Đặc Điểm Của Văn Bản / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Đặc Điểm Của Văn Bản Nghị Luận

Đặc điểm của văn bản nghị luận

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận.

2. Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm, dẫn đến luận điểm như là kết luận của những lí lẽ và dẫn chứng đó. Luận cứ trả lời các câu hỏi: Vì sao phải nêu ra luận điểm? Nêu ra để làm gì? Luận điểm ấy có đáng tin cậy không?

3. Lập luận là cách lựa chọn, sắp xếp, trình bày luận cứ sao cho chúng làm cơ sở vững chắc cho luận điểm.

II – HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

1. Trong văn bản Chống nạn thất học, luận điểm chính của bài viết là: Chống nạn thất học. Luận điểm đó được nêu ra dưới dạng một khẩu hiệu (nhan đề bài viết), đồng thời được nêu đầy đủ trong câu: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mớí để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ”.

Luận điểm chính đó được triển khai thành các luận điểm cụ thể:

– Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ.

– Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết.

– Phụ nữ càng cần phải học.

Luận điểm đóng vai trò thể hiện quan điểm của người viết. Muốn có sức thuyết phục thì luận điểm phải rõ ràng, được trình bày theo lô-gíc, trình tự hợp lí, mạch lạc.

2. Những luận cứ trong bài Chống nạn thất học là:

– Chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho hầu hết người Việt Nam bị mù chữ, nước Việt Nam không tiến bộ được.

– Nay chúng ta đã giành được độc lập, cần phải nhanh chóng nâng cao dân trí để xây dựng đất nước.

Những luận cứ trên đóng vai trò làm sáng tỏ luận điểm, ở đây là trả lời câu hỏi: Vì sao phải chống nạn thất học?

Triển khai các luận cứ đó, tác giả đưa ra một loạt ví dụ (lí lẽ) để trả lời câu hỏi: Làm cách nào để chống nạn thất học?

Muốn có sức thuyết phục thì luận cứ phải chặt chẽ, sinh động.

3. Trình tự lập luận của văn bản Chống nạn thất học là:

– Nêu lí do vì sao phải chống nạn thất học ;

– Chống thất học để làm gì ;

– Chống thất học bằng cách nào.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Trong bài Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội:

– Luận điểm của bài là: “Cần tạo ra thói quen tôat trong đời sôang xã hội”.

– Luận cứ: Có thói quen tốt và có thói quen xấu.

+ Thói quen tốt là: luôn dậy sớm, luôn đúng hẹn, giữ lời hứa, luôn đọc sách,…

+ Thói quen xấu là: hút thuốc lá, mất trật tự, vứt rác bừa bãi,…

– Lập luận: Từ việc phân tích tác hại của thói quen xấu, tác giả nhắc nhở mọi người hãy tạo ra thói quen tốt để tạo ra nếp sống văn minh cho xã hội.

Mai Thu

Đặc Điểm Của Văn Bản Nói Và Văn Bản Viết

Tiết theo PPCT: 52 Ký duyệt: Làm văn: Đặc điểm của văn bản nói và văn bản viết A. Mục tiêu bài học: Giúp học sinh: – Nắm được những đặc điểm khác nhau giữa VB nói và VB viết – Biết vận dụng kiến thức trên vào đọc – hiểu VB và làm văn – Tích hợp với VH và làm văn qua các bài đã học B. phương tiện thực hiện – SGK, SGV – Thiết kế bài học. C. CáCH THứC TIếN HàNH GV tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp các phương pháp đọc sáng tạo , gợi D. tiến trình dạy học 1. Kiểm tra bài cũ: 2. Giới thiệu bài mới: Giao tiếp có thể tiến hành bằng những cách khác nhau như nói chuyện trực tiếp, điện thoại, viết thư. Nhìn chung lại, giao tiếp có thể tiến hành bằng cách nói hoặc viết. Theo đó, chúng ta có các văn bản nói và VB viết. Mỗi dạng đều có đặc điểm riêng cần nắm vững để tránh mắc lỗi. Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt I. Tìm hiểu chung 1. Khái niệm: ( HS đọc SGK) Thế nào là VB nói và VB viết? 2. Đặc điểm của VB nói và VB viết ( HS đọc SGK) VB nói có những đặc điểm gì? II. Luyện tập: 1. Bài tập 1 2. Bài tập 2: Có trường hợp VB nói vẫn được ghi lại bằng chữ viết. Đó là trường hợp nào? 3. Bài tập 3: ( ngược lại yêu cầu của bài 2) 4. Bài tập 4 ( Yêu cầu HS về nhà làm ) – VB nói là lời trò chuyện trong đời sống hàng ngày ở gia đình giữa con cháu với bố mẹ, ông bà … ở nơi công cộng như trường học, nhà ga, bệnh viện, cửa hàng … lời phát biểu ở các buổi phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng… là lời giảng bài trong các tiết học.. – VB viết là các VB ghi bằng chữ viết như thư từ, sách, báo , các VB hành chính pháp luật… – Ngôn ngữ của VB nói và VB viết có những đặc điểm riêng khác nhau, cần nắm vững để tránh nói như viết và viết như nói – VB nói có 3 đặc điểm cơ bản: + Dùng để giao tiếp với sự có mặt của người nói và người nghe là hình thức giao tiếp sống động, tự nhiên. + Sử dụng âm thanh và ngữ điệu làm phương tiện biểu hiện. Nó thường kèm theo các phương tiện phi ngôn ngữ : nét mặt, cử chỉ, dáng điệu… – Nên khả năng tác động gợi cảm thường mạnh mẽ hơn, trực tiếp hơn so với VB viết + Người nói thường sử dụng các yếu tố thừa, lặp từ , thủ pháp tỉnh lược, từ chêm xen … nhằm nhấn mạnh nội dung để người nghe dễ nhớ – Văn bản viết có 4 đặc điểm: + Thực hiện bằng chữ viết ( chép, in, khắc)do đó lưu giữ lâu dài tới phạm vi người đọc rộng lớn + Không có người nghe, không sử dụng âm thanh vá các yéu tố phi ngôn ngữ nên Vb viết có hệ thống dấu câu, kí hiệu quy ước làm cho VB đầy đủ về ý nghĩa + Dùng để đọc nên VB viết có những từ ngữ đặc thù không có trong VB nói + Do yêu cầu diễn đạt sáng rõ, mạch lạc , VB viết có các kiểu câu dài, nhiều thành phần được kết nối chặt chẽ các từ quan hệ, VB thường tinh luyện, trau truốt. ND so sánh VB nói VB viết Về điều kiện sử dụng Người nghe có mặt trực tiếp Người nghe không có mặt trực tiếp Về phương tiện vật chất Dùng âm thanh và ngữ điệu, thường dùng kèm theo các phương tiện phi ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ… Dùng kí hiệu, dấu câu, không dùng kèm theo phương tiện phi ngôn ngữ Về đặc điểm ngôn ngữ Sử dụng các yếu tố dư thừa, lặp các hình thức tỉnh lược, VB nói tự nhiên, ít trau chuốt Diễn đạt chặt chẽ với từ ngữ, quy tắc tạo câu. VB viết thường tỉnh lược trau chuốt – Đối thoại trong tác phẩm VH – Lời phát biểu của các nguyên thủ quốc gia – Lời phát biểu trong hội nghị, cuộc họp được ghi lại trong biên bản ( Chú ý : Ghi lại ở dạng viết VB có thể biến đổi đôi chút cho phù hợp với dạng viết) – Các bản tin được truyền đi qua phát thanh, truyền hình ( Chú ý : Khi trình bày ở dạng nói, VB viết cũng có thể biến đổi đôi chút cgo phù hợp với dạng nói, đặc biệt khi trình bày kèm theo các phương tiện phi ngôn ngữ )

Giới Thiệu Những Đặc Điểm Của Văn Bản Văn Học.

I. MỞ BÀI.

Văn bản văn học là một dạng văn bản nghệ thuật, thể hiện khả năng sáng tạo nghệ thuật kì diệu của con người, mang đến cho con người một món ăn tinh thần vô giá, làm giàu đời sống tâm hồn, tình cảm của con người.

II. THÂN BÀI

A. KHÁI NIỆM VỀVĂN BẢN VĂN HỌC

1. Theo nghĩa rộng, văn bản văn học chỉ tất cả các văn bản sử dụng ngôn từ một cách có nghệ thuật (tất cả những- văn bản như thơ, truyện, kịch, hịch, cáo, chiếu, biểu… đều được coi là văn bản văn học).

2. Theo nghĩa hẹp, văn bản văn học chỉ bao gồm các sáng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (như sử thi, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ…).

3. Cần phân biệt khái niệm văn bản văn học và tác phẩm văn học (văn bản văn học là sự hiện diện của ngôn từ, là phương diện kí hiệu của tác phẩm. Chỉ thông qua hoạt động đọc của người đọc, văn bản văn học mới trở thành khách thể thẩm mĩ, thành tác phẩm văn học. Điều đó có nghĩa là tác phẩm văn học, ngoài phần văn bản còn bao hàm cả ngữ cảnh và sự lí giải của người đọc).

B. ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC

1. Đặc điểm về ngôn từ

– Ngôn từ văn học có tính nghệ thuật và thẩm mĩ: các yếu tố từ ngữ, âm thanh, kiểu câu… được sắp xếp, tổ chức có chủ định nhằm tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn (đoạn thơ đầu trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải tạo nên một bức tranh mùa xuân đầy sức sống với màu sắc tươi tắn, hài hòa, âm thanh rộn ràng, trong trẻo của tiếng chim…).

– Ngôn từ văn họ: dùng để sáng tạo hình tượng: ngôn từ văn học dựng lên một bức tranh sinh động nhưng là trong trí tưởng tượng của con người (trong đó các nhân vật đều là những nhân vật hư cấu, người kể chuyện, nhân vật trữ tình không đồng nhất với tác giả). Ví dụ chị Dậu trong Tắt đèn cửa Ngô Tất Tố, lão Hạc trong Lão Hạc của NamCao tuy ít nhiều có trong những nguyên mẫu ngoài đời nhưng đều là nhưng nhân vật do nhà văn hư cấu nên.

– Ngôn từ văn học có tính biểu tượng và đa nghĩa: biểu tượng trong văn học là những hình ảnh cụ thể nhưng mang ý nghĩa quy ước của nhà văn hay người đọc. Cũng do tính biểu tượng mà ngôn từ văn học mang tính đa nghĩa, biểu hiện những ý ngoài lời (Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương ngoài nghĩa đen còn có nghĩa bóng nói về thân phận chìm nổi của người phụ nữ).

2. Đặc điểm về hình tượng

– Hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi nên trong tưởng tượng, trong tâm trí người đọc. Từng câu, chữ của văn bản với các chi tiết cụ thể về hành vi, cử chỉ, hành động, ngoại cảnh của con người dần gợi lên cuộc sống riêng của nhân vật, sống động như cuộc sống thật ngoài đời (nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu được xây dựng như một con người thật ngoài đời với suy nghĩ, cử chỉ, ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh riêng của nhân vật).

– Hình tượng văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt: thông qua các chi tiết, nhân vật…, nhà văn truyền cho người đọc cách nhìn, cách cảm về cuộc đời, quan niệm về cuộc sống, tức là mong muốn truyền cho người đọc diều mình muốn gửi gắm. Quá trình đọc – hiểu văn bản văn học chính là quá trình thực hiện sự giao tiếp đặc biệt giữa nhà văn và bạn đọc (chẳng hạn thông qua hoàn cảnh bi đát, những suy nghĩ của nhân vật Nhĩ (Bến quê) với cảnh sắc thiên nhiên, về người vợ, hành động nhân vật nhờ đứa con trai sang bên kia sông nhưng nó lại sa vào một bàn cờ thế ven đường…, nhà văn muốn nhắn gửi đến người đọc những suy nghĩ sâu sắc: mỗi con người chúng ta cần phải biết trân trọng những giá trị tinh thần giản dị và bền vững; hãy cố gắng tránh khỏi những điều vòng vèo, chùng chình trong cuộc đời…).

III. KẾT BÀI

– Văn bản văn học là nơi kết tinh những giá trị tinh thần, thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn.

– Đọc – hiểu văn bản văn học là một quá trình phức tạp, khó khăn nhưng thú vị giúp ta khám phá những giá trị tinh thần to lớn ấy.

Bài Học: Đặc Điểm Của Văn Bản Biểu Cảm

2. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi

Mẹ ơi! Con khổ quá mẹ ơi! Sao mẹ đi lâu thế? Mãi không về! Người ta đánh con vì con dám cướp lại đồ chơi của con mà con người ta giằng lấy. Người ta lại còn chửi con, chửi cả mẹ nữa! Mẹ xa con, mẹ có biết không? (Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

Câu hỏi: Đoạn văn biểu hiện tình cảm gì? Tình cảm ở đây được biểu hiện trực tiếp hay gián tiếp? Em dựa vào dấu hiệu nào để đưa ra nhận xét của mình? Ghi nhớ – Mỗi bài văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ yếu. – Để biểu đạt tình cảm ấy, người viết có thể chọn một hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng (là một đồ vật, loài cây hay một hiện tượng nào đó) để gửi gắm tình cảm, tư tưởng, hoặc biểu đạt bằng cách thổ lộ trực tiếp những nỗi niềm, cảm xúc trong lòng. – Bài văn biểu cảm thường có bố cục ba phần như mọi bài văn khác. – Tình cảm trong bài phải rõ ràng, trong sáng, chân thực thì bài văn biểu cảm mới có giá trị. II – LUYỆN TẬP Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi:

HOA HỌC TRÒ Phượng cứ nở. Phượng cứ rơi. Bao giờ cũng có hoa phượng rơi, bao giờ cũng có hoa phượng nở. Nghỉ hè đã đến. Học sinh sửa soạn về nhà. Nhà chưa về, cái vui gia đình đâu chửa thấy, chỉ thấy xa trường, rời bạn, buồn xiết bao! Những cuộc tình duyên giữa bạn bè, đến lúc rẽ chia, cũng rẽ chia dưới màu hoa phượng; dù hữu tâm, dù vô tình, người nào cũng có sắc hoa phượng nằm ở trong hồn. Phượng xui ta nhớ cái gì đâu. Nhớ người sắp xa, còn đứng trước mặt.. Nhớ một trưa hè gà gáy khan… Nhớ một thành xưa son uể oải… … Thôi học trò đã về hết, hoặc hoa phượng ở lại một mình. Phượng đứng canh gác nhà trường, sân trường. Hè đang thịnh, mọi nơi đều buồn bã, trường ngủ, cây cối cũng ngủ. Chỉ có hoa phượng thức để làm vui cho cảnh trường. Hoa phượng thức, nhưng thỉnh thoảng cũng mệt nhọc, muốn lim dim. Gió qua, hoa giật mình, một cơn hoa rụng. Cứ như thế, hoa – học – trò thả những cánh son xuống cỏ, đếm từng giây phút và xa bạn học sinh! Hoa phượng rơi, rơi… Hoa phượng mưa. Hoa phượng khóc. Trường tẻ ngắt, không tiếng trống, không tiếng người. Hoa phượng mơ, hoa phượng nhớ. Ba tháng trời đằng đẵng. Hoa phượng đẹp với ai, khi học sinh đã đi cả rồi! (Theo Xuân Diệu)

Câu hỏi: