, nợ đọng thuế, chuyển giá và lãng phí trong chi NSNN. Nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn. Việc sử dụng các khoản vay do Chính phủ bảo lãnh và vay của chính quyền địa phương ở một số dự án hiệu quả còn thấp. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu nhìn chung còn chậm.

    3. Lĩnh vực Ngân hàng

    Nội dung chất vấn tập trung vào điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn, quản lý, kinh doanh vàng, ngoại tệ, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu.

    Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng linh hoạt, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa. Điều chỉnh giảm lãi suất phù hợp với diễn biến vĩ mô và lạm phát; mặt bằng lãi suất hiện nay bằng khoảng 40% so với năm 2011. Thị trường tiền tệ dần ổn định, thanh khoản của nền kinh tế và toàn hệ thống được cải thiện. Điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt, ổn định thị trường ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế giai đoạn 2011 – 2014 tăng 12,6%/năm; dự kiến năm 2022 tăng khoảng 17%; cơ cấu chuyển dịch tập trung hơn cho các lĩnh vực ưu tiên.

    Tháo gỡ khó khăn, đổi mới quy trình, thủ tục cho vay vốn tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn; triển khai một số chương trình tín dụng đặc thù như mô hình cho vay liên kết, hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao, chính sách cho vay đối với chăn nuôi, thủy sản, cà phê… Ban hành các chính sách mới về tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách. Triển khai 20 chương trình tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, học sinh sinh viên, hộ gia đình sản xuất kinh doanh ở vùng khó khăn… và một số các chương trình, dự án do các tổ chức nước ngoài, địa phương ủy thác. Từ năm 2011 đến tháng 9/2015, tổng doanh số cho vay đạt trên 171 nghìn tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay trên 137 nghìn tỷ đồng với hơn 8 triệu khách hàng.

    Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh vàng; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm. Tình trạng “vàng hóa” trong nền kinh tế từng bước được ngăn chặn; biến động của giá vàng không ảnh hưởng nhiều đến ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối và kinh tế vĩ mô. Quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng đã cơ bản chuyển sang quan hệ mua, bán.

    Tập trung triển khai thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo, cổ đông/nhóm cổ đông lớn, thao túng, chi phối trong hệ thống các TCTD về cơ bản đã được xử lý và kiểm soát. Đẩy mạnh sáp nhập, hợp nhất, mua lại trên nguyên tắc tự nguyện; giảm 17 tổ chức và 02 chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang trong quá trình thanh lý. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế có đánh giá tích cực về việc cơ cấu lại các TCTD của Việt Nam.

    Thực hiện quyết liệt Đề án xử lý nợ xấu của các TCTD; tăng cường thu hồi, cơ cấu lại, phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của TCTD; phát huy vai trò của VAMC; nợ xấu đã được kiểm soát, đến cuối tháng 9/2015 còn 2,93%. Năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động của các TCTD được nâng lên, bảo đảm an toàn hệ thống.

    Tuy nhiên, việc cơ cấu lại một số ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém và xử lý nợ xấu còn khó khăn. Còn một số vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động tín dụng, ngân hàng. Việc tiếp cận vốn tín dụng, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó khăn. Chất lượng tín dụng, quản trị và dịch vụ ngân hàng còn phải tiếp tục cải thiện và tăng cường ngày càng phù hợp hơn với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

    4. Lĩnh vực Công Thương

    Các nội dung chất vấn tập trung vào quy hoạch điện, thủy điện; lộ trình thực hiện thị trường cạnh tranh, chống độc quyền đối với điện, than, xăng dầu; công nghiệp hỗ trợ; quản lý và phát triển thị trường.

    Đã phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực. Rà soát quy hoạch các dự án thủy điện, loại bỏ một số dự án hiệu quả thấp, tác động tiêu cực đến môi trường. Tăng cường quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác các công trình thủy điện, bảo đảm an toàn vận hành hồ chứa. Quan tâm trồng rừng thay thế; hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho người dân tái định cư các dự án thủy điện. Triển khai Chương trình cấp điện nông thôn miền núi và hải đảo, có trọng tâm, trọng điểm.

    Thực hiện giá thị trường theo lộ trình đối với xăng dầu, than, điện gắn với hỗ trợ các đối tượng chính sách, hộ nghèo. Thực hiện thị trường phát điện và bán điện cạnh tranh; xóa độc quyền trong kinh doanh xăng dầu; xóa bao cấp giá bán than cho các hộ tiêu thụ trong nước từ quý IV/2012 và cho sản xuất điện từ tháng 4/2014.

    Chủ động, tích cực đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về tiêu thụ, thúc đẩy mở cửa thị trường xuất khẩu. Tích cực thực hiện Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Triển khai đồng bộ các giải pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại; tăng cường kiểm tra, kiểm soát, nhất là tại các địa bàn trọng điểm, khu vực biên giới; phát hiện và xử lý nghiêm vi phạm.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, việc giải quyết đất ở và đất sản xuất, bảo đảm sinh kế cho người dân tái định cư các dự án thủy điện còn khó khăn; một số dự án nguồn điện chậm tiến độ; chất lượng hệ thống lưới truyền tải điện còn hạn chế. Cơ chế chính sách về phát triển công nghiệp hỗ trợ chậm được ban hành và thiếu đồng bộ. Đổi mới công nghệ, phát triển các ngành có công nghệ, giá trị gia tăng cao còn chậm. Tiêu thụ một số mặt hàng còn khó khăn. Nhập siêu trở lại. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại còn diễn biến phức tạp.

    5. Lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

    Các nội dung giám sát chuyên đề và chất vấn tập trung vào tái cơ cấu; công tác quy hoạch; quản lý rừng; xây dựng nông thôn mới; cơ chế, chính sách hỗ trợ và đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; kiểm soát vật tư đầu vào.

    Tập trung triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và các đề án chuyên ngành cụ thể. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa nông nghiệp; tăng cường vai trò của doanh nghiệp; phát triển kinh tế hộ gia đình; bảo vệ và phát triển rừng gắn với hỗ trợ giảm nghèo ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất, nhân rộng các mô hình hiệu quả… Hỗ trợ tín dụng, tháo gỡ khó khăn, thu mua tạm trữ lúa gạo; hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch; giảm thuế giá trị gia tăng đối với vật tư nông nghiệp; miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuỷ lợi phí cho các hộ gia đình, cá nhân trồng lúa. Ưu đãi ngư dân phát triển đội tàu đánh bắt cá xa bờ gắn với tổ chức lại hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá.

    Triển khai Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; áp dụng các quy trình sản xuất tốt đối với các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản chính; triển khai các đề án nâng cao giá trị gia tăng hàng nông lâm thủy sản. Tăng tỷ trọng sản phẩm qua chế biến, hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô; xây dựng thương hiệu gạo và các sản phẩm nông nghiệp quốc gia. Tăng cường nghiên cứu và chuyển giao các giống có chất lượng, giá trị cao cho nông dân.

    Đã phê duyệt 06 quy hoạch nông nghiệp, 12 quy hoạch lâm nghiệp, 15 quy hoạch thủy lợi, 10 quy hoạch thủy sản… Phê duyệt quy hoạch sử dụng đất lúa đến năm 2022, duy trì 3,8 triệu ha đất trồng lúa; tăng cường quản lý, sử dụng linh hoạt, hiệu quả đất lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho người dân.

    Rà soát, công khai quy hoạch 3 loại rừng. Tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp 5 năm (2011 – 2022) cấp quốc gia. Ban hành quy định về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông lâm nghiệp. Trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác.

    Đã sửa đổi, bổ sung các tiêu chí; ban hành cơ chế chính sách, thực hiện nhiều giải pháp để huy động mọi nguồn lực xã hội cho xây dựng nông thôn mới. Trong giai đoạn 2011 – 2022, đã huy động được khoảng 852 nghìn tỷ đồng. Tính đến tháng 9/2015, cả nước đã có 1.132 xã (12,7 %) và 09 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Dự kiến hết năm 2022 sẽ có khoảng 1.500 xã đạt chuẩn nông thôn mới (16,8%), bình quân đạt 11,9 tiêu chí/xã (tăng 6,94 tiêu chí so với năm 2011).

    Đến hết năm 2022, cơ bản hoàn thiện hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn vật tư nông nghiệp (phân bón, thức ăn chăn nuôi, giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản…). Hỗ trợ nông dân áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, hình thành các chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn; tăng cường kiểm soát chất lượng nông sản nhập khẩu.

    Đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư xã hội cho phát triển nông nghiệp và cơ sở hạ tầng nông thôn. Vốn đầu tư từ NSNN và trái phiếu Chính phủ cho nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 – 2022 đạt trên 610 nghìn tỷ đồng, tăng 1,83 lần so với giai đoạn 2006 – 2010. Vốn đầu tư toàn xã hội cho sản xuất nông, lâm, thủy sản gấp 1,6 lần giai đoạn 2006 – 2010. Tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn tăng 21%/năm, cao hơn tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế (18,5%). Hàng năm, còn chi thêm 7 – 8 nghìn tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh.

    Tăng trưởng nông nghiệp bình quân giai đoạn 2011 – 2022 đạt 3,1%/năm. Giá trị sản xuất, kim ngạch xuất khẩu, năng suất lao động đều tăng so với năm 2010.

    Tuy nhiên, việc thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới chưa đạt yêu cầu; sản xuất nông nghiệp nhìn chung hiệu quả chưa cao; chưa xây dựng được nhiều thương hiệu mạnh; tiêu thụ nông sản và đời sống một bộ phận người dân nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. Quản lý quy hoạch phát triển nông nghiệp, vùng nguyên liệu còn nhiều vướng mắc. Việc đổi mới, phát triển các mô hình tổ chức, liên kết sản xuất và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm; năng suất lao động nông nghiệp còn thấp. Quản lý nhà nước về vật tư nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu và bảo đảm vệ sinh an toàn trong sản xuất, chế biến nông sản còn bất cập. Một số tiêu chí nông thôn mới còn chưa phù hợp; vốn đầu tư từ nguồn NSNN chưa đáp ứng được yêu cầu. Thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế.

    6. Lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường

    Các nội dung giám sát chuyên đề và chất vấn tập trung vào quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường.

    Ban hành và triển khai các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013. Phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2022 và kế hoạch sử dụng đất 2011 – 2022 các cấp (100% cấp tỉnh, 96,82% cấp huyện, 84,75% cấp xã). Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai đạt 33,7% tổng số đơn vị cấp huyện; đã lập bản đồ địa chính trên 72,2% diện tích tự nhiên. Cơ bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị quyết của Quốc hội. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đất đai.

    Ban hành và triển khai các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường. Tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề, các lưu vực sông lớn. Xây dựng và thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa đối với toàn bộ 11 lưu vực sông. Xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đạt 89,3%. Hoàn thiện hệ thống cảnh báo thiên tai trong cả nước. Điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội gắn với ứng phó biến đổi khí hậu.

    Chú trọng quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả đất đai, nguồn nước, rừng, khoáng sản, tài nguyên biển. Ban hành các quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản. Tăng cường công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; bảo vệ và phát triển rừng, tỷ lệ che phủ rừng năm 2022 đạt 40,73%. Tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản một số nơi còn lãng phí, hiệu quả chưa cao. Tình trạng vi phạm pháp luật đất đai còn nhiều, xử lý chưa nghiêm, gây thất thoát ngân sách. Ô nhiễm môi trường, nhất là tại làng nghề, khu, cụm công nghiệp, lưu vực sông cải thiện chậm. Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về môi trường còn thiếu và chưa đủ mạnh. Tình trạng ngập lụt ở một số thành phố khắc phục còn chậm. Nguồn lực cho bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu còn hạn chế.

    7. Lĩnh vực Giao thông vận tải

    Nội dung chất vấn tập trung vào bảo đảm trật tự an toàn giao thông, tái cơ cấu ngành, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch và việc triển khai các dự án trọng điểm quốc gia.

    Triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Tập trung hoàn thiện pháp luật[38], đổi mới công tác tuyên truyền. Tăng cường quản lý phương tiện, đăng kiểm, kinh doanh vận tải. Đẩy mạnh tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm vi phạm. Tập trung đầu tư xây dựng, bảo trì, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông. Tổ chức giao thông hợp lý, xóa điểm đen, hoàn thiện hệ thống biển báo, thiết bị an toàn giao thông. Nâng cao chất lượng đào tạo, sát hạch lái xe. Việc kiểm soát tải trọng phương tiện đạt kết quả khá, lượng xe quá tải giảm. Tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí, số vụ giảm từ 44.500 vụ năm 2011 còn 21.900 vụ năm 2022; số người chết giảm từ 11.400 người còn 8.700 người; số người bị thương giảm từ 48.700 người còn 19.900 người. Số người chết giai đoạn 2011 – 2022 giảm 21% so với giai đoạn 2006 – 2010.

    Triển khai Đề án tái cơ cấu ngành giao thông vận tải và các đề án tái cơ cấu chuyên ngành. Cơ bản hoàn thành sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành tại các doanh nghiệp trong lĩnh vực giao thông vận tải. Rà soát, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, đề án với mục tiêu phát triển thị trường, kết nối hài hòa, phát huy thế mạnh của các phương thức vận tải. Đẩy mạnh xã hội hóa vận tải, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Xếp hạng về năng lực, chất lượng hạ tầng giao thông và hoạt động logistics của Việt Nam tăng.

    Hoàn thành trước thời hạn các dự án mở rộng Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên. Triển khai giai đoạn 1 của Đề án xây dựng cầu dân sinh; đã hoàn thành 187 cầu treo dân sinh trên địa bàn 28 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Đã đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo được trên 131 nghìn km đường giao thông nông thôn.

    Tuy nhiên, tai nạn giao thông vẫn còn nghiêm trọng; chưa khắc phục tốt tình trạng ùn tắc giao thông tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người tham gia giao thông chưa cao. Công tác quản lý về kinh doanh vận tải và phương tiện chưa đáp ứng yêu cầu; các phương thức vận tải chưa được kết hợp tốt. Chất lượng một số công trình giao thông chưa bảo đảm. Huy động nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển hạ tầng giao thông còn hạn chế.

    8. Lĩnh vực Xây dựng

    Nội dung chất vấn tập trung vào thị trường bất động sản, nhà ở xã hội, chất lượng công trình, hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá đầu tư, quy hoạch xây dựng, quản lý đô thị.

    Tăng cường thanh tra, kiểm tra các dự án, công trình xây dựng. Điều chỉnh thanh toán, xuất toán, thu hồi các khoản chi không đúng quy định; xử lý nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm. Đã sửa đổi, bổ sung hơn 13.000 định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở cho việc lập đơn giá, quản lý chi phí và thanh, quyết toán công trình.

    Đã ban hành Nghị định về Quản lý đầu tư phát triển đô thị. Rà soát, lập, điều chỉnh các quy hoạch vùng, quy hoạch chung các đô thị; triển khai các quy hoạch phân khu theo quy định của Luật Quy hoạch đô thị; đẩy mạnh công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới.

    Tuy nhiên, tồn kho bất động sản vẫn còn khá lớn. Quản lý xây dựng, phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch ở nhiều địa phương còn yếu kém. Chất lượng một số công trình xây dựng còn thấp. Tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng vẫn gây nhiều bức xúc.

    9. Lĩnh vực Lao động – Thương binh và Xã hội

    Nội dung giám sát chuyên đề và chất vấn tập trung vào giảm nghèo, chính sách người có công, xuất khẩu lao động, đào tạo nghề và bảo hiểm xã hội.

    Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, ưu tiên nguồn lực cho giảm nghèo bền vững, tập trung vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn đặc biệt khó khăn. Hoàn thiện và triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, học nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động, nhà ở, bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí cho học sinh dân tộc thiểu số, tín dụng ưu đãi hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, học sinh sinh viên… Đã ban hành chính sách hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng gắn với giảm nghèo ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số Đến cuối năm 2022, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn dưới 4,5%, riêng các huyện nghèo còn dưới 30%.

    Tiếp tục hoàn thiện và tích cực thực hiện chế độ, chính sách người có công, đẩy nhanh tiến độ xét duyệt hồ sơ tồn đọng. Cơ bản hoàn thành tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công đối với gần 2,1 triệu người; hỗ trợ về nhà ở cho trên 72 nghìn hộ. Tiếp tục tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; thực hiện các đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

    Trong giai đoạn 2011 – 2022, đã đưa trên 450 nghìn người đi làm việc ở nước ngoài. Thúc đẩy mở rộng thị trường, nhất là thị trường có thu nhập cao. Đẩy mạnh công tác đào tạo, dạy ngoại ngữ; hỗ trợ các huyện nghèo xuất khẩu lao động. Kịp thời đưa người lao động về nước an toàn khi xảy ra xung đột ở nước sở tại. Tăng cường quản lý nhà nước; thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm<

    Tổ chức, sắp xếp lại các trung tâm đào tạo nghề và giáo dục thường xuyên trên địa bàn cấp huyện. Đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chương trình, giáo trình và định hướng dạy nghề theo nhu cầu xã hội. Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách dạy nghề; ưu tiên hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo ở địa bàn đặc biệt khó khăn; nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Từ năm 2011 đến nay, tuyển mới dạy nghề đạt khoảng 9,2 triệu lượt người, trong đó hỗ trợ dạy nghề cho gần 2,4 triệu lao động nông thôn.

    Triển khai thực hiện chính sách, pháp luật; đẩy mạnh thông tin truyền thông, nâng cao nhận thức, khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm xã hội. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng từ 9,7 triệu năm 2011 lên trên 12 triệu năm 2022.

    Tuy nhiên, một số chính sách giảm nghèo còn chồng chéo, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Chưa giải quyết dứt điểm vướng mắc, tồn đọng trong thực hiện chính sách người có công. Còn tình trạng lao động làm việc ở nước ngoài vi phạm pháp luật; chưa đạt mục tiêu đề ra đối với xuất khẩu lao động ở các huyện nghèo. Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu dạy nghề; chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề còn hạn chế, nhất là đối với lao động nông thôn.

    10. Lĩnh vực Y tế

    Nội dung giám sát chuyên đề và chất vấn tập trung vào đầu tư cho y tế, chất lượng khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, quản lý thuốc chữa bệnh và cơ sở y tế tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm.

    Đã ưu tiên bố trí khoảng 7% tổng chi ngân sách nhà nước (7,6% nếu tính cả trái phiếu Chính phủ) và đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích hợp tác công – tư đầu tư phát triển hệ thống cơ sở y tế Triển khai Đề án giảm quá tải bệnh viện; nâng cấp cơ sở vật chất; phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh, chuyển giao kỹ thuật, luân phiên cán bộ y tế xuống cơ sở… Ưu tiên sử dụng ngân sách địa phương và nguồn vốn ODA cho các trạm y tế xã. Nâng cao y đức, đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế. Tăng cường quản lý hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân; kiểm tra, giám sát việc cấp chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động.

    Tích cực thực hiện Luật Bảo hiểm y tế; nâng mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo; khuyến khích mua theo hộ gia đình; góp phần giảm chi phí của người bệnh có bảo hiểm y tế

    Tăng cường các biện pháp quản lý thuốc chữa bệnh, nhập khẩu trang thiết bị, vật tư y tế; thực hiện quy định về kê khai, công bố, niêm yết giá. Cải cách đấu thầu thuốc, bảo đảm công khai, minh bạch, giảm được giá nhiều loại thuốc. Phát triển công nghiệp dược, khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước.

    Thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Triển khai các đề án Đẩy mạnh sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau an toàn; bảo đảm vệ sinh an toàn trong vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm. Triển khai hệ thống cảnh báo nhanh và phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm, ngăn chặn vận chuyển, kinh doanh gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập khẩu trái phép. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm vi phạm.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng khám chữa bệnh còn chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là ở tuyến cơ sở; tình trạng quá tải bệnh viện tuyến trung ương chưa được khắc phục căn bản. Việc thanh toán khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, quản lý và đấu thầu thuốc, thiết bị, vật tư y tế còn bất cập. Một số cơ sở y tế chưa thực hiện nghiêm việc niêm yết, kê khai giá theo quy định. Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều yếu kém.

    11. Lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo

    Triển khai Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, chú trọng liên thông giữa các cấp học, trình độ, hình thức giáo dục, đào tạo. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá; tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia và xét tuyển đại học, cao đẳng năm 2022. Thực hiện Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; hướng dẫn nhà trường, giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và thực tiễn địa phương.

    Giai đoạn 2011 – 2022, đã dành 20% tổng chi NSNN cho giáo dục đào tạo, trong đó giáo dục tiểu học chiếm 33%, trung học cơ sở chiếm 22%. Lồng ghép các nguồn vốn, chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án đầu tư khác cho giáo dục.

    Điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường và ban hành quy định về thành lập, hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể cơ sở giáo dục đại học. Chú trọng đào tạo theo nhu cầu xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế. Thí điểm thực hiện cơ chế tự chủ đối với một số cơ sở giáo dục đại học công lập. Thực hiện công bố chuẩn đầu ra của các ngành, chuyên ngành đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học.

    Tuy nhiên, giáo dục đại học, đào tạo nghề chưa thực sự gắn với nhu cầu xã hội, chất lượng chậm được cải thiện. Việc sử dụng kết quả kỳ thi trung học phổ thông quốc gia để tuyển sinh đại học, cao đẳng còn lúng túng. Cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu.

    12. Lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch

    Ban hành và triển khai thực hiện Chương trình hành động về phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng. Phát động nhiều cuộc vận động, phong trào văn hóa. Tăng cường đầu tư, khuyến khích các loại hình văn hóa, nghệ thuật, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Hoàn thiện pháp luật về di sản văn hóa. Chú trọng việc tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh.

    Thực hiện Chiến lược phát triển thể dục thể thao và Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam. Ban hành các chính sách phát triển thể thao thành tích cao. Áp dụng cơ chế quản lý thể thao chuyên nghiệp đối với một số môn thể thao. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo vận động viên.

    Thực hiện Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam và quy hoạch các vùng du lịch. Tăng cường liên kết, quảng bá, xúc tiến du lịch trong và ngoài nước gắn với xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia Việt Nam. Miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân một số nước. Chú trọng công tác bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách.

    Tuy nhiên, vẫn còn những biểu hiện xấu về đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử; một số hoạt động lễ hội phản cảm, lãng phí; những lệch lạc trong sáng tác, biểu diễn. Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động văn hóa còn bất cập. Nhiều công trình thể thao sử dụng không đúng mục đích. Chất lượng dịch vụ du lịch nhìn chung còn thấp; lượng khách quốc tế đến Việt Nam ở mức thấp so với các nước trong khu vực.

    13. Lĩnh vực Thông tin và Truyền thông

    Xây dựng, trình Quốc hội dự án Luật Báo chí (sửa đổi). Ban hành và triển khai các quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện Tăng cường quản lý nhà nước; xây dựng, trình Quốc hội dự án Luật An toàn thông tin; triển khai hệ thống giám sát, quản lý, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng. Thực hiện Quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia. Đầu tư xây dựng, hiện đại hóa hệ thống hạ tầng viễn thông trong nước và kết nối quốc tế. Chú trọng nghiên cứu phát triển sản phẩm thông tin truyền thông có công nghệ cao. Phòng chống mã độc, tấn công mạng và các doanh nghiệp viễn thông, cung cấp dịch vụ mạng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm.

    Tuy nhiên, sai phạm trong hoạt động báo chí còn nhiều; việc ngăn chặn thông tin sai trái, độc hại trên các trang tin điện tử, mạng xã hội rất khó khăn; việc bảo an toàn thông tin, an ninh mạng còn bất cập; chưa xử lý hiệu quả tình trạng tin nhắn rác, sim rác.

    14. Lĩnh vực Tư pháp

    Nội dung chất vấn tập trung vào triển khai thi hành Hiến pháp 2013, công tác xây dựng pháp luật và thi hành án dân sự.

    Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và nâng cao chất lượng cán bộ chuyên trách xây dựng pháp luật. Chính phủ đã chú trọng nội dung xây dựng pháp luật tại các phiên họp thường kỳ và tổ chức các phiên họp chuyên đề. Tình trạng nợ đọng văn bản được cải thiện Công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong quá trình soạn thảo văn bản được quan tâm hơn. Kiểm tra, xử lý các văn bản có nội dung trái pháp luật; chủ động phát hiện và tiếp thu phản ánh, kiến nghị; kịp thời xử lý những sai sót, bất cập.

    Trình ban hành và triển khai thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự Tập trung kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường thanh tra, kiểm tra; siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ trong công tác thi hành án dân sự.

    Tuy nhiên, việc chuẩn bị một số dự án Luật, Pháp lệnh vẫn còn chậm. Còn tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Một số quy định thiếu tính khả thi, chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật. Hiệu quả kiểm soát thủ tục hành chính chưa cao. Quản lý thi hành án dân sự vẫn còn bất cập; năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của một số công chức thi hành án dân sự chưa đáp ứng yêu cầu; số trường hợp vi phạm, bị xử lý có xu hướng tăng.

    15. Lĩnh vực Nội vụ

    Nội dung chất vấn tập trung vào tổ chức bộ máy biên chế, số lượng cấp phó, chất lượng cán bộ, công chức, viên chức và công tác cải cách hành chính.

    Tổ chức, bộ máy cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương được sắp xếp, kiện toàn, cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Cơ quan chuyên môn ở địa phương được giữ ổn định. Triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Quản lý chặt chẽ biên chế công chức, kể cả biên chế dự phòng và số lượng người làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Triển khai xây dựng đề án vị trí việc làm. Thực hiện cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập; thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của một số cơ sở giáo dục đại học công lập.

    Tổng số cán bộ cấp Thứ trưởng cơ bản không tăng so với đầu nhiệm kỳ; một số cơ quan tăng do sắp xếp tổ chức Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực và yêu cầu của công tác cán bộ; gần đây Bộ Chính trị điều động một số đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng về các Bộ, ngành. Việc tăng số lượng cấp phó các đơn vị thuộc một số bộ, ngành chủ yếu do sắp xếp, hợp nhất tổ chức bộ máy nội bộ đối với những lĩnh vực có phạm vi, đối tượng quản lý rộng. Số lượng cấp phó ở các Bộ, ngành và địa phương sẽ giảm trong quá trình thực hiện Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

    Triển khai các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Ban hành 47 tiêu chuẩn ngạch công chức, 21 bộ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức. Đổi mới công tác thi tuyển, thi nâng ngạch công chức theo nguyên tắc cạnh tranh; đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức. Thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thi tuyển và quản lý công chức.

    Tích cực triển khai chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, tập trung vào cải cách thủ tục hành chính. Triển khai mô hình một cửa liên thông hiện đại tại 50% đơn vị cấp huyện; thí điểm tổ chức trung tâm hành chính công ở một số địa phương. Thời gian thực hiện thủ tục hành chính được cắt giảm đáng kểTriển khai cơ chế một cửa quốc gia, hệ thống hải quan điện tử, kết nối kỹ thuật một cửa ASEAN. Bước đầu thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Xây dựng các cơ sở dữ liệu điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Tăng cường họp, chỉ đạo điều hành trực tuyến và xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng. Triển khai xây dựng cổng thông tin và mạng hành chính điện tử bốn cấp, xây dựng Chính phủ điện tử.

    Tuy nhiên, tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo. Việc đổi mới chế độ công vụ, công chức còn chậm; tinh giản biên chế còn khó khăn. Chất lượng của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực còn rườm rà. Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử còn chậm.

    16. Lĩnh vực Thanh tra

    Nội dung chất vấn tập trung vào giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng, công tác thanh tra và xây dựng ngành.

    Đã ban hành và triển khai thực hiện các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân. Tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài; đã giải quyết xong 512/528 vụ việc, đạt tỷ lệ 97%. Rà soát 503 vụ việc tồn đọng khác, trong đó có 254 vụ việc đủ điều kiện chấm dứt thụ lý, 59 vụ việc đã có văn bản thông báo chấm dứt giải quyết. Lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương cơ bản thực hiện tốt việc tiếp công dân theo quy định.

    Đã ban hành và triển khai thực hiện các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Chương trình hành động của Chính phủ và Kế hoạch tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng. Đẩy mạnh phổ biến pháp luật và tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, cơ quan báo chí và người dân tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng. Tăng cường hợp tác quốc tế; chủ động, tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

    Tăng cường chỉ đạo, giám sát hoạt động thanh tra, bảo đảm công tâm, khách quan, chính xác, đúng pháp luật; đã phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nhiều vi phạm, kịp thời chuyển những vụ việc có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan điều tra theo đúng quy định. Ban hành Nghị định về thực hiện kết luận thanh tra, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện và đôn đốc, kiểm tra, bảo đảm xử lý đến cùng kết luận thanh tra.

    Triển khai xây dựng Chiến lược phát triển ngành Thanh tra; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; ban hành các tiêu chuẩn, chế độ, chính sách và chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, phẩm chất của cán bộ, công chức; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn ngành thanh tra.

    17. Lĩnh vực An ninh, trật tự an toàn xã hội

    Ban hành và tích cực triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đẩy mạnh thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp về an ninh; bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, các sự kiện quan trọng của đất nước. Phát hiện, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ.

    Hoàn thiện pháp luật về phòng chống tội phạm và bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội và Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tội phạm. Huy động sự vào cuộc của hệ thống chính trị và toàn dân; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 138/CP trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa; mở nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm theo từng tuyến, địa bàn, loại tội phạm; điều tra khám phá kịp thời các vụ án đặc biệt nghiêm trọng. Từng bước kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

    Trình Quốc hội ban hành và tập trung triển khai thực hiện Luật Công an nhân dân. Kiện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường công tác cán bộ; chú trọng đào tạo nâng cao phẩm chất, trình độ cho cán bộ, chiến sỹ, nhất là các lực lượng trực tiếp chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

    Tuy nhiên, tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại một số địa bàn vẫn còn phức tạp, đã xảy ra một số vụ án đặc biệt nghiêm trọng; một số tổ chức nhen nhóm hình thành trái pháp luật; còn bị động trong xử lý một số trường hợp gây rối trật tự công cộng.

    Thưa Quốc hội,

    Thời gian qua, Chính phủ, các Bộ, ngành đã nghiêm túc triển khai các Nghị quyết của Quốc hội và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Nhiều việc đã hoàn thành, cơ bản hoàn thành; một số việc mang tính chất thường xuyên, lâu dài, đang được triển khai tích cực và cũng có những việc triển khai còn chậm, chưa đạt yêu cầu đề ra do có bất cập trong cơ chế, chính sách, việc triển khai chưa quyết liệt, chưa đồng bộ, thiếu nguồn lực cần thiết và cần có thời gian.

    Chính phủ tập trung chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương nỗ lực hơn nữa, tiếp tục triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội trong thời gian tới, nhất là những nội dung còn hạn chế, yếu kém.

    Chính phủ xin báo cáo và nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội.

    Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội./.

    VPCP

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Bố 15 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Công Bố 5 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Công Bố 3 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Công Bố Các Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Công Bố 4 Nghị Quyết Của Quốc Hội
  • Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
  • Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao,về Hình Sự ,dân Sự
  • Hướng Dẫn Triển Khai Thực Hiện Hỗ Trợ Theo Nq 42/nq
  • Kết Luận Của Chủ Tịch Ubnd Tỉnh Về Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 42/nq
  • Có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”
  • Mã sản phẩm: 978-604-955-932-7

    Gọi đặt hàng 24/24 từ thứ 2 đến thứ 7: 0909 366 858

    Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán tòa án nhân dân tối cao về dân sự, hình sự, hành chính, thương mại, hôn nhân và gia đình năm 2007-2018 – Sách Pháp Luật, Bình Luận, Bộ Luật, sách chuyên ngành giá tốt, sách hay, sách chon lọc

    Nội Dung Cuốn Sách Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán – Sách Pháp Luật, Bình Luận, Bộ Luật

    Phần thứ nhất. Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hình sự

    Phần thứ hai. Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về dân sự

    Phần thứ ba. Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hành chính

    Phần thứ tư. Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về kinh tế – lao động

    Nhà xuất bản Lao Động xuất bản- Sách Pháp Luật Bình Luận Bộ Luật- Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán

    Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24-04-2018 Hướng áp dụng Điều 66 và Điều 106 của Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện;

    Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15-05-2018 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại tòa án nhân dân;

    Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13-01-2017 Ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng hành chính;

    Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-05-2017 Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án ;…

    Để giúp các đơn vị hành chính, sự nghiệp, các cơ quan quản lý và đông đảo bạn đọc thuận tiện trong việc áp dụng tìm hiểu triển khai thực hiện, Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân tối cao về hình sự, dân sự, hành chính, thương, mại, hôn nhân và gia đình 2007-2018 – Sách Pháp Luật Bình Luận Bộ Luật

    Ngoài ra cuốn sách còn in các văn bản pháp luật, chính sách pháp luật như sách, còn hiệu lực hoặc có thể vận dụng để bạn bạn đọc tham khảo và áp dụng trong công việc, Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân , là tài liệu thực sự cần thiết đối với lãnh đạo và cán bộ, công chức và người lao động của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể. Hy vọng cuốn sách này rất hữu ích cho các bạn có nhu cầu sử dụng. Sách đẹp, khổ 20*27 cm, dày 368 trang, Giá: 350.000đ. Nộp lưu chiểu quý II / 2022.

    Trung Tâm Sách Pháp Luật: Chuyên cung cấp Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa án nhân dân tối cao về hình sự

    XEM THÊM SÁCH

    • Bảo hành chính hãng
    • Vận chuyển Giao Sách tại địa chỉ theo yêu cầu
    • Miễn phí vận chuyển Giao hàng trong 24h
    • Gọi 0909 366 858 hoặc 0283 636 2182 liên hệ shop để mua với giá rẻ nhất
    • Thanh toán khi nhận hàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục 3 Phần I Nghị Quyết Số 01/2005/nq
  • Thực Hiện Nghị Quyết 02/2018 Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
  • Các Văn Bản Hướng Dẫn Nghị Quyết 42
  • Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 236 Của Hđnd Tỉnh Về Những Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Bảo Vệ Môi Trường
  • Nghị Quyết 236 Của Qutw
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Hội Thông Qua Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022
  • Quốc Hội Công Bố Nghị Quyết Về Đầu Tư Sân Bay Long Thành Giai Đoạn 1
  • Điểm Mới 11 Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 8
  • Đề Xuất Của Việt Nam Được Đưa Vào Nghị Quyết Của Hội Đồng Bảo An Lhq
  • Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Thông Qua Nghị Quyết 2371 Trừng Phạt Bắc Triều Tiên
  • Toàn cảnh Phiên họp (Ảnh: chúng tôi

    Sau khi nghe giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, các đại biểu Quốc hội tiến hành nhấn nút biểu quyết thông qua Nghị quyết này. Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc chính thức được thông qua với 94,40% đại biểu Quốc hội tán thành.

    Về phạm vi điều chỉnh, Nghị quyết này quy định về nguyên tắc, hình thức, lĩnh vực, lực lượng, thẩm quyền, quy trình triển khai lực lượng, kinh phí bảo đảm, chế độ, chính sách và quản lý nhà nước đối với việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

    Về nguyên tắc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; quyết định của Hội đồng Quốc phòng và An ninh; sự thống lĩnh của Chủ tịch nước và quản lý nhà nước của Chính phủ. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bảo đảm độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc, điều kiện và khả năng của Việt Nam; tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Chỉ tham gia hoạt động hỗ trợ khắc phục hậu quả chiến tranh, duy trì hòa bình sau xung đột, vì mục đích nhân đạo trên cơ sở đề nghị của Liên hợp quốc. Chỉ triển khai ở quốc gia, khu vực đã được Liên hợp quốc thành lập phái bộ và tại các cơ quan của Liên hợp quốc.

    Các đại biểu Quốc hội nhấn nút biểu quyết (Ảnh: chúng tôi

    Về kinh phí bảo đảm, ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và bồi thường thiệt hại cho Liên hợp quốc hoặc bên thứ ba do lỗi của lực lượng Việt Nam. Tiền bồi hoàn của Liên hợp quốc, các nguồn hỗ trợ hợp pháp được nộp vào ngân sách nhà nước và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. Chính phủ quyết định việc bồi thường thiệt hại do lỗi của lực lượng Việt Nam gây ra.

    Về chế độ, chính sách, cá nhân, đơn vị trực tiếp và gián tiếp tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được hưởng chế độ, chính sách phù hợp với tính chất nhiệm vụ và đặc thù của hoạt động theo quy định của Chính phủ. Trong thời gian tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, cá nhân, đơn vị có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ được khen thưởng theo quy định của pháp luật Việt Nam và quy định của Liên hợp quốc; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có chính sách ưu tiên bố trí, sử dụng cá nhân sau khi hoàn thành nhiệm vụ tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Cá nhân bị thương, bị bệnh, bị tai nạn hoặc hy sinh, từ trần trong khi thực hiện nhiệm vụ tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc được giải quyết chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật Việt Nam và quy định của Liên hợp quốc.

    Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2022./.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Thiết Ban Hành Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Quốc Hội Thảo Luận Dự Thảo Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Quốc Hội Thảo Luận Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Lần Đầu Tiên Trình Quốc Hội Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Sẽ Xem Xét Nghị Quyết Của Quốc Hội Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Quốc Hội Thảo Luận Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Hội Thảo Luận Dự Thảo Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Cần Thiết Ban Hành Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Quốc Hội Thông Qua Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022
  • Quốc Hội Công Bố Nghị Quyết Về Đầu Tư Sân Bay Long Thành Giai Đoạn 1
  • Biên phòng – Chiều 24-10, tiếp tục kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự thảo Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (LHQ).

    Theo Đại tướng Ngô Xuân Lịch, trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ. Điều này nhằm thực thi Hiến pháp năm 2013 và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, phù hợp với Nghị quyết Đại hội XI, Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, thể hiện Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

    Mặt khác, ngày 23-11-2012, Bộ Chính trị đã thông qua Đề án Tổng thể về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ; ngày 5-2-2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án QĐND Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ giai đoạn 2014-2020 và những năm tiếp theo; ngày 30-10-2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Công an nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ giai đoạn 2014-2020 và những năm tiếp theo.

    Đây là những chủ trương quan trọng để Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chuẩn bị nguồn lực, đặc biệt là nhân sự để tham gia theo lộ trình đã được nêu trong Đề án Tổng thể về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ, phát huy các lĩnh vực có thế mạnh của Việt Nam như quân y, công binh, hậu cần, cảnh sát… để đóng góp vào hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ.

    “Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc đã và đang thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với các nước, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế, đóng góp vào sự thành công của Việt Nam trong việc ứng cử vào vị trí Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2022-2021” – Đại tướng Ngô Xuân Lịch nhấn mạnh.

    Theo đại biểu Nguyễn Mai Bộ (An Giang), việc tham gia gìn giữ hòa bình LHQ hoàn toàn mang tính chất nhân đạo, phù hợp với Điều 65, Điều 89 của Hiếp pháp 2013 và kết quả tham gia gìn giữ hòa bình của LHQ, góp phần rất lớn hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Ngoài ra, các đại biểu đề nghị cần có chính sách phù hợp đối với lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình của LHQ. Theo đại biểu Nguyễn Sĩ Cương (Ninh Thuận), cần tăng cường chế độ chính sách cho cán bộ, chiến sĩ tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ.

    Đại biểu Nguyễn Sĩ Cương cho rằng, tham gia nhiệm vụ này, cán bộ, chiến sĩ phải hoạt động ở những quốc gia có điều kiện khó khăn, địa bàn có xung đột vũ trang… có thể nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng. Vì vậy, ngoài những chính sách của LHQ, Việt Nam cần có những chính sách đặc thù cho cán bộ, chiến sĩ đã được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành, để cán bộ, chiến sĩ yên tâm thực hiện nhiệm vụ, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Viết Hà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lần Đầu Tiên Trình Quốc Hội Nghị Quyết Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Sẽ Xem Xét Nghị Quyết Của Quốc Hội Về Tham Gia Lực Lượng Gìn Giữ Hòa Bình Của Liên Hợp Quốc
  • Phát Huy Vai Trò Của Nhân Dân Trong Thực Hiện Nghị Quyết 54 Của Quốc Hội
  • Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Việc Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Ở Hai Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi
  • Hội Nghị Triển Khai Nghị Quyết Của Quốc Hội Phê Duyệt Đề Án Tổng Thể Phát Triển Kinh Tế
  • Các Loại Hợp Đồng Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Bảo Hiểm Và Phân Loại Bảo Hiểm
  • Chuyển Giao Hợp Đồng Bảo Hiểm Theo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Câu Hỏi Về Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Tìm Hiểu Pháp Luật Liên Quan Đến Bảo Hiểm Quy Định Chung
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Bổ Sung Ngày 24 Tháng 11 Năm 2010
  • Thứ nhất, dựa trên ý chí của người tham gia bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm được chia thành hai loại.

    – Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện. Đây là những hợp đồng mà chủ thể được quyền hoàn toàn tự nguyện trong việc có tham gia hay không tham gia hợp đồng bảo hiểm. Đồng thời, nếu tham gia, bên được bảo hiểm cũng được thỏa thuận về nội dung hợp đồng theo ý chí của mình dựa trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi

    – Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc. Đây là những hợp đồng mà theo quy định của pháp luật, một số chủ thể nhất định buộc phải tham gia hợp đồng này trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội. Đồng thời, khi tham gia hợp đồng, các bên phải tuân thủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định trước.

    Thứ hai, dựa trên đối tượng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm được chia thành bốn loại

    – Hợp đồng bảo hiểm tài sản. Đây là loại hợp đồng bảo hiểm trong đó đối tượng được bảo hiểm là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản.

    – Hợp đồng bảo hiểm con người. Đây là một hợp đồng bảo hiểm trong đó có đối tượng được bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn con người. Trong đó, hợp đồng có đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng con người là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, trường hợp còn lại trong nhóm bảo hiểm này là hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ.

    – Hợp đồng bảo hiểm kết hợp. Đây là hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tài sản của con người tham gia bảo hiểm và trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu tài sản đó với người thứ ba. Nói cách khác, hợp đồng này bao gồm đối tượng của hai loại hợp đồng khác nhau là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự và hợp đồng bảo hiểm tài sản.

    Ba là, dựa trên giá trị bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm chia làm ba loại.

    Hợp đồng bảo hiểm đúng giá trị. Đây là loại hợp đồng mà việc bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở số tiền bảo hiểm bằng với giá trị thực tế của toàn bộ đối tượng bảo hiểm. Trong trường hợp này, số tiền bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá trị của tài sản vào thời điểm giao kết hợp đồng.

    – Hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị. Đây là loại hợp đồng mà theo đó, việc bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị của tài sản được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng.

    – Hợp đồng bảo hiểm trên giá trị. Theo quy định tại điều 42, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã được sửa đổi, bổ sung bằng năm 2010, quy định Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung

    “Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị”.

    Như vậy, tất cả các hợp đồng bảo hiểm tài sản mà trong đó, mức bảo hiểm lớn hơn giá thị trường của tài sản vào thời điểm giao kết hợp đồng đều được coi là bảo hiểm trên giá trị và về nguyên tắc, các bên không được giao kết hợp đồng này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Loại Các Loại Hình Bảo Hiểm
  • Câu Hỏi Bán Trắc Nghiệm Luật Kinh Doanh (Có Đáp Án)
  • Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Chủ Thể Kinh Doanh (Có Đáp Án)
  • Các Loại Bảo Hiểm Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Khái Quát Một Số Văn Bản Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100