Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (Faculté De Droit).

(Tóm tắc theo tài liệu của GS. Nguyễn Văn Canh, Tiến sỹ Công Pháp, Phụ tá Khoa Trưởng 1973-1975)

Sau Hiệp Định Geneve năm 1954 chia đôi lãnh thổ. Cùng lúc thu hồi chủ quyền đất nước, Trường Đại học Luật Khoa (Trung tâm Hà Nội) di chuyển vào Miền Nam, sáp nhập với Trung Tâm Sài Gòn, cải danh là Luật Khoa Đại Học Đường

Ngày 30-4-1955, thành lập Luật Khoa Đại Học Đường (Faculté de Droit) trực thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Người Sài Gòn quen gọi Trường Luật hay Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, cấp trụ sở mới ở số 17 đường Duy Tân, Quận 3, Sài gòn.

Thời Pháp thuộc, trường sở nầy nguyên là một trường mẫu giáo, chính phủ Đệ nhứt Việt Nam Cộng Hòa mới thu hồi.

Tính đến năm 1975 thì Trường Luật Sài Gòn là ngôi trường xưa nhất trong ba trường luật của Việt Nam Cộng hòa. Tiền thân là Trường Pháp Chính Đông Dương, thành lập tại Hà Nội ngày 15/10/1917. Hai trường kia là Luật khoa của Viện Đại học Huế (1957) và Luật khoa thuộc Viện Đại học Cần Thơ (1966).

Đáng lẽ ra phải gọi là Luật Khoa Đại Học Đường (Phân Khoa Luật) thuộc Viện Đại Học Sài Gòn, nhưng thói quen nên dân Sài Gòn hay gọi tắt là Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, hay ngắn gọn hơn:Trường Luật.

Đây là hình ảnh của ngôi trường vẫn cổ kính cho đến năm 1972 khi Mỹ được gây ảnh hưởng nhiều trên Hội Đồng Khoa, với sự có mặt của những giáo sư Việt tốt nghiệp từ Mỹ về dạy học thì Trường Luật cổ kính này bị phá đi và xây theo kiểu mới và như bây giờ là trường Đại Học Kinh Tế của chế độ mới.

I- CÁC KHOA TRƯỞNG

– GS Vũ Văn Mẫu – Khoa trưởng 1955-1957, Thượng Nghị sĩ, Bộ trưởng Ngoại giao, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa

– GS Vũ Quốc Thúc – Khoa trưởng 1957-1963

– GS Nguyễn Cao Hách – Khoa trưởng 1963-1967

– GS Nguyễn Ðộ – Khoa trưởng 1967-1971

– GS Bùi Tường Chiểu – Khoa trưởng 1971-1973

– GS Vũ Quốc Thông – Khoa trưởng 1973-1975

Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn có ba ban:

1- Ban Công pháp (Droit public): gồm Luật Hiến pháp (Droit constitutional), Luật Hành chánh (Droit administrative) và Luật Công pháp Quốc tế (Droit international public).

2- Ban Tư pháp (Droit privé): gồm Dân luật (Droit civil), Hình luật (Droit pénal ), Luật Thương mại (Droit commercial)và Tư pháp Quốc tế (Droit international privé).

3- Ban Kinh tế (Économie Politique): gồm Phân tích Kinh tế (Analyse économique), Lịch sử Học thuyết (Histoire des Doctrines) , Địa lý Kinh tế Phát triển (Géographie Économique Dévelopement).

Tổng số sinh viên ghi danh học vào năm 1969 là 13.711 và đến năm 1974 là 58.000.

III- CHƯƠNG TRÌNH HỌC

Thoạt tiên chương trình Cử nhân Luật là 3 năm nhưng đến năm 1967 thì tăng lên thành 4 năm. Bằng Cao học là thêm 2 năm (chủ yếu thêm Chuyên môn). Khi trình Luận án thì được cấp bằng Tiến sĩ Luật.

Tuy sĩ số Trường Đại học Luật khoa khá đông nhưng số người hoàn tất Cử nhân và tốt nghiệp Cao học rất ít (năm 1974 có 715 người tốt nghiệp).

Bắt đầu từ 1967, học trình Ban Cử nhân là 4 năm. Hai năm đầu chưa phân ban, sinh viên học chung cùng một chương trình với các môn như sau:

1- Cử nhân năm thứ nhất gồm 7 môn: Dân luật (Civil Law), Luật Hiến pháp (Constitutional Law), Kinh tế Học (Économie), Công pháp Quốc tế (International Public Law), Pháp chế sử (History of Law), Danh từ Kinh tế Anh ngử (Economical Terminology in English) và cả Danh từ Pháp lý (Justidical Termonology).

2- Cử nhân năm thứ hai: Hình luật (Penal Law), Dân luật (Civil Law), Bang giao Quốc tế (International Relations), Kinh tế học (Economie), Tài chánh (Finances), Luật Hành chánh (Administrational Law), Danh từ Kinh tế (Economical Terminology in English) và Luật Đối chiếu (Comparative Law in French).

Sau 4 năm nếu thi đậu hết, sinh viên sẽ được cấp bằng Cử Nhân Luật ban Công pháp, Tư pháp hay Kinh tế. Sau khi tốt nghiệp Cử nhân, sinh viên có thể ghi danh tiếp tục học Ban Cao Học Luật 2 năm theo ngành của mình để đủ điều kiện trình Luận án lấy bằng Tiến sĩ Luật.

IV- CHẾ ĐỘ THI CỬ

Bắt đầu từ năm 1967, ban Cử nhân năm thứ nhất học 7 môn, năm thứ hai học 8 môn, năm thứ ba tùy theo Ngành học khoản 10 môn và năm thứ tư học 13 môn.

Đại học Luật khoa Sài Gòn mổi năm có 2 kỳ thi vào tháng 6 và tháng 9 cho các sinh viên Ban Cử nhân. Thí sinh phải thi viết 2 môn trong 7 môn chính, 5 môn còn lại thì thi vấn đáp. Thí sinh phải đạt điểm trung bình 10/20 mới được coi như trúng tuyển. Nếu có một môn bị điểm loại (4/20) thì thí sinh coi như rớt dù điểm trung bình có vượt quá điểm đậu là 10/20. Về sau có ân giảm về điểm loại cho các môn vấn đáp ban Cử nhân. Sinh viên có thể được bù điểm giữa các môn. Trong niên học, sinh viên bị rớt thi vấn đáp kỳ I sẽ được thi lại vấn đáp kỳ II mà không phải thi viết lại.

Luật khoa Đại học đường một thời vang bóng.

Tâm Sự Của Một Cựu Sinh Viên Luật Khoa Sài Gòn

Đại Học LUẬT KHOA -SÀI GÒN

TÂM SỰ CỦA MỘT CỰU SINH VIÊN LUẬT KHOA SÀI GÒN

Tôi còn nhớ năm 1964 … Khi tôi phục vụ ở BTL/LLĐB – Nha Trang tôi còn nhớ các Sĩ Quan , HSQ và cả binh sĩ có bằng Trung học hoặc Tú Tài đều có ghi danh ( hàm Thụ) cái gọi là ” Năng lực Luật học ? để Đại Học Luật Khoa Sài Gòn gởi bài về học …và làm bài tập theo định kỳ …. Khi đủ thời gian học , bài tập đủ điểm thì được cấp ” Chứng chỉ năng lực luật học ” Chứng chỉ này chỉ tương đương với bằng Tú tài phần I , Nên , sau đó tôi không nhớ rỏ có một số anh em HSQ nạp hồ sơ vói chứng chỉ này để vào truờng SQ/ TB Thủ Đức ? Không biết tôi có nhớ rỏ hay không ? Đến nay , có nhiều ông trong lúc Cà phê – Trà dư tữu hậu đều hay khoe là có Cữ Nhân Luật – Tốt nghiệp ở Sài Gòn . Nhưng thậm chí hỏi ” Đại học Luật Khoa Sài Gòn ở đường nào và con đuờng đó ra sao ? Mấy vị giáo sư nào ? Không nghe ông nào nói đuợc ? – Không biết mấy vị đó thích NỔ gì nữa( Có lẻ trường Luật không thi vào và ngày giờ học cũng dể dải nên mấy ông tưởng cứ nói là được ? Trong giai đoạn “thất thập không phải tri thiên mệnh mà chuẩn bị TRI ” bốn dài , hai ngắn” thế mà ngồi cải nhau chí chóe …chẳng ông nào biết ất giáp gì cả….. Chán mấy ông thiệt … L.H. %%%%%%%%%%%%%%%Tâm sự của cựu sinh viên Luật Khoa ban Công Pháp và cũng là một sĩ quan hải Quân . Anh Nguyển Văn Bảy .

Trong 4 năm đầu học luật của Ban Cử Nhân Luật sinh viên không bị bắt buộc phải đi đến giảng đường đại học thường xuyên để nghe giáo sư giảng dạy như các sinh viên của các Đại học Khoa học, Kỹ thuật phải vào lab. để thực tập hoặc làm thí nghiệm. Nhờ vậy mà những sinh viên luật khoa có thể vừa đi làm vừa đi học, miễn sao phải cố gắng học giỏi. Học chưa giỏi, chưa thuộc bài, chưa hiểu bài giảng của giáo sư thì khó mà thi đậu. Thấy dễ học mà không dễ thi đậu. Muốn lấy được chứng chỉ luật của mỗi năm học, sinh viên phải có trung bình điểm của tất cả các môn học là 10/20 trong một kỳ khảo sát. Không có môn học nào cho là quan trọng hơn môn nào. Mỗi năm học Luật trung bình có từ 11 đến 12 môn học. Vì vậy muốn có văn bằng Cử Nhân Luật nhiều sinh viên phải rất cố gắng học hành. Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Luật Khoa, bạn có rất nhiều cơ hội tiến thân trong nghề nghiệp và trong các lãnh vực ngoài xã hội hoặc ngay trong quân đội mà chính quyền thời VNCH rất khuyến khích và đãi ngộ giới trí thức miền Nam Việt Nam. Các vị đại tá trong quân đội muốn được nhanh lên cấp tướng phải theo học khoá Cao Đẳng Quốc Phòng và có một số giáo sư Đại học Luật khoa được mời đến giảng dạy. Trụ sở được toạ lạc trên đường Thống Nhất bên trái cổng vào sở thú. Kể từ năm thứ 3 Luật, tôi thường đến đó mua tập san Quốc Phòng hàng tháng hay định kỳ để xem vì các giáo sư Đại học Luật khoa thường viết bài và đăng trong đó. Cũng có những câu hỏi trong những đề thi được các giáo sư trích từ những bài viết của mình đăng trong tập san Quốc Phòng.

Là một cựu sinh viên Đại học Luật khoa Sài Gòn Ban Công Pháp, tôi xin ghi lại việc học luật của tôi để góp phần làm sáng tỏ chương trình đào tạo của Đại học Luật khoa Sài Gòn trước tháng 4 năm 1975.

Ghi danh học luật: Sau khi tốt nghiệp bậc trung học tháng 7 năm 1970, tôi tình nguyện gia nhập vào quân chủng Hải quân và trình diện tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải tại Tiên Sa Đà Nẵng vào ngày 15.10.1970. Sau mấy ngày tạm trú tại đó tôi cùng mấy chục bạn bè miền Trung khác được máy bay C130 chở vào phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và được di chuyển đến khu tạm trú Bạch Đằng 2 thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn. Khung trời mở rộng, trong quân ngũ, tại Sài Gòn tôi đã ghi danh học năm thứ nhất của Đại học Luật khoa Sài Gòn mặc dù vào năm đệ nhị và đệ nhất bậc trung học tôi theo học ban B với các môn chính như: Toán, Lý, Hoá.

Binh nghiệp và học luật: Sau 2 tuần lễ chờ đợi tại Bạch Đằng 2, tôi cùng các bạn gia nhập vào sĩ quan Hải quân được đưa lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để thụ huấn căn bản quân sự 3 tháng. Sau thời gian nầy tôi và bạn bè SVSQHQ được đưa về tạm trú dưới các chiến hạm thuộc Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Sài Gòn. Tôi được phân phối xuống chiến hạm HQ329 đang hiện diện tại Sài Gòn vào thời gian trước tết Nguyên Đán tạm trú. Sau tết một tuần lễ, tôi và một số bạn bè nữa được phân phối đi thực tập trên Hoả Vận Hạm HQ471. Như vậy tôi phải hiện diện trên chiến hạm và được phân chia thực tập ở các vị trí làm việc khác nhau theo ngành nghề chuyên môn trên chiến hạm khi chiến hạm ở bến hoặc đi công tác đến bất cứ hải cảng nào.

Trước khi chiến hạm rời bến thì tôi có mua một số sách luật năm thứ nhất của Ban Cử Nhân Luật đem theo chiến hạm. Khi rảnh rỗi tôi đem sách luật ra xem. Càng xem sách luật tôi càng thích thú. Tôi học các môn như Hiến Pháp nền Đệ Nhị Cộng Hoà do cố giáo sư thạc sĩ Nguyễn Văn Bông dạy tại giảng đường Quốc Gia Hành Chánh. Nhờ đó tôi mới hiểu thêm về định chế chính trị của một quốc gia. Hay là môn học về Kinh Tế trong đó có đề cập về nạn nhân mãn ở Trung cộng do giáo sư thạc sĩ Nguyễn Cao Hách dạy, tôi hiểu rõ hơn về nước Trung cộng có quá nhiều dân mà dân thì thiếu ăn, đời sống quá khổ. Hầu hết các môn học do các giáo sư tiến sĩ Đại học Luật khoa Sài Gòn dạy. Vào năm thứ nhất có học môn Hiến Pháp Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ do luật sư người Mỹ giảng dạy. Nói chung môn nào tôi cũng thích học để biết thêm và mở rộng kiến thức. Từ đó tôi ưa thích ngành luật. Sau 3 tháng thực tập trên HQ471, vào tháng 4 năm 1971, một số SVSQHQ nộp đơn gia nhập vào quân chủng Hải Quân trước tôi được chuyển ra Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang để thụ huấn khoá Sĩ Quan Hải Quân. Tôi cùng một số bạn bè khác còn ở lại Sài Gòn và được hoán chuyển qua chiến hạm HQ10. Vì là loại hộ tống hạm nên chiến hạm phải đi tuần tiễu liên miên trên biển. Sau 2 tuần lễ công tác, chiến hạm mới cập bến hoặc về quân cảng Sài Gòn vài ba ngày để ban ẩm thực của chiến hạm mua sắm lương thực. Khi ở trên chiến hạm, ngoài những thời gian làm việc, trò chuyện với bạn bè, tôi lại đem sách luật ra xem cho mau hết thời gian trong lúc chiến hạm tuần tra ngoài khơi. Vì khoá đào tạo sĩ quan Hải Quân của chúng tôi được bắt đầu vào cuối tháng 9 năm 1971 nên tôi có thêm thời gian chuẩn bị cho kỳ thi luật được tổ chức vào tháng 6 năm 1971. Khi chiến hạm về Sài Gòn để lấy thêm nhiên liệu hoặc sửa chữa hay chờ đi công tác thì ngoài giờ làm việc trên chiến hạm tôi thường đến thư viện Quốc Gia ở đường Gia Long để học.

Thi cử: Đại học Luật khoa Sài Gòn tổ chức mỗi năm 2 kỳ thi dành cho sinh viên. Kỳ thi đầu tiên thường được tổ chức vào tháng 6. Kỳ thi kế tiếp được tổ chức vào giữa tháng 10 cùng năm. Nếu thí sinh chưa tham dự kỳ thi đầu hoặc thi bị rớt thì có thể ghi danh tham dự kỳ thi thứ hai. Thế là vào mùa hè năm ấy tôi ghi danh tham dự kỳ thi đầu tiên của năm thứ nhất thuộc Ban Cử Nhân Luật được tổ chức vào trung tuần tháng 6 năm 1971. Học luật cũng khá chua cay. Năm thứ nhất phải học 11 môn học. Môn nào cũng có nhiều sách dày cộm để học. Kỳ thi kéo dài thường 2 ngày cho kỳ thi viết, và nếu đậu kỳ thi viết sinh viên phải thi vấn đáp 9 môn còn lại. Năm ấy tôi thấy con số ghi danh thi là trên 22.000 sinh viên, nhưng chỉ có trên 2.500 thí sinh trúng tuyển năm thứ nhất. May mắn thay, tôi đã thi đậu kỳ thi thứ nhất luật khoa vào năm 1971. Thế là tôi có được chứng chỉ năm thứ nhất ban Cử Nhân Luật trước khi ra trường sĩ quan Hải Quân Nha Trang thụ huấn 2 năm. nguyen-v-phay-hoc-luat Tác giả Nguyễn Văn Phảy.

Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang: Ở trường SQHQNT chúng tôi học rất nhiều môn học thuộc bậc đại học như toán học, ngành điện tổng quát, điện tử, điện truyền tin và ngành hàng hải v.v. nhằm trang bị cho một sĩ quan HQ có đầy đủ kiến thức tổng quát khi làm việc trên chiến hạm hay bất cứ nơi đâu. Khi ra hải ngoại học ngành điện ở đại học tôi mới thấy chương trình 2 năm đào tạo một sĩ quan Hải Quân rất hay và rất có giá trị. Những kiến thức mà tôi có được từ Việt Nam đã giúp tôi gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp ở đại học nơi xứ người.

Trong thời gian ở quân trường Nha Trang từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 9 năm 1973 tôi cũng đã đặt mua nhiều sách luật thuộc năm thứ 2, khoảng 12 môn, nhưng tôi không có thời gian nào rảnh để mà học. Thỉnh thoảng cuối tuần nào tôi không đi bờ ra phố Nha Trang thì mới đem sách luật ra xem cho biết mà thôi. Nơi quân trường chúng tôi phải học rất nhiều về ngành hàng hải. Trên chiến hạm hay một thương thuyền được trang bị những thiết bị gì thì mỗi sĩ quan Hải Quân phải biết. Do đó muốn được đi sĩ quan Hải Quân VNCH trước hết bạn phải có văn bằng tú tài toàn phần hầu hết là ban B (Toán, Lý, Hoá) để có thể theo học các môn học thuộc trình độ đại học. Sinh viên sĩ quan HQ nào trong khoá chúng tôi cũng sợ thi rớt từng thời kỳ thụ huấn hơn là thi tú tài. Mỗi 6 tháng thi một lần.

Vào cuối tháng 8 năm 1973, tôi tốt nghiệp 2 năm thụ huấn khoá sĩ quan Hải Quân ở Nha Trang với cập bậc HQ Thiếu Uý. Nhờ đậu hạng khá cao, thuộc top ten, nên tôi được ưu tiên chọn đơn vị phục vụ. Tôi đã chọn chiến hạm HQ503 lúc đó đang nằm ụ để được sửa chữa (tiểu kỳ) tại Hải Quân Công Xưởng Sài Gòn. Ngoài ra tôi thuộc trong danh sách 30 sĩ quan đậu điểm cao và khá tiếng Anh trong khoá nên được tuyển chọn về Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Sài Gòn để chuẩn bị đi thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội Mỹ.

Thế là sau khi tốt nghiệp SQHQ Nha Trang tôi không được đi phép một tuần mà phải về Sài Gòn. Về Sài Gòn tôi ghi danh tham dự kỳ thi thứ 2 của năm thứ hai ban Cử Nhân Luật được tổ chức vào giữa tháng 10 năm 1973. Với rất nhiều cố gắng, mỗi ngày ít nhiều thời gian tôi đều tới thư viện Quốc Gia để học chuẩn bị cho kỳ thi Luật năm đó. May mắn, tôi đã trúng tuyển kỳ thi nầy. Có khoảng trên 2500 thí sinh ghi danh thi và có khoảng gần 1000 thí sinh trúng tuyển năm thứ 2 Luật.

Chọn ban sau khi có Cử Nhân Bán Phần: Thời gian theo học để có bằng Cử Nhân Luật khoa gồm có 4 năm. Vào năm thứ nhất và năm thứ hai, tất cả sinh viên đều học chung những môn của từng năm học, chưa có phân chia các ban. Sau khi sinh viên thi đậu 2 năm đầu, còn được gọi là Cử Nhân Bán Phần và kể từ năm thứ ba sinh viên phải chọn ban. Cử Nhân Luật gồm có 3 ngành còn được gọi là các ban: ban Tư Pháp, ban Kinh Tế và ban Công Pháp.

Ban Tư Pháp: Sinh viên phải học nhiều môn về luật pháp như Dân luật, Hình luật, Luật Tố tụng, Luật Đồng Bào Thiểu Số…

Ban Kinh Tế: Sinh viên phải học nhiều môn về lãnh vực kinh tế như Kinh tế học, Kinh tế Quốc tế, Luật Thương Mại…

Ban Công Pháp: Sinh viên phải học nhiều về Xã hội và Chính trị học, Công Pháp Tụng, Tự Do Công Cộng…

Thế là tôi ghi danh học ban Công Pháp mà tôi ưa thích. Tuy nhiên, 3 môn chính như Dân Luật, Kinh Tế và Công Pháp tất cả sinh viên thuộc các ban đều phải học chung.

Tôi phục vụ trên chiến hạm HQ503 là loại Dương Vận Hạm nên sau khi đi công tác tối đa từ 7 đến 10 ngày thì chiến hạm trở về Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Sài Gòn. Trừ những ngày trực phải ở lại chiến hạm, ngoài ra sau giờ làm việc tôi thường đến thư viện Quốc Gia ở đường Gia Long hoặc thư viện Đắc Lộ để học và chuẩn bị cho kỳ thi năm thứ 3 được tổ chức vào tháng 7 năm 1974. Tôi đã ghi danh tham dự kỳ thi nầy và là một trong khoảng 55 sinh viên ban Công Pháp của năm thứ 3 đã thi đậu. Năm tôi thi thấy có một vị đại tá, một nhạc sĩ cùng thi.

Vào những năm 1974, 1975, cơ hội đi du học ở Mỹ, cũng như những cơ hội tiến thân nếu sĩ quan Hải Quân có văn bằng cử nhân, thêm vào đó tôi có ông bác vợ là luật sư tốt nghiệp ở Pháp đã tham dự hoà đàm Paris và làm ở bộ Ngoại Giao VNCH v.v. đều là những động lực khuyến khích tôi càng cố gắng nhiều hơn nữa trong việc học để có được văn bằng Cử Nhân Luật ban Công Pháp.

Sau khi thi thi đậu năm thứ ba luật khoa năm 1974 tôi ghi danh học năm thứ 4. Trong những tháng trước mùa Giáng Sinh năm 1974 tình hình chiến sự chưa nóng bỏng nên tôi có thời gian đến thư viện Quốc Gia và thư viện Đắc Lộ để học sau giờ làm việc trên chiến hạm mỗi khi chiến hạm chưa có công tác và đang cập bến tại Sài Gòn. Nhưng vào đầu năm 1975 tình hình chiến sự bắt đầu bộc phát, chiến hạm HQ503 phải đi công tác liên tục từ miền Trung xuống tận đảo Phú Quốc, Côn Sơn, hoặc chở những quân nhân được rút từ cao nguyên về Nha Trang rồi được chiến hạm di chuyển về Hàm Tân, Vũng Tàu v.v.

Mặc dù vậy, khi có thời gian rảnh, tôi cũng cố gắng chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp Cử Nhân Luật được tổ chức vào ngày 22.5.1975 sớm hơn mọi năm. Nhưng rất tiếc kỳ thi ấy không thể xẩy ra vì toàn bộ chính quyền VNCH bị sụp đổ vào ngày 30.4.1975. Mộng ước của tôi tan tành theo mây khói. [1]

Làm thế nào để trở thành Luật Sư: Sau khi đậu Cử Nhân Luật Khoa, sinh viên có thể ghi danh vào Luật Sư Tập Sự Đoàn ở một văn phòng Luật sư Thực thụ. Sau 3 năm tập sự, sẽ có một kỳ thi khảo hạch, nếu vượt qua được thì bạn chính thức trở thành Luật sư Thực thụ. Để hiểu thêm về nghề Luật Sư dưới thời Việt Nam Cộng Hoà xin mời xem bài viết của Luật Sư Nguyễn Vạn Bình.

Cao học Luật và làm luận án Tiến Sĩ Luật: Sau khi đậu Cử Nhân Luật Khoa nếu sinh viên muốn học lên cao hơn thì có thể ghi danh học bậc cao học. Bậc cao học gồm có 2 năm gọi là Cao học 1 và Cao học 2. Sau khi tốt nghiệp 2 năm bậc cao học, thí sinh có thể tìm một giáo sư tiến sĩ Đại học Luật khoa đỡ đầu để làm luận án Tiến Sĩ Luật. Sau khi có bằng Tiến Sĩ (PhD), có thể xin dạy ở các đại học theo ngành của mình.

Tóm lại, muốn có văn bằng Cử Nhân Luật hay muốn trở thành luật sư, thẩm phán, tiến sĩ Luật v.v. sinh viên phải cố gắng rất nhiều trong việc học.

Kỹ Sư Nguyễn Văn Phảy

Cựu SVĐH Luật Khoa SG, Ban Công Pháp *********** Sưu tầm từ facebooker Le Hoang

Đại Học Quốc Tế Sài Gòn Tuyển Sinh Chuyên Ngành Luật Kinh Tế Quốc Tế

Đại học Quốc tế Sài Gòn là trường đại học quốc tế uy tín tại Việt Nam đào tạo bậc cao đẳng, đại học và thạc sĩ, vừa có chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, vừa có chương trình giảng dạy bằng tiếng Việt theo tiêu chuẩn chương trình đại học Hoa Kỳ. SIU được phụ huynh và sinh viên đánh giá cao với thế mạnh về cơ sở vật chất, điều kiện học tập và nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế.

Chương trình Luật kinh tế quốc tế của SIU được thiết kế theo tiêu chuẩn ngành Law & Economics của đại học Hoa Kỳ

Năm học 2024-2024, ngoài các chuyên ngành Khoa học máy tính, Kỹ thuật phần mềm, Ngôn ngữ Anh, Quản trị kinh doanh, Quản trị nhà hàng – khách sạn, Thương mại quốc tế, Quản trị du lịch, Kinh tế đối ngoại, Marketing, SIU tuyển sinh thêm ngành học mới – Luật kinh tế chuyên ngành Luật kinh tế quốc tế với kỳ vọng góp phần giải quyết nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, am hiểu và thông thạo pháp luật kinh tế quốc gia và quốc tế trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

Chương trình Luật kinh tế quốc tế của Đại học Quốc tế Sài Gòn được thiết kế theo tiêu chuẩn ngành Law & Economics của đại học Hoa Kỳ, chú trọng hoàn toàn vào kỹ năng ứng dụng thực tiễn. Ngoài việc cung cấp kiến thức chuyên sâu về pháp luật kinh tế, cập nhật những kiến thức pháp luật mới nhất trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, chương trình còn trang bị cho sinh viên nền tảng tiếng Anh, tin học và nhiều kỹ năng quan trọng để trở thành chuyên gia về pháp luật kinh doanh cho các doanh nghiệp FDI, các tập đoàn kinh tế…, và luật sư có khả năng giải quyết tranh chấp hợp đồng, tranh tụng tại các tòa án, trọng tài thương mại trong nước và quốc tế cho các công ty xuất nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam hoạt động ở nước ngoài hoặc có đầu tư, hợp tác với nước ngoài,…

SIU luôn tạo điều kiện để SV có cơ hội giao lưu, tích lũy kinh nghiệm thực tế thông qua các cuộc hội thảo với các nhà lãnh đạo, quản lý – hoạch định chính sách của Chính phủ,…

Giáo sư Luật mang học hàm Gerald L.Bepko Nguyễn Ngọc Xuân Thảo chủ trì hội thảo “Sở hữu trí tuệ và kinh nghiệm của Hoa Kỳ” tại SIU

SIU thực hiện phương thức tuyển sinh theo mô hình các trường đại học quốc tế trên thế giới và tại Việt Nam.

Đối với học sinh tốt nghiệp các trường THPT Việt Nam:

– Xét kết quả lớp 12 với điểm trung bình cả năm từ 6.0 trở lên; trung bình chung cả năm 3 môn thuộc khối xét tuyển từ 6.0 trở lên, hạnh kiểm Khá trở lên.

– Xét kết quả thi THPTQG theo mức điểm SIU quy định.

Đối với học sinh nước ngoài, học sinh Việt Nam tốt nghiệp THPT ở nước ngoài và học sinh học các trường quốc tế tại Việt Nam: xét tuyển dựa vào kết quả học tập THPT.

Tại SIU, sinh viên tốt nghiệp cao đẳng có thể liên thông để lấy bằng đại học chính quy sau chỉ 2 năm học tập. Sinh viên tốt nghiệp đại học có thể tiếp tục theo học chương trình Thạc sĩ Quản trị kinh doanh MBA để nâng tầm tư duy lãnh đạo, giúp thăng tiến trong sự nghiệp.

Sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế quốc tế của SIU giỏi tiếng Anh, tin học và hội tụ nhiều kỹ năng quan trọng để trở thành chuyên gia về pháp luật kinh doanh

SIU hiện là thành viên của các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục hàng đầu thế giới của Hoa Kỳ: Hội đồng kiểm định quốc tế các trường đại học đào tạo ngành Kinh doanh (IACBE) và Hiệp hội phát triển giảng dạy doanh thương bậc đại học (AACSB); đang thực hiện kiểm định quốc tế của IACBE, đồng thời có quan hệ hợp tác với nhiều trường ĐH nước ngoài danh tiếng.

Theo khảo sát, gần 88% sinh viên của trường có việc làm sau khi tốt nghiệp,12% còn lại học lên bậc học cao hơn hoặc chuyển tiếp du học tại nhiều nước trên thế giới. Sinh viên của trường đã và đang đạt được những thành công tại các công ty hàng đầu Việt Nam và tập đoàn đa quốc gia danh tiếng như: Tập đoàn Bosch, Tập đoàn Neumann Kaffee Gruppe – Đức, Tập đoàn En-Japan (EnWorld) – Nhật, VietinBank, Tổ chức S.E.A. Education Consultants Viet Nam, Samsung, Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Tập đoàn Hoa Sen, FPT, Sheraton, Rex, SABECO, Công ty Cổ phần Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSC), Vietnam Airlines, Petrolimex, Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, HSBC, ANZ, Standard Chartered, OPPO, CBRE Group,…

* Đơn dự tuyển và hướng dẫn tuyển sinh có thể tải tại chúng tôi hoặc liên hệ trực tiếp Phòng Tuyển sinh của SIU.

Người Hà Nội Ở Sài Gòn(*)

Người Hà Nội ở Sài Gòn(*)

Hồng Phúc

Một thoáng Sài Gòn. Ảnh: THÀNH HOA

(TBKTSG) – Em ở Sài Gòn mới ra à? Vầng!

Em đi công tác à? Không, em về thăm nhà.

Sao lại vào trong ấy? Dạ, đi làm ạ.

Trong đấy lương cao hơn à? Lương bao nhiêu? Hay em vào đấy lấy chồng? Thế đã có con chưa?…

Những ai vào sống ở Sài Gòn, một ngày về lại Hà Nội có lẽ cũng đã từng gặp một anh lái taxi và bị hỏi chuyện như tôi, và họ nhận ra ngay sự khác biệt. Người Sài Gòn sẽ thấy cách giao tiếp như “hỏi cung” ấy thật kỳ quặc, vì họ đã quen với văn hóa tôn trọng tự do cá nhân. Ngay cả tôi sau mấy năm ở Sài Gòn, khi về lại quê nhà cũng thấy kém thoải mái vì đã quen với những dịch vụ chuyên nghiệp hơn ở Sài Gòn, nơi hầu hết người ta đi làm việc là lo làm việc, không quen thói tọc mạch, nhiều chuyện.

Hầu hết người ở miền Nam biết rằng có một khoảng không cá nhân nơi người khác mà họ không nên bước vào. Bởi vậy, họ hiếm khi hỏi bạn làm lương bao nhiêu, cuộc sống gia đình ra sao, vì họ hiểu đó là sự riêng tư cần thiết. Hồi mới vào Sài Gòn tôi ngỡ ngàng quá xá khi có người giới thiệu: “Đây là ông anh, bà chị xã hội của tôi”. Mãi sau này tôi mới hiểu cái “tính xã hội” trong các mối quan hệ này cực kỳ cao, bởi có khi đã nhậu với nhau cả chục lần rồi người ta vẫn chưa biết rõ ràng nhà bạn ở đâu, bạn làm nghề gì, có hoàn cảnh éo le nào hay không.

Nhóm bạn tứ xứ từ mọi miền đến Sài Gòn sinh sống của chúng tôi mỗi khi tụ tập hay đùa nhau rằng “cái bọn Bắc kỳ” nên kiểm điểm lại “ăn ở thế nào” mà hiếm khi thấy người Nam di cư ra Bắc, toàn chỉ thấy người Bắc vào Nam làm ăn. Từ hàng trăm năm nay, “vào Nam làm ăn” là cụm từ không xa lạ gì với các làng quê Bắc bộ. Tôi hỏi thăm một số người Bắc sống ở Sài Gòn, có người nói là vì họ “thích, nên chuyện chuyển vào sống ở miền Nam chỉ là vấn đề thời gian”. Nhưng số đông hơn thì thừa nhận “đùng một cái là vào”!

Còn biết bao lý do chưa biết hết, cũng như chẳng ai đếm đủ có bao nhiêu người Bắc đã di cư vào Nam. Chưa ai làm thống kê này nhưng chắc chắn là rất nhiều. Cứ nhìn những nhà hàng, quán ăn vị Bắc mọc lên ngày càng dày ở Sài Gòn hay giọng Bắc phổ biến ở nơi công cộng thì biết. Theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2024 của TPHCM, trong vòng 10 năm qua, mỗi năm dân số ở đô thị này tăng thêm 200.000-400.000 người, và hơn một nửa số người nhập cư đến từ Bắc và Trung bộ.

Tha hương là một ngã rẽ đặc biệt của số phận, nhưng nó không xảy ra với thiểu số người Việt. Chẳng phải đến khi phát hiện ra những người Việt nhập cư trái phép vào nước Anh phải bỏ mạng trong thùng xe tải người ta mới nhận ra di cư là một điều dị thường. Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận rất nhiều cuộc di cư lớn từ Bắc vào Nam để lại nhiều cộng đồng đồng hương tại Tây Nguyên, Nam bộ, cao nguyên Nam Trung bộ hay một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt là các cộng đồng di cư đã thành nổi tiếng tại Sài Gòn và ở các nước Mỹ, Úc, Đức, Pháp… Có những nhà nghiên cứu từng cho rằng Việt Nam là dân tộc có “gen di chuyển” vượt trội để sinh tồn.

Tôi cũng là một người di cư ngay trên chính đất nước mình khi từ Hà Nội vào Sài Gòn sinh sống. Sài Gòn từ xưa tới nay được coi là thành phố cởi mở nhất với người nhập cư, cũng là nơi nhiều người tứ phương coi như miền đất hứa. Riêng với người Bắc di cư, người ta nghe thấy những cách gọi “Bắc 75”, “Bắc 54”. Tôi còn thấy một thế hệ “Bắc 2000”. Họ là nhiều người 9x, 8x, 7x và cả 6x “tính chuyện lâu dài” với thành phố này. Họ cũng như tôi, trở thành những cá thể gồm hai mảnh ghép: Hà Nội lắng đọng và Sài Gòn sôi nổi.

Hai mảnh ghép đó thực sự khác nhau rất nhiều. Vì thế mà những người Hà Nội ở Sài Gòn ấy, mỗi lần về lại quê nhà, cảm giác bối rối vì bị khai thác thông tin kiểu như anh lái taxi nhắc ở trên khiến họ mong nhanh nhanh quay lại Sài Gòn. Nhưng ở Sài Gòn, đôi khi bị nghe từ “Bắc kỳ” cùng vẻ mặt khó chịu của ai đó thì lại chạnh lòng nhớ về Hà Nội. Cái khoảng không gian cá nhân vì thế cứ co vào giãn ra mệt nhoài mỗi lần đi về giữa hai thành phố. Một là nhà, nơi có cha mẹ, bà con, bạn bè chung thủy, một thời niên thiếu nhiều kỷ niệm; một là nơi sống và làm việc, được thấy cuộc sống rộng hơn, bầu trời rộng hơn và được là mình nhiều hơn. Một là cảm xúc và mơ mộng, một là lý trí và thực tế. Một là sương giăng phố vắng, một là nắng gió xôn xao. Một là bún riêu cua ốc, một là hủ tiếu bún bò. Một là hoa đào năm ngoái, một là mai cúc chói chang… Cả trăm lần dân xa xứ ngay trên chính quê hương mình như tôi tự hỏi: phải nghiêng về nơi nào? Thôi thì đành cứ yêu Hà Nội nhưng vẫn thích Sài Gòn.

Thích là vì cuộc sống dễ thở hơn, ra đường ít bon chen mệt mỏi hơn, ít bị để ý hơn, dịch vụ thuận tiện, con người đối xử với nhau chân phương. Nhưng thích mới chỉ là một bước trên đường để trở thành yêu, còn có thể trở thành yêu được hay không lại là chuyện khác. Thích mới là điều kiện để khởi động hành trình khám phá, tìm tòi, suy nghĩ, trăn trở và cân đong đo đếm. Nhưng khổ nỗi dù đã thích, khi thấy một bóng cây, một tiếng nhạc, một ngõ hẻm hay tiếng rao, trong lòng người Hà Nội vẫn bất chợt rung lên một nỗi nhớ.

Và, trong yêu mà có nhiều điều không thích; trong thích lại có những điều chưa thể thành yêu. Đó là cái tơ nhện đầy ngang trái của cuộc đời. Và vì cuộc đời luôn đi kèm kịch tính nên vẫn còn biết bao người đang di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn, từ Việt Nam ra nước ngoài để trở thành những người xa xứ. Mỗi ngày của chúng ta tiếp tục là một chuyến du ngoạn, khám phá, thích nghi, tương tác để giữ sáng ngọn lửa của chính mình.

(*) “Người Hà Nội” là cách gọi chung những người đang sống ở Hà Nội mà di chuyển vào Sài Gòn. “Người Sài Gòn” chỉ người miền Nam nói chung đang sống tại Sài Gòn. Tác giả không có hàm ý phân biệt vùng miền trong bài viết.

Thời Sinh Viên Ở Sài Gòn

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt

From: [email protected] [mailto:[email protected]] On Behalf Of Dzung Sent: Monday, 16 December 2013 3:13 AM To: [email protected] Subject: [DHKTcdABCD] TR: Trần Trung Đạo: Thời sinh viên ở Sài Gòn

Mời quý đồng môn xem bài viết của Trần Trung Đạo một cựu SV năm thứ nhất Trường Luật và Trường Đại Học Vạn hạnh nk 1972_1973

….. Ghi danh vào trường Luật không cần phải thi, chỉ cần trình bằng tốt nghiệp Tú Tài phần hai là đủ. Phòng ghi danh là một khu nhà lụp sụp phía sau trường chung một hàng rào với đại học Kiến Trúc. Tôi được phát một thẻ sinh viên tạm. Số sinh viên của tôi dài tới năm số. Tôi không nhớ chính xác nhưng hai số thứ tự đầu đã lên đến trên mười ngàn. Trường Luật, được chính thức thành lập dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa, là một trong những trường già nua về cả hình thức lẫn chiều dài lịch sử, trong số các trường đại học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Trường không có nhiều đất trống ngoại trừ khoảng sân không mấy rộng giữa trường. Cổng trường còn lại những viên ngói đỏ rêu phong từ khi mới thành lập. Giảng đường chỉ là những phòng học dài nối nhau. So với các trường trung học như Gia Long, Petrus Ký, trường đại học Luật Khoa Sài Gòn nhỏ hẹp và chật chội hơn nhiều. Vì số thẻ sinh viên của tôi cao trên mười ngàn nên có lần tôi viết câu thơ mô tả trường Luật “mười ngàn sinh viên trong giảng đường vài trăm chỗ / học suốt năm không thấy mặt thầy”.

Công việc đầu tiên của một tân sinh viên sau khi ghi danh, nhận lớp, là đi mua “cua” tức sách giáo khoa giảng dạy của các thầy, từ dân luật, hình luật đến cổ luật. Vì hiếm khi gặp mặt thầy, không có “cua” là rớt. Sau khi ghi danh ở Luật, tôi sang ghi danh Ban Kinh Tế khoa Khoa Học Xã Hội ở đại học Vạn Hạnh. Khoa Khoa Học Xã Hội ở Vạn Hạnh phải thi vào nhưng cũng chỉ thi cho đúng thủ tục vì tôi không nghe ai thi rớt vào khoa Khoa Học Xã Hội ở đại học Vạn Hạnh bao giờ. ….

…. Số sinh viên ghi danh vào Luật cao nhưng bỏ trường ra đi sớm rất đông và thi rớt cũng nhiều. Trong số những người bỏ cuộc có tôi. Tôi học cả hai trường và vì kỳ thi cuối khóa cùng ngày nên tôi không theo đuổi việc học Luật hết năm thứ nhất.

—– Forwarded Message —– From: TUAN LE

Trần Trung Đạo: Thời sinh viên ở Sài Gòn

Trời Sài Gòn tháng Sáu mưa đêm Như từng nhát dao chém xuống đời vội vã Tôi ra đi dặn lòng quên tất cả Những hẹn thề toan tính thuở hoa niên Bốn phương trời lưu lạc một bầy chim Đã lạc lối về sông Dương Tử Tổ quốc Việt Nam Bốn nghìn năm lịch sử Còn lại hôm nay là những tang thương Tôi nhìn qua bên góc kia đường Tấm bảng Hội Liên Hiệp Sinh Viên Vẫn còn đong đưa trên vách Chợt nhớ ra tên các chị các anh Những Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban Những Nguyễn Hoàng Trúc, Võ Như Lanh Các anh, các chị Giờ nầy chắc vẫn còn đang thức Để viết xong bài tự kiểm trước nhân dân Nhớ viết thật nhiều về những chiến công Đã đốt bao nhiêu xe Mỹ Ngụy Đã bán đứng bao nhiêu bè bạn anh em Đã cắm được bao nhiêu cờ mặt trận Tôi không hề trách các anh Vì chẳng bao giờ ai trách Những tên cầm cờ, khiêng kiệu Hãy cố cong lưng và thu mình thật nhỏ Hãy biết dại khờ và biết ngây ngô “Độc lập, Hòa Bình, Thống Nhất, Tự Do” Phải nhớ luôn luôn là tất yếu Kể cả chuyện tình yêu trai gái Cũng phải học thuộc lòng Định nghĩa mới hôm nay Đừng bao giờ nhắc những chuyện không may Như những Ủy Ban Đòi Quyền Sống Những Phong Trào Dân Chủ Tự Do Dân Việt Nam bây giờ Không có gì đáng để lo Hơn những chuyện cháo rau, khoai sắn Và không có một chút quyền Dù chỉ là quyền để than thân trách phận.

Tôi từ Đà Nẵng vào Sài Gòn cuối tháng Tám 1972. Nơi tôi ghi danh học đầu tiên là trường Luật. Có thể nói tôi là một trong những tân sinh viên nộp đơn vào năm thứ nhất niên khóa 1972-1973 trễ nhất. Ghi danh vào trường Luật không cần phải thi, chỉ cần trình bằng tốt nghiệp Tú Tài phần hai là đủ. Phòng ghi danh là một khu nhà lụp sụp phía sau trường chung một hàng rào với đại học Kiến Trúc. Tôi được phát một thẻ sinh viên tạm. Số sinh viên của tôi dài tới năm số. Tôi không nhớ chính xác nhưng hai số thứ tự đầu đã lên đến trên mười ngàn. Trường Luật, được chính thức thành lập dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa, là một trong những trường già nua về cả hình thức lẫn chiều dài lịch sử, trong số các trường đại học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Trường không có nhiều đất trống ngoại trừ khoảng sân không mấy rộng giữa trường. Cổng trường còn lại những viên ngói đỏ rêu phong từ khi mới thành lập. Giảng đường chỉ là những phòng học dài nối nhau. So với các trường trung học như Gia Long, Petrus Ký, trường đại học Luật Khoa Sài Gòn nhỏ hẹp và chật chội hơn nhiều. Vì số thẻ sinh viên của tôi cao trên mười ngàn nên có lần tôi viết câu thơ mô tả trường Luật “mười ngàn sinh viên trong giảng đường vài trăm chỗ / học suốt năm không thấy mặt thầy”.

Công việc đầu tiên của một tân sinh viên sau khi ghi danh, nhận lớp, là đi mua “cua” tức sách giáo khoa giảng dạy của các thầy, từ dân luật, hình luật đến cổ luật. Vì hiếm khi gặp mặt thầy, không có “cua” là rớt. Sau khi ghi danh ở Luật, tôi sang ghi danh Ban Kinh Tế khoa Khoa Học Xã Hội ở đại học Vạn Hạnh. Khoa Khoa Học Xã Hội ở Vạn Hạnh phải thi vào nhưng cũng chỉ thi cho đúng thủ tục vì tôi không nghe ai thi rớt vào khoa Khoa Học Xã Hội ở đại học Vạn Hạnh bao giờ.

Trường Luật chật hẹp mà sinh viên lại quá đông, chúng tôi thường la cà trong những quán cốc. Nhiều nhất là chung quanh công trường Quốc Tế, thường gọi là Hồ Con Rùa, bên ngoài trụ sở “Tổng Hội Sinh Viên” số 4 Duy Tân hay góc Thư Viện Quốc Gia trên đường Gia Long. Các quán cà phê thường không có tên. Ngoài quán cà phê Bà Vú bên ngoài đại học Vạn Hạnh, phần lớn các quán chung quanh trường Luật do sinh viên tự đặt tên bằng địa điểm để dễ hẹn nhau. Số sinh viên ghi danh vào Luật cao nhưng bỏ trường ra đi sớm rất đông và thi rớt cũng nhiều. Trong số những người bỏ cuộc có tôi. Tôi học cả hai trường và vì kỳ thi cuối khóa cùng ngày nên tôi không theo đuổi việc học Luật hết năm thứ nhất. Bạn bè tôi phần đông học Luật nên mỗi tuần tôi đều trở lại trường. Ở đó, dưới những gốc me, vỉa phố, bên những ly cà phê đen, cà phê sữa, trên những ghế thấp, cạnh những chiếc bàn vuông, chúng tôi để cho những thao thức về chiến tranh và số phận đất nước có dịp tuôn trào. Tuổi đời còn rất trẻ nhưng chiến tranh đã làm chúng tôi già sớm hơn tuổi mười tám của mình.

Khi sang Vạn Hạnh tôi có dịp học với thầy Trần Văn Tuyên môn Chính Trị Quốc Nội và thầy Vũ Quốc Thông môn Luật Hiến Pháp Đối Chiếu. Đây là hai môn học tôi thích nhất. Luật Sư Trần Văn Tuyên không mang theo sách vở hay tài liệu giảng dạy gì và những bài giảng của thầy là kinh nghiệm sống trong thời hoạt động chính trị. Vì thầy dạy không theo giáo khoa nên giảng đường lúc nào cũng đông. Sinh viên phải có mặt để ghi lời thầy giảng. Tôi thường tìm cách gần gũi thầy Trần Văn Tuyên để hỏi những chuyện đất nước trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954. Thầy Trần Văn Tuyên đơn giản, tóc cắt cao và thường mặc áo sơ-mi trắng ngắn tay. Thầy Vũ Quốc Thông thì khác, lúc nào cũng đường bệ, chuẩn bị kỹ càng và luôn đến lớp với một cặp-táp (le cartable) đầy tài liệu giảng dạy. Tôi hay thắc mắc với thầy Vũ Quốc Thông về cách dùng chữ. Ví dụ thầy dùng chữ “Chủ nghĩa Tập Sản” thay cho “Chủ nghĩa Cộng Sản”. Tôi cho rằng khái niệm “Chủ nghĩa Tập Sản” hay “Chủ nghĩa Bình Sản” được nhắc đến nhiều trước năm 1975, chỉ là một phạm trù thuần kinh tế, nghĩa hẹp nhiều so với chủ nghĩa Cộng Sản vốn là cả một hệ thống triết học giải thích toàn bộ đời sống con người, xã hội và vũ trụ. Thầy chăm chú lắng nghe ý kiến nhưng không thay đổi cách gọi “tập sản” của mình. Thầy Vũ Quốc Thông dạy tận tụy và trích dẫn nhiều từ các sách Pháp, trong đó có cả Tuyển tập Marx-Engel. Thầy chúng tôi, Giáo sư Trần Văn Tuyên chết trong tù Cộng Sản năm 1976 và Giáo sư Vũ Quốc Thông chết năm 1987, chỉ một thời gian ngắn sau khi ra khỏi nhà tù. Tình nghĩa thầy trò ở miền Nam, dù tiểu học, trung học hay cả đại học đều thắm thiết, thân thương, đáng kính, đáng yêu và đáng nhớ. Tôi cố gắng rất nhiều nhưng không phải là người tự học. Kiến thức của tôi là của các thầy cô trao lại. Đứa sinh viên năm thứ nhất ngày xưa không còn trẻ nữa nhưng mỗi khi nghĩ đến các thầy cô tự nhiên thấy mình nhỏ lại thật nhiều.

Thời gian từ năm 1973 đến năm 1975 là thời gian yên tỉnh. Chương trình bình định đại học khá thành công. Mùa hè năm 1973, một nhóm sinh viên chúng tôi đại diện cho trường tham dự trại hè sinh viên toàn quốc do Bộ Giáo Dục và Thanh Niên tổ chức ở Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Đông sinh viên du học cũng về tham dự trại. Dĩ nhiên không có “lãnh tụ sinh viên” đường phố nào. Đó là những ngày vui nhất của mùa hè. Không chỉ sinh viên Sài Gòn, Vạn Hạnh, Minh Đức mà cả Huế, Cần Thơ, Đà Lạt và các trường đại học tư mới thành lập cũng cử phái đoàn tham dự. Buổi tối chúng tôi quây quần trong sân cờ của trường Thiếu Sinh Quân trao đổi kinh nghiệm học hành, chuyện đất nước và hát nhạc Du Ca như có lần tôi đã kể lại trong bài viết Khi bài hát trở về. Ngoại trừ các nhóm chống chính phủ bốn mùa của các bà Ni Sư Khất Sĩ Huỳnh Liên, Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành, năm 1973, các phong trào sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn do Cộng Sản tổ chức phần lớn đã được dập tắt. Các “lãnh tụ sinh viên học sinh” mặt nổi như Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban, Trần Thị Lan, Lê Văn Nuôi, Võ Như Lanh, Nguyễn Xuân Lập v.v. đã bị kết án và vừa được trao trả tù binh.

Nhắc đến chuyện trao trả tù binh không thể quên tác phẩm Tù Binh và Hòa Bình của nhà văn Phan Nhật Nam, trong đó anh dành trọn một chương để viết về những người mà anh gọi là “Những người lỡ làng”. Hôm đó, buổi chiều ngày 27-3-1973, những “lãnh tụ sinh viên” sắp được trao trả về phía Cộng Sản đang tụm nhau ngồi trong một chiếc lều để chờ được nhận. Những bài hát của Phạm Thế Mỹ, Trịnh Công Sơn được cất lên từ chiếc lều nhỏ. Họ gồm Võ như Lanh, Trịnh đình Ban, Cao thị quế Hương, Trần thị Lan, Trần thị Huệ, Nguyễn thành Công. Không ai biết họ hát để nung cao khí thế hay hát để che đi sự lo âu trước tương lai mờ mịt núi rừng đang chờ đợi họ. Trong quan điểm đấu tranh giai cấp, dù các anh chị là đảng viên Cộng Sản cũng chỉ là đảng viên thành phố, gốc tiểu tư sản, vừa gia nhập và không được tin tưởng hoàn toàn. Nhà văn Phan Nhật Nam tả cảnh anh Nguyễn Thành Công khi tiếp xúc với viên Đại Tá Hungary trong “đôi mắt có vẻ lạc thần, giọng nói đã đượm màu mệt mỏi”. Anh Phan Nhật Nam viết đoạn đó thật cảm động. Anh không giận hay trách móc những tù binh gốc sinh viên anh sắp sửa trao trả mà cảm thông cho sự bồng bột tuổi trẻ của họ nhiều hơn:

“Phải, tôi hiểu rằng nhóm sinh viên đang ngồi ở dưới tàn cây cao su, đang gảy nên những âm thanh trầm lắng với tiếng hát nhiệt thành trong sáng kia quả tình không thể nào là những người cộng sản được. Họ không thể nào là những người cộng sản chuyên chính, dù cho họ đã vào khu học tập, dù đã là cán bộ nội thành làm nhiệm vụ sinh viên vận theo đường lối và kỹ thuật đấu tranh phát xuất từ Cục R, kiểm soát và điều hành bởi ủy viên thanh niên thuộc thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn. Họ cũng không phải là cộng sản dù có chứng minh thư xác nhận là thành viên của đảng lao động, hoặc thành viên của đoàn thanh niên trong mặt trận giải phóng…Vì tiếng hát, điệu đàn, nét mặt và lời nói tất cả vẫn là phản ảnh của một hoài bão, hoài bão bất diệt của tuổi trẻ. Muốn thoát khỏi hoàn cảnh bít bùng của đời sống hiện tại, đấu tranh và xây dựng một quê hương rạng rỡ tốt đẹp hơn. Và chính phát xuất từ ý định đẹp đẽ mơ tưởng này, hoài bão của họ đã được đồng hóa với mục tiêu chiến thuật đoản kỳ của cộng sản. Và họ trở thành loại cán bộ tiền phong đắc lực thực hiện những mục tiêu hạn chế trong đường phố Sài Gòn, nơi Giảng Đường, trong lòng cộng đồng tuổi trẻ Việt Nam.”

Trong bài viết Những người đi tìm tổ quốc trên talawas năm 2006, tôi cũng viết về các anh chị đó:

“Thời sôi nổi trong giảng đường đại học, trên đường phố Sài Gòn đã là dĩ vãng, giữa rừng cao su Lộc Ninh họ là những thanh niên thành phố đang bước vào một cuộc đời mới ở một nơi hoàn toàn xa lạ. Như những con cá bị vớt khỏi sông và bỏ vào trong chậu, ngơ ngác, rụt rè, sợ hãi. Họ không còn là bè bạn của nhau, không còn gọi nhau bằng tên, bằng thứ mà sẽ là đồng chí. Đồng chí cũng đồng nghĩa với nghi ngờ, kiếm soát và dò xét lẫn nhau. Họ hối hận không? Họ thật sự có phải là Cộng sản không? Họ có phân biệt được, dù chỉ là căn bản, những điểm khác nhau giữa xã hội mà họ vừa bỏ lại và xã hội mà họ đang tìm đến không? Không ai hỏi và họ cũng sẽ không trả lời thật với lòng. Có những tâm sự, sống giữ kín chết mang theo, chứ không bao giờ chia sẻ với ai. Hồi xưa tôi cũng có cái nhìn khắt khe về những người bỏ đi. Các anh có quyền biểu tình, có quyền chống độc tài, chống tham nhũng, chống độc diễn nhưng khi bỏ đi sang hàng ngũ của những người ném lựu đạn vào quán ăn, pháo kích vào trường học, đặt mìn trên quốc lộ, các anh đã phản bội quyền sống trong hoà bình của nhân dân miền Nam. Giống như những đứa con lớn lên trong một gia đình nghèo, có bà mẹ bịnh tật, có người cha say rượu hay đánh đập con cái và còn một bầy em nhỏ dại. Thay vì khuyên răn người cha, săn sóc người mẹ, che chở cho đám em khờ, các anh lại bỏ đi, và chẳng những đã bỏ đi mà còn dắt kẻ gian về đốt phá nhà mình.”

Ngày nay, các tài liệu của Đảng đều xác nhận hoạt động của các phong trào chống đối chính quyền VNCH chẳng phải là tự phát chống bất công, độc tài, độc diễn gì mà đều được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành Đoàn Thanh Niên Cộng Sản trực thuộc Thành ủy Sài Gòn Gia Định nhắm vào mục tiêu duy nhất là đánh sụp chế độ Cộng Hòa non trẻ ở miền Nam và áp đặt chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị trên phạm vi cả nước. Tất cả tổ chức, phong trào, tôn giáo, đoàn thể đều được Đảng khai thác, vận dụng một cách tinh vi để phục vụ cho mục đích cuối cùng của đảng Cộng Sản.

Những tên tuổi, hình ảnh được báo chí đối lập và thân Cộng ở Sài Gòn đánh bóng mà nhà văn Phan Nhật Nam nhắc đến chỉ là những khuôn mặt đấu tranh công khai trên đường phố Sài Gòn. Họ không biết những đảng viên Cộng Sản nòng cốt thực sự điều khiển phong trào từ bóng tối là ai. Những kẻ mài dao giết người thường trốn kỹ trong rừng. Những kẻ trao lựu đạn cho sinh viên để ném vào nhà hàng, trường học, chợ búa thường giấu mặt. Họ không gọi nhau bằng tên thật, bằng mày tao thân tình trong quán cà phê bên ngoài khuôn viên đại học Văn Khoa, Luật Khoa mà gọi bằng bí danh, bằng thứ tự.

Những “anh ba”, “chị năm” đó bây giờ đang sống trong những biệt thự cao sang, có kẻ hầu người hạ và những chàng sinh viên một thời bồng bột nay chỉ là những “kẻ lạ của hoàng hôn” “lặng nghe những dư âm sâu lắng của quá khứ đọng lại, rồi trôi theo những món ăn với một vị đắng đắng” như anh Hạ Đình Nguyên, một trong những “lãnh tụ phong trào sinh viên” đã viết trong bài Về một vị đắng sau buổi họp mặt kỷ niệm “Phong trào Đấu tranh của Thanh niên-Sinh viên-Học sinh Sài gòn” năm ngoái.

Khi tôi vào năm thứ nhất, nhiều trong số anh chị tham gia xuống đường vài năm trước vẫn còn học năm thứ ba, thứ tư, và qua họ tôi biết con số sinh viên tham gia biểu tình không đông như báo chí thân Cộng mô tả và cũng không mang tầm vóc “quốc tế” chỉ với vài chàng thanh niên phản chiến Mỹ như bài ký thổi phồng của anh Huỳnh Tấn Mẫm. So với nhiều chục ngàn sinh viên liên khoa thuộc đại học Sài Gòn và các đại học tư tại miềm Nam thời đó, vài trăm anh chị bị xúi giục xuống đường chỉ là con số nhỏ. Thành thật mà nói, phần đông những sinh viên đi biểu tình là những người nặng tình cảm dành cho đất nước nhưng vô cùng nông nỗi. Các anh chị bất mãn trước các bất công trong xã hội và phẩn uất khi nhìn cảnh điêu tàn đổ nát do cuộc chiến gây ra nhưng không nhận thức đúng nguyên nhân sâu xa của thực trạng bi thảm đang diễn ra trên đất nước và không đủ trưởng thành để cân nhắc trước một chọn lựa sinh tử của đời mình.

Tuổi trẻ ở đâu cũng thế, nhiệt tình, phản kháng, cương trực, vô tư, nhưng như tôi có lần đã viết, tại Việt Nam những đặc tính đó của tuổi trẻ bị Đảng Cộng sản lợi dụng tận cùng, không chỉ tiếng hát lời ca, mà còn cả thịt xương và từng giọt máu.

Bài hát quen thuộc trong giới sinh viên trước năm 1975 nói lên một mơ ước chân thành của thế hệ trẻ “Rồi hòa bình sẽ đến, đến cho dân tộc Việt, đôi bồ câu trắng rủ nhau về làng xưa…”, nhưng sau năm 1975, đàn bồ câu đã biến thành bầy kiến gặm nhấm vết thương dân tộc đang mưng mủ. Tiếng hát của các anh chị trên đường phố được thay bằng những tiếng rên của những bà mẹ đang bán máu ở các nhà thương. Lời ca của các anh chị sau được thay bằng là tiếng khóc của em thơ trên các vùng kinh tế mới. Đất nước chìm đắm trong độc tài và đói khát. Hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, chết trên biển cả, chết dưới bàn tay hải tặc.

Các anh các chi, có thể không phải là thủ phạm nhưng không thể phủ nhận là những người đã góp phần gây ra những điêu tàn đổ nát hôm nay. Xin đừng im lặng nữa. Nếu không đủ sức để hành động, hãy viết, hãy nói, hãy kể lại cho các thế hệ trẻ những bài học dù thất bại, những ước mơ dù bị phản bội, những kinh nghiệm dù được đổi bằng xương máu của mình. Là những người có lương tâm, hôm nay, không có tòa án nào kết án các anh chị nặng bằng tòa án lương tâm của chính các anh chị. Là những người vốn nặng tình cảm, hôm nay, không có tình cảm nào cấu xé các anh chị bằng tình cảm các anh chị đã từng dành cho đất nước. Xã hội Việt Nam băng hoại, trụy lạc, tha hóa ngày nay là chiếc gương, các anh chị hãy soi vào đó để thấy lại chính mình.

Chế độ dân chủ non trẻ mà các anh chị góp phần đánh gục, đã quỵ xuống sáng ngày 30-4-1975 nhưng không chết. Và tại Việt Nam hôm nay, các gía trị dân chủ quý giá đó không chỉ là của miền Nam thôi, không chỉ là của Việt Nam Cộng Hòa thôi mà đang là tài sản, hành trang và mục tiêu chung của cả dân tộc.

Dân chủ là khúc khải hoàn ca đang được nhân loại cất vang trên mọi nơi của quả địa cầu, từ Bắc Phi sang Đông Á nhưng không có nghĩa chỉ mới bắt đầu vài năm qua mà từ nhiều ngàn năm trước. Có người bàn về dân chủ như một mục đích đòi hỏi nhiều tiền đề và điều kiện. Điều đó không đúng. Dân chủ không phải là hải đảo xa xôi phải cần ghe tàu, lương thực, thời gian mới đạt tới nhưng là một thực tế gần gũi trước mắt và thậm chí có thể nắm bắt trong tay. Dân chủ không phải món quà của ai ban cho khi đến tuổi trưởng thành mà là quyền làm người bắt đầu từ trong bụng mẹ.

Quốc gia Mông Cổ, một quốc gia không có truyền thống dân chủ, là một ví dụ. Nhiều người cho Mông Cổ khó có thể trở thành một nước dân chủ sau một giai đoạn phong kiến hàng ngàn năm nối tiếp bằng một chế độ Cộng Sản chuyên chính chư hầu Liên Xô suốt hơn bảy chục năm. Khi tôi viết bài này, nhân dân Mông Cổ đánh dấu tròn 20 năm được sống dân chủ. Đôi cánh thiên thần đó đã giúp đưa Mông Cổ từ một quốc gia cô lập, bất ổn cùng hạng với Afghanistan, Nigeria và Somalia trở thành một trung tâm du lịch an toàn và đầy hấp lực văn hóa. Hai mươi năm trước đường phố thủ đô Ulaanbaatar gần như hoang vắng nhưng ngày nay tấp nập và phồn vinh. Theo tạp chí Economist, dù kinh tế thế giới còn đầy khó khăn, mức phát triển kinh tế của Mông Cổ trong ba tháng giữa 2011 đã tăng 21% so với cùng thời kỳ trong năm trước đó. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dự đoán kinh tế Mông Cổ sẽ tăng trung bình 14% từ 2012 đến 2024. Là một quốc gia trong vị trí trái độn với vỏn vẹn 2.5 triệu dân và không có chiều dày truyền thống dân chủ như nhiều quốc gia khác, Mông Cổ sẽ còn gặp nhiều khó khăn nhưng cơ chế chính trị mới giúp cho người dân sống yên tâm trong tự do, thanh bình, no ấm và nỗ lực vì một tương lai tươi đẹp cho con cháu họ.

Việt Nam thì khác.

Sau 37 năm, tiếng súng đã vắng đi trên đất nước Việt Nam, non sông liền một dải nhưng người dân vẫn sống trong nỗi bất an lo sợ, hàng trăm ngàn người con gái Việt phải rời bỏ quê hương đi ăn mày, làm điếm, ở đợ khắp thế giới, phần lớn trong số hơn hai triệu người Việt hải ngoại vẫn còn bị xem là “thành phần phản động bám theo chân đế quốc”, và trong nước, những quyền căn bản như ngôn luận, đi lại, thờ phụng của người dân vẫn chưa có được, hàng ngàn người yêu nước vẫn còn bị tù đày. Đó là sự thật, không ai tuyên truyền ai, không ai xúi giục ai.

Sau 37 năm, mấy chục ngàn thân xác thanh niên làm bia đở đạn cho đảng CSVN trong chiến tranh biên giới năm 1979, hàng ngàn xác thanh niên Việt Nam bị đốt cháy thành than trong trận Lão Sơn 1984, hàng trăm xác thanh niên Việt chìm sâu quanh bờ đảo Gạc Ma năm 1988, hàng trăm ngư dân Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi bị bắn thủng ngực, hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thân yêu như đôi mắt Việt Nam bị đã bị kim Trung Quốc tẩm thuốc độc đâm sâu và đang chảy máu. Đó là sự thật, không ai tuyên truyền ai, không ai xúi giục ai.

Nhìn những gì đang xảy ra trên thế giới đã làm những người Việt đang quan tâm đến vận mệnh đất nước không khỏi cảm thấy thẹn thùng. Dù ban ngày vẫn phải sống bằng thái độ tích cực, trả lời phỏng vấn bằng ngôn ngữ tự tin nhưng ban đêm thế nào cũng gác tay lên trán âm thầm tự hỏi tại sao Liên Xô, Đông Âu cho tới Bắc Phi, Miến Điện nhưng viễn ảnh một Việt Nam tự do, dân chủ, hùng mạnh vẫn còn là một mục tiêu chưa đến. Nỗi lo lắng và niềm đau xót này không phải của riêng ai mà của tất cả người Việt Nam còn biết xót xa, còn biết hổ thẹn trước sự lạc hậu của Việt Nam so với đà tiến quá nhanh của nhân loại.

Một câu hát trong bài Tự Nguyện quen thuộc trong giới sinh viên trước năm 1975 “nếu là hoa, tôi sẽ làm một đóa Hướng Dương”, chưa bao giờ hơn lúc này Việt Nam cần những người yêu nước biết vươn cao, đứng thẳng như những cành Hướng Dương Dân Tộc. Con người đến và đi nhưng lịch sử Việt Nam như dòng sông không ngừng chảy. Đất nước sẽ vượt qua và lớn lên như đã từng vượt qua và lớn lên sau ngàn năm Bắc Thuộc.

Trần Trung Đạo