Chia Đoạn Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Tóm Tắt Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

--- Bài mới hơn ---

  • Top 3 Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du
  • 3 Bài Văn Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Trích Truyện Kiề
  • Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Văn Lớp 9
  • Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • ” Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn thơ cảm động nhất trong Truyện Kiều, kiệt tác của thi hào dân tộc Nguyễn Du. Bi kịch nội tâm của Kiều trên con đường lưu lạc những ngày đầu đã được ngòi bút thiên tài của nhà thơ miêu tả qua hình thái ngôn ngữ nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Những vần thơ buồn thương mênh mang đã gieo vào lòng người đọc nhiều xót xa khôn nguôi về những kiếp người “bạc mệnh” ngày xửa…Sau khi bị lừa, bị”thất thân” với Mã Giám Sinh, rồi lại bị Tú Bà làm nhục, Kiều dùng dao tự vẫn. Nàng đã được cứu sống. Tú Bà lập mưu mới, dỗ dành Kiều ra ở lầu Ngưng Bích.Thân gái nơi đất khách quê người, lo âu, hơ vơ. Những ngày bão tố, hãi hùng vừa qua. Chặng đường phía trước mịt mờ, đầy cạm bẫy. Nàng cay đắng và vô cùng đau khổ. Giờ đây, nàng sống một mình trong lầu Ngưng Bích với bao tâm trạng “bẽ bàng, chán ngán”. Biết lấy ai, biết cùng ai lâm sự? Nỗi nhớ thương như lớp sóng dâng lên trong lòng. Kiều nhớ thương cha mẹ già yếu, không ai đỡ đần nương lựa “quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?. Nàng nhớ chàng Kim “bên trời góc bể bơ vơ…Sau nỗi nhớ là nỗi đau buồn tê tái, sự hoang mang và lo sợ triền miên… Nỗi đau buồn như xé tâm can, cứ xiết chặt lấy hồn nàng. Chính những cảnh vật ấy, âm thanh ấy đã góp phần đặc tả tâm trạng Kiều; một bi kịch đang giày vò tan nát lòng nàng suốt đêm ngày.

    Tóm tắt đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích – Bài mẫu 2

    Đoạn trích nằm ở phần thứ hai của truyện Kiều. Sau khi bị gửi vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn, Tú Bà sợ mất vốn nên đưa Kiều đi giam lỏng ở lầu Ngưng Bích chờ thực hiện âm mưu mới. Đoạn trích kể về một đêm Kiều ở lầu Ngưng Bích: Nàng nhìn thấy núi và trăng như ở cùng trong một vòm trời, trong một bức tranh, trông ra bốn bề rộng bát ngát, thấy những bụi cây có sắc đỏ do gió bốc lên trên cát vàng, Kiều thấy cảnh vật buồn như chính mình đang buồn vậy, rồi liên tưởng đến Kim Trọng chưa biết gì đang trông ngóng chờ Kiều vô ích, nàng cảm thấy cô đơn, tủi thân, nhớ đến cha mẹ già ở nhà không ai phụng dưỡng, tự trách mình không báo hiếu được cho cha mẹ, nàng nhớ tới quê hương, khóc thương cho số phận lênh đênh, báp bênh vô định của mình, để rồi nỗi buồn từ từ tăng lên đến mức “ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”.

    Tóm tắt đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích – Bài mẫu 3

    Gia đình bị vu oan, bị lừa, bị làm nhục và bị đẩy vào lầu xanh, Kiều rút dao tự vẫn nhưng không chết. Tú Bà đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích để thực hiện một âm mưu mới. Với tâm trạng bẽ bàng, Kiều nhớ tới người yêu, nhớ cha mẹ và quay lại tự đối thoại với lòng mình.

    Nguyễn Du đã chọn cách biểu hiện “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”. Mỗi cảnh vật đều làm rõ một nét tâm trạng của Kiều.

    – Một không gian mênh mông cửa bể chiều hôm gợi nỗi buồn mênh mông như trời biển. Hình ảnh con thuyền và cánh buồm thấp thoáng, biến mất trong hoàng hôn biển gợi nỗi cô đơn, lạc lõng bơ vơ, gợi hành trình lưu lạc. Cảnh tha hương gợi nỗi nhớ gia đình, quê hương và khát khao sum họp đến nao lòng.

    -Nhìn cảnh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa, Kiều buồn và liên tưởng tới thân phận mình cũng như cánh hoa lìa cội, lìa cành bị ném vào dòng đời đục ngầu thác lũ. Hình ảnh “hoa trôi” gợi kiếp người trôi nổi, bập bềnh, lênh đênh, vô định và một tâm trạng lo lắng sợ hãi cho tương lai vô định của mình.

    -Nhìn cảnh nội cỏ nhạt nhoà, mênh mông “rầu rầu”: màu của sự úa tàn, thê lương ảm đạm (giống màu cỏ ở nấm mộ Đạm Tiên, khác màu cỏ trong tiết thanh minh), Kiều có tâm trạng mệt mỏi chán chường, tuyệt vọng và cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh với một tương lai mờ mịt, hãi hùng.

    -Khép lại đoạn thơ lã những âm thanh dữ dội “gió cuốn, sóng kêu” như báo trước những dông tố của cuộc đời sắp ập xuống cuộc đời Kiều. Nàng hốt hoảng, kinh hoàng- chới với như sắp bị rơi xuống vực thẳm sâu của định mệnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tâm Trạng Nhân Vật Thúy Kiều Khi Ở Lầu Ngưng Bích Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Siêu Ngắn)
  • Hãy Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích.
  • Dựa Vào Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Em Hãy Kể Lại Tâm Trạng Của Thuý Kiều, Có Sử Dụng Yếu Tố Miêu
  • Ôn Tập Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” (Trích “truyện Kiều”
  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Khoảng 1 Trang Giấy)
  • Kiều O Lầu Ng]Ng Bích Ngu Van 9 T31 Van Ban Kieu O Lau Ngung Bich Ppt
  • Bài Giảng Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Tiet 37 Kieu O Lau Ngung Bich Ppt
  • Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Có Bắt Buộc Công Chứng, Chứng Thực Không ?
  • I. Mở bài:

    – Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, “Truyện Kiều” vàđoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

    – Trích dẫn nhận định.

    II.Thân bài:

    1. Khái quát:

    -Giải thích được nội dung nhận định. Đó là bút pháp tả cảnh, ngụ tình của tác giảNguyễn Du. Giới thiệu đôi nét về nghệ thuật này trong “Truyện Kiều”.

    -Tám câu cuối: Qua bút pháp trên, tác giả làm nổi bật bức tranh tâm trạng củaThuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

    2. Phân tích:

    -Tóm tắt: Gia đình bị vu oan, bị lừa, bị làm nhục và bị đẩy vào lầu xanh, Kiều rútdao tự vẫn nhưng không chết. Tú Bà đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích để thựchiện một âm mưu mới. Với tâm trạng bẽ bàng, Kiều nhớ tới người yêu, nhớ cha mẹvà quay lại tự đối thoại với lòng mình. Nguyễn Du đã chọn cách biểu hiện “tìnhtrong cảnh ấy, cảnh trong tình này”. Mỗi cảnh vật đều làm rõ một nét tâm trạngcủa Kiều.

    -Một không gian mênh mông cửa bể chiều hôm gợi nỗi buồn mênh mông như trời biển.Hình ảnh con thuyền và cánh buồm thấp thoáng, biến mất trong hoàng hôn biển gợinỗi cô đơn, lạc lõng bơ vơ, gợi hành trình lưu lạc. Cảnh tha hương gợi nỗi nhớgia đình, quê hương và khát khao sum họp đến nao lòng.

    -Nhìn cảnh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa, Kiều buồn và liên tưởng tớithân phận mình cũng như cánh hoa lìa cội, lìa cành bị ném vào dòng đời đục ngầuthác lũ. Hình ảnh “hoa trôi” gợi kiếp người trôi nổi, bập bềnh, lênh đênh, vô địnhvà một tâm trạng lo lắng sợ hãi cho tương lai vô định của mình.

    -Nhìn cảnh nội cỏ nhạt nhoà, mênh mông “rầu rầu”: màu của sự úa tàn, thê lương ảmđạm (giống màu cỏ ở nấm mộ Đạm Tiên, khác màu cỏ trong tiết thanh minh), Kiều cótâm trạng mệt mỏi chán chường, tuyệt vọng và cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnhvới một tương lai mờ mịt, hãi hùng.

    -Khép lại đoạn thơ lã những âm thanh dữ dội “gió cuốn, sóng kêu” như báo trướcnhững dông tố của cuộc đời sắp ập xuống cuộc đời Kiều. Nàng hốt hoảng, kinh hoàng- chới với như sắp bị rơi xuống vực thẳm sâu của định mệnh.

    III. Kết bài:

    -Ngòi bút của Nguyễn Du hết sức tinh tế khi tả cảnh cũng như khi ngụ tình. Mỗi cảnhthiên nhiên trong đoạn đã diễn tả một sắc thái tình cảm khác nhau của Kiều.

    -Một loạt các từ láy, các hình ảnh ẩn dụ, các câu hỏi tu từ, điệp ngữ “buồn trông”đã góp phần thể hiện rõ tâm trạng Thuý Kiều. Cảnh và tình uốn lượng song song.Ngoại cảnh cũng chính là tâm cảnh.

    -So sánh: Thiên nhiên trong “Truyện Kiều” với thiên nhiên trong thơ các nhà thơkhác (như Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến).

    -Đằng sau sự thành công của bút pháp tả cảnh ngụ tình ấy là một trái tim yêu thươngvô hạn với con người, là sự đồng cảm, sẻ chia xót thương cho một kiếp hồng nhanbạc mệnh và ngầm tố cáo xã hội bất công đã chà đạp lên quyền sống và nhân phẩmcon người.

    Bài mẫu

    I. Mở bài:

    – “Truyện Kiều” được người đời tôn vinh là “khúc nam âmtuyệt xướng”, là nơi kết tinh tài năng của đại thi hào dân tộc – Nguyễn Du. Kiệttác này hấp dẫn người đọc không chỉ ở nội dung mà còn ở nghệ thuật kể chuyệnlinh hoạt, sáng tạo, xây dựng nhân vật phong phú , đa dạng… Bút lực của NguyễnDu còn được khẳng định ở nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tài hoa, điêu luyện. Támcâu thơ cuối trích đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”được coi là những câu thơ tảcảnh ngụ tình hay nhất trong tác phẩm “Truyện Kiều” của ông. Đoạn thơ viết:

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiêng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

    II. Thân bài:

    1. Giải thích: Bút pháp tả cảnh ngụ tình là gì?

    – Tả cảnh ngụ tình là bút pháp quen thuộc trong văn học thờitrung đại. Người nghệ sĩ sử dụng ngôn từ miêu tả bức tranh về thiên nhiên tạovật để thông qua đó gửi gắm tâm tư, tình cảm con người ( nhân vật trong tácphẩm hay chính tâm trạng của tác giả). Ở bút pháp nghệ thuật này, cảnh và tìnhhòa quyện khó có thể tách rời, song yếu tố ngụ tình mới là cái chủ đích

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Văn Bản “kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Của Nguyễn Du
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Là Một Bức Tranh Tâm Tình Đầy Xúc Động
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Thúy Kiều Trong Đoạn Trích “Kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Phân Tích Ý Nghĩa Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)
  • Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Của Nguyễn Du
  • Giới Thiệu Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Của Tác Giả Nguyễn Du
    • Facebook

    • Twitter

    • Pinterest

    Từ bao đời nay, truyện Kiều đã bước ra khỏi phạm trù là một tác phẩm văn học của một thời đại mà sống dậy bước đi trong từng lời ăn tiếng nói, từng nếp nghĩ nếp sống, là mảnh tâm hồn thiêng liêng của con người Việt Nam. Mỗi buổi chiều về, trong hoàng hôn vàng như rót mật, các bà các cụ lại ngồi ngâm nga những câu Kiều “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Ngay cả những đúa trẻ chưabiết đọc chữ cũng thuộc dăm ba câu Kiều truyền miệng. Người Việt Nam mà không biết tới truyện Kiều của Nguyễn Du thì chưa phải người Việt Nam hoàn toàn. Trong tác phẩm ấy có rất nhiều đoạn thơ đặc sắc khơi gợi cảm xúc của biết bao bạn đọc. Một trong số đó la đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

    BÀI VĂN MẪU SỐ 1 PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH LỚP 9

    Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết:

    • “Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
    • Sắc tài sao mà lắm truân chuyên”

    Hình tượng Thúy Kiều từ lâu đã bất diệt trong văn học bởi một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng số phận hẩm hiu, bất hạnh. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã khắc họa nội tâm của nàng Kiều khi bị giam lỏng nơi chốn lầu cao hoang vu.

    Mở đầu đoạn trích là một khung cảnh ảo não nhuốm tâm trạng cô đơn, thê lương của con người:

    • “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
    • Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”

    Hai chữ “khóa xuân” chứa đầy sự chua chát xót xa. Tuổi thanh xuân, tuổi trẻ đầy những cảm xúc, với mối tình Kim Trọng trong như sớm mai giờ đây đã trôi vào dĩ vãng, đã bị dập vùi nơi đất khách quê người, nơi đầy nhiễu nhương ô nhục. Kiều ở trên lầu cao đến mức núi thì xa mà trăng thì lại rất gần. Không gian như mở ra đến vô cùng vô tận:

    • “Bốn bề bát ngát xa trông
    • Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”

    Bên này là cồn cát vàng mênh mông hoang vắng, bên kia là những bụi hồng cuốn lên mù mịt. Bốn bề chỉ toàn cát bụi, núi trăng, cô tịch, não nùng!

    Cảnh buồn vì người buồn hay cảnh buồn lại càng làm cho nàng Kiều thêm sầu? Để rỗi nàng tự thấy thân phận “bẽ bàng” đầy ê chề, đau đớn của mình khi bị lừa bán vào lầu xanh. “Mây sớm đèn khuya” gợi ra vòng thời gian tuần hoàn khép kín, gợi ra không khí tù đọng, ngột ngạt ở lầu Ngưng Bích. Câu thơ “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” khiến người đọc liên tưởng đến quy luật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Bởi vậy tả cảnh mà hiện ra cả một thế giới tâm hồn của Kiều.

    Trong cảnh lẻ loi, Thúy Kiều nhớ tới mối tình với chàng Kim, hồi tưởng lại đêm hai người thề nguyền đính ước dưới trăng. Chữ “tưởng” nghe sao mà xót xa, khi trở về với hiện tại thì mọi điều tốt đẹp đã tan biến, nàng lại tự băn khoăn, tự dằn vặt mình “tấm son gột rửa bao giờ cho phai?”. Nàng nhớ về gia đình về cha mẹ, tự hỏi hai em ở nhà có chăm sóc tốt cho đấng sinh thành không, liệu ai sẽ là người quạt mát cho cho cha mẹ những trưa hè oi bức, ủ ấm chăn cho cha mẹ nằm những ngày đông lạnh giá. Nguyễn Du đã để nàng Kiều nhớ về Kim Trọng, về chữ tình trước và chữ hiếu sau. Điều này ắt hẳn cũng có cái hợp tình hợp lý của đại thi hào. Với gia đình, nàng đã bán mình chuộc cha và em, coi như phần nào đền đáp công ơn dưỡng dục còn với Kim Trọng, nàng là người đã phụ tấm lòng, phản bội lại lời thề. Sự tinh tế của Nguyễn Du khiến người đọc càng thêm trân trọng vẻ đẹp phẩm chất của nàng: vừa là một người tình nhất mực thủy chung, vừa là một người con hiếu thảo.

    Tám câu cuối chính là những câu thơ đặc sắc nhất của đoạn trích, là khuôn vàng thước ngọc của lối thơ tả cảnh ngụ tình. Điệp từ “Buồn trông” vừa mở ra bốn bức tranh thiên nhiên khác nhau về thiên nhiên và số phận con người vừa nhấn mạnh nỗi buồn sâu đậm của người con gái kia. Nhìn cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển xa, vào lúc chiều hôm khi vạn vật tìm về bến đỗ càng tô đậm thêm nỗi nhớ nhà nhớ quê da diết. Nhìn cánh hoa mỏng manh trôi man mác giữa ngọn nước mới sa tung bọt trắng xóa, nàng lại tự xót thương phận đời chìm nổi lênh đênh, bị vùi dập không thương tiếc. Câu hỏi tu từ “Biết là về đâu” là cả sự hoang mang vô định của Kiều về tương lai mịt mờ tăm tối. Hình ảnh “nội cỏ rầu rầu” từ chân mây đến mặt đất chỉ toàn một màu xanh xanh như gợi ra sư héo hon, tàn lụi. Bức tranh cuối đầy âm thanh và dữ dội “gió cuốn mặt duềnh”, “ầm ầm tiếng sóng” như báo trước phong ba bão táp còn đang đợi nàng ở phía trước.

    Đọc đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, trái tim độc giả như cũng thổn thức theo từng nhịp tâm trạng của nàng Kiều và đồng cảm xót thương cho tình cảnh bất hạnh của nàng.

    Thúy Kiều

    BÀI VĂN MẪU SỐ 2 CẢM NHẬN ĐOẠN TRÍCH “KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH” LỚP 9

    “Truyện Kiều” hay còn được gọi là “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng nghe mới kêu đứt ruột” là một kiệt tác văn học của đại thi hào Nguyễn Du. Số phận và vẻ đẹp của Kiều – kiếp hồng nhan mà bạc mệnh – được Nguyễn Du khắc họa rõ nét trong tác phẩm. Đặc biệt là đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã khắc họa cho người đọc thấy được số phận và cuộc đời của nàng Kiều khi phải bước chân vào chốn gió bụi đoạn trường, lầu xanh ô trọc nhưng Kiều vẫn giữ nguyên vẹn được phẩm chất cao đẹp và đáng trân trọng của mình.

    Đoạn trích trên phản ánh tâm trạng buồn tủi, thương nhớ người yêu, thương nhớ cha mẹ và xót thương cho thân phận cay đắng của Thúy Kiều. Đoạn thơ là một dẫn chứng chứng minh cho nhận xét: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ của thi hào Nguyễn Du. Thiên nhiên ở đây bị bao phủ trong một nỗi buồn trĩu nặng, bởi Thúy Kiều nhìn cảnh bằng cặp mắt u uất, đau thương. Nỗi buồn từ lòng người thấm vào cảnh vật và cảnh vật hoang vắng, đìu hiu càng gợi mối sầu trong lòng người con gái bất hạnh. Đang được sống trong không khí êm ấm, đùm bọc của gia đình; đang say sưa hạnh phúc với mối tình đầu ngọt ngào, trong sáng, Thúy Kiều bỗng dưng bị rơi vào cạm bẫy của cuộc đời. Nàng bị lừa gạt trắng trợn, bị đánh đập dã man, bị xúc phạm đến phẩm hạnh. Bao tai họa dồn dập đến với nàng chỉ trong một thời gian quá ngắn. Cả thể xác lẫn tâm hồn nàng bị những thế lực đen tối giày xéo, chà đạp không thương tiếc. Giờ đây, một mình ngồi trước lầu Ngưng Bích, giữa chôn đất khách quê người, Kiều hoàn toàn cô đơn, không một người thân thích để chia sẻ tâm sự đau thương. Bởi vậy, nỗi buồn đau càng lớn, càng sâu. Thúy Kiều chỉ còn biết san sẻ nỗi lòng cùng cảnh vật quanh nàng.

    Trong sáu câu thơ đầu, tác giả tả khung cảnh quanh lầu Ngưng Bích bằng những nét chấm phá tài tình: vẻ non xa, tấm trăng gần, bốn bề bát ngát, cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia. Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo. Nguyễn Du đã mượn cảnh để nói lên tâm trạng Thúy Kiều:

    • “Trước Lầu Ngưng Bích khóa xuân,
    • Vẻ non xa tấm trăng gần ờ chung.”

    Cha mẹ, các em, người yêu… tất cả đã xa xôi, cách biệt trùng trùng. Sống giữa một lũ mặt người dạ thú như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh… Kiều chẳng khác gì một con cừu non giữa bầy lang sói. Có ai hiểu nỗi lòng nàng trong cảnh huống này? Nhìn một dáng núi xa, ngắm một vầng trăng gần, nàng cảm thấy đó là bè bạn. Nhưng những người bạn không lời này đâu có an ủi, chia sẻ được nổi buồn đang chất ngất trong lòng nàng? Bởi thế, nỗi buồn không thể nào vơi. Dõi tầm mắt ra bốn phương, tám hướng, không hướng nào loé lên được một chút vui:

    • “Bốn bề bát ngát xa trông,
    • Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.”

    Không một bóng người trên một vùng đất mênh mông, hoang vắng. Ướm vào thân phận, Kiều thấy mình nào có khác chi hạt cát, hạt bụi nhỏ nhoi. Giữa người với cảnh vừa có nét tương phản, vừa có nét tương đồng. Nỗi buồn của Kiều dường như cũng mở ra đến vô cùng như không gian vô tận trước mắt nàng. Càng cảm thương cho thân phận, cõi lòng nàng càng tan nát:

    • “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
    • Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”

    Cảnh buồn thì hay gợi nhớ. Kiều lặng lẽ, âm thầm gạt lệ khi hồi tưởng về bao điều tốt đẹp nay đã thành quá khứ. Nàng da diết nhớ người yêu cùng với mối tình đầu mãnh liệt và trong sáng:

    • “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
    • Tin sương luống những rày trông mai chờ.”

    Hình ảnh hai người cùng uống chén rượu thề trăm năm gắn bó đêm nào dưới Vầng trăng vằng vặc giữa trời giờ vẫn còn đậm nét, tươi nguyên trong kí ức nàng. Nàng thương chàng Kim giờ này đang sốt ruột trông chờ tin tức người yêu. Nghĩ về cha mẹ, lòng Kiều càng xót xa, đau đớn:

    • “Xót người tựa cửa hôm mai,
    • Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
    • Sân Lai cách mẩy nắng mưa,
    • Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

    Giờ nàng đã đi xa biền biệt, lấy ai chăm sóc mẹ cha? Tuy đã cố dứt chữ tình đổ đáp đền chữ hiếu nhưng nàng vẫn không khỏi băn khoăn, thổn thức khi nghĩ đến cảnh cha già mẹ yếu, mòn mỏi đợi mong con trong vô vọng. Điều đó càng khẳng định nàng là người con hiếu thảo.

    Mang một tâm trạng như thế nến Kiều nhìn đâu cũng chỉ thấy buồn:

    • “Buồn trông cửa bể chiều hôm
    • Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
    • Buồn trông ngọn nước mới sa,
    • Hoa trôi man mác biết là về đâu?
    • Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
    • Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
    • Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
    • Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

    Bốn lần từ buồn trông được nhắc lại, mỗi lần mở đầu cho một cảnh. Kiểu kết cấu lặp này gây ấn tượng mạnh về nỗi buồn sâu sắc của Kiều. Tám câu thơ, bốn bức tranh phong cảnh nhỏ trong một bức tranh phong cảnh – tâm tình rộng lớn. Bức thứ nhất: cửa bể chiều hôm mênh mông màu xám bạc. Trên cái nền ấy nổi lên một cánh buồm đơn độc, thấp thoáng ẩn hiện, không biết về phương trời nào. Bức thứ hai: ngọn nước mới sa (nước đổ từ trên cao xuống), cuốn theo những cánh hoa bị sóng gió dập vùi, đẩy đưa vào cõi vô định. Bức thứ ba: nội cỏ rầu rầu, héo úa, không còn sức sống. Bức thứ tứ: gió cuốn mặt duềnh, ầm ầm tiếng sóng…

    Chúng ta bắt gặp ở đây bút pháp quen thuộc của Nguyễn Du. Cảnh vật chỉ mang tính ước lệ nhưng phản ánh rõ tình người, cụ thể là nỗi buồn không giới hạn của Kiều. Mỗi cảnh ngụ một ý, tăng dần lên theo suy nghĩ và mặc cảm về thân phận con người: lẻ loi, cô độc, trôi nổi, dập vùi, héo tàn và linh tính báo trước về một tương lai đen tối đầy bão tố.

    BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 3 PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH “KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH”

    Nguyễn Du đã trải qua mười năm gió bụi, sống trong thời đại “một phen thay đổi sơn hà”, chứng kiến bao đổi thay ghê gớm “thương hải biến vi tang điền” để rồi đã viết ra những vần thơ mà như có máu chảy trên đầu ngòi bút. Đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích “ là một trong những đoạn trích đặc sắc nhất của “Truyện Kiều” qua đó đã tái hiện hình ảnh Kiều trong cuộc sống nơi chốn lầu xanh.

    Mở đầu đoạn trích là bức tranh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích”

    • “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
    • Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung
    • Bốn bề bát ngát xa trông
    • Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
    • Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
    • Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

    Câu thơ mở đầu “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”, cái tên “Ngưng Bích” vốn là cái tên rất đẹp nhưng lại là nơi “khóa” tuổi xuấn củ Kiều. Kiều như con chim phải sống trong lồng. Nàng từ lầu Ngưng Bích trông ra và thấy “vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung”, đó là hình ảnh của những dãy núi trải dài. Xung quang là “cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”. Khung cảnh có gì đó rất hoang vắng, rợn ngợp và không có bóng người. Trong khung cảnh đó, Kiều thấy “bẽ bàng”- một tâm trạng đau đớn, tủi thẹn cho thân phận sống nơi lầu Ngưng Bích của chính mình. Cụm từ “mây sớm đèn khuya” để chỉ vòng thời gian cứ thế lặp lại hay cũng chính là cảnh Kiều đang bị giam hãm. “ Như chia tấm lòng” để chỉ một trái tim đang bị chia cắt…

    Trong hoàn cảnh ấy, Kiều nhớ đến người yêu của mình là Kim Trọng đang ngày đêm mong ngóng đến người yêu:

    • “ Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
    • Tin sương luống những rày trông mai chờ
    • Bên trời góc bể bơ vơ
    • Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

    Nàng nhớ lại cái đêm mà hai người dưới ánh trăng đã cùng thề nguyền:

    • “ Vầng trăng vằng vặc giữa trời
    • Đinh ninh hai mặt một lời song song”

    vậy mà nay, chính nàng lại là người phá vỡ lời thề ấy. Nàng hình dung ra rằng lúc này đây Kim Trọng cũng đang ở quê nhà ngóng  chờ nàng. Câu hỏi tu từ “tấm son gột rửa bao giờ cho phai” cùng từ “son”diến tả tâm trạng đau đớn đến tột cùng của nàng.

    Rồi nàng nhớ về cha mẹ của mình:

    • Xót người tựa cửa hôm mai
    • Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
    • Sân Lai cách mấy nắng mưa
    • Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

    Nàng nhớ Kim Trọng trước rồi mới nhớ đến cha mẹ, điều này là hoàn toàn hợp lý bởi với cha mẹ, Kiều đã bán mình để chuộc cha, như vậy chữu “hiếu” phần nào đã được báo đáp. Điển tích, điển cổ “quạt nồng ấp lạnh”, “Sân Lai cách mấy nắng mưa” nói về tấm lòng hiếu thảo của người con gái đối với cha mẹ, nàng băn khoăn không biết giờ này có ai thay mình để chăm sóc cho cha mẹ hay không.

    Từ đó, nàng buồn cho kiếp đời của mình:

    • “Buồn trông cửa bể chiều hôm
    • Thuyền ai thấp thoáng cửa bể xa xa
    • Buồn trông ngọn nước mới sa
    • Hoa trôi man mác biết là về đâu
    • Buồn trông nội cỏ rầu rầu
    • Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

    Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại như một bản nhạc trầm buồn. Nàng nhìn ra xa mà chỉ thấy hình ảnh con thuyền “thấp thoáng”- hay đó cũng chính là thân phận Kiều? “ Hoa trôi man mác biết là về đâu?”. Câu hỏi tu từ cùng hình ảnh ẩn dụ “hoa” vốn là biểu tượng cho cái đẹp hay cũng chính là hình ảnh người con gái bị cuộc đời xô đẩy? Và ngọn cỏ thì nhuốm một màu tâm trạng của lòng người – “rầu rầu”.

    Qua đoạn trích, ta đã phần nào hiểu được số phận của nàng Kiều. Kiếp đoạn trường của nàng lênh đênh, cuộc đời của nàng đầy sóng gió. Nguyễn Du viết những câu thơ này, chắc chắn phải từ một trái tim nhân đạo, yêu thương những phận tài hoa mà bạc mệnh…

    Từ khóa tìm kiếm:

    • cam nhan cua e ve doan trich kieu o lau ngưng bich
    • cảm nhận kiều ở lầu ngưng bích
    • Cảm nhận về bài kiều ở lầu ngưng bích
    • cam nhan bai tho kieu o lau ngung bi
    • cảm nhận của em về kiều ở lầu ngưng bích
    • cảm nhận về đọan trích kiêu ơ lầu ngưng bích

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Kiến Thức Văn Bản: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều
  • Soạn Bài: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Lý Giải Việc Xuất Hiện Những Trận Mưa Đá Vừa Qua
  • Kinh Nghiệm Sắp Xếp Hồ Sơ Tài Liệu Trong Kho Lưu Trữ Khoa Học Nhất
  • Hướng Dẫn Triển Khai Quy Trình Quản Lý Và Sắp Xếp Hồ Sơ, Tài Liệu Khoa Học
  • Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích 6 Câu Đầu Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài Văn Cảm Nhận Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Thúy Kiều Trong Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Của Em Về 8 Câu Thơ Giữa Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Câu Hỏi 54980
  • Cảm nhận của em về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích – Bài làm 1

    Một trong những nét đặc sắc nghệ thuật trong ” Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du là bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đoạn trích ” Kiều ở lầu Ngưng Bích” là bức tranh tâm trạng Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích. Đoạn thơ miêu tả nội tâm nhân vật thành công nhất trong Truyện Kiều. Đặc biệt là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đầy xúc động.

    “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

    Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

    Bốn bề bát ngát xa trông

    Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”.

    Hoàn cảnh của Kiều lúc này mông lung bi thảm. Kiều được Tú Bà cho ra ở lầu Ngưng Bích nhưng thực chất bị giam lỏng. Nàng trơ chọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng. Từ trên lầu cao, nàng ngắm vọng ra bốn phía bát ngát, dãy núi mờ xa, những cồn cát vàng trải dài vô tận… Nhìn lên chỉ có mảnh trăng gần ở chung. Những hình ảnh non xa, trăng gần, cát vàng, bụi hồng có thể là cảnh thực mà cũng có thể là hình ảnh mang tính ước lệ. Để gợi sự mênh mông hoang vắng rợn nghộp không gian. Qua đó diễn tả tâm trạng bẽ bàng tội nghiệp của Kiều.

    “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”.

    Sớm sớm nhìn mây, đêm đêm đối diện với ngọn đèn cảnh người cung thao thức sẻ chia. Một mình với tấm trăng – người bạn gần gũi thân thiết nhất.

    Trong cảnh ngộ một mình bơ vơ nơi chân trời góc bể, cô đơn tuyệt đối, Kiều càng nhớ tới những người thân yêu. Nỗi nhớ đầu là nỗi nhớ chàng Kim.

    “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng.

    Tin sương luống những rày trông mai chờ.

    Bên trời góc bể bơ vơ,

    Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai”.

    Kiều sót xa hình dung Kim Trọng vẫn chưa biết tin mình bị bán mình chuộc cha, bị đưa đẩy vào góc bể chân trời mà vẫn ngày đêm mong ngóng, chờ đợi mỏi mòn. Nàng thấy mình có lỗi, dằn vặt.

    ” Tấm son… cho giai”. Nàng cho mình bội bạc tình với Kim Trọng, bội ước lời nguyện ước với chàng Kim. Bao nỗi dằn vặt vò sẻ biết khi nào, bao giờ mới nguôi ngoai.

    Xót người tựa cửa hôm mai

    Quạt nồng ấm lạnh những ai đó chờ

    Sân Lai cách mấy nắng mưa

    Có khi ngồi gốc tứ đã vừa người ôm

    Kiều thương cho cha mẹ khi sáng khi chiều tựa cửa ngóng tin con, chông mong sự đỡ đần. Nàng xót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu, mà nàng không được tự tay chăm sóc và hiện thời ai người chông nom.

    Thành ngữ ” Quạt lồng ấp lạnh”, điển cố ” săn lại”, ” gốc tử” đều nói lên tâm trạng nhớ thương tấm lòng hiếu thảo của Kiều, nàng tưởng tượng cảnh nơi quê nhà tất cả đã đổi thay. Mà sự đổi thay lớn nhất là gốc tử đã vừa người ôm – cha mẹ ngày càng già yếu, cụm từ ” cách mấy nắng mưa” vừa nói được thời gian cách xa vừa nói sức mạnh tàn phá của tự nhiên, nắng mưa với cảnh vật con người khi nhớ về cha mẹ. Kiều luôn ân hận đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dạy của cha mẹ. Trong cảnh ngộ ” Kiều ở lầu Ngưng Bích” Kiều là người tình thủy chung, hiếu thảo, người có tấm lòng vị tha. Nỗi nhớ người thân của Kiều được diễn tả qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm lên càng chân thực cảm động.

    Sau phút giây trở về với người thân yêu, Kiều đã trở lại với cảnh ngộ chính mình.

    Tám câu cuối là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc là thực cảnh mà cũng là tâm cảnh, mỗi cảnh khơi gợi ở Kiều nỗi buồn khác nhau, những lí do buồn khác nhau, mỗi cặp lục bát tạo thành một cảnh.

    ” Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”

    Đây là bức tranh chiều hôm nhớ nhà. Cảnh chiều hôm muôn thỏa buồn nhớ, lại giữa không gian mênh mông cửa biển chỉ có một cánh buồm thấp thoáng xa xa, cảnh ấy gợi trong lòng người lưu lạc lỗi cô đơn buồn nhớ da diết về cha mẹ quê nhà. Đại từ ai sang âm điệu sầu thương. Câu thơ là một câu hỏi tu từ nhân lên như một niềm khao khát hoài vọng chông ngóng.

    “Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

    Cái nhìn của Kiều hướng về không gian gần hơn, nhìn cánh hoa trôi giữa dòng nước, Kiều lại buồn cho thân phận trôi nổi, vô định, lại sót xa cho số phận của mình. Hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ gợi nỗi thương da diết. Câu hỏi tu từ ở đây như một lỗi băn khoăn tự thương cho bản thân.

    “Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”.

    Cảnh vật khá ấn tượng, không phải cỏ non xanh tận chân trời đầy sức sống nhưng mà là nộ cỏ rầu rầu, héo úa buồn bã cùng mành xanh trải dài từ mặt đất đến chân mây, càng khiến Kiều thêm vô vọng về cuộc sống tẻ nhạt, khô quạnh ở nơi này, cảnh mờ mịt như tương lai cũng cờ mịt của Kiều.

    “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”.

    Chiều đã muộn, màu sắc như tối hơn, cảnh hiện lên mờ nhạt, âm thanh rộn lên mạnh hơn tiếng sóng kêu như báo trước sóng gió dữ dằn của đời Kiều hay cũng là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vong với thiên nhiên, Kiều không chỉ buồn mà lo sợ với sóng gió cuộc đời. Sóng gió ở đây là những ẩn dụ chỉ những tai hooaj đang rình dập đổ xuống cuộc đời Kiều. Như vậy cảnh của đoạn thơ cuối được nhìn từ xa đến gần. Màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tỉnh đến động để diễn tả nỗi buồn man mác, mông nung đến âu lo kinh sợ. Bốn cặp câu lục bát sử dụng điệp ngữ ” Buồn trông – nghĩa là buồn mà nhìn xa ” mà không ngóng một cái gì mơ hồ, vô vọng. Điệp ngữ này kết hợp với những hình ảnh các từ láy: Thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm tạo lên nhịp điệu diễn tả nỗi buồn ngày càng tăng, điệp ngữ ” Buồn trông” tạo âm hưởng trầm buồn là điệp khúc đoạn thơ, điệp khúc tâm trạng.

    Đoạn trích với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc, Nguyễn Du đã khắc họa bức tranh phong phú sinh động giữa tả ngoại cảnh, tâm cảnh, tâm trạng Kiều. Bẽ bàng, sót xa, thẫn thờ khi lâm vào cảnh ngộ bơ vơ, bế tắc. Qua đoạn trích người đọc thấy được tấm lòng thương cảm, sẻ chia sót xa của tác giả đối với người phụ nữ tài sắc đức hạnh. Đoạn trích thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.

    Cảm nhận của em về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích – Bài làm 2

    Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh. Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi là chuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển. Nhưng Nguyễn Du không chỉ giỏi về tả cảnh mà còn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng. Trong quan niệm của ông, hai yếu tố tình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền nhau, bổ sung cho nhau.

    Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình đầy xúc động. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã miêu tả tâm trạng nhân vật một cách xuất sắc. Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạng của Kiều. Đó là nỗi cô đơn, buồn tủi, là tấm lòng thủy chung, nhân hậu dành cho Kim Trọng và cha mẹ.

    Kết cấu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích rất hợp lí. Phần đầu tác giả giới thiệu cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: trong nỗi cô đơn buồn tủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: tâm trạng đau buồn của Kiều và những dự cảm về những bão tô cuộc đời sẽ giáng xuống đời Kiều.

    Thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu được miêu tả hoang vắng, bao la đến rợn ngợp. Ngồi trên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng điệp, ngẩng lên phía trên là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, lác đác như bụi hồng nhỏ bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, lẻ loi của nàng lúc này:

    Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

    Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

    Bốn bề bát ngát xa trông

    Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

    Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mông đang trải rộng ra trước mắt Kiều. Không gian ấy càng khiến Kiều xót xa, đau đớn:

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

    Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

    Một chữ bẽ bàng mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều lúc bấy giờ: vừa chán ngán, buồn tủi cho thân phận mình, vừa xấu hổ, sượng sùng trước mây sớm, đèn khuya. Và cảnh vật như cũng chia sẻ, đồng cảm với nàng: nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Bức tranh thiên nhiên không khách quan, mà có hồn, đó chính là bức tranh tâm cảnh của Kiều những ngày cô đơn ở lầu Ngưng Bích.

    Trong tâm trạng cô đơn, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều tìm về với những người thân của mình. Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ được Nguvễn Du miêu tả rất xúc động trong những lời độc thoại nội tâm của nhân vật. Nỗi nhớ thương được chia đều: bốn câu đầu dành cho người yêu, bốn câu sau dành cho cha mẹ. Nhưng nỗi nhớ với chàng Kim được nói đến trước vì đây là nồi nhớ nồng nàn và sâu thẳm nhất. Nồi nhớ đó được xoáy sâu và đêm thề nguyền dưới ánh trăng và nỗi đau cũng trào lên từ đó:

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng.

    Tin sương luống những rày trông mai chờ.

    Bên trời góc bể bơ vơ,

    Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai.

    Lời thơ như chứa đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đương đang chảy máu! Nỗi nhớ của Kiều thật tha thiết, mãnh liệt! Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng Kim đang ngày đêm chờ mong tin mình một cách đau khổ và tuyệt vọng. Mới ngày nào nàng cùng với chàng Kim nặng lời ước hẹn trăm năm mà bỗng dưng, nay trở thành kẻ phụ bạc, lỗi hẹn với chàng. Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằng vặc giữa trời chứng giám lời thề nguyền vẫn còn kia, vậy mà bây giờ mỗi người mỗi ngả. Rồi bất chợt Kiều liên tưởng đên thân phận Bên trời góc bể bơ vơ của mình và tự dằn vặt: Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Kiều nuối tiếc mối tình đầu trong trắng của mình, nàng thấm thía tình cảnh cô đơn của mình, và cũng hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽ không bao giờ có thể gột rửa được tấm lòng son sắt, thủy chung của mình với chàng Kim. Và thực sự, bóng chàng Kim cũng sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí Kiều trong suốt mười lăm năm lưu lạc.

    Nhớ người yêu, Kiều càng xót xa nghĩ đến cha mẹ. Mặc dầu nàng đã liều đem tấc có, quyết đền ba xuân, cứu được cha và em thoát khỏi vòng tù tội, nhưng nghĩ về cha mẹ, bao trùm trong nàng là một nỗi xót xa lo lắng. Kiều đau lòng khi nghĩ đến cảnh cha mẹ già tựa cửa trông con. Nàng lo lắng không biết khi thời tiết thay đổi ai là người chăm sóc cha mẹ. Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng thành ngữ, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, gốc tử) để thể hiện tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũng như những băn khoăn, trăn trở của Kiều khi nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến bổn phận làm con của mình. Trong hoàn cảnh của Kiều, những suy nghĩ, tâm trạng đó càng chứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu thảo.

    Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhưng rồi cuổì cùng nàng Kiều lại quay về với cảnh ngộ của mình, sống với tâm trạng và thân phận hiện tại của chính mình. Mỗi cảnh vật qua con mắt, cái nhìn của Kiều lại gợi lên trong tâm trí nàng một nét buồn. Và nàng Kiều mỗi lúc lại càng chìm sâu vào nỗi buồn của mình. Nỗi buồn sâu sắc của Kiều được ngòi bút bậc thầy Nguyễn Du mỗi lúc càng tô đậm thêm bằng cách dùng điệp ngữ liên hoàn rất độc đáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:

    Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa

    Hoa trôi man mác biết là về đâu?

    Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Nguyễn Du quan niệm: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu… Mỗi cảnh vật hiện ra qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâu sắc. Mỗi cặp câu gợi ra một nỗi buồn. Buồn trông là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà trông ngóng một cái gì đó mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện tại. Hình như Kiều mong cánh buồm, nhưng cánh buồm chỉ thấp thoáng,xa xa không rõ, như một ước vọng mơ hồ, mỗi lúc mỗi xa. Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng xô đẩy cánh hoa phiêu bạt, không biết về đâu như thân phận của mình. Rồi màu xanh xanh bất tận của nội cỏ rầu rầu càng khiến cho nỗi buồn thêm mênh mang trong không gian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn đó bỗng dội lên thành một nỗi kinh hoàng khi ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Đây là một hình ảnh vừa thực, vừa ảo, cảm thấy như sóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa, như muốn nhấn chìm Kiều xuống vực.

    Tám câu thơ tuyệt bút với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình kết hợp với nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đầu mỗi câu lục và nghệ thuật ước lệ tượng trưng cùng với việc sử dụng nhiều từ láy tượng hình, tượng thanh (thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, ầm ầm) đã khắc họa rõ cảm giác u uất, nặng nề, bế tắc, buồn lo về thân phận của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.

    Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh thiên nhiên đồng thời cũng là một bức tranh tâm trạng có bố cục chặt chẽ và khéo léo. Thiên nhiên ở đây liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người. Mỗi nét tưởng tượng của Nguyễn Du đều phản ánh một mức độ khác nhau trong sự đau đớn của Kiều. Qua đó, cho thấy Nguyễn Du đã thực sự hiểu nỗi lòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh để ca ngợi tấm lòng cao đẹp của nhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của những người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh.

    Từ khóa tìm kiếm nhiều:

    • cảm nhận về đoạn trích kiều ở lầu ngưng bích
    • cảm nhận kiều ở lầu ngưng bích
    • cảm nhận của em về kiều ở lầu ngưng bích

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Văn Lớp 9
  • 3 Bài Văn Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Trích Truyện Kiề
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du
  • Top 3 Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Ngắn Nhất.
  • Tóm Tắt Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” Của Nguyễn Du.

    --- Bài mới hơn ---

  • Dựa Vào Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Em Hãy Kể Lại Tâm Trạng Của Thuý Kiều, Có Sử Dụng Yếu Tố Miêu
  • Hãy Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích.
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Chi Tiết)
  • Phân Tích Tâm Trạng Nhân Vật Thúy Kiều Khi Ở Lầu Ngưng Bích Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Thời gian trôi đi, bốn mùa luân chuyển, tạo hóa cho con người được sinh ra và cũng lại để họ ra đi ở cõi vĩnh hằng. Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực thì vẫn còn mãi với thời gian. Và đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” của tác giả Nguyễn Du là một trong số những tác phẩm nghệ thuật như thế.

    Nguyễn Du viết:

    Đó là những lời xót xa của Nguyễn Du khi viết về cuộc sống của những người phụ nữ trong xã hội mà ông đang sống. Dường như ông thấu hiểu sự đau khổ và bất lực của những người phụ nữ trong xã thời phong kiến, cái xã hội thối nát, đầy rẫy những sự bất công và trọng nam khinh nữ. Tất cả những người phụ nữ ở thời đại đó đều thùy mị, đảm đang nhưng chỉ vì những thế lực phong kiến, những cách nghĩ ngu muội mà cuộc đời họ đã chịu nhiều khổ cực. Mỗi người họ đều có một cuộc đời riêng, một nỗi đau khổ riêng, nhưng họ đều có đặc điểm chung là “bạc mệnh”. Ta có thể thấy điều đó qua nhân vật Thúy Kiều trong “Kiều ở lầu Ngưng Bích” của Nguyễn Du.

    Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục, bị Tú bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh. Đau đớn, phẫn uất, tủi nhục nàng định tự vẫn. Tú bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ vờ chăm sóc thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế. Tú bà đưa Kiều ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện hơn, tàn bạo hơn:

    Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là bị giam lỏng (khoá xuân). Cảnh “non xa”, “trăng gần” gợi hình ảnh lầu Ngưng Bích đơn độc, chơi vơi giữa mênh mông trời nước. Vầng trăng ở đây có thể coi là chi tiết nghệ thuật nói về thời gian. Vầng trăng ấy là vầng trăng buổi chiều tà, lúc con người hay hướng về gia đình, nhất là người xa xứ. Họ nhớ về những người thân, những bữa cơm sum họp. Chắc chắn trong tâm hồn họ có bao nhiêu chất chứa không thể giải bày. Kiều cũng vậy, nàng đang ở thân phận như một tù nhân giam lỏng. Chắc chắn Kiều cũng đang nhớ về cha mẹ, hai em và người yêu của mình. Không gian ấy càng mênh mông, hoang vắng hơn khi Kiều nhìn xung quanh tứ phía:

    Từ trên lầu cao nhìn ra, bốn bề đều “bát ngát xa trông”, không một bóng người, chỉ có những cồn cát vàng nối tiếp nhau trong nắng chiều hồng rực của buổi hoàng hôn. Đây là một không gian đẹp có sắc màu, có hình ảnh nhưng chơi vơi và hoang vắng. Hình ảnh “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng” có thể là cảnh thực mà cũng có thể là hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều. Kiều “bẽ bàng”:

    Kiều xấu hổ, tủi thẹn nghĩ đến việc buộc phải làm vợ Mã Giám Sinh, bị Tú Bà la mắng khi vừa bước chân đến lầu xanh và bị ép phải tiếp khách làng chơi. Trong lòng Kiều hiện tại có biết bao nhiêu nỗi niềm, biết bao sự ấm ức không thể chia sẻ cùng ai. Xung quanh chỉ có bốn bức tường ở lầu Ngưng Bích, sớm làm bạn với mây, tối trò chuyện với đèn. Nàng cô đơn đến mức tuyệt vọng. Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín hết ngày này qua ngày khác. Tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi cô đơn khiến Kiều càng bẽ bàng, chán ngán, buồn tủi. Xung quanh chỉ có cảnh vật mà chẳng có người chia sẻ nỗi niềm, bởi vậy tác giả mới viết “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Dù cảnh có đẹp đến mấy, tâm trạng Kiều cũng không thể vui được. “Nửa tình, nửa cảnh”, buồn rồi nhớ, đợi chờ, hi vọng rồi thất vọng “như chia tấm lòng “, nối nhau đến rồi đi trong lòng nàng như thế. Nàng cô đơn gần như tuyệt đối. Như vậy, với bút pháp chấm phá đặc sắc, Nguyễn Du đã khắc họa khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình. Thiên nhiên càng rộng lớn, con người càng nhỏ bé, đơn côi. Những câu thơ tái hiện một khung cảnh đẹp, êm đềm, có non xa, trăng gần nhưng vẫn đượm nét buồn bởi lòng người cô đơn, bẽ bàng và còn bởi “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

    Trong hoàn cảnh này, Kiều là người tội nghiệp nhất nhưng nàng lại luôn nghĩ cho người khác trước khi nghĩ đến mình. Kiều nhớ Kim Trọng trước nhớ cha mẹ sau. Theo nhiều nhà hủ nho thì như vậy là không đúng với truyền thống dân tộc, nhưng thật ra lại là rất hợp lý. Kiều bán mình cứu cha và em là đã đền đáp được một phần công lao cha mẹ, nên nàng cắn rứt khôn nguôi. Người mà nàng nhớ đến trước hết là chàng Kim Trọng:

    Nàng đang hình dung ra Kim Trọng trong nỗi “rày trông mai chờ'” nàng. Trước khi bán mình chuộc cha, nàng đã xác định với mình để không bao giờ còn đợi chờ, hi vọng. Huống chi bây giờ thân nàng đã rơi vào tay bọn Tú bà và họ Mã. Nhưng còn chàng Kim, chàng đâu đã biết việc nàng gặp tai biến. Ở Liêu Dương xa xôi, chàng vẫn ngày đêm trông chờ để sớm gặp lại nàng. Kiều “tưởng” như thấy lại kỷ niệm thiêng liêng đêm thề nguyện, đính ước. Cái đêm ấy hình như mới ngày hôm qua. Nàng nhớ người yêu với tâm trạng đau đớn:

    Có lẽ “tấm son” ấy là tấm lòng Kiều son sắt, thuỷ chung, không nguôi nhớ thương Kim Trọng. Cũng có thể là Kiều đang tủi nhục khi tấm lòng son sắt đã bị dập vùi, hoen ố, không biết bao giờ mới gột rửa cho được. Và như vậy, nàng biết rằng nàng sẽ không bao giờ quên được mối tình đối với chàng Kim, dù cuộc đời có lưu lạc nơi “chân trời góc bể”, dù nàng có muốn “gột rửa”, muốn quên lãng nó đi… Trong nỗi nhớ chàng Kim có cả nỗi đau đớn vò xé tâm can. Cũng trong nỗi lòng thương nhớ luôn hướng về người khác ấy, nàng hình dung cha mẹ già “tựa cửa hôm mai” ngóng tin nàng:

    Nàng thấy “xót” nghĩ đến hình bóng tộ nghiệp của cha mẹ khi sang sớm, lúc chiều tà tựa cửa ngóng tin con mà con thì “bóng chim tăm cá”. Đây không chỉ là nỗi nhớ mà còn là nỗi đau, là tình thương với đấng sinh thành. Không biết ai sẽ là người thay nàng chăm sóc cha mẹ khi trái nắng trở trời. Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay:

    Duy nhất trong đoạn thơ, chỗ này có dùng điển tích. Điển tích “sân Lai gốc tử” chỉ sự thay đổi của không gian, thời gian và cảnh vật. Cụm từ “cách mấy nắng mưa” vừa cho thấy sự xa cách bao mùa mưa nắng, vừa gợi được sự tàn phá của thời gian, của thiên nhiên lên con người và cảnh vật. Tất cả đã đổi thay và Kiều không còn được ở bên cha mẹ để phụng dưỡng song thân. Đó là tấm lòng của một đứa con hiếu thảo, một nét nhân cách đáng trân trọng. Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ về người yêu và cha mẹ. Qua đó, chúng ta có thể thấy nàng là người vị tha, thủy chung, hiếu nghĩa, rất đáng trân trọng.

    Nghĩ về cha mẹ, nghĩ về Kim Trọng, cuối cùng lại trở về với thiên nhiên mênh mông trước mặt, tự đối thoại với lòng mình. Nguyễn Du đã vận dụng rất thành công thủ pháp tả cảnh ngụ tình, mượn thiên nhiên để miêu tả nỗi niềm nhân vật, đặc biệt là bức tranh tứ bình. Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều được tác giả khắc hoạ qua điệp ngữ liên hoàn “buồn trông”. “Buồn trông” có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ ngút tầm nhìn, có cả dự cảm hãi hùng của người con gái ngây thơ lần đầu lại bước giữa cuộc đời ngang ngược. Đây dường như là một điệp khúc của tâm hồn: buồn thì trông, trông rồi lại buồn. Tám câu thơ làm thành một bộ tứ bình cảnh sắc và tâm trạng đầy ấn tượng. Cứ mỗi lần từ “buồn trông” được lặp lại, thì một bức tranh thiên nhiên được vẽ ra, khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau. Nỗi buồn mở ra trước hết nơi cửa bể xa xăm:

    Một không gian mênh mông của cửa bể chiều hôm gợi nỗi buồn mênh mông bao trùm không gian đất trời. Hình ảnh con thuyền và cánh buồm thấp thoáng, bỗng trở nên bé nhỏ, đơn côi trong hoàng hôn vàng rực. Hình ảnh ấy bất giác khơi gợi nỗi cô đơn, lạc lõng bơ vơ, gợi hành trình lưu lạc của chính thân phận nàng Kiều. Hình ảnh con thuyền trong thơ xưa thường diễn tả ước mơ trở về quê nhà của người tha hương. Phải chăng đó cũng là ước mơ trở về sum họp gia đình của Kiều – một ước mơ rất khó thực hiện?

    Nếu như hai câu đầu gợi ra một không gian rộng, xa, thì hai câu tiếp theo điểm nhìn của nàng Kiều thu gần lại, như kiếm tìm điều gì đó để sẻ chia, đồng cảm với mình:

    Ngọn nước đổ từ trên cao xuống, tung bọt trắng xóa. Trên dòng nước dập dềnh ấy có “hoa”. Nó được miêu tả bằng từ “man mác” giàu sức biểu cảm. Đó là nỗi buồn vời vợi thật khó trả lời, cứ bâng khuâng trải dài theo con nước. Kiều nhìn thấy nơi hình ảnh “hoa trôi” cái số kiếp trôi nổi lênh đênh vô định của nàng. Nàng tự hỏi: cuộc đời mình sẽ đi về đâu? Sẽ như cánh hoa kia bị dòng đời vùi dập phũ phàng?

    Dõi tầm mắt lại gần hơn nữa, một hình ảnh quen thuộc trong “Truyện Kiều” xuất hiện: đồng cỏ xanh, thế nhưng ở đây lại là:

    Khác với cỏ non xanh mơn mởn trong tiết thanh minh, ở đây là cỏ rầu rầu ảm đạm trong ánh chiều. Nếu như bức tranh trong tiết thanh minh được điểm sắc trắng đầy sức sống thì ở nội cỏ chỉ có một màu “xanh xanh” đơn điệu, ảm đạm. Nó đơn điệu như chính những ngày Kiều ở lầu Ngưng Bích, khiến cho Kiều có tâm trạng mệt mỏi chán chường, tuyệt vọng với một tương lai mờ mịt, hãi hùng.

    Bức tranh thứ tư mở ra với một cảnh vừa thực, vừa ảo:

    Có thể thấy, điểm nhìn của Kiều thu hẹp lại dần, từ xa xa cửa bể, đến dòng nước, đến đồng cỏ, và giờ đây, Kiều như soi vào chính tâm trạng của mình. Khung cảnh giờ đây thật dữ dội, có cả hình ảnh và âm thanh. Những cơn gió lớn dữ dội đập mạnh vào “mặt duềnh” khiến tiếng sóng kêu ầm ầm. Cái âm thanh “ầm ầm tiếng sóng” ấy chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang ập đổ xuống đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ bé ấy trong xã hội phong kiến cổ hủ, bất công. Ở phần đầu đoạn trích, cảnh vật xung quanh lầu hiền hòa, nên thơ bao nhiêu thì giờ đây, nó lại trở nên dữ dội vô cùng. Nghệ thuật đảo ngữ càng nhấn mạnh âm thanh của tiếng sóng đang gầm gào bên cạnh Thúy Kiều. Tiếng sóng không phải ở xa mà ở sát ngay bên nàng. Sóng gió như ẩn dụ cho bão tố cuộc đời với biết bao hiểm họa, bất trắc đang rình rập Kiều, chờ đợi để đổ ập xuống đời nàng. Nàng hoảng sợ, hãi hùng khi nghĩ về mình.

    Bốn cảnh trong bức tranh tứ bình được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn đạt nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Tất cả là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất. Và bao trùm lên tất cả những hình ảnh diễn tả nỗi buồn ấy, ta có thể đọc thấy một nỗi trông chờ tuyệt vọng, khắc khoải. Như vậy, bằng những vần thơ có sức lay động, khơi gợi sự đồng cảm của con người và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc, tác giả đã diễn tả chân thật nỗi khát khao cuộc sống, nỗi khát khao tình người của Thúy Kiều.

    Ngòi bút của Nguyễn Du hết sức tinh tế khi tả cảnh cũng như khi ngụ tình. Mỗi cảnh thiên nhiên trong đoạn đã diễn tả một sắc thái tình cảm khác nhau của Kiều. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” tạo thành bức tranh tâm trạng, phản ánh một cách chân thực, sinh động hoàn cảnh cô đơn và tội nghiệp của Thúy Kiều cùng tân trạng buồn bã, lo âu, sợ hãi của nàng. Đằng sau sự thành công của bút pháp tả cảnh ngụ tình ấy là một trái tim yêu thương vô hạn với con người, là sự đồng cảm, sẻ chia xót thương cho một kiếp hồng nhan bạc mệnh và ngầm tố cáo xã hội bất công đã chà đạp lên quyền sống và nhân phẩm con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Dàn Ý Phân Tích Tâm Trạng Kiều Trong Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích: Kiều Ở Lầu Ngưng Bích ( Truyện Kiều )
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích ( Trích Truyện Kiều )
  • Soạn Văn Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Hiểu Văn Bản Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Ngắn Gọn Nhất
  • ✅ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Năm 2022
  • Mẫu Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế
    • Nguyễn Du sinh năm 1765 mất năm 1820.
    • Tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên.
    • Quê quán: làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
    • Cuộc đời
      • Ông sinh trưởng trong gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và sáng tạo nghệ thuật.
      • Ông sống trong thời đại đau khổ, bế tắc và nhiều biến động.
      • Ông là người có hiểu biết sâu rộng, có vốn sống phong phú, Nguyễn Du đã sống nhiều năm lưu lạc tiếp xúc với nhiều cảnh đời và thân phận con người trong thời đại loạn lạc, dâu bể.
      • Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du rất phong phú và đồ sộ.
    • Ông có ba tập thơ chữ Hán với 243 bài, sáng tác chữ Nôm xuất sắc nhất là “Truyện Kiều”.
    • Đoạn trích được trích trong tác phẩm Truyện Kiều, được viết bằng chữ Nôm.
    • Đoạn trích nằm ở phần hai (Gia biến và lưu lạc).
    • Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vờ hứa hẹn đợi bà bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.
      Văn bản được bố cục thành ba phần.

      • Phần 1: 6 câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn của Kiều.
      • Phần 2: 8 câu còn lại: Nỗi nhớ của Kiều
      • Phần 3: Còn lại: Tâm trạng của Thúy Kiều.
    • Không gian: Lầu Ngưng Bích.
    • Thời gian: Mây sớm, đèn khuya, trăng.
    • Cảnh vật
      • Non xa – trăng gần.
      • Mây – đèn.
      • Cồn cát nọ – bụi hồng kia.
      • Bốn bề bát ngát.

    ⇒ Nghệ thuật liệt kê, đối lập làm cho cảnh vật hiện ra bộn bề, bát ngát mênh mông đối lập với lòng người cô đơn trống vắng nơi đất khách quê người.

      Câu thơ “nửa tình“: vẻ đẹp trước lầu Ngưng Bích đã được nàng gửi gắm và tình cảm nhớ quê hương. Lúc này tình cảm và cảnh vật cứ đan xen,hoà trộn làm cho tâm trạng bẽ bàng, sầu tủi.

    ⇒ Cảnh vật dưới cái nhìn của Kiều được hiện ra đẹp nhưng đượm buồn.

    • Nhớ người yêu.
    • Nhớ cha mẹ.
    • Nỗi nhớ Kim Trọng.
      • Nhớ đêm thề nguyện với Kim Trọng dưới đêm trăng.
      • Hình dung Kim Trọng nơi xa xôi đang mong chờ tin tức. Kiều cảm thấy mình có lỗi.
      • Tấm son gột rửa“: động từ mạnh “gột rửa” diễn tả tấm lòng thuỷ chung, mối tình đầu đẹp đẽ không thể gột rửa được cho dù nàng muốn lãng quên nó đi.

    ⇒ Tác giả dùng từ chọn lọc diễn tả nỗi nhớ người yêu đau đáu, da diết, đầy cảm động.

      Nỗi nhớ cha mẹ.

      • xót“: xót thương cha mẹ ngày ngày “tựa cửa” ngóng tin con.
      • Quạt nồng ấp lạnh“: lo cho cha mẹ, thương cha mẹ già yếu mà mình không được chăm sóc. Kiều tự trách mình không chu đáo.
      • Điển tích “Sân Lai” để nói đến tấm lòng hiếu thảo của Kiều chỉ biết lo cho người khác mà không nghĩ đến mình.

    ⇒ Kiều là người thuỷ chung, hiếu thảo, vị tha.

    • Điệp ngữ: “buồn trông” 4 lần, kết hợp một hệ thống từ láy và đặc biệt là mỗi cặp câu thơ là một cảnh vật.
      • Cảnh vật: hình ảnh cánh buồm “xa xa” thấp thoáng nơi cửa bể chiều hôm gợi cảnh đời lưu lạc nơi chân trời góc bể, nỗi nhớ quê hương da diết.
      • Cảnh vật: cánh hoa trôi man mác gợi lên số phận lênh đênh vô định của Kiều.
      • Cảnh vật: nội cỏ rầu rầu gợi về một tương lai mờ mịt trong xã hội phong kiến suy tàn không lối thoát mà thân phận nhỏ bé của con người không biết làm sao đây.
      • Cảnh vật: “gió cuốn mặt duềnh“, “ầm ầm tiếng sóng” kêu gợi tâm trạng hãi hùng, lo sợ trước số phận, cuộc sống đang đe doạ bủa vây xung quanh nàng.
    • Nghệ thuật: vần bằng, hệ thống từ láy tạo nên nỗi buồn tầng tầng lớp lớp.
    • Miêu tả cảnh vật từ xa đến gần diễn tả tâm trạng từ chỗ nhớ quê hương, người thân đến lo buồn cho tương lai, sợ hãi, rùng rợn cho số phận của mình.

    ⇒ Với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, tác giả xây dựng một bức tranh tâm trạng đặc sắc nhất, hay nhất của Truyện Kiều: nỗi buồn đau của Kiều như lan toả sang cảnh vật đã xâm chiếm lòng nàng.

    Ghi chú:

    • Nội dung: Đoạn thơ thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều.
    • Nghệ thuật: Miêu tả nội tâm nhân vật, diễn biến tâm trạng được thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại.
      • Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc.
      • Điệp ngữ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Các Đặc Trưng Của Một Văn Bản Khoa Học
  • 1.ngôn Ngữ Khoa Học Là Gì? Văn Bản Khoa Học Gồm Mấy Loại? 2.đặc Trưng
  • Tuần 18. Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài 7. Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu
  • Tổng Hợp Các Đề Văn Về Lặng Lẽ Sa Pa Hay Nhất
  • Tóm Tắt Văn Bản “lặng Lẽ Sa Pa”.
  • Văn mẫu lớp 9: Viết đoạn văn thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

    Thuyết minh về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Lưu ý: Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài viết.

    Ngoài ra, chúng tôi đã thành lập group chia sẻ tài liệu học tập THCS miễn phí trên Facebook: Tài liệu học tập lớp 9. Mời các bạn học sinh tham gia nhóm, để có thể nhận được những tài liệu mới nhất.

    Đề bài: Viết đoạn văn thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du.

    1. Bài văn mẫu 1: Thuyết minh về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Từ một thiếu nữ tài sắc sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”. Kiều đã trở thành món hàng trong màn mua bán của Mã Giám Sinh và giờ nàng đang sống trong cô đơn, nhớ thương đau buồn, lo âu nơi lầu Ngưng Bích. Hai mươi hai câu thơ trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã thể hiện rõ bức tranh tâm cảnh của Kiều. Sống nơi lầu Ngưng Bích là kiểu sống trong sự cô đơn tuyệt đối:

    “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”

    Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, hai chữ “khóa xuân” đã nói lên điều đó. “Khóa xuân” ở đây không phải nói tới những cô gái còn cấm cung mà là sự mỉa mai, chua xót cho thân phận nàng Kiều. Nàng trơ trọi giữa thời gian mênh mông, không gian hoang vắng trong hoàn cảnh tha hương, cô đơn, giờ lại bị đầy vào chốn lầu xanh ô nhục. Trong cảnh ngộ như thế. Kiều chỉ còn biết lắng nghe tiếng nói từ sâu thẳm lòng mình. Tâm trạng Kiều trải ra theo cái nhìn cảnh vật. Nhìn lên trên là vầng trăng đơn côi, nhìn xuống mặt đất thì bên là cồn cát nhấp nhô lượn sóng bên là bụi hồng cuốn xa hàng vạn dặm. Lầu Ngưng Bích là một chấm nhỏ giữa thiên nhiên trơ trọi, giữa mênh mang trời nước. Cái lầu cao ngất nghểu, trơ trọi ấy giam hãm một thân phận trơ trọi. Không một bóng người, không một sự chia sẻ, chỉ có một thiên nhiên câm lặng làm bạn. Kiều chỉ có một mình để tâm sự, để đối diện với chính mình. Trong cái không gian rợn ngợp và thời gian dài dặc, quẩn quanh “mây sớm đèn khuya” gợi vòng tuần hoàn khép kín của thời gian, tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi đơn côi khiến Kiều càng thấy “bẽ bàng” chán ngán, buồn tủi. Sớm và khuya, ngày và đêm Kiều thui thủi một mình nơi đất khách quê người, nàng chỉ còn biết làm bạn với mây và đèn. Trong nỗi cô đơn tuyệt đối ấy, lòng Kiều dồn tới lớp lớp những chua xót. Buồn vì cảnh hoang vu, rợn ngợp và buồn vì ái tình riêng khiến lòng như bị xé: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Nguyễn Du từ cảnh vật trước lầu Ngưng Bích đã nói lên những nỗi lòng của Thúy Kiều. Đó là sự cô đơn, vô vọng đến tuyệt đối và đó là những dư vị của bao tháng ngày gian khổ sưng tấy. Tạm quên đi những chia xẻ trong lòng, Kiều nhớ về những người thân: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng / Tin sương luống những rày trông mai chờ”. Đối với những quy định phong kiến, Kiều nhớ về người yêu rồi nhớ đến cha mẹ. Trong lúc này, nỗi đau đớn tình người yêu nữa còn da diết. Kỷ niệm còn mới đây thôi. Hơn thế nữa Kiều lại bị Mã Giám Sinh mua chuộc, sớm đó bị đưa vào lầu xanh nên nỗi đau lớn nhất của nàng lúc này là: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Chính bởi thế mà người đầu tiên nàng nghĩ tới là chàng Kim. Với cha mẹ nàng đã hy sinh bán mình nên phần nào đã đền đáp được ơn sinh thành. Còn với Kim Trọng, nàng là kẻ phụ tình, tối hẹn. Trong tâm cảnh như thế, để Kiều nhớ chàng Kim trước là sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du. Nhớ tới người yêu là nhớ tới đêm trăng thề nguyền. Vừa mới hôm nào, nàng cùng chàng uống chén rượu thề nguyền son sắt, một lòng cùng nhau một đời mà nay mối tình duyên đã chia đột ngột. Câu thơ như có nhịp thổn thức của trái tim rỉ máu. Kiều đau đớn hình dung Kim Trọng vẫn ngày ngày hướng về nàng để chờ tin mà uổng công vô ích. Càng nhớ chàng Kim bao nhiêu thì Kiều lại thương cho thân mình bấy nhiêu. Thương mình bơ vơ bên trời góc bể, càng nuối tiếc mối tình đầu, càng hiểu rằng tấm son mà nàng dành cho chàng Kim chẳng bao giờ nguôi ngoai. Không chỉ vậy mà tấm son đã bị hoen ố của nàng đến khi nào mới rửa cho được. Trong nỗi nhớ còn có cả nỗi xót xa, ân hận, tủi hổ. Đặt trong hoàn cảnh cô đơn, Kiều đã tạm để nỗi lòng mình lắng xuống và nhớ tới Kim Trọng. Đó là sự vị tha và tấm lòng chung thủy của một con người. Nếu khi nhớ tới Kim Trọng. Kiều “tưởng” thì khi nghĩ tới cha mẹ Kiều “xót”:

    “Xót người tựa cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ Sân Lai cách mấy nắng mưa Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.

    Nàng thương cha mẹ từ bấy đến nay vẫn sớm chiều tựa cửa chờ tin đứa con lưu lạc. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi vì không thể quạt nồng, ấp lạnh, phụng dưỡng song thân khi già yếu. Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển cố “Sân Lai, gốc tử” đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay. Cha mẹ thì mỗi người thêm một già yếu mà nàng thì chẳng thể ở bên chăm sóc. Giờ đây khoảng cách không gian giữa nàng và cha mẹ là cách mấy nắng mưa. Thiên nhiên không chỉ tàn phá cảnh vật mà còn tán phá cả con người. Lần nào khi nhớ tới cha mẹ. Kiều cũng nhớ ơn chín chữ cao sâu và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ. Nỗi nhớ của nàng được gửi vào chiều dài thời gian, vào chiều sâu không gian bởi vậy mà càng thêm da diết, sâu xa. Dù đau buồn bất hạnh nhưng trái tim Kiều đầy yêu thương, nhân hậu, vị tha. Nàng là người tình chung thủy, là người con rất mực hiếu thảo, là người có tấm lòng vị tha đáng trọng. Hai nỗi nhớ được biểu hiện khác nhau đó cũng là sự cảm thông lạ lùng của nhà thơ, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đối với con người. Vẫn việc sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc, những nỗi buồn khác nhau với lí do buồn khác nhau, trong lòng Kiều đã buồn tác động lại khiến càng buồn hơn và nỗi buồn ngày một ghê gớm, mãnh liệt hơn.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ẩm âm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

    Tám câu thơ vừa là bức tranh tâm cảnh mà cũng là thực cảnh. Cảnh được miêu tả theo kiểu tứ bình trong con mắt trông bốn bề và từ xa tới gần. Cảnh đầu tiên mà Kiều trông thấy là bể lúc chiều hôm: “Buồn trông cửa bể chiều hôm / Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”. Không gian mênh mông và thời gian khi chiều tà muôn thuở gợi buồn. Giữa khung cảnh ấy chỉ có một con thuyền vô định và hiện hữu với cánh buồm thấp thoáng xa xa như một ảo ảnh. Cảnh đã gợi trong lòng người tha thương nỗi buồn nhớ về cha mẹ, quê nhà xa cách, nỗi cô đơn và khát khao sum họp. Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi trong lòng Kiều nỗi buồn về thân phận trôi nổi, không biết rồi sẽ bị trôi dạt, bị vùi dập ra sao: “Buồn trông ngọn nước mới sa / Hoa trôi man mác biết là về đâu!” càng làm Kiều xót xa cho duyên phận, số kiếp của mình. Sau một cửa biển, một cánh hoa giữa dòng nước là cảnh của một nội cỏ.

    “Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”.

    Cả một nội cỏ trải ra mênh mông nhưng khác với cỏ trong ngày Thanh minh. Đó là “cỏ non xanh rợn chân trời”, còn cỏ ở đây “rầu rầu”. Một màu vàng úa gợi tới sự héo tàn, buồn bã. Màu xanh nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây không phải màu xanh của sự sống của hy vọng mà chỉ gợi nỗi chán ngán vô vọng vì cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh này không biết bao giờ mới kết thúc. Cảnh mờ mịt cũng giống như tương lai mờ mịt, thân phận nội cỏ hoa héo của Thúy Kiều. Và cuối cùng là cảnh con sóng nổi lên ầm ầm sau cơn gió: “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh/ Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.” Tiếng sóng như báo trước sóng gió dữ dội của cuộc đời hay cũng chỉ là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên. Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi như đang đứng trước sóng gió, bão táp của cuộc đời này sắp đổ xuống đầu nàng. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động. Cảnh ngày một rõ hơn để diễn tả nỗi buồn từ man mác mông lung đến âu lo kinh sợ dồn đến bão táp nội tâm. Thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng mờ ảo bởi nó được nhìn theo quy luật “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Và đó cũng là hiện thân, là tang vật của quá khứ khổ đau, hiện tại lẻ loi bất hạnh và báo hiệu một tương lai khủng khiếp. Tất cả đều là hình ảnh về sự vô định, mong manh, vô vọng, sự trôi dạt, bế tắc. Đoạn thơ gồm bốn cặp câu lục bát cũng là bốn cảnh và cặp câu được liên kết nhớ điệp ngữ “buồn trông”.

    “Buồn trông cửa biển chiều hôm Buồn trông ngọn nước mới xa Buồn trông nội cỏ dầu dầu Buồn trông gió cuốn mặt duềnh”.

    “Buồn trông” là nhìn xưa mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại nhưng trông mà vô vọng. “Buồn trông” có cái thoảng thốt lo âu, có cái xa lạ cuốn hút tầm nhìn, có cả sự dự cảm hãi hùng của người con gái lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang nửa. Điệp ngữ kết hợp với hình ảnh đứng sau cùng các từ láy đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau, trào dâng lớp lớp như những con sóng lòng. Điệp ngữ tạo nên những vần bằng, gợi âm hưởng trầm buồn man mác, diễn tả nỗi buồn mênh mang sâu lắng, vô vọng đến vô tận. “Buồn trông” trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng như điệp khúc của tâm trạng. Bằng một gam màu nhạt và lạnh, Nguyễn Du đã vẽ lên một bộ tứ bình tâm trạng hết sức độc đáo và xúc động. Khúc ca khép lại đầy dư âm với hòa tấu phức điều của sóng biển, “sòng lòng”, “sóng dời” đang vang lên những tiếng gầm gào của hiểm họa như muốn hất tung, nhấn chìm người con gái cô đơn, tội nghiệp trên điểm tựa chiếc ghế đời mỏng manh. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất để rồi bị lừa gạt và dấn thân vào cuộc đời “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Để thể hiện tâm trạng phức tạp mỗi nỗi buồn ôm trọn ba nỗi buồn: buồn nhớ người yêu, buồn nhớ cha mẹ và buồn cho chính mình. Nguyễn Du đã chọn cách thể hiện “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” thật độc đáo tạo nên đoạn thơ tuyệt bút với bút pháp tả cảnh ngụ tình.

    Tóm lại, Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh đa dạng, phong phú về ngoại cảnh và tâm cảnh khắc họa nỗi buồn, sợ hãi mà Kiều đang nếm trải, dự báo sóng gió bão bùng mà nàng phải trải qua trong mười lăm năm lưu lạc “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Đoạn thơ có giá trị nhân bản sâu sắc đồng thời thể hiện tấm lòng nhân hậu, cảm thương chia sẻ của Nguyễn Du với nỗi đau của Thúy Kiều.

    2. Bài văn mẫu 2: Đoạn văn thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du

    Đoạn Trích “Kiều ở Lầu Ngưng Bích” được trích trong Truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du. Đoạn trích nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”.

    Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt và làm nhục, mặc cho Tú bà mắng nhiếc, chửi rủa nhưng Kiều vẫn nhất định không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận làm kĩ nữ ở chốn lầu xanh. Vì quá đau đớn và tủi nhục, phẫn uất, Kiều đã định đi tự vẫn, thấy vậy, Tú bà sợ mất vốn nên đã lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ giả vờ chăm sóc thuốc thang, hứa hẹn rằng khi nào nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế.

    Chính vì thế mà Tú bà đưa Kiều ra sống riêng ở Lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện những âm mưu mới đê tiện và tàn bạo hơn. Kết cấu của đoạn trích gồm có ba phần, phần một bao gồm sáu câu đầu diễn tả hoàn cảnh cô đơn và tội nghiệp của Kiều, phần hai là tám câu tiếp theo diễn tả nỗi nhớ Kim Trọng và nhớ thương cha mẹ của nàng, phần ba là tám câu thơ cuối, diễn tả tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều qua cách nhìn cảnh vật. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và đáng thương của Kiều, đồng thời bộc lộ được nỗi nhớ người thân da diết, nhớ người yêu và nhớ gia đình, tấm lòng thủy chung và hiếu thảo, vị tha của Kiều đang bị giam giữ, trói buộc ở lầu Ngưng Bích. Đoạn trích là thành công của tác giả Nguyễn Du về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật đặc sắc, bút pháp tả cảnh ngụ tình hay nhất trong cả tác phẩm “Truyện Kiều”. Đoạn trích đồng thời cũng thể hiện được sự đồng cảm và lòng thương xót của tác giả dành cho số phận và những nỗi đắng cay trong cuộc đời Kiều.

    3. Bài văn mẫu 3: Thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du

    Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh. Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi là chuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển. Nhưng Nguyễn Du không chỉ giỏi về tả cảnh mà còn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng. Trong quan niệm của ông, hai yếu tố tình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền nhau, bổ sung cho nhau.

    Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình đầy xúc động. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã miêu tả tâm trạng nhân vật một cách xuất sắc. Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạng của Kiều. Đó là nỗi cô đơn, buồn tủi, là tấm lòng thủy chung, nhân hậu dành cho Kim Trọng và cha mẹ.

    Kết cấu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích rất hợp lí: Phần đầu tác giả giới thiệu cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: trong nỗi cô đơn buồn tủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: tâm trạng đau buồn của Kiều và những dự cảm về những bão tô cuộc đời sẽ giáng xuống đời Kiều.

    Thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu được miêu tả hoang vắng, bao la đến rợn ngợp. Ngồi trên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng điệp, ngẩng lên phía trên là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, lác đác như bụi hồng nhỏ bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, lẻ loi của nàng lúc này:

    Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

    Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mông đang trải rộng ra trước mắt Kiều. Không gian ấy càng khiến Kiều xót xa, đau đớn:

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

    Một chữ bẽ bàng mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều lúc bấy giờ: vừa chán ngán, buồn tủi cho thân phận mình, vừa xấu hổ, sượng sùng trước mây sớm, đèn khuya. Và cảnh vật như cũng chia sẻ, đồng cảm với nàng: nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Bức tranh thiên nhiên không khách quan, mà có hồn, đó chính là bức tranh tâm cảnh của Kiều những ngày cô đơn ở lầu Ngưng Bích.

    Trong tâm trạng cô đơn, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều tìm về với những người thân của mình. Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ được Nguvễn Du miêu tả rất xúc động trong những lời độc thoại nội tâm của nhân vật. Nỗi nhớ thương được chia đều: bốn câu đầu dành cho người yêu, bốn câu sau dành cho cha mẹ. Nhưng nỗi nhớ với chàng Kim được nói đến trước vì đây là nồi nhớ nồng nàn và sâu thẳm nhất. Nồi nhớ đó được xoáy sâu và đêm thề nguyền dưới ánh trăng và nỗi đau cũng trào lên từ đó:

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng. Tin sương luống những rày trông mai chờ. Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai.

    Lời thơ như chứa đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đương đang chảy máu! Nỗi nhớ của Kiều thật tha thiết, mãnh liệt! Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng Kim đang ngày đêm chờ mong tin mình một cách đau khổ và tuyệt vọng. Mới ngày nào nàng cùng với chàng Kim nặng lời ước hẹn trăm năm mà bỗng dưng, nay trở thành kẻ phụ bạc, lỗi hẹn với chàng. Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằng vặc giữa trời chứng giám lời thề nguyền vẫn còn kia, vậy mà bây giờ mỗi người mỗi ngả. Rồi bất chợt Kiều liên tưởng đên thân phận Bên trời góc bể bơ vơ của mình và tự dằn vặt: Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Kiều nuối tiếc mối tình đầu trong trắng của mình, nàng thấm thía tình cảnh cô đơn của mình, và cũng hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽ không bao giờ có thể gột rửa được tấm lòng son sắt, thủy chung của mình với chàng Kim. Và thực sự, bóng chàng Kim cũng sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí Kiều trong suốt mười lăm năm lưu lạc.

    Nhớ người yêu, Kiều càng xót xa nghĩ đến cha mẹ. Mặc dầu nàng đã liều đem tấc có, quyết đền ba xuân, cứu được cha và em thoát khỏi vòng tù tội, nhưng nghĩ về cha mẹ, bao trùm trong nàng là một nỗi xót xa lo lắng. Kiều đau lòng khi nghĩ đến cảnh cha mẹ già tựa cửa trông con. Nàng lo lắng không biết khi thời tiết thay đổi ai là người chăm sóc cha mẹ. Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng thành ngữ, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, gốc tử) để thể hiện tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũng như những băn khoăn, trăn trở của Kiều khi nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến bổn phận làm con của mình. Trong hoàn cảnh của Kiều, những suy nghĩ, tâm trạng đó càng chứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu thảo.

    Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhưng rồi cuổì cùng nàng Kiều lại quay về với cảnh ngộ của mình, sống với tâm trạng và thân phận hiện tại của chính mình. Mỗi cảnh vật qua con mắt, cái nhìn của Kiều lại gợi lên trong tâm trí nàng một nét buồn. Và nàng Kiều mỗi lúc lại càng chìm sâu vào nỗi buồn của mình. Nỗi buồn sâu sắc của Kiều được ngòi bút bậc thầy Nguyễn Du mỗi lúc càng tô đậm thêm bằng cách dùng điệp ngữ liên hoàn rất độc đáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:

    Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Nguyễn Du quan niệm: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu… Mỗi cảnh vật hiện ra qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâu sắc. Mỗi cặp câu gợi ra một nỗi buồn. Buồn trông là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà trông ngóng một cái gì đó mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện tại. Hình như Kiều mong cánh buồm, nhưng cánh buồm chỉ thấp thoáng,xa xa không rõ, như một ước vọng mơ hồ, mỗi lúc mỗi xa. Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng xô đẩy cánh hoa phiêu bạt, không biết về đâu như thân phận của mình. Rồi màu xanh xanh bất tận của nội cỏ rầu rầu càng khiến cho nỗi buồn thêm mênh mang trong không gian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn đó bỗng dội lên thành một nỗi kinh hoàng khi ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Đây là một hình ảnh vừa thực, vừa ảo, cảm thấy như sóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa, như muốn nhấn chìm Kiều xuống vực.

    Tám câu thơ tuyệt bút với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình kết hợp với nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đầu mỗi câu lục và nghệ thuật ước lệ tượng trưng cùng với việc sử dụng nhiều từ láy tượng hình, tượng thanh (thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, ầm ầm) đã khắc họa rõ cảm giác u uất, nặng nề, bế tắc, buồn lo về thân phận của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.

    Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh thiên nhiên đồng thời cũng là một bức tranh tâm trạng có bố cục chặt chẽ và khéo léo. Thiên nhiên ở đây liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người. Mỗi nét tưởng tượng của Nguyễn Du đều phản ánh một mức độ khác nhau trong sự đau đớn của Kiều. Qua đó, cho thấy Nguyễn Du đã thực sự hiểu nỗi lòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh để ca ngợi tấm lòng cao đẹp của nhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của những người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Giới Thiệu Truyện Lão Hạc
  • Thuyết Minh Về Tác Phẩm Lão Hạc
  • Thuyết Minh Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi 14 Ngắn Nhất
  • Thuyết Minh Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 7. Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu
  • Tổng Hợp Các Đề Văn Về Lặng Lẽ Sa Pa Hay Nhất
  • Tóm Tắt Văn Bản “lặng Lẽ Sa Pa”.
  • Mẫu Biên Bản Hội Nghị Cán Bộ Chủ Chốt
  • Đề bài: Viết đoạn văn thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du.

    Bài văn hay nhất thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Từ một thiếu nữ tài sắc sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”. Kiều đã trở thành món hàng trong màn mua bán của Mã Giám Sinh và giờ nàng đang sống trong cô đơn, nhớ thương đau buồn, lo âu nơi lầu Ngưng Bích. Hai mươi hai câu thơ trong đoạn trích đã thể hiện rõ bức tranh tâm cảnh của Kiều. Sống nơi lầu Ngưng Bích là kiểu sống trong sự cô đơn tuyệt đối:

    “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”

    Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, hai chữ “khóa xuân” đã nói lên điều đó. “Khóa xuân” ở đây không phải nói tới những cô gái còn cấm cung mà là sự mỉa mai, chua xót cho thân phận nàng Kiều. Nàng trơ trọi giữa thời gian mênh mông, không gian hoang vắng trong hoàn cảnh tha hương, cô đơn, giờ lại bị đầy vào chốn lầu xanh ô nhục. Trong cảnh ngộ như thế. Kiều chỉ còn biết lắng nghe tiếng nói từ sâu thẳm lòng mình. Tâm trạng Kiều trải ra theo cái nhìn cảnh vật. Nhìn lên trên là vầng trăng đơn côi, nhìn xuống mặt đất thì bên là cồn cát nhấp nhô lượn sóng bên là bụi hồng cuốn xa hàng vạn dặm. Lầu Ngưng Bích là một chấm nhỏ giữa thiên nhiên trơ trọi, giữa mênh mang trời nước. Cái lầu cao ngất nghểu, trơ trọi ấy giam hãm một thân phận trơ trọi. Không một bóng người, không một sự chia sẻ, chỉ có một thiên nhiên câm lặng làm bạn. Kiều chỉ có một mình để tâm sự, để đối diện với chính mình. Trong cái không gian rợn ngợp và thời gian dài dặc, quẩn quanh “mây sớm đèn khuya” gợi vòng tuần hoàn khép kín của thời gian, tất cả như giam hãm con người, như khắc sâu thêm nỗi đơn côi khiến Kiều càng thấy “bẽ bàng” chán ngán, buồn tủi. Sớm và khuya, ngày và đêm Kiều thui thủi một mình nơi đất khách quê người, nàng chỉ còn biết làm bạn với mây và đèn. Trong nỗi cô đơn tuyệt đối ấy, lòng Kiều dồn tới lớp lớp những chua xót. Buồn vì cảnh hoang vu, rợn ngợp và buồn vì ái tình riêng khiến lòng như bị xé: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Nguyễn Du từ cảnh vật trước lầu Ngưng Bích đã nói lên những nỗi lòng của Thúy Kiều. Đó là sự cô đơn, vô vọng đến tuyệt đối và đó là những dư vị của bao tháng ngày gian khổ sưng tấy. Tạm quên đi những chia xẻ trong lòng, Kiều nhớ về những người thân: ” Tưởng người dưới nguyệt chén đồng / Tin sương luống những rày trông mai chờ“. Đối với những quy định phong kiến, Kiều nhớ về người yêu rồi nhớ đến cha mẹ. Trong lúc này, nỗi đau đớn tình người yêu nữa còn da diết. Kỷ niệm còn mới đây thôi. Hơn thế nữa Kiều lại bị Mã Giám Sinh mua chuộc, sớm đó bị đưa vào lầu xanh nên nỗi đau lớn nhất của nàng lúc này là: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Chính bởi thế mà người đầu tiên nàng nghĩ tới là chàng Kim. Với cha mẹ nàng đã hy sinh bán mình nên phần nào đã đền đáp được ơn sinh thành. Còn với Kim Trọng, nàng là kẻ phụ tình, tối hẹn. Trong tâm cảnh như thế, để Kiều nhớ chàng Kim trước là sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du. Nhớ tới người yêu là nhớ tới đêm trăng thề nguyền. Vừa mới hôm nào, nàng cùng chàng uống chén rượu thề nguyền son sắt, một lòng cùng nhau một đời mà nay mối tình duyên đã chia đột ngột. Câu thơ như có nhịp thổn thức của trái tim rỉ máu. Kiều đau đớn hình dung Kim Trọng vẫn ngày ngày hướng về nàng để chờ tin mà uổng công vô ích. Càng nhớ chàng Kim bao nhiêu thì Kiều lại thương cho thân mình bấy nhiêu. Thương mình bơ vơ bên trời góc bể, càng nuối tiếc mối tình đầu, càng hiểu rằng tấm son mà nàng dành cho chàng Kim chẳng bao giờ nguôi ngoai. Không chỉ vậy mà tấm son đã bị hoen ố của nàng đến khi nào mới rửa cho được. Trong nỗi nhớ còn có cả nỗi xót xa, ân hận, tủi hổ. Đặt trong hoàn cảnh cô đơn, Kiều đã tạm để nỗi lòng mình lắng xuống và nhớ tới Kim Trọng. Đó là sự vị tha và tấm lòng chung thủy của một con người. Nếu khi nhớ tới Kim Trọng. Kiều “tưởng” thì khi nghĩ tới cha mẹ Kiều “xót”:

    “Xót người tựa cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ Sân Lai cách mấy nắng mưa Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.

    Nàng thương cha mẹ từ bấy đến nay vẫn sớm chiều tựa cửa chờ tin đứa con lưu lạc. Nàng xót thương da diết và day dứt khôn nguôi vì không thể quạt nồng, ấp lạnh, phụng dưỡng song thân khi già yếu. Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển cố “Sân Lai, gốc tử” đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay. Cha mẹ thì mỗi người thêm một già yếu mà nàng thì chẳng thể ở bên chăm sóc. Giờ đây khoảng cách không gian giữa nàng và cha mẹ là cách mấy nắng mưa. Thiên nhiên không chỉ tàn phá cảnh vật mà còn tán phá cả con người. Lần nào khi nhớ tới cha mẹ. Kiều cũng nhớ ơn chín chữ cao sâu và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ. Nỗi nhớ của nàng được gửi vào chiều dài thời gian, vào chiều sâu không gian bởi vậy mà càng thêm da diết, sâu xa. Dù đau buồn bất hạnh nhưng trái tim Kiều đầy yêu thương, nhân hậu, vị tha. Nàng là người tình chung thủy, là người con rất mực hiếu thảo, là người có tấm lòng vị tha đáng trọng. Hai nỗi nhớ được biểu hiện khác nhau đó cũng là sự cảm thông lạ lùng của nhà thơ, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đối với con người. Vẫn việc sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc, những nỗi buồn khác nhau với lí do buồn khác nhau, trong lòng Kiều đã buồn tác động lại khiến càng buồn hơn và nỗi buồn ngày một ghê gớm, mãnh liệt hơn.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ẩm âm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

    Tám câu thơ vừa là bức tranh tâm cảnh mà cũng là thực cảnh. Cảnh được miêu tả theo kiểu tứ bình trong con mắt trông bốn bề và từ xa tới gần. Cảnh đầu tiên mà Kiều trông thấy là bể lúc chiều hôm: “Buồn trông cửa bể chiều hôm / Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”. Không gian mênh mông và thời gian khi chiều tà muôn thuở gợi buồn. Giữa khung cảnh ấy chỉ có một con thuyền vô định và hiện hữu với cánh buồm thấp thoáng xa xa như một ảo ảnh. Cảnh đã gợi trong lòng người tha thương nỗi buồn nhớ về cha mẹ, quê nhà xa cách, nỗi cô đơn và khát khao sum họp. Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi trong lòng Kiều nỗi buồn về thân phận trôi nổi, không biết rồi sẽ bị trôi dạt, bị vùi dập ra sao: ” Buồn trông ngọn nước mới sa / Hoa trôi man mác biết là về đâu!” càng làm Kiều xót xa cho duyên phận, số kiếp của mình. Sau một cửa biển, một cánh hoa giữa dòng nước là cảnh của một nội cỏ.

    “Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”.

    Cả một nội cỏ trải ra mênh mông nhưng khác với cỏ trong ngày Thanh minh. Đó là “cỏ non xanh rợn chân trời”, còn cỏ ở đây “rầu rầu”. Một màu vàng úa gợi tới sự héo tàn, buồn bã. Màu xanh nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây không phải màu xanh của sự sống của hy vọng mà chỉ gợi nỗi chán ngán vô vọng vì cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh này không biết bao giờ mới kết thúc. Cảnh mờ mịt cũng giống như tương lai mờ mịt, thân phận nội cỏ hoa héo của Thúy Kiều. Và cuối cùng là cảnh con sóng nổi lên ầm ầm sau cơn gió: ” Buồn trông gió cuốn mặt duềnh/ Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.” Tiếng sóng như báo trước sóng gió dữ dội của cuộc đời hay cũng chỉ là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên. Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi như đang đứng trước sóng gió, bão táp của cuộc đời này sắp đổ xuống đầu nàng. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động. Cảnh ngày một rõ hơn để diễn tả nỗi buồn từ man mác mông lung đến âu lo kinh sợ dồn đến bão táp nội tâm. Thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng mờ ảo bởi nó được nhìn theo quy luật “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Và đó cũng là hiện thân, là tang vật của quá khứ khổ đau, hiện tại lẻ loi bất hạnh và báo hiệu một tương lai khủng khiếp. Tất cả đều là hình ảnh về sự vô định, mong manh, vô vọng, sự trôi dạt, bế tắc. Đoạn thơ gồm bốn cặp câu lục bát cũng là bốn cảnh và cặp câu được liên kết nhớ điệp ngữ “buồn trông”.

    “Buồn trông cửa biển chiều hôm Buồn trông ngọn nước mới xa Buồn trông nội cỏdầu dầu Buồn trông gió cuốn mặt duềnh”.

    “Buồn trông” là nhìn xưa mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại nhưng trông mà vô vọng. “Buồn trông” có cái thoảng thốt lo âu, có cái xa lạ cuốn hút tầm nhìn, có cả sự dự cảm hãi hùng của người con gái lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang nửa. Điệp ngữ kết hợp với hình ảnh đứng sau cùng các từ láy đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau, trào dâng lớp lớp như những con sóng lòng. Điệp ngữ tạo nên những vần bằng, gợi âm hưởng trầm buồn man mác, diễn tả nỗi buồn mênh mang sâu lắng, vô vọng đến vô tận. “Buồn trông” trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng như điệp khúc của tâm trạng. Bằng một gam màu nhạt và lạnh, Nguyễn Du đã vẽ lên một bộ tứ bình tâm trạng hết sức độc đáo và xúc động. Khúc ca khép lại đầy dư âm với hòa tấu phức điều của sóng biển, “sòng lòng”, “sóng dời” đang vang lên những tiếng gầm gào của hiểm họa như muốn hất tung, nhấn chìm người con gái cô đơn, tội nghiệp trên điểm tựa chiếc ghế đời mỏng manh. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất để rồi bị lừa gạt và dấn thân vào cuộc đời “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Để thể hiện tâm trạng phức tạp mỗi nỗi buồn ôm trọn ba nỗi buồn: buồn nhớ người yêu, buồn nhớ cha mẹ và buồn cho chính mình. Nguyễn Du đã chọn cách thể hiện “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” thật độc đáo tạo nên đoạn thơ tuyệt bút với bút pháp tả cảnh ngụ tình.

    Tóm lại, Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh đa dạng, phong phú về ngoại cảnh và tâm cảnh khắc họa nỗi buồn, sợ hãi mà Kiều đang nếm trải, dựbáo sóng gió bão bùng mà nàng phải trải qua trong mười lăm năm lưu lạc “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Đoạn thơ có giá trị nhân bản sâu sắc đồng thời thể hiện tấm lòng nhân hậu, cảm thương chia sẻ của Nguyễn Du với nỗi đau của Thúy Kiều.

    Đoạn văn thuyết minh ngắn giới thiệu về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Đoạn Trích “Kiều ở Lầu Ngưng Bích” được trích trong Truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du. Đoạn trích nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”.

    Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt và làm nhục, mặc cho Tú bà mắng nhiếc, chửi rủa nhưng Kiều vẫn nhất định không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận làm kĩ nữ ở chốn lầu xanh. Vì quá đau đớn và tủi nhục, phẫn uất, Kiều đã định đi tự vẫn, thấy vậy, Tú bà sợ mất vốn nên đã lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ giả vờ chăm sóc thuốc thang, hứa hẹn rằng khi nào nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế.

    Chính vì thế mà Tú bà đưa Kiều ra sống riêng ở Lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện những âm mưu mới đê tiện và tàn bạo hơn. Kết cấu của đoạn trích gồm có ba phần, phần một bao gồm sáu câu đầu diễn tả hoàn cảnh cô đơn và tội nghiệp của Kiều, phần hai là tám câu tiếp theo diễn tả nỗi nhớ Kim Trọng và nhớ thương cha mẹ của nàng, phần ba là tám câu thơ cuối, diễn tả tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều qua cách nhìn cảnh vật. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và đáng thương của Kiều, đồng thời bộc lộ được nỗi nhớ người thân da diết, nhớ người yêu và nhớ gia đình, tấm lòng thủy chung và hiếu thảo, vị tha của Kiều đang bị giam giữ, trói buộc ở lầu Ngưng Bích. Đoạn trích là thành công của tác giả Nguyễn Du về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật đặc sắc, bút pháp tả cảnh ngụ tình hay nhất trong cả tác phẩm “Truyện Kiều“. Đoạn trích đồng thời cũng thể hiện được sự đồng cảm và lòng thương xót của tác giả dành cho số phận và những nỗi đắng cay trong cuộc đời Kiều.

    Bài thuyết minh đạt điểm cao của học sinh lớp 9 về bài Kiều ở lầu Ngưng Bích

    Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh. Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi là chuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển. Nhưng Nguyễn Du không chỉ giỏi về tả cảnh mà còn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng. Trong quan niệm của ông, hai yếu tố tình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền nhau, bổ sung cho nhau.

    Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình đầy xúc động. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã miêu tả tâm trạng nhân vật một cách xuất sắc. Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạng của Kiều. Đó là nỗi cô đơn, buồn tủi, là tấm lòng thủy chung, nhân hậu dành cho Kim Trọng và cha mẹ.

    Kết cấu của đoạn trích rất hợp lí: Phần đầu tác giả giới thiệu cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: trong nỗi cô đơn buồn tủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: tâm trạng đau buồn của Kiều và những dự cảm về những bão tố cuộc đời sẽ giáng xuống đời Kiều.

    Thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu được miêu tả hoang vắng, bao la đến rợn ngợp. Ngồi trên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng điệp, ngẩng lên phía trên là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, lác đác như bụi hồng nhỏ bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, lẻ loi của nàng lúc này:

    Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

    Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mông đang trải rộng ra trước mắt Kiều. Không gian ấy càng khiến Kiều xót xa, đau đớn:

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

    Một chữ bẽ bàng mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều lúc bấy giờ: vừa chán ngán, buồn tủi cho thân phận mình, vừa xấu hổ, sượng sùng trước mây sớm, đèn khuya. Và cảnh vật như cũng chia sẻ, đồng cảm với nàng: nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Bức tranh thiên nhiên không khách quan, mà có hồn, đó chính là bức tranh tâm cảnh của Kiều những ngày cô đơn ở lầu Ngưng Bích.

    Trong tâm trạng cô đơn, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều tìm về với những người thân của mình. Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ được Nguvễn Du miêu tả rất xúc động trong những lời độc thoại nội tâm của nhân vật. Nỗi nhớ thương được chia đều: bốn câu đầu dành cho người yêu, bốn câu sau dành cho cha mẹ. Nhưng nỗi nhớ với chàng Kim được nói đến trước vì đây là nỗi nhớ nồng nàn và sâu thẳm nhất. Nỗi nhớ đó được xoáy sâu vào đêm thề nguyền dưới ánh trăng và nỗi đau cũng trào lên từ đó:

    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng. Tin sương luống những rày trông mai chờ. Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

    Lời thơ như chứa đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đương đang chảy máu! Nỗi nhớ của Kiều thật tha thiết, mãnh liệt! Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng Kim đang ngày đêm chờ mong tin mình một cách đau khổ và tuyệt vọng. Mới ngày nào nàng cùng với chàng Kim nặng lời ước hẹn trăm năm mà bỗng dưng, nay trở thành kẻ phụ bạc, lỗi hẹn với chàng. Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằng vặc giữa trời chứng giám lời thề nguyền vẫn còn kia, vậy mà bây giờ mỗi người mỗi ngả. Rồi bất chợt Kiều liên tưởng đên thân phận ” bên trời góc bể bơ vơ” của mình và tự dằn vặt: ” Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Kiều nuối tiếc mối tình đầu trong trắng của mình, nàng thấm thía tình cảnh cô đơn của mình, và cũng hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽ không bao giờ có thể gột rửa được tấm lòng son sắt, thủy chung của mình với chàng Kim. Và thực sự, bóng chàng Kim cũng sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí Kiều trong suốt mười lăm năm lưu lạc.

    Nhớ người yêu, Kiều càng xót xa nghĩ đến cha mẹ. Mặc dầu nàng đã liều đem tấc có, quyết đền ba xuân, cứu được cha và em thoát khỏi vòng tù tội, nhưng nghĩ về cha mẹ, bao trùm trong nàng là một nỗi xót xa lo lắng. Kiều đau lòng khi nghĩ đến cảnh cha mẹ già tựa cửa trông con. Nàng lo lắng không biết khi thời tiết thay đổi ai là người chăm sóc cha mẹ. Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng thành ngữ, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, gốc tử) để thể hiện tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũng như những băn khoăn, trăn trở của Kiều khi nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến bổn phận làm con của mình. Trong hoàn cảnh của Kiều, những suy nghĩ, tâm trạng đó càng chứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu thảo.

    Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhưng rồi cuổì cùng nàng Kiều lại quay về với cảnh ngộ của mình, sống với tâm trạng và thân phận hiện tại của chính mình. Mỗi cảnh vật qua con mắt, cái nhìn của Kiều lại gợi lên trong tâm trí nàng một nét buồn. Và nàng Kiều mỗi lúc lại càng chìm sâu vào nỗi buồn của mình. Nỗi buồn sâu sắc của Kiều được ngòi bút bậc thầy Nguyễn Du mỗi lúc càng tô đậm thêm bằng cách dùng điệp ngữ liên hoàn rất độc đáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:

    Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Nguyễn Du quan niệm: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu… Mỗi cảnh vật hiện ra qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâu sắc. Mỗi cặp câu gợi ra một nỗi buồn. Buồn trông là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà trông ngóng một cái gì đó mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện tại. Hình như Kiều mong cánh buồm, nhưng cánh buồm chỉ thấp thoáng, xa xa không rõ, như một ước vọng mơ hồ, mỗi lúc mỗi xa. Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng xô đẩy cánh hoa phiêu bạt, không biết về đâu như thân phận của mình. Rồi màu xanh xanh bất tận của nội cỏ rầu rầu càng khiến cho nỗi buồn thêm mênh mang trong không gian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn đó bỗng dội lên thành một nỗi kinh hoàng khi ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Đây là một hình ảnh vừa thực, vừa ảo, cảm thấy như sóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa, như muốn nhấn chìm Kiều xuống vực.

    Tám câu thơ tuyệt bút với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình kết hợp với nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đầu mỗi câu lục và nghệ thuật ước lệ tượng trưng cùng với việc sử dụng nhiều từ láy tượng hình, tượng thanh (thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, ầm ầm) đã khắc họa rõ cảm giác u uất, nặng nề, bế tắc, buồn lo về thân phận của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.

    Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh thiên nhiên đồng thời cũng là một bức tranh tâm trạng có bố cục chặt chẽ và khéo léo. Thiên nhiên ở đây liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người. Mỗi nét tưởng tượng của Nguyễn Du đều phản ánh một mức độ khác nhau trong sự đau đớn của Kiều. Qua đó, cho thấy Nguyễn Du đã thực sự hiểu nỗi lòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh để ca ngợi tấm lòng cao đẹp của nhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của những người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Thuyết Minh Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Giới Thiệu Truyện Lão Hạc
  • Thuyết Minh Về Tác Phẩm Lão Hạc
  • Thuyết Minh Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích” (Trích “truyện Kiều”

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Khoảng 1 Trang Giấy)
  • Kiều O Lầu Ng]Ng Bích Ngu Van 9 T31 Van Ban Kieu O Lau Ngung Bich Ppt
  • Bài Giảng Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Tiet 37 Kieu O Lau Ngung Bich Ppt
  • Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Có Bắt Buộc Công Chứng, Chứng Thực Không ?
  • Văn Bản Khai Nhận Di Sản Thừa Kế Có Bắt Buộc Công Chứng, Chứng Thực?
  • Chuyên đề 5: KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH

    (Trích Truyện Kiều)

    I. Tìm hiểu chung: 1. Vị trí đoạn trích:

    – Nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tứ Bà sợ mất vốn, bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ. Mụ vờ chăm sóc, thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục,sẽ gả cho người tử tế; rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới. Sau đoạn này là việc Kiều bị Sở Khanh lừa và phải chấp nhận làm gái lầu xanh. Đoạn trích nằm giữa hai biến cố đau xót. Đây là những biến cố giúp ta hiểu những bàng hoàng tê tái và sự lo âu về tương lại của nàng Kiều.

    2. Bố cục đoạn trích:

    – Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều

    – Tám câu tiếp: Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều

    – Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

    II. Đọc – hiểu văn bản: 1. Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều.

    – Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian.

    – Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều:

    + Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng. Hai chữ “khóa xuân” đã nói lên điều đó.

    + Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo:

    _ Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt.

    _ Xa hơn nữa, nhìn ra “bốn bề bát ngát xa trông” là những cát vàng cồn nọ nối tiếp nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm.

    – Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình:

    Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

    + Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết “mây sớm” lại “đèn khuya”. Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến “bẽ bàng”.

    + Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều.

    2. Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều.

    *Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiều chuyển từ buồn sang nhớ. Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật.

    – Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình, Kiều đã phần nào “đền ơn sinh thành” cho cha mẹ. Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng.

    + Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng. Chữ “tưởng” ở đây có thể xem là một nhãn tự. Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng chữ “tưởng”.”Tưởng” vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu.

    + Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.

    + Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận “bên trời góc biển bơ vơ” của mình. Kiều băn khoăn tự hỏi: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”:

    _ Câu thơ muốn nói tới tấm lòng son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên dù cho có gặp nhiều trắc trở trong đường đời.

    _ Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bị những kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố,biết bao giờ mới gột rửa được?

    – Nhớ người yêu, Kiều cũng xót xa nghĩ đến cha mẹ:

    + Chữ “xót” diễn tả tấm lòng Kiều dành cho đấng sinh thành:

    _ Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần

    _ Nàng lo lắng không biết giờ đây ai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay.

    _ Nàng xót xa khi cha mẹ ngày một thêm già yêu mà mình không được ở bên cạnh để phụng dưỡng.

    Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ.Qua đó chứng tỏ Kiều là con người thủy chung hiếu nghĩa, đáng trân trọng.

    3. Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

    – Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều. Cảnh vật thiên nhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết:

    + Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trình lưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ.

    + Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu.

    + Nội cỏ rầu rầu trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ.

    + Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng “kêu quanh ghế ngồi” gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước,chỉ ngay sau lúc này, dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

    III. Tổng kết:

    * Ghi nhớ, sách giáo khoa, trang 96.

    IV. Luyện tập

    1. Viết một đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

    2. Tâm trạng nhớ thương của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích được thể hiện như thế nào? Trình tự như thế có hợp lí không? Hãy phân tích để làm sáng tỏ.

    Bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong 8 câu cuối “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

    – Đoạn thơ này được xem là kiểu mẫu của lối thơ tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển. Để diễn tả tâm trạng Kiều – Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” để khắc hoạ tâm trọng của Kiều lúc bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

    – Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh. Mỗi biểu hiện của cảnh đồng thời là một ẩn dụ về tâm trạng của người – mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, với những lý do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng để rồi tình buồn lại tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúc một ghê gớm, mãnh liệt hơn.

    – Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, điệp ngữ. Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều được tác giả khắc hoạ qua điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu có nghĩa là buồn mà trông ra bốn phía, trông ngáng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng. “Buồn trông” có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ bút tầm nhìn, có cả dự cảm hãi hùng của người con gái ngây thơ lần đầu lại bước giữa cuộc đời ngang ngược. Điệp ngữ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau. Điệp ngữ lại được kết hợp với các từ láy chủ yếu là những từ láy tượng hình, dồn dập, chỉ có một từ láy tượng thanh ở câu cuối tạo nên nhịp điệu, diễn tả nỗi buồn ngày một tăng, dâng lên lớp lớp, nỗi buồn vô vọng, vô tận. Điệp ngữ tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng.

    Cảnh 1: Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    ………Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

    Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển là một hình ảnh rất đắt để thể hiện nội tâm nàng Kiều. Một cánh buồm nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng le lói cuối cùng của mặt trời sắp tắt; cũng như Kiều trong không gian vắng lặng của hiện tại nhìn về phương xa với nỗi buồn nhớ da diết về gia đình, quê hương. Con thuyền gần như mất hút, vẫn còn lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được trở về sum họp, đoàn tụ với những người thân yêu.

    Cảnh 2: Buồn trông ngọn nước mới ra,

    chúng tôi trôi man mác biết là về đâu?

    Những cánh hoa tàn lụi trôi man mác trên ngọn nước mới xa khi Kiều càng buồn hơn bởi nàng như nhìn thấy trong đó thân phận mình lênh đênh, vô định, ba chìm bảy nổi giữa sóng nước cuộc đời, không biết rồi sẽ trôi dạt đi đâu, sẽ bị dập vùi ra sao.

    Cảnh 3: Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu,

    ……………………Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Nội cỏ “rầu rầu”, “xanh xanh” – sắc xanh héo úa, mù mịt, nhạt nhoà trải dài từ chân mây đến mặt đất, còn đâu cái “xanh tận chân trời” như sác cỏ trong tiết Thanh minh khi Kiều còn trong cảnh đầm ấm. Màu xanh này gợi cho Kiều một nỗi chán ngán, vô vọng vì cuộc sống cô quạnh và những chuỗi ngày vô vị, tẻ nhạt không biết kéo dài đến bao giờ.

    Cảnh 4: Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

    ………………………Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

    Dường như nỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập. Một cơn “gió cuốn mặt duềnh” làm cho tiếng sóng bỗng nổi lên ầm ầm như vây quanh ghế Kiều ngồi. Cái âm thanh “ầm ầm tiếng sóng” ấy chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang ập đổ xuống đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ bé ấy trong xã hội phong kiến cổ hủ, bất công. Tất cả là đợt sóng đang gầm thét, rì rào trong lòng nàng. Lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi như rơi dần vào vực thẳm một cách bất lực. Nỗi buồn ấy đã dâng đến tột đỉnh, khiến Kiều thực sự tuyệt vọng. Thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng cũng rất ảo. Đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng theo quy luật “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

    – Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn đạt nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Tờt cả là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất. Cũng vì thế mà nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.

    Link đăng kí tuyển sinh Online: ĐĂNG KÍ TUYỂN SINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Ôn Tập Văn Bản “kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Của Nguyễn Du
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Là Một Bức Tranh Tâm Tình Đầy Xúc Động
  • Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Văn Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích 6 Câu Đầu Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Bài Văn Cảm Nhận Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Về Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Thúy Kiều Trong Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích văn lớp 9

    Hướng dẫn

    Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”. Để có tiền chuộc cha, Kiều phải bán mình, rơi vào tay Mã Giám Sinh và bị bán vào lầu xanh. Quá ê chề, nhục nhã, Kiều tự tử nhưng không thành. Tú Bà giam lỏng Kiều ở lầu Ngưng Bích với lời hẹn xuông để thực hiện một âm mưu mới. Đoạn thơ là bức tranh tâm tình đầy xúc động, bi kịch nội tâm của Thúy Kiều được tác giả miêu tả qua bút pháp tả cảnh ngụ tình và ngôn ngữ độc thoại. Mỗi nét cảnh là một nét tâm trạng buồn đau.

    Đoạn trích được chia làm ba phần. Phần đầu là cảnh ngộ cô đơn, tội nghiệp của Kiều khi nàng bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. 6 câu thơ đầu mở ra bức tranh buồn về cảnh ngộ éo le, bẽ bàng:

    • “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
    • Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
    • Bốn bề bát ngát xa trông
    • Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
    • Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
    • Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

    Lầu Ngưng Bích chỉ nghe thấy tên đã thấy đẹp, là nơi non xanh nước biếc, phong thủy hữu tình. Nhưng cái lầu cao ấy lại là nơi giam lỏng Thúy Kiều cả về tâm hồn lẫn thể xác. Bị Tú Bà “khóa xuân” ở lầu Ngưng Bích, Kiều da diết nhớ người thân, đồng thời lại đau xót cho thân phận của mình. Cảnh vật do đó nhuốm màu tâm trạng. Bởi vậy dù có cả “vẻ non xa” lẫn “tấm trăng gần” nhưng cảnh cũng chẳng thể nào gợi nên một chút tươi vui hay ấm áp. Kiều và thiên nhiên “ở chung” một bầu trời nhưng Kiều vẫn cô đơn. Nhìn ra bốn phía chỉ có cát vàng cồn nọ bụi hồng đặm kia trải dài bát ngát, không một nét thân mật, không một sự gần gũi, không hề có bóng dáng của sự sống. Ba từ “bốn bề, bát ngát, xa trông” chỉ độ rộng, độ xa được sử dụng liên tiếp trong một câu thơ vừa gợi về một không gian mênh mông, hoang vắng đến rợn ngợp, vừa khắc sâu thêm sự lẻ loi, cô độc của Kiều.

    Không gian, thời gian giam hãm Kiều trong một vòng luẩn quẩn, hết sáng lại chiều, từ ngày này qua ngày khác khiến Kiều càng tan nát đớn đau.

    • “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
    • Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”.

    Cái vắng lặng của thiên nhiên và cái mênh mông của vũ trụ khắc sâu thêm cảm giác cô đơn trong tâm hồn Thúy Kiều và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót, đau thương. Ngắm “mây sớm, đèn khuya”, những sự vật gợi lên sự trong trắng tinh khiết – Kiều càng thêm tủi phận, “bẽ bàng” khi nhận ra cái “chân dung biến dạng” của mình. Tình ấy, cảnh ấy “như chia tấm lòng”.

    Sau nỗi niềm cô đơn buồn tủi là nỗi nhớ người thân, nhớ nhà. Trước hết Kiều nhớ đến Kim Trọng.

    • “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
    • Tin sương luống những rày trông mai chờ
    • Bên trời góc bể bơ vơ
    • Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.

    Nhớ tới người yêu là một chữ “tưởng” – bao yêu thương nhung nhớ vào trong chữ “tưởng” ấy. Nàng thương Kim Trọng mong chờ tin của mình một cách vô vọng. Nàng nhớ đến đêm uống rượu thề nguyền dưới trăng, càng nhớ thì càng khẳng định tấm lòng thủy chung son sắc: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Nhưng đằng sau đó là một sự xót xa, day dứt khôn nguôi về một thân phận, về một con người đã ô uế, nhơ nhớp, không thể nào gột rửa được.

    Sau nỗi nhớ người yêu là nỗi nhớ cha mẹ. Việc Nguyễn Du miêu tả nỗi nhớ Kim Trọng trước nỗi nhớ cha mẹ là hoàn toàn hợp lí. Kiều đã lựa chọn chữ “hiếu” mà quên đi chữ “tình” nên người nàng cảm thấy có lỗi nhất chính là Kim Trọng. Nhưng không vì thế mà nỗi nhớ cha mẹ kém phần day dứt.

    • “Xót người tựa cửa hôm mai
    • Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
    • Sân Lai cách mấy nắng mưa
    • Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.

    Khi nhớ người yêu thì Nguyễn Du sử dụng từ “tưởng”, còn khi nghĩ về cha mẹ lại là “xót”. Cách sử dụng từ ngữ ấy rất hợp lí. Từ “xót” thể hiện tâm trạng lo lắng khôn nguôi của kiều dành cho cha mẹ. Nàng xót thương cho người mẹ tựa cửa ngóng chờ con. Xót thương cho cảnh cha mẹ già yếu không biết ai chăm sóc. Câu hỏi tu từ cùng điển cố “quạt nồng ấp lạnh” đã xoáy sâu vào nỗi lòng, nỗi xót xa, lo lắng cho cha mẹ. Sử dụng liên tiếp các hình ảnh ước lệ “Sân Lai cách mấy nắng mưa, gốc tử” càng khắc sâu hơn tâm trạng nhớ gia đình, nhớ nhà. Nàng tưởng đến những thay đổi của quê hương, những thay đổi khá nhanh. Mới xa gia đình được một tháng nhưng nàng tưởng như đã cả năm, những tháng ngày dài dằng dặc cứ lặng lẽ qua chậm chạp. Đối với nàng, hi sinh chữ “tình” để báo đáp chữ “hiếu” vẫn là chưa đủ. Nàng muốn được làm nhiều hơn, muốn chăm sóc nhiều hơn cho cha mẹ nhưng không thể. Thông qua bốn câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Du muốn nói về tấm lòng của Kiều nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung là sự thủy chung son sắt, lòng hiếu thảo, tấm lòng vị tha.

    Tiếp sau nỗi nhớ người thân là nỗi buồn trùng điệp mênh mang, dồn dập như các lớp sóng được thể hiện qua ngòi bút tả cảnh ngụ tình. Mỗi bức tranh là một nỗi buồn. Bốn bức tranh ấy thấm đẫm nỗi buồn của người con gái xa quê hương. Mở đầu mỗi bức tranh là điệp ngữ “buồn trông”:

    • “Buồn trông cửa bể chiều hôm
    • Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
    • Buồn trông ngọn nước mới sa
    • Hoa trôi man mác biết là về đâu
    • Buồn trông nội cỏ rầu rầu
    • Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
    • Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
    • Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    Bức tranh 1: cửa biển hoàng hôn: trong cảnh chiều hôm bát ngát; nước, trời thấm đẫm một màu tím buồn. Giữa trời, nước mênh mông, trong bóng chiều bảng lảng, thấp thoáng một con thuyền khi ẩn khi hiện, xa xa. Cánh buồm ấy, con thuyền ấy gợi lên cho Kiều nỗi nhớ nhà tha thiết và nỗi buồn thương khi liên tưởng mình cũng như cánh buồm kia lênh đênh trên biển lớn không có bến bờ.

    Bức tranh 2: Sau câu hỏi “thuyền ai” lại đến câu hỏi “hoa trôi về đâu?”. Cánh hoa trôi nổi tan tác trên dòng nước mới sa khiến Kiều nghĩ đến kiếp đời lênh đênh, nổi trôi vô định không biết dạt về đâu của mình. Hai câu hỏi tu từ khắc khoải bồn chồn như xoáy sâu vào những dự cảm mà Kiều linh cảm về tương lai.

    Bức tranh 3: Nhìn sang phía khác vẫn một màu “buồn trông” từ chân mây đến mặt đất chỉ là một màu xanh xanh, nhạt nhòa. Màu “xanh xanh” làm cho cỏ cây không còn nét tươi sáng lại thêm vẻ “rầu rầu” làm cho sự sống thêm cạn kiệt, bức tranh phong cảnh héo tàn. Khung cảnh ảm đạm, thê lương phản ánh nỗi mệt mỏi, chán chường, tủi thân về một cuộc sống vô vị. Màu cỏ trên mộ Đạm Tiên hiện ra trước mắt trong khung cảnh trở thành một thứ ám ảnh ghê gớm đối với người con gái đang tuyệt vọng.

    Bức tranh 4: Gió cuốn sóng gào: là bức tranh dữ dội nhất, có âm thanh nhưng lại là âm thanh gào thét đầy bão tố. Sóng gió ầm ầm bủa vây quanh ghế ngồi như muốn ập xuống, cuốn phăng Kiều, khiến Kiều hãi hùng, tuyệt vọng khi linh cảm thấy bão tố cuộc đời sắp đổ sập xuống đầu mình.

    8 câu thơ đều xoay tròn trong nỗi buồn mênh mang, tuyệt vọng của Kiều. Bút pháp tả cảnh ngụ tình; điệp ngữ liên hoàn “buồn trông”; cùng với hệ thống từ láy đã gợi tả tinh tế tâm trạng buồn thương, tê tái của Thúy Kiều. Tình và cảnh có sự vận động từ mờ nhạt đến rõ đậm; từ xa đến gần; từ tĩnh đến động; từ phấp phỏng đến kinh sợ, hãi hùng.

    “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc nhất trong “Truyện Kiều”, đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn buồn tủi và tấm lòng hiếu thảo, chung thủy của Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bài Văn Phân Tích Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Trích Truyện Kiề
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích, Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du
  • Top 3 Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích Ngắn Nhất.
  • Tóm Tắt Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Tâm Trạng Nhân Vật Thúy Kiều Khi Ở Lầu Ngưng Bích Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100