Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Toàn Văn Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Vương Quốc Cam

Hong Kong Chính Thức Rút Dự Luật Dẫn Độ, Bắc Kinh Bác Tin Thay Bà Carrie Lam

Hồng Kông Sửa Đổi Luật, Cho Phép Dẫn Độ Sang Trung Quốc

Hoàn Thiện Chế Định Hợp Tác Quốc Tế Trong Tố Tụng Hình Sự Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp

Luật Hôn Nhân & Gia Đình 2014

Vấn đề dẫn độ tội phạm luôn là đối tượng quan tâm của cộng đồng quốc tế trên bình diện hợp tác toàn cầu do tầm quan trọng của việc giải quyết có hiệu quả vấn đề hết sức nhạy cảm này trong quan hệ quốc tế.

Dẫn độ tội phạm là một hình thức của tương trợ tư pháp, là một trong các quyền của quốc gia được yêu cầu dẫn độ.

Dẫn

độ là một hình thức hợp tác tương trợ tư pháp giữa các nước. Theo đó nước được

yêu cầu sẽ bắt giữ và chuyển giao người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc người

đã bị Tòa án của nước yêu cầu kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật cho

nước yêu cầu để nước này truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt.

(Theo khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007)

Thứ hai, phân tích khái niệm dẫn độ tội phạm

Dẫn độ tội phạm là một trong

những chế định cổ điển của luật quốc tế trong hợp tác đấu tranh chống tội phạm,

đổng thời thủ tục tố tụng về dẫn độ rất phức tạp và kéo dài về mặt thời gian. Dẫn

độ tội phạm luôn đụng chạm tới chù quyền quốc gia và các quyền lợi quan trọng

khác của quốc gia.Vì thế, cộng đồng quốc tế hết sức thận trong khi đề cập tới vấn

đề này trong thực tiễn quan hệ quốc tế.

Dưới sự bảo trợ của Liên hợp

quốc, nhiều điều ước quốc tế chuyên biệt về chống tội phạm có tính chất quốc tế

như: khủng bố, buôn bán và vận chuyển ma túy, buôn bán trẻ em và phụ nữ, khủng

bố hàng không quốc tê’ v.v. đã được thông qua và đa số đã có hiệu lực thi hành.

Trong các điều ưởc quốc lế loại này có ghi nhận mộl loạt các quy định quan trọng

về dẫn độ tội phạm thuộc phạm vi điều chỉnh của các điều ước. Nhìn chung các

quy định về vấn đề này có nội dung điều chinh tương đối giống nhau về điều kiện,

cơ sở pháp lý, nguyên tắc dẫn độ… Bên cạnh đó, Đại hội đồng Liên hợp quốc còn

thông qua điều ước quốc tế mầu về dẫn độ lội phạm vào nãm 1990 tại Hội nghị

Liên hợp quốc về ngăn ngừa tội phạm tại La Habana (Cuba).

Ngoài các điều ước quốc tế

chuyên biệt về chống tội phạm, trong những thập niên gần đây, dưới sự bảo trợ của

Liên hợp quốc, một loạt các điều ước quốc tế đa phương toàn cầu vể quyền con người

đã được ký kết. Trong nội dung điều chỉnh của các điều ước này, vấn đề dẫn độ tội

phạm đã được đề cập và giải quyết với yêu cầu phải tuân thủ các quy phạm của luật

quốc tế về quyền con người. Khuynh hướng được thể hiên qua nội dung các điều ước

nêu trên là hạn chế khả năng dẫn độ trong các trường hợp cụ thể, ví dụ điều khoản

13 của Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 và Điều 3 của Công ước chống

tra tấn và các hành vi dã man, phi nhân tính khác chống lại phẩm giá con người

năm 1985.

Theo khoa học luật hình sự quốc

tế, dẫn độ tội phạm là hành vi trợ giúp pháp lý được thỏa thuận giữa các quốc

trên các cơ sở pháp lý quốc tế được thể hiện trong quá trình quốc gia được yêu

cầu dẫn độ chuyển giạo thể nhân dang hiện diện trên lãnh thổ nước mình cho quốc

gia yêu cầu nhằm mục đích tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành

phán quyết hình sự đã có hiệu lực pháp luật đối với thể nhân này.

Dẫn độ tội phạm là một trong

các nội dung chủ yếu của hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống các hoạt động tội

phạm đang ngày càng gia tăng. Đây là hình thức giúp đỡ pháp lý trong việc thực

độ hoàn toàn thuộc thẩm quyền cùa quốc gia, chỉ có quốc gia có quyền ký kết cấc

điều ước quốc tế, thông qua các đạo luật của mình và tiến hành trong thực tế

các hoạt dộng dẫn độ tội phạm. Đây là hậu quả tất yếu của việc thực hiện chủ

quyền quốc gia trên phạm vi lãnh thổ xác định.

Thứ ba, quan điểm khác về dẫn độ tội phạm

Hiện nay trong luật hình sự

quốc tế đều khẳng định và công nhận dẫn độ tội phạm là quyền chứ không phải là

nghĩa vụ cùa quốc gia. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tôn trọng

chù quyền quốc gia cùa luật quốc tế và được khẳng định trong thực tiễn quốc tế.

Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, bất kỳ nước nào cũng có quyền giải quyết các vấn

đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các thể nhân đang hiện diện trên lãnh

thổ nước mình, ngay cả trong trường hợp có điều ước quốc tế thì dẫn độ tội phạm

cũng chỉ được tiến hành với các điều kiện cụ thể được quy định.

Cần lưu ý rằng bản thân dẫn

độ tội phạm không phải là sự trừng phạt mà chĩ là biện pháp tạo điều kiện áp dụng

sự trừng phạt bằng pháp luật trong tương lai. Nhận định này hoàn toàn có cơ sở

thuyết phục khi thực tiễn đã chứng minh ở phạm vi nhất định dẫn độ tội phạm

Tổng Thống Đài Loan Lên Tiếng Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong.

Vụ Án Mạnh Vãn Châu Là Nguyên Nhân Chính Của Dự Luật Dẫn Độ Tại Hồng Kông?

Dẫn Độ Tội Phạm

Phái Đoàn Hoa Kỳ Tại Việt Nam Và Bộ Công An Phối Hợp Dẫn Độ Hai Tội Phạm Bỏ Trốn Quốc Tịch Hoa Kỳ

Dẫn Độ Hay Tiếp Tay Dung Túng Tội Phạm Trung Quốc?

Khái Quát Về Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Thẩm Quyền Xét Xử Và Việc Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Dẫn Độ Trong Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam

‘cách Mạng Dù’ Lại Bùng Nổ Ở Hồng Kông, Chống Luật Dẫn Độ Về Trung Quốc

Sự Thật Về Những Tin Đồn Xung Quanh “hiệp Định Dẫn Độ Việt

Trung Quốc Cảnh Báo Người Biểu Tình Sau Khi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ

Dẫn độ là một nội dung quan trong trong tương trợ tư pháp nói riêng và luật hình sự quốc tế nói chung. Bài viết này trình bày một số nét cơ bản của dẫn độ.

Dẫn độ được nhiều quốc gia kí kết và áp dụng thông qua các điều ước quốc tế hoặc hiệp định tương trợ tư pháp.

Dẫn độ là một hình thức hợp tác tương trợ tư pháp giữa các nước. Theo đó nước được yêu cầu sẽ bắt giữ và chuyển giao người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc người đã bị Tòa án của nước yêu cầu kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để nước này truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt. (Theo khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007)

Dẫn độ được thực hiện nhằm mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người bị dẫn độ do đã phạm tội hình sự. các hoạt động này chỉ có thể thực hiện sau khi thực hiện việc dẫn độ.

– Pháp luật trong nước của quốc gia.

– Các điều ước quốc tế song phương về trương trợ tư pháp.

– Các điều ước quốc tế đa phương về chống các loại tội phạm có tính chất quốc tế.

– Nguyên tắc định danh tội phạm kép.

– Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình.

– Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị.

– Không dần độ nếu án tử hình sẽ được áp dụng theo luật của quốc gia yêu cầu dẫn độ.

(iii) Phân biệt đẫn độ với chuyển giao tội phạm đã được kết án

Khuyến nghị của công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Mỹ Công Khai Ủng Hộ Biểu Tình Hong Kong, Lên Án Sửa Đổi Dự Luật Dẫn Độ

Mỹ Ủng Hộ Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ

Hồng Kông: Hơn 1 Triệu Người Dân Xuống Đường Biểu Tình Phản Đối Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc

Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ: Trung Quốc Phản Ứng Thế Nào?

Nghị Viện Châu Âu Kêu Gọi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ

Thẩm Quyền Xét Xử Và Việc Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Dẫn Độ Trong Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam

‘cách Mạng Dù’ Lại Bùng Nổ Ở Hồng Kông, Chống Luật Dẫn Độ Về Trung Quốc

Sự Thật Về Những Tin Đồn Xung Quanh “hiệp Định Dẫn Độ Việt

Trung Quốc Cảnh Báo Người Biểu Tình Sau Khi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ

Bàn Về “hiệp Định Dẫn Độ Việt

Luật hình sự quốc tế quy định thẩm quyền xét xử:

Trong Luật hình sự quốc tế, việc quy định thẩm quyền xét xử đối với các hành vi phạm tội đã được quy định tương đối cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như: tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và cộng đồng quốc tế, phạm vi gây nguy hiểm cho một hay nhiều quốc gia hay toàn cầu; v.v…

Tội phạm khi thực hiện gây nguy hại cho xã hội, cho hòa bình và an ninh của nhân loại và xâm phạm quyền con người thì thường được xét xử theo các cấp độ khác nhau. Đối với tội phạm quốc tế, việc xét xử được tiến hành tại Tòa án quốc tế như (Tòa án quốc tế Nurrumbe, Tôkyô, Tòa án hình sự quốc tế về Ruanđa và Nam Tư cũ, Tòa án hình sự quốc tế theo Quy chế Rome năm 1998) vì tính nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm quốc tế gây ra cho cộng đồng quốc tế.

Về cơ bản, như đã đề cập tội phạm quốc tế có thể bao gồm các nhóm chính sau: Tội phạm chiến tranh, tội diệt chủng, tội phạm chống loài ngư­ời và tội xâm phạm hòa bình. Tất cả các tội phạm quốc tế này đã được cộng đồng quốc tế liệt kê các hành vi phạm tội cụ thể, đồng thời chúng đều đi ngược lại các chuẩn mực chung của pháp luật, quy tắc chung của đời sống pháp lý quốc tế, cũng như nguyên tắc nhân đạo trong luật quốc tế, xâm phạm đến các chuẩn mực hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và Nhà nước, đặc biệt các tội phạm này đã xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, quyền dân tộc và quyền con người. Chính vì lẽ đó, nhân loại và cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao vai trò của các Tòa án có thẩm quyền xét xử các loại tội phạm này và gọi chung là Tòa án hình sự quốc tế. Về thẩm quyền xét xử/tài phán của Tòa án hình sự quốc tế (gọi tắt là ICC) theo Quy chế Rome năm 1998 được đề cập với các quy định như sau:

Thứ nhất,

Các tội phạm của thẩm quyền xét xử (tài phán) của ICC bao gồm: tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, tội chống loài người và tội xâm lược. Đây là các tội phạm gây sự lo ngại và nguy hiểm nhất cho cộng đồng quốc tế. Quy chế Rome cũng đã ghi nhận định nghĩa và quy định cụ thể các yếu tố cụ thể của những loại tội phạm này, đồng thời ghi nhận các hành vi phạm tội cụ thể (ví dụ: quy định 05 hành vi cấu thành tội diệt chủng, 11 hành vi cấu thành tội chống loài người, 50 hành vi cấu thành tội phạm chiến tranh; v.v…).

Thứ hai,

Điều 12 Quy chế quy định điều kiện thực hiện quyền tài phán, thẩm quyền theo lãnh thổ và quyền tài phán đương nhiên. Theo đó, quốc gia trở thành thành viên của Quy chế này thì cũng chấp nhận quyền tài phán của Tòa án đối với các tội phạm nêu tại Điều 5. Trong trường hợp quy định tại khoản a hoặc c Điều 13, Tòa án có thể thực hiện quyền tài phán nếu một hoặc nhiều quốc gia sau là thành viên của Quy chế này hoặc đã chấp nhận quyền tài phán của Tòa án theo quy định tại khoản 3: 1) Quốc gia mà trên lãnh thổ có tội phạm xảy ra hoặc quốc gia nơi đăng ký tàu thuyền hoặc tàu bay, nếu tội phạm được thực hiện trên tàu thuyền hay tàu bay; 2) Quốc gia mà người bị buộc tội là công dân. Như vậy, thẩm quyền theo lãnh thổ của ICC được Quy chế quy định một cách tương đối mở rộng, phục vụ Tòa án thực hiện tốt quyền tài phán của mình.

Thứ ba,

Bên cạnh đó, để xác định việc một quốc gia không có khả năng điều tra, truy tố trong một trường hợp cụ thể, Tòa án sẽ xem xét có phải do hệ thống tư pháp quốc gia bị sụp đổ hoàn toàn hay phần lớn hoặc do không có hệ thống tư pháp mà quốc gia đó không thể bắt giữ được người bị buộc tội hoặc thu thập được các chứng cứ và lời khai cần thiết hoặc không thể tiến hành tố tụng được hay không. Như vậy, việc xác định đúng quyền tài phán của ICC và các điều kiện thực hiện các quyền đó chính là bảo đảm sự “phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, tôn trọng chủ quyền quốc gia… bảo đảm cho ICC hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình. Điều đó cũng hạn chế được nguy cơ sử dụng ICC làm công cụ của quốc gia, tổ chức hoặc cá nhân vì mục đích chính trị

Khác với tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế lại không phải là đối tượng trực tiếp được giải quyết tại Tòa án hình sự quốc tế, mà lại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án trong luật quốc gia, đồng thời các phán quyết được thi hành theo pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, các yêu cầu bắt buộc là khi quốc gia tiến hành xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, các điều ước, hiệp ước quốc tế mà các quốc gia đã tham gia ký kết. Nội dung và các nguyên tắc xác định thẩm quyền tài phán đối với các tội phạm có tính chất quốc tế đã được các quốc gia thành viên thống nhất và thông qua. Mỗi một lĩnh vực tương ứng đều có các điều ước, hiệp ước quốc tế ký kết giữa các thành viên để ngăn chặnvà xử lý các hành vi phạm tội. Các Công ước đã liệt kê ở trên là minh chứng cho điều này và thẩm quyền tài phán cũng đã được liệt kê cụ thể trong các Công ước tương ứng đó.

Tóm lại, hiện nay để có cơ sở pháp lý chặt chẽ và đầy đủ xử lý các tội phạm có tính chất quốc tế, cũng như nâng cao sự hợp tác của cộng đồng quốc tế trong việc truy cứu và đưa ra xử lý các hành vi phạm tội đòi hỏi các quốc gia cần soạn thảo và tham gia ban hành, ký kết nhiều Công ước, hiệp ước để có cơ sở pháp lý bổ sung cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự và thiết lập quyền tài phán của quốc gia, đồng thời còn thể hiện nội dung: việc giữ gìn, tôn trọng và bảo vệ hòa bình, an ninh nhân loại, chủ quyền quốc gia và các quyền con người trước sự xâm hại và đe dọa xâm hại của tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế là trách nhiệm rất nặng nề và cao cả của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới.

Luật hình sự quốc tế quy định hoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm để xử lý và bảo vệ quyền con người.

Trong các nguyên tắc dẫn độ tội phạm, bên cạnh nguyên tắc có đi có lại để thể hiện sự tôn trọng và bình đẳng chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế, trong việc cùng nhau xử lý tội phạm, không có sự bao che, bảo kê cho tội phạm. Ngoài ra, cũng còn có nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình khi một nước yêu cầu dẫn độ công dân nước họ để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án.

Đây cũng chính là sự thể hiện quốc gia bảo vệ quyền con người cho công dân nước mình, song vẫn phải chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền trong quốc gia để tiến hành giải quyết vụ việc đó theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự nói chung. Song, nguyên tắc này lại không được áp dụng trong trường hợp công dân của nước đó phạm các tội phạm quốc tế (tội phạm chiến tranh, chống loài người, diệt chủng, xâm lược) thì các quốc gia mà công dân là thành viên phải dẫn độ công dân cho nước ngoài xét xử, xử lý các tên phạm các tội ác quốc tế, bảo vệ sự bình yên của cộng đồng thế giới, chống lại các hành động tội ác và không khoan nhượng trước bất kỳ cá nhân nào.

Khái Quát Về Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Mỹ Công Khai Ủng Hộ Biểu Tình Hong Kong, Lên Án Sửa Đổi Dự Luật Dẫn Độ

Mỹ Ủng Hộ Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ

Hồng Kông: Hơn 1 Triệu Người Dân Xuống Đường Biểu Tình Phản Đối Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc

Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ: Trung Quốc Phản Ứng Thế Nào?

Khái Niệm Thẩm Quyền Tài Phán Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Quy Định Về Tội Sản Xuất Trái Phép Chất Ma Túy Theo Bộ Luật Hình Sự 2022

Các Tội Phạm Về Ma Túy Theo Quy Định Blhs 2022

Quy Định Về Tội Chiếm Đoạt Chất Ma Túy Theo Bộ Luật Hình Sự 2022

Điều 250 Bộ Luật Hình Sự Quy Định Về Tội Vận Chuyển Trái Phép Chất Ma Túy

Điều 253 Bộ Luật Hình Sự Quy Định Về Tội Vận Chuyển Trái Phép Chất Ma Túy

Trong Luật hình sự quốc tế, khái niệm về thẩm quyền xét xử đối với các hành vi phạm tội đã được quy định tương đối cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ.

Trong quá trình hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm vấn đề thẩm quyền tài phán là một trong những vấn đề có tầm quan trọng đáng quan tâm.

Thẩm quyền tài phán của quốc gia được hiểu theo hai nghĩa

Theo khái niệm rộng, thẩm quyền tài phán của một quốc gia xác định được hiểu là quyền lực riêng biệt cùa quốc gia trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Như vậy, thẩm quyền tài phán được cấu thành bởi quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp cura quốc gia và đây chính là quyền tối cao của một nhà nước trong phạm vi lãnh thổ của mình, một nội dung quan trọng của chủ quyền quốc gia.

Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền thực hiện các quyền năng trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài.

Có quyền thông qua những quyết định về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước vì mục đích tối cao là đảm bảo quyền lực và lợi ích của nhân dân.

Theo nghĩa hẹp thì thẩm quyền tài phán của quốc gia là thẩm quyền giải quyết các vụ việc thuộc quyền hạn xét xử của quốc gia này.

Căn cứ vào tiêu chí loại hình vụ việc giải quyết, quốc gia có thẩm quyền xét xử dân sự, hành chính và hình sự cũng như quyền xét xử các vụ việc khác.

Sự phân biệt các nhóm quyền trong thẩm quyền tài phán hình sự quốc gia

Trong ba nhóm quyền này, cần thiết phải có sự phân biệt, đặc biệt là giữa nhóm hai và nhóm ba, mặc dù sự khác nhau giữa hai nhóm quyền này là không rõ ràng trong thực tế.

Ví dụ: Một cá nhân có hành vi giết người tại nước Anh và sau đó chạy trốn sang Pháp để lẩn trốn, tòa án Anh có thẩm quyền xét xử thủ phạm giết người này, nhưng cảnh sát Anh không thể thực hiện được hành vi bắt giữ thủ phạm trên lãnh thổ nước Pháp, trong trường hợp này Tòa án Anh phải yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền của Pháp bắt giữ và chuyển giao tội phạm giết người cho họ để tiến hành xét xử tại nước Anh.

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Trách Nhiệm Hình Sự Đối Hành Vi Đánh Phụ Nữ Mang Thai Như Thế Nào?

Bộ Luật Hình Sự Năm 2022: Khi Nạn Nhân Là Phụ Nữ

Phụ Nữ Mang Thai Được Giảm Nhẹ Trách Nhiệm Hình Sự

Quyền Của Phụ Nữ Theo Pháp Luật Việt Nam Như Thế Nào ?

Hành Vi Gây Thương Tích Đối Với Phụ Nữ Mang Thai Bị Xử Lý Như Thế Nào Theo Luật Hình Sự?

Đề Tài: Chế Định Dẫn Độ Trong Hợp Tác Quốc Tế Theo Pháp Luật, Hot

Dẫn Độ Tội Phạm Là Gì?

Khi Nào Thì Được Dẫn Độ Tội Phạm?

Dẫn Độ Tội Phạm Được Quy Định Thế Nào?

Các Nguyên Tắc Của Dẫn Độ Tội Phạm

Hàng Ngàn Người Hong Kong Tràn Xuống Đường Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ, Cảnh Sát Phun Vòi Rồng Trấn Áp Người Quá Khích

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Luận văn thạc sĩ ngành luật: Chế định dẫn độ trong hợp tác quốc tế theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, cho các bạn tham khảo

1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ LY CHÕ §ÞNH DÉN §é TRONG HîP T¸C QUèC TÕ THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2022

2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ LY CHÕ §ÞNH DÉN §é TRONG HîP T¸C QUèC TÕ THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ HÀ NỘI – 2022

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Ly

5. 2.2.1. Tình hình ký kết các hiệp định và quy định của pháp luật trong nước về dẫn độ……………………………………………………………………………………..44 2.2.2. Những nội dung về dẫn độ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam………..49 Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DẪN ĐỘ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM…….87 3.1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẪN ĐỘ Ở VIỆT NAM ……………………87 3.1.1. Tình hình thực hiện các yêu cầu dẫn độ…………………………………………….87 3.1.2. Nguyên nhân hạn chế hiệu quả của hoạt động dẫn độ ở Việt Nam…………90 3.2. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ…………………………………..94 3.2.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng chế định dẫn độ …………………………………………………………………….94 3.2.2. Hoàn thiện pháp luật về dẫn độ ……………………………………………………….99 3.2.3. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động dẫn độ ……………………105 KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………..109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………….111

6. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự ĐƯQT: Điều ước quốc tế TAND: Tòa án nhân dân TNHS: Trách nhiệm hình sự TTHS: Tố tụng hình sự TTTP: Tương trợ tư pháp VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa

7. DANH MỤC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 3.1. Thống kê yêu cầu dẫn độ tội phạm ở Việt Nam từ 01/07/2008 đến 30/06/2014 88

13. 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ TRONG HỢP TÁC QUỐC TẾ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1. KHÁI NIỆM “DẪN ĐỘ” VÀ “CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ” 1.1.1. Sự ra đời và khái niệm dẫn độ 1.1.1.1. Sự ra đời của dẫn độ Dẫn độ được hình thành và phát triển cùng với luật quốc tế, là một bộ phận của Luật hình sự quốc tế, nó được ra đời khi có nhu cầu trao đổi về tội phạm giữa các quốc gia thông qua một thỏa ước quốc tế. Các nghiên cứu cho rằng, thời cổ đại qui chế về dẫn độ đã ra đời, khi người nước ngoài phạm tội chống lại công dân nước ngoài ở quốc gia sở tại, nơi người phạm tội cư trú. Trong thời kỳ này, đã xuất hiện các điều ước quốc tế giữa một số quốc gia về dẫn độ, chẳng hạn: Năm 1296 trước công nguyên, điều ước quốc tế về dẫn độ ở vùng Ai Cập cổ đại có nêu rõ rằng: Nếu như một ai đó chạy khỏi Ai Cập và tới quốc gia Khettôv, thì vua Khettôv sẽ không bắt giữ anh ta, mà bắt anh ta quay trở lại Ai Cập. Đặc điểm của điều ước quốc tế này thể hiện ở chỗ, vấn đề không phải chỉ là các tội phạm và thời kỳ đó, chế định dẫn độ còn đề cập tới cả người nô lệ da trắng, đặc biệt là ở Hy Lạp và đế chế La Mã. Đồng thời, có các điều ước quốc tế về dẫn độ giữa một số quốc gia thành phố của Hy Lạp . Như vậy, dẫn độ ra đời khá sớm, từ thời kỳ cổ đại chứ không phải cho đến thời kỳ hiện đại như một số học giả đưa ra. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng qui chế về dẫn độ thời kỳ cổ đại chưa có đầy đủ các nội hàm và phạm vi như ngày nay chúng ta quan niệm. Trải qua quá trình lịch sử, sự phát triển của qui chế về dẫn độ gắn liền với sự phát triển của các quan hệ quốc tế và sự hợp tác trong đấu tranh xử lý tội phạm của các quốc gia trên thế giới. “Nhiều nhà chức trách ở Pháp và Mỹ đã viết rằng trước thế kỷ XIX, sự dẫn độ với nghĩa như thời hiện đại không tồn tại” . Trong thời gian ấy, pháp luật về dẫn độ tội phạm có hai mục đích: Một là công cụ hợp tác của các quốc gia để ngăn chặn tội phạm, hai là công cụ để bảo vệ chính người bị dẫn độ. Vì vậy, ngay vào các năm 40 của thế kỷ XIX các nước Châu Âu đã thông qua một nguyên tắc là chỉ dẫn độ các tội phạm hình sự, chứ không dẫn độ tội phạm chính trị hay những người đào ngũ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, vào năm 1924, “Ủy ban các chuyên viên về pháp điển hóa tiến bộ về luật pháp quốc tế” của Hội quốc liên đã dự thảo và kiến nghị ký kết các công ước phổ cập điều chỉnh vấn đề hợp tác quốc tế về dẫn độ tội phạm. Tuy nhiên, dự thảo này chưa được ký kết thì Hội quốc liên đã ngừng hoạt động do chiến tranh. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Tòa án Nuremberg và tòa án Tokyo xét xử phát xít đã đề cập đến việc dẫn độ tội phạm, do đó năm 1946 Đại hội đồng liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết áp dụng các biện pháp truy tìm, bắt giữ và dẫn độ các tội phạm chiến tranh về quốc gia nơi thực hiện tội phạm để xét xử theo pháp luật quốc gia sở tại. Năm 1947, Đại hội đồng liên hợp quốc tiếp tục thông qua Nghị quyết về nghĩa vụ của các quốc gia trong việc dẫn độ và chuyển giao tội phạm chiến tranh cho tòa án xét xử. Trong quá trình phát triển, hàng loạt các công ước quốc tế về chống tội phạm có tính chất xuyên quốc gia ra đời, trong đó phần quan trọng là các qui định về dẫn độ tội phạm, như: Công ước về khủng bố, trẻ em, buôn bán ma túy, buôn bán người…Bên cạnh đó, năm 1990 Đại hội đồng Liên hợp quốc còn thông qua điều ước mẫu về dẫn độ tội phạm làm cơ sở để các quốc gia tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về đấu tranh chống tội phạm nói chung và dẫn độ tội phạm nói riêng. Trên cơ sở đó, những điều ước quốc tế đa phương mang tính toàn cầu, các khu vực cũng đã ký kết các điều ước khu vực, mà tiêu biểu là Công ước quốc tế về dẫn độ tội phạm châu Âu năm 1957… Như vậy, cùng với sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia, qui chế

16. 9 dẫn độ ngày càng được hoàn thiện, phát triển bảo đảm cho việc dẫn độ tội phạm có hiệu quả, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên phạm vi toàn cầu cũng như ở từng quốc gia, khu vực. Sự phát triển, hoàn thiện này thể hiện ở sự gia tăng các điều ước quốc tế về dẫn độ, trong đó đã cụ thể hóa nhóm người thuộc diện dẫn độ tội phạm, các phạm trù và các căn cứ dẫn độ cũng được xác định cụ thể hơn. Trong đó, một nguyên tắc về dẫn độ tội phạm được hình thành và ngày càng được thừa nhận rộng rãi là nguyên tắc mà theo đó những người thực hiện các hành vi vì động cơ chính trị và vì thế phải rời khỏi tổ quốc của mình thì không thuộc diện bị dẫn độ. 1.1.1.2. Khái niệm dẫn độ tội phạm Trong khoa học pháp lý, có nhiều khái niệm về dẫn độ được đưa ra căn cứ vào phạm vi và cách tiếp cận khác nhau, chúng tôi Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm dẫn độ khá cơ mở, hàm chứa nhiều nội dung: Dẫn độ người phạm tội là một chế định của luật hình sự nhằm tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm quốc tế và các tội phạm xuyên quốc gia, được thể hiện trong việc: một quốc gia này (nước được yêu cầu) căn cứ vào các quy định của Hiệp ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự đã được ký kết (hoặc các quy phạm pháp luật quốc tế trong trường hợp Hiệp định tương ứng chưa được ký kết) chuyển giao người phạm tội đang ở trên lãnh thổ của nó theo đề nghị của quốc gia kia (nước yêu cầu) mà trên lãnh thổ có việc thực hiện tội phạm hoặc có người phạm tội là công dân của mình (nước yêu cầu) để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt với người ấy . Định nghĩa này về dẫn độ đã thiếu đi tính thuyết phục khi giải thích khái niệm dẫn độ bằng việc lặp lại chính cụm từ “dẫn độ” (dẫn độ là dẫn độ). Đồng thời, định nghĩa này mới chỉ đề cập đến đối tượng của dẫn độ mà chưa chỉ ra được chủ thể tiến hành dẫn độ, nguyên tắc, thủ tục và mục đích của dẫn độ. Đặc biệt, định nghĩa chưa làm rõ được bản chất của dẫn độ là một quá trình hướng tới mục đích chuyển giao người phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án giữa các quốc gia trong đấu tranh xử lý tội phạm ở phạm vi toàn cầu. Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về dẫn độ, theo đó:”dẫn độ là việc đưa phạm nhân người nước ngoài bị bắt ở nước mình giao cho cơ quan tư pháp ở nước ngoài đó xét xử” . Theo Marjorie Whiteman, một chuyên gia về luật hình sự quốc tế của Mỹ thì: “dẫn độ là quá trình mà theo đó người mà bị kết tội hoặc bị kết án tù về hành vi phạm tội trái với pháp luật của một quốc gia và được tìm thấy ở một quốc gia khác sẽ được đưa trở về quốc gia ban đầu để xét xử hoặc tuyên án” . Định nghĩa này khẳng định việc dẫn độ chỉ áp dụng đối cá nhân người phạm tội (thể nhân) chứ không áp dụng đối với pháp nhân là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về dẫn độ. Đồng thời, định nghĩa đã nêu được mục đích của dẫn độ không chỉ để truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn để thi hành hình phạt, thông qua đó phần nào phản ánh được bản chất của dẫn độ. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng chưa nêu được đầy đủ nội hàm của dẫn độ như nguyên tắc, thủ tục… Trong cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về luật hình sự quốc tế”, chúng tôi Nguyễn Trung Tín đưa ra định nghĩa: “Dẫn độ trong luật hình sự quốc tế được hiểu là việc một quốc gia chuyển trao người bị cáo phạm tội hoặc người bị kết án (quốc gia nơi những người đó có mặt) cho một quốc gia khác (thường là quốc gia nơi tội phạm gây ra hoặc là quốc gia đã kết án người đó” . Việc trao đổi như vậy thực hiện với sự tuân thủ nguyên tắc tương xứng. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, việc trao đổi tội phạm có tính chất chính trị nhiều hơn là pháp lý, có thể khẳng định tính chất chính trị chi phối toàn bộ các hoạt động của các quốc gia trong quyết định trao đổi tội phạm. Điểm đặc biệt của trao đổi tội phạm là việc một quốc gia sẽ trao những người phạm tội là công dân nước khác cho quốc gia của những người đó với điều kiện quốc gia được trao trả cũng phải giao những công dân của họ. Do đó, sự trao đổi có tính chất hai phía, và sự tương xứng trong trao đổi tội phạm phải đảm bảo cả hai tiêu chí số lượng chất lượng. Chính vì vậy mà các tội phạm được tiến hành trao đổi chủ yếu là các tội phạm trong thời kỳ chiến tranh hoặc là tù nhân chiến tranh của hai quốc gia. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, việc trao đổi tội phạm được thực hiện nhiều nhất, khoảng thập niên 60 hoặc 70 của thế kỷ 20, Liên xô và mỹ đã nhiều lần tiến hành trao đổi tội phạm, giữa các nước thuộc khối Vacsava và NATO cũng phát sinh nhiều trường hợp trao đổi kiểu này . Trong quan hệ trao trả tội phạm xuất hiện hai loại chủ thế, chủ thể yêu cầu trao trả tội phạm là quốc gia đăng tịch phương tiện bay, còn chủ thể được yêu cầu là quốc gia nơi phương tiện bay bị chiếm đoạt

30. 23 Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, mỗi quốc gia không thể tồn tại riêng lẻ mà không có sự hợp tác, chia sẻ với các quốc gia khác. Trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm đang phát triển ở phạm vi toàn cầu thì nhu cầu về sự hợp tác giữa các quốc gia để dẫn độ những người phạm tội càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, bởi mỗi quốc gia không thể đảm bảo trong mọi trường hợp đều có thể tiến hành xử lý hình sự đối với người phạm tội khi người đó có thể tự do di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong trường hợp này, yếu tố chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực dẫn độ tội phạm thường được thể hiện một cách linh hoạt thông qua việc các quốc gia sử dụng nguyên tắc có đi có lại hoặc đàm phán, ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế về dẫn độ để thực hiện dẫn độ người phạm tội cho một bên phù hợp để bên đó tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội. 1.2.2.2. Nguyên tắc có đi có lại Đây là nguyên tắc pháp lý cần thiết để đảm bảo việc dẫn độ tội phạm có hiệu quả. Nội dung của nguyên tắc này quy định: nước được yêu cầu dẫn độ sẽ chấp nhận dẫn độ với sự đảm bảo rằng nước có yêu cầu giúp đỡ cũng sẽ chấp nhận và thực hiện một yêu cầu như vậy của nước được yêu cầu trong tương lai. Cơ sở của sự có đi có lại trong hoạt động dẫn độ tội phạm giữa các quốc gia chính là nguyên tắc tôn trọng quyền bình đẳng và chủ quyền giữa các quốc gia. Bởi thực chất vấn đề dẫn độ không tạo ra sự bắt buộc phải thực hiện yêu cầu dẫn độ giữa quốc gia yêu cầu với quốc gia được yêu cầu mà thể hiện sự thiện ý, thỏa thuận và thống nhất giữa các quốc gia. Tuy nhiên, nguyên tắc này không đồng nghĩa với sự trao đổi ngang bằng và ngay lập tức, mà tùy từng trường hợp để quyết định có thực hiện yêu cầu hợp tác của bên đối tác hay không. Nguyên tắc có đi có lại thường được ghi nhận trong các đạo luật quốc gia của các nước như: Luật về dẫn độ tội phạm năm 1958 của Tây Ban Nha, đạo luật năm 1870 của đại công quốc Luxembua, đạo luật năm 1954 của Ixraen, Bộ luật tố tụng hình sự của Tây Ban Nha, Luật tương trợ tư pháp năm 2007 của Việt Nam….

33. 26 1.2.2.4. Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình Việc điều chỉnh vấn đề dẫn độ luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với quốc tịch cá nhân bị yêu cầu dẫn độ. Nội dung của nguyên tắc không dẫn độ công dân của quốc gia được yêu cầu là: nếu người được yêu cầu dẫn độ là công dân của quốc gia được yêu cầu thì nước này có quyền từ chối dẫn độ người đó cho nước yêu cầu. Nguyên tắc này thường được đặt ra khi đối tượng bị dẫn độ là các cá nhân đã thực hiện hành vi phạm tội và bị xét xử hoặc người bị tình nghi thực hiện hành vi tội phạm đang lẩn trốn ở ngoài lãnh thổ của quốc gia yêu cầu dẫn độ và cư trú tại quốc gia anh ta là công dân. Nguyên tắc không dẫn độ công dân được ghi nhận trong rất nhiều các văn bản pháp lý quốc tế cũng như trong pháp luật của các quốc gia về dẫn độ. Điều 6 (1), công ước Châu Âu năm 1957 về dẫn độ tội phạm quy định: “mỗi bên ký kết có quyền từ chối dẫn độ công dân của mình”. Điểm a, Điều 4 – Hiệp định dẫn độ mẫu của Liên Hiệp Quốc quy định: “việc dẫn độ có thể bị từ chối: a) Nếu người bị yêu cầu dẫn độ là người người của nước được yêu cầu. Các văn bản khác như Tuyên bố chung của hội nghị quốc tế lần thứ III về thống nhất hóa luật quốc tế, Công ước năm 1948 về tội phạm diệt chủng, Quy chế của các tòa án quân sự quốc tế Nurumberg và Tokyo, công ước năm 1968 về việc không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với các tội phạm chiến tranh và tội phạm chống loài người; công ước của các quốc gia thuộc SNG năm 1993 về tương trợ tư pháp trong các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự . Ngoài ra, nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình không được áp dụng khi các cá nhân thực hiện các tội ác quốc tế như: tội phạm chống hòa bình, tội chống nhân loại, tội

36. 29 chống chính trị) và tội phạm chính trị tương đối (là những hành vi phạm tội có tính chất hình sự chung nhưng được thực hiện với động cơ, lý do chính trị như sát hại các chính khách của đảng phái đối lập, đốt phá các kho vũ khí, các khu dân cư nhằm kích động bạo loạn…) [21, tr.336]. Tuy nhiên đây chỉ là quan điểm lý luận và không được coi là căn cứ để các quốc gia xác định tội phạm được yêu cầu có phải là tội phạm chính trị và có thể từ chối dẫn độ người phạm tội đó hay không. Thực tiễn cho thấy, cơ sở để xác định hành vi phạm tội có tính chất chính trị hay không thường phụ thuộc vào hệ thống pháp luật cũng như chính sách, đường lối của quốc gia được yêu cầu dẫn độ, nơi cá nhân dẫn độ đang bỏ trốn. Theo đó, quốc gia được yêu cầu có thể từ chối dẫn độ người phạm tội nếu có căn cứ cho rằng hành vi đó được thực hiện vì mục đích chính trị. Ngay cả những trường hợp phạm tội thông thường nhưng nếu nước được yêu cầu nhận thấy tội phạm thông thường đó được thực hiện vì động cơ chính trị thì cũng có thể từ chối dẫn độ và cho người bị yêu cầu dẫn độ hưởng quyền cư trú chính trị. Do việc xác định tội phạm chính trị khó khăn như vậy nên trong các văn bản pháp lý quốc tế dùng cách liệt kê những tội phạm không được coi là tội phạm chính trị để để hưởng quyền cư trú bao gồm: – Các tội chống loài người được quy định cụ thể trong Công ước về ngăn chặn và trừng trị các tội diệt chủng, được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9.9.1948; – Các hành vi vi phạm những quy định tại Điều 50 – Công ước Genevơ 1949 về cải thiện tình trạng của thương, bệnh binh thuộc lực lượng chiến đấu trên bộ; Điều 51 – Công ước Genevơ 1949 về cải thiện tình trạng của thương, bệnh binh và những người bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân; Điều 130 – Công ước Genevơ 1949 về đối xử với tù binh chiến tranh và Điều 147 – Công ước Genevơ 1949 về bảo vệ dân thường trong thời chiến; – Mọi hành vi tương tự như trên vi phạm các luật chiến tranh có hiệu lực trong thời chiến, vi phạm các tập quán, tập quán chiến tranh hiện có nếu nó không được quy định trong các Công ước Genevơ đã được đề cập ở trên; – Hành vi phạm tội thuộc phạm vi Công ước về ngăn chặn hành vi bắt giữ máy bay trái phép xâm phạm đến an ninh hàng không, được ký kết tại Hague ngày 16.9.1970;

Dẫn Độ Gần 400 Nghi Phạm Người Trung Quốc Về Nước Bằng Đường Bộ

Hồng Kông Chính Thức Rút Dự Luật Dẫn Độ

Mỹ Quan Ngại Dự Luật Dẫn Độ Gây Tranh Cãi Tại Hong Kong

Dự Luật Dẫn Độ Của Hồng Kông Có Thể Khiến Người Mỹ Gặp Rủi Ro

Chủ Tịch Hạ Viện Mỹ Lên Án Mạnh Dự Luật Dẫn Độ Của Hong Kong

Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Quốc Tế Và Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam

Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong: Nguồn Gốc, Tranh Cãi Và Thách Thức

Trung Quốc Và Phương Tây Đối Đầu Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong

Dự Luật Dẫn Độ Nghĩa Là Gì

Vấn Đề Dẫn Độ Theo Bộ Luật Tố Tụng Năm 2003

Anh: Dẫn Độ Đối Tượng Chủ Chốt Xét Xử Vụ 39 Thi Thể Trong Xe Tải, Mỹ: New York Chính Thức Hủy Bỏ Điều Luật Giữ Bí Mật Hồ Sơ Cảnh Sát

Trên cơ sở xem xét một số điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm hoặc điều ước quốc tế về

tương trợ tư pháp có nội dung về dẫn độ tội phạm được ký kết giữa Việt Nam và một số quốc

gia khác như: Hiệp định Tương trợ Tư pháp Việt Nam – Ba Lan năm 1993, Hiệp định Tương

trợ Tư pháp Việt Nam – Liên bang Nga năm 1998, Hiệp định Tương trợ Tư pháp về Dân sự

và Hình sự giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân

dân Lào năm 1998, Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003, Hiệp

định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Australia năm 2012.

phạm; Đối tượng của hoạt động dẫn độ; Căn cứ từ chối dẫn độ; Thủ tục dẫn độ và các tài liệu

cần thiết; Quy định bắt khẩn cấp; Quy định dẫn độ đơn giản; Quy định về giải quyết các

trường hợp đặc biệt trong dẫn độ (nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một cá nhân, hoãn thi hành

quyết định dẫn độ, dẫn độ lại, quá cảnh); Quy định về chi phí dẫn độ tội phạm.

Những quy định về dẫn độ tội phạm trong các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và một số

quốc gia nêu trên đã thể hiện được sự tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế về

dẫn độ tội phạm (về nguyên tắc dẫn độ tội phạm, các trường hợp từ chối dẫn độ, trình tự, thủ

tục dẫn độ tội phạm.). Phù hợp với điều kiện của các quốc gia về chế độ kinh tế, chính trị và

hệ thống pháp luật, Việt Nam và các quốc gia này đã xây dựng các điều khoản phù hợp nhằm

đạt được hiệu quả tốt nhất trong hợp tác dẫn độ tội phạm.

Tuy nhiên, hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam với các quốc gia vẫn còn

một số tồn tại cần khắc phục là

Một là: số lượng các điều ước song phương được ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia khác có

giữa Việt Nam và các quốc gia chủ yếu vẫn dựa trên các hiệp định tương trợ tư pháp mà ít các

hiệp định riêng về dẫn độ tội phạm

Đàm Phán Dự Thảo Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Hai Nước Việt Nam Và Trung Quốc

Việt Nam Và Trung Quốc Tập Trung Thúc Đẩy Cho Hiệp Định Dẫn Độ

Từ Vụ Bắt Giữ 380 Người Trung Quốc Đánh Bạc: Trường Hợp Nào Sẽ Bị Dẫn Độ?

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Pháp Là Cơ Sở Phòng Chống Tội Phạm Bỏ Trốn

Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

“pháp Luật Hình Sự Của Trung Quốc Và Việt Nam Trong Bối Cảnh Hội Nhập Quốc Tế”

Bộ Luật Hình Sự Trung Quốc

Trình Tự Điều Tra Giữa Luật Tố Tụng Hình Sự Của Trung Quốc Và Việt Nam

Tìm Hiểu Tội Phạm Về Tham Nhũng, Chức Vụ Của Blhs Trung Quốc

Học Ngành Luật Ra Trường Làm Gì? Làm Việc Ở Đâu?

Học Ngành Điều Tra Hình Sự Ra Làm Gì?

Hội thảo có sự tham dự của đoàn đại biểu của Viện Tư pháp hình sự, Trường Đại học Tài chính – Chính pháp Trung Nam do chúng tôi Hạ Dũng – Viện trưởng Viện Tư pháp hình sự làm Trưởng đoàn; về phía Trường Đại học Luật Hà Nội có sự tham dự của TS. Phan Chí Hiếu – Hiệu trưởng; chúng tôi Nguyễn Ngọc Hoà – Phó hiệu trưởng, cùng đại diện của các khoa chuyên môn, các trung tâm, đơn vị thuộc Trường và các cán bộ, giảng viên đang giảng dạy, nghiên cứu tại Trường. Tham dự Hội thảo còn có các chuyên gia về luật hình sự của Bộ Tư pháp: TS. Nguyễn Văn Tuân – Tổng biên tập Tạp chí dân chủ pháp luật, TS. Nguyễn Văn Hoàn – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự – Hành chính Bộ Tư pháp cùng các giảng viên đến từ Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Phát biểu tại Hội thảo, chúng tôi Hạ Dũng (Học viện Tư pháp hình sự, Đại học Tài chính – Chính pháp Trung Nam) cho biết, luật hình sự Trung Quốc có 3 hình thức là BLHS, luật hình sự riêng lẻ và luật hình sự phụ (thường là các VBQPPL quy định về quản lý hành chính, thương mại dân sự, trật tự kinh tế, quy tắc kinh tế…).

Theo GS,TS. Hạ Dũng quan niệm, tác dụng chính của luật hình sự phụ là bổ sung các hành vi phạm tội chưa được quy định trong BLHS, tội danh được quy định trong luật hình sự phụ hoàn toàn độc lập với tội danh trong BLHS. Theo thống kê của ông Hạ Dũng, đến ngày 1/11/2012, trong số 264 luật vẫn còn hiệu lực và 58 nghị quyết, quyết định, quy tắc có giá trị pháp luật tương đương do cơ quan lập pháp Trung Quốc ban hành thì có 180 văn bản với 554 điều khoản luật hình sự phụ.

Trong khi đó, ở Việt Nam, BLHS được xác định là VBQPPL duy nhất được phép quy định tội phạm, khung hình phạt cho các tội phạm. Tuy nhiên, có nhiều luật khác (thường được cho là luật chuyên ngành) lại có điều luật quy định cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực điều chỉnh trong những trường hợp nhất định như Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Đất đai…

Vì thế, để đảm bảo sự thống nhất giữa BLHS với các Luật này, chúng tôi Nguyễn Ngọc Hòa (Đại học Luật Hà Nội) nhấn mạnh phải xem xét vấn đề nguồn quy định tội phạm nói riêng và nguồn của pháp luật hình sự nói chung.

“Quan niệm nguồn của pháp luật hình sự chỉ là BLHS (theo nghĩa hẹp) là quan niệm không còn phù hợp với xu thế và điều kiện hiện nay” – ông Hòa khẳng định và đề nghị mở rộng nguồn của pháp luật hình sự theo hướng cho phép các luật khác có thể quy định tội phạm và hình phạt. Theo đó, giữ nguyên cấu trúc phần các tội phạm của BLHS; cho phép có luật hình sự riêng lẻ quy định nhóm tội phạm hoặc tội phạm cụ thể cùng hình phạt tương ứng; cho phép luật phi hình sự có điều luật quy định các tội phạm và hình phạt cụ thể.

Một trong những điểm tương đồng được nhiều đại biểu quan tâm của hệ thống pháp luật hình sự hai nước Việt Nam, Trung Quốc là còn duy trì hình phạt tử hình (HPTH) và cùng đang trên đường từng bước thu hẹp phạm vi áp dụng HPTH.

chúng tôi Đồng Đức Hoa (Đại học Tài chính – Chính pháp Trung Nam) chia sẻ: Trong giai đoạn hiện tại, tuy chưa thể xóa bỏ hoàn toàn nhưng với tư tưởng văn minh hiện đại, hội nhập cùng thế giới, Trung Quốc đã thúc đẩy việc giảm HPTH.

Điều này thể hiện ở chỗ trong lần thứ 8 sửa đổi, bổ sung BLHS, được thông qua năm 2011, Trung Quốc đã xóa bỏ HPTH ở 13 tội danh phi bạo lực. Song ông Hoa cũng thẳng thắn nhận xét, quy định về HPTH trong BLHS Trung Quốc còn tương đối phổ biến và ở một số tội phạm kinh tế khác như tội gian lận tài chính vẫn có quy định HPTH. “Chúng ta có thể xóa bỏ HPTH sau bao nhiêu năm nữa? Đó là con đường dài phải đi” – ông Hoa đúc rút.

Ở Việt Nam những năm gần đây, vấn đề hạn chế HPTH cũng trở thành khuynh hướng chung trong cả hoạt động lập pháp và áp dụng luật hình sự, phù hợp với xu thế chung trên toàn thế giới. Điển hình, BLHS năm 1999 chỉ có 29 điều luật có quy định về HPTH, so với BLHS năm 1985 đã giảm từ 20% xuống còn 11%.

Trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2009, 8 tội phạm cụ thể khác tiếp tục được xóa bỏ HPTH. Từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm tại Việt Nam thời gian qua, theo TS. Hoàng Văn Hùng (Đại học Luật Hà Nội), tới đây có thể hạn chế hơn nữa HPTH đối với tất cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Ngoài ra, bên cạnh việc hạn chế HPTH, Việt Nam còn thay đổi hình thức thi hành án tử hình từ xử bắn sang tiêm thuốc độc, thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.

Hội thảo này là hoạt động đầu tiên theo thỏa thuận hợp tác được kí kết giữa Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học tài chính – chính pháp Trung Nam Vũ Hán Trung Quốc. Sự thành công của Hội thảo đã mở ra triển vọng hợp tác tốt đẹp giữa hai Trường cũng như hứa hẹn những thành công tiếp theo trong khuôn khổ Bản thỏa thuận hợp tác giữa hai bên./.

Hoàn Thiện Quy Định Về Hình Phạt Trong Pháp Luật Hình Sự Việt Nam Hiện Nay

Trải Qua Các Thời Kỳ, Pháp Luật Hình Sự Việt Nam Không Ngừng Đổi Mới, Hoàn Thiện Hệ Thống Hình Phạt Theo Hướng Ngày Càng Nhân Văn, Bảo Đảm Quyền Con Người, Quyền Công Dân, Phù Hợp Với Các Công Ước Quốc Tế Mà Việt Nam Là Thành Viên

Hình Phạt Tử Hình Quy Định Tại Bộ Luật Hình Sự Qua Các Thời Kỳ (Phần 2)

Tìm Hiểu Bộ Luật Hình Sự Qua Các Thời Kỳ Công Ty Tư Vấn Luật Dfc

Luật Hình Sự Việt Nam

Những Điều Cần Biết Về Luật Hình Sự Quốc Tế

Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự Có Hiệu Lực Từ 1

Những Điểm Mới Đáng Lưu Ý Của Bộ Luật Hình Sự Có Hiệu Lực Từ 2022

Bộ Luật Hình Sự Từ Năm 2022 Có Những Thay Đổi Gì?

Từ 0 Giờ Ngày 1/1/2018, Bộ Luật Hình Sự Năm 2022 Có Hiệu Lực: Tội Nào Bỏ, Tội Nào Thêm?

Luật Hình Sự Vn Phần Chung (Phạm Văn Beo)20

Khái niệm: Luật hình sự quốc tế là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh các vấn đề pháp lý trong hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm của cộng đồng quốc tế.

Trên thế giới có nhiều quan điểm về luật hình sự quốc tế , có người cho rằng luật hình sự quốc tế là một ngành luật độc lập, nhưng có người lại cho rằng luật hình sự quốc tế chỉ là một lĩnh vực của luật quốc tế. Nhưng dù thế nào, về bản chất, luật hình sự là sản phẩm tích hợp của hai lĩnh vực pháp lý khác nhau. Đó là phương diện hình sự của luật quốc tế và phương diện quốc tế của luật hình sự quốc gia.

Luật hình sự quốc tế là một lĩnh vực (bộ phận hợp thành) của luật quốc tế nhằm bảo vệ những lợi ích chung quan trọng của cộng đồng quốc tế thông qua việc quy định về tội phạm, hình phạt và những thiết chế tư pháp quốc tế đảm bảo, từ đó có thể bảo vệ tốt hơn hòa bình, an ninh thịnh vượng của thế giới.

Luật hình sự quốc tế quy định về những hành vi đặc biệt nguy hiểm gây hại và đe dọa hòa bình, an ninh và thịnh vượng của khu vực, thế giới, xâm phạm quyền con người_đó là tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Quy định về tố tụng hình sự như: các vấn đề về hình thức, thủ tục xét xử, cơ cấu, tổ chức, thẩm quyền xét xử của các tòa án.

Luật hình sự quốc tế có những điểm khác biệt so với luật hình sự quốc gia. Sự khác biệt này được thể hiện như: đối tượng điều chỉnh, các quy phạm luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án quyết hình sự , tính chất tội phạm và hình phạt.

– Nguyên tắc không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với các tội ác quốc tế ;

Tải Luật Thi Hành Án Hình Sự 2022

Luật Thi Hành Án Hình Sự 2022, Luật Số 41/2019/qh14 2022

Bộ Luật Hình Sự Năm 2022 Quy Định Như Thế Nào

Luật Thi Hành Án Hình Sự 2022

Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022 Đang Áp Dụng Năm 2022

Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Dẫn Độ Trong Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam

‘cách Mạng Dù’ Lại Bùng Nổ Ở Hồng Kông, Chống Luật Dẫn Độ Về Trung Quốc

Sự Thật Về Những Tin Đồn Xung Quanh “hiệp Định Dẫn Độ Việt

Trung Quốc Cảnh Báo Người Biểu Tình Sau Khi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ

Bàn Về “hiệp Định Dẫn Độ Việt

Tổng Hợp Văn Bản Hướng Dẫn Luật Doanh Nghiệp 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGÔ HỮU PHƯỚC

DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 62.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2012

2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

1. chúng tôi Võ Khánh Vinh

2. TS. Nguyễn Thị Phương Hoa

Phản biện 1: chúng tôi Nguyễn Ngọc Anh

Phản biện 2: chúng tôi Hoàng Thị Minh Sơn

Phản biện 3: TS. Võ Thị Kim Oanh

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí

Minh, số 02 Nguyễn Tất Thành, quận 4, TP. Hồ Chí Minh.

Vào hồi……….giờ………ngày……….tháng………..năm 2009

Có thể tìm hiểu luận án tại:

Thư viện Quốc gia

Thư viện Viện Nhà nước và pháp luật

3

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt

Nam nói riêng nhiều thành tựu và cơ hội to lớn để phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, toàn cầu hóa và hội nhập

kinh tế cũng phát sinh nhiều nguy cơ, thách thức lớn đối với các quốc gia như bất ổn chính trị, xung đột sắc tộc,

tôn giáo, tệ nạn xã hội… trong đó có tình hình tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày

càng gia tăng và diễn biến phức tạp, đe dọa đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như hòa bình và

an ninh quốc tế.

Theo thống kê của INTERPOL, hàng năm trên thế giới xảy ra hơn 700 vụ khủng bố, làm trên 7.000

người chết và khoảng 12.000 người bị thương. Các loại tội phạm hình sự nguy hiểm như giết người, cướp tài

sản, bắt cóc tống tiền, hoạt động băng nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng tăng tại hầu hết các

nước trên thế giới. Các tội phạm ma túy xuyên quốc gia, tội phạm buôn bán người, nhất là phụ nữ, trẻ em đã gây

ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tình hình hoạt động của các đường dây, tổ chức đưa người nhập cư bất hợp pháp

trên thế giới tiếp tục gây ra nhiều vấn đề phức tạp đối với an ninh, trật tự của nhiều quốc gia. Các tội phạm kinh

tế xuyên quốc gia ngày càng diễn biến phức tạp hơn cả về địa bàn hoạt động, cũng như tính chất và mức độ

nghiêm trọng…

Không ngoài xu thế chung của thế giới, sau khi gia nhập WTO và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền

kinh tế thế giới, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi để phát triển đất nước, Việt Nam cũng phải đối mặt với

nhiều nguy cơ và thách thức lớn đối với nền kinh tế, văn hóa, xã hội, chủ quyền và an ninh quốc gia trong đó có

tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp.

Theo báo cáo tổng quan về tình hình tội phạm ở Việt Nam của Tổng cục Cảnh sát cho thấy, mỗi năm ở

nước ta xảy ra khoảng 82.555 vụ phạm tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trong đó có 57.415 vụ phạm tội về

hình sự, 14.139 vụ phạm tội về kinh tế, 11.001 vụ phạm tội về ma túy… Trung bình mỗi ngày xảy ra khoảng 227

vụ, mỗi giờ xảy ra 9,5 vụ… Hiện nay, ở Việt Nam đã hình thành các đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em từ Việt

Nam sang các nước trong khu vực, thậm chí đến các nước Châu Âu, Châu Phi. Ở Việt Nam đã xuất hiện một số

băng nhóm tội phạm gốc Hoa cấu kết với các băng nhóm tội phạm trong nước để hoạt động phạm tội như bảo

kê, cướp tài sản, giết người… Các hoạt động buôn lậu ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra

nước ngoài diễn biến hết sức phức tạp, đã xuất hiện ngày càng nhiều đường dây buôn bán vận chuyển các chất

ma túy xuyên quốc gia, chủ yếu là hê-rô-in, các loại ma túy tổng hợp, cần sa với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh

vi.

Bên cạnh đó, hàng năm có hàng triệu lượt người nước ngoài và kiều bào Việt Nam (trong tổng số hơn 04

triệu người đang định cư trên 103 quốc gia và vùng lãnh thổ) nhập cảnh vào Việt Nam để thăm thân nhân, đầu

tư, kinh doanh, du lịch… Trong số đó có nhiều phần tử lợi dụng cơ hội đến Việt Nam để thực hiện tội phạm. Do

vậy, tình hình người nước ngoài và người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi trốn vào Việt Nam và phạm tội ở

Việt Nam rồi trốn ra nước ngoài trong thời gian qua có xu hướng gia tăng.

Trước diễn biến tình hình tội phạm trong nước và thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi các

quốc gia phải tăng cường liên kết, hợp tác đồng bộ và toàn diện bằng tất cả các biện pháp chính trị, pháp luật,

kinh tế, an ninh… từ bình diện khu vực, liên khu vực và toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,

4

chống tội phạm. Trong đó, dẫn độ là biện pháp tất yếu khách quan và hiệu quả nhất để các quốc gia truy cứu

trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội ở quốc gia này nhưng đang lẩn trốn tại quốc

gia khác.

Tuy nhiên, về phương diện khoa học pháp lý, dẫn độ là vấn đề còn rất mới ở Việt Nam nên chưa có

nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện. Mặt khác, hoạt động đàm phán, ký kết ĐƯQT về dẫn độ

và thực tiễn dẫn độ ở Việt Nam từ trước đến nay cũng chưa được nghiên cứu và tổng kết. Do đó, việc áp dụng

ĐƯQT có quy định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam gặp nhiều khó khăn,

vướng mắc, hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả dẫn độ ở

Việt Nam thì tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn về dẫn độ là yêu cầu cấp thiết và có

tính thời sự rất lớn trong giai đoạn hiện nay.

Xuất phát từ nhận thức và thực trạng nói trên, tác giả chọn đề tài: “DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM” làm Luận án Tiến sĩ Luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Dẫn độ là một hình thức hợp tác quốc tế được điều chỉnh đồng thời bởi pháp luật quốc tế (các ĐƯQT có

quy định về dẫn độ và các ĐƯQT về quyền con người) và pháp luật quốc gia (Luật Dẫn độ, Luật Tố tụng hình

sự, Luật Tương trợ tư pháp… ). Do vậy, từ trước đến nay trong lĩnh vực khoa học pháp lý ở Việt Nam và nước

ngoài, vấn đề dẫn độ có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của Luật Quốc tế, Luật Hình sự quốc

tế, Luật Quốc tế về quyền con người và dẫn độ cũng có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của

pháp luật quốc gia, thuộc chuyên ngành khoa học pháp lý về hình sự, tố tụng hình sự và tương trợ tư pháp.

Trên bình diện quốc tế, từ cuối thế kỷ thứ XIX đến nay, ở Châu Âu đã có rất nhiều công trình nghiên

cứu về độc lập về dẫn độ hoặc nghiên cứu về luật hình sự quốc tế, luật quốc tế về quyền con người có đề cập đến

dẫn độ của các tác giả có uy tín lớn trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Tiêu biểu là các công trình đã được xuất

bản thành giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí khoa học pháp lý của

các tác giả như: Nhóm này bao gồm các công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được xuất bản thành giáo trình, sách

tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí khoa học pháp lý của các tác giả như: Edmond

Poullet, (1867), “Luật hình sự cổ của Duché Brabant”, Bruxelles, M.Hayer, Viện Hàn lâm Vương quốc Bỉ;

Louis Renault (1879),”Nghiên cứu về dẫn độ giữa Pháp và Anh”,Nhà xuất bản A.Cotillon; André

(1880),”Nghiên cứu về các điều kiện dẫn độ”, Nhà xuất bản L.Larose; Maurice Violet (1898),”Thủ tục dẫn độ,

đặc biệt tại lãnh thổ nước tị nạn”, Nhà xuất bản Giard & Brière; Charles Soldan (1882),”Dẫn độ tội phạm chính

trị”, Nhà xuất bản Thorin; Maulineau (1879),”Hậu quả pháp lý của dẫn độ”, Nhà xuất bản chúng tôi Blanc-Hardel;

Paul Bernard (1890),”Lý luận và thực tiễn dẫn độ”, tái bản lần 2, Nhà xuất bản Duchemin; Viện Luật quốc tế

(1923),”Tuyển tập các vụ việc của Tòa án”; Ivan Anthony Shearer (1971),”Dẫn độ trong luật quốc tế”, Nhà

xuất bản Manchester University Press Dobbs Ferry, N.Y, Oceana Publications Kalfat (1987),”Áp dụng các

ĐƯQT và pháp luật quốc gia trong dẫn độ bị động”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật hình sự, Đại

học Paris 2; Ducel (André) (1988),”Nghiên cứu so sánh thực tiễn dẫn độ của Pháp với các nước Anh – Mỹ”,

luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I; Henry (F.), Ép. Ringel (1988),”Tội

phạm chính trị trong pháp luật về dẫn độ”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học AixMarseille; Ingeade (1988),”Chế độ pháp lý của dẫn độ trong khuôn khổ của Hội đồng Châu Âu”, luận án Tiến sĩ

Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I; Loued, Mohamed Naceur (1989),”Thủ tục dẫn độ bị

5

động trong pháp luật hiện đại của Pháp”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành tố tụng hình sự, Đại học Khoa

học xã hội Toulouse; Zari (Anna), (1991),”Nguyên tắc đặc biệt trong dẫn độ nhìn từ góc độ quyền con người”,

luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Paris I; André VITU (1992), “Ám sát chính trị

trong luật quốc tế và dẫn độ”, Nhà xuất bản Gazette Palais; Adrien Masset và Anne Sophie Massa (2007), “Dẫn

độ”, Tạp chí Khoa học về tội phạm, Đại học Liège, Vương quốc Bỉ; Ủy ban Châu Âu về vấn đề tội phạm

(CDPC) và Ủy ban chuyên gia về thực thi các Công ước của Châu Âu trong lĩnh vực hình sự (2003),”Công ước

Châu Âu về dẫn độ – Hướng dẫn và thủ tục”; Gilbert. G (1991),”Luật dẫn độ và vấn đề quyền con người”, Nhà

xuất bản Martimes Nijhoff; Claudin DIB (2008),”Dẫn độ và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và các giải pháp

khả dĩ tại Canada”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Québec, Montréal, Canada

Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ XX đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ,

về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, về hợp tác tương trợ tư pháp quốc tế nói chung và

hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng đã được công bố trong các cuốn sách chuyên khảo, tham khảo

hoặc đã được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành khoa học pháp lý tiêu biểu là công trình của các tác giả:

Nguyễn Ngọc Anh (2000),”Hoạt động dẫn độ tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các

nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5; Dương Tuyết Miên (2006),”Vấn đề dẫn độ tội phạm “, Tạp chí

TAND số 10 (5); Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công (2006), “Dẫn độ những vấn đề lý

luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Đào Thị Hà (2006),”Vấn đề dẫn độ trong pháp luật

Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thủy (2007),”Một số

vấn đề về dẫn độ tội phạm”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Xuân Yêm (2000), “Dẫn độ tội phạm, tương

trợ pháp lý về hình sự và chuyển giao phạm nhân quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm”, Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Yêm (2000),”Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong

đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam”, Tạp chí TAND số 1 (1); Nguyễn Thị Mai Nga (2007),”Dẫn độ

tội phạm và hoạt động tương trợ tư pháp của Viện Kiểm sát trong giải quyết các vụ án ma túy có yếu tố nước

ngoài”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Anh Dũng (2007), Hợp tác quốc tế đấu tranh

phòng, chống tội phạm của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn

Ngọc Anh, Nguyễn Quốc Cường (2008),”Hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự trong bối cảnh hội nhập kinh tế

quốc tế”, Tạp chí TAND số 2 (1); Chử Văn Dũng (2008),”Hoạt động INTERPOL trong thực hiện tương trợ tư

pháp hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân; Đại học

Cảnh sát nhân dân (2009),”Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài

của lực lượng cảnh sát nhân dân – Lý luận và thực tiễn”, đề tài nghiên cứu khoa cấp bộ, mã số: BX-2008-T4823; Nguyễn Giang Nam (2011),”Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm trong điều tra tội

phạm có yếu tố nước ngoài”, luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân…

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế về dẫn độ như đã đề cập ở trên chúng tôi

thấy rằng, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài đã rất thành công trong việc

nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật quốc gia cũng

như thực tiễn ký kết, gia nhập, thực hiện ĐƯQT và pháp luật về dẫn độ của một số quốc gia trên thế giới và Việt

Nam. Kết quả của các công trình nghiên cứu về dẫn độ trong nước và nước ngoài đã đóng góp rất to lớn trong

việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện chế định dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn

còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về dẫn độ cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện như: Khái niệm, đặc

Thẩm Quyền Xét Xử Và Việc Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Khái Quát Về Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Mỹ Công Khai Ủng Hộ Biểu Tình Hong Kong, Lên Án Sửa Đổi Dự Luật Dẫn Độ

Mỹ Ủng Hộ Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ

Hồng Kông: Hơn 1 Triệu Người Dân Xuống Đường Biểu Tình Phản Đối Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc

Vụ Án Trịnh Xuân Thanh Và Việc Dẫn Độ Quốc Tế

Các Loại Mẫu Giấy Tờ Trong Công Tác Dẫn Độ, Chuyển Giao Người Đang Chấp Hành Án Phạt Tù

Hoàn Thuế Đối Với Các Trường Hợp Nộp Thừa Tiền Thuế

Mẫu Đơn Xin Rút Hồ Sơ Hoàn Thuế

Điều Kiện Và Thủ Tục Được Hoàn Thuế Giá Trị Gia Tăng

Làm Rõ Hồ Sơ Mời Thầu, Hồ Sơ Yêu Cầu

(2) Các điều ước quốc tế song phương và đa phương về tương trợ tư pháp (HĐTTTP) về hình sự và dẫn độ. Loại ĐƯQT này cũng được ký kết khá nhiều như HĐTTTP về hình sự và dẫn độ giữa Vương quốc Bỉ và Cộng hòa Liên bang Đức năm 1958; HĐTTTP về hình sự và dẫn độ giữa Vương quốc Bỉ và Ma Rốc năm 1959; Hiệp ước đa phương về TTTP và dẫn độ giữa Vương quốc Bỉ, Vương quốc Hà Lan và Luxembourg năm 1962 (Hiệp ước Benelux 1962)…

(3) Các điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề về dân sự và hình sự có nội dung dẫn độ như: HĐTTTP giữa Việt Nam với CHDC Đức năm 1980 (đã hết hiệu lực), Liên Xô năm 1981 (đã hết hiệu lực), Tiệp Khắc năm 1982 (Séc và Slovakia kế thừa), Cu Ba năm 1984, Hunggari năm 1985, Bungari năm 1986, Ba Lan năm 1993, Lào năm 1998, Liên bang Nga năm 1998, Ucraina năm 2000, Belarusia năm 2000, Mông Cổ năm 2000, CHDCND Triều Tiên năm 2002.

(4) Các điều ước quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm có quy định nội dung dẫn độ như: 03 Công ước về kiểm soát ma túy (1961, 1971, 1988); 03 Công ước về đấu tranh phòng, chống khủng bố hàng không quốc tế (Công ước Tokyo 1963, Công ước La Haye 1970, Công ước Montréal 1971; Công ước của Châu Âu về trừng trị khủng bố năm 1977; Công ước của ASEAN về chống khủng bố năm 2007…

Tuy nhiên, các nước cũng có thể hợp tác dẫn độ cho nhau bằng cách vận dụng nguyên tắc “có đi có lại” trong trường hợp hai nước không có cơ sở pháp lý quốc tế để dẫn độ.

Để thực hiện việc dẫn độ cho nước ngoài, các nước thường ban hành Luật Dẫn độ như Bỉ, Pháp, Thái Lan, Nhật Bản, Israel, Thụy Điển, Irlande, Shíp, Phần Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Canada, Úc, Liên Hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len, Singapo, Philippines, Malaysia, Trung Quốc…) hoặc quy định việc dẫn độ trong Luật Tố tụng hình sự như Liên Bang Nga, Italia, Cộng hòa Séc, Bungari, Lào…, hoặc quy định định việc dẫn độ Luật Tương trợ tư pháp như Thụy Sỹ, Hunggari, Liên bang Đức… Ở Việt Nam, dẫn độ được quy định trong BLTTHS (năm 2003, năm 2022) và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Pháp luật quốc gia về dẫn độ sẽ quy định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục, thẩm quyền và cơ chế phối hợp thực hiện việc dẫn độ cho nước ngoài.

Về thủ tục, việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy trình trình gồm 3 bước.

Bước 1: Xây dựng và chuyển giao văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ. Căn cứ ĐƯQT và pháp luật quốc gia về dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu sẽ chuyển giao văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho nước được yêu cầu. Căn cứ vào văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu sẽ thực hiện các thủ tục pháp lý để dẫn độ theo quy định của ĐƯQT và pháp luật quốc gia. Trong trường hợp khẩn cấp, nước yêu cầu cũng có thể yêu cầu nước được yêu cầu bắt khẩn cấp người bị yêu cầu dẫn độ trước khi chuyển giao văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức.

Văn bản yêu cầu dẫn độ phải bao gồm các thông tin cụ thể về ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản; lý do yêu cầu dẫn độ; tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu dẫn độ; tên, địa chỉ của cơ quan được yêu cầu dẫn độ; họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, nơi cư trú và các thông tin cần thiết khác về người bị yêu cầu dẫn độ và các tài liệu khác như văn bản tóm tắt vụ án; văn bản quy định về các yếu tố cấu thành tội phạm, hình phạt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với tội phạm đó.

Nếu yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải kèm theo bản sao lệnh bắt hoặc giam giữ của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ; văn bản xác nhận người bị dẫn độ là người được nêu trong lệnh bắt hay giam giữ; văn bản về cấu thành tội phạm bị yêu cầu dẫn độ. Nếu yêu cầu dẫn độ để thi hành án phải kèm theo bản sao bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử; văn bản xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ chính là người đã bị kết án. Hồ sơ, văn bản yêu cầu dẫn độ phải được dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu hoặc ngôn ngữ khác được nước đó chấp nhận.

Các ĐƯQT và pháp luật quốc gia về dẫn độ thường quy định việc chuyển giao, tiếp nhận văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ sẽ được thực hiện bởi các cơ quan trung ương của hai bên như Bộ Công an (Việt Nam); Bộ Tư Pháp (Cộng hòa Séc, Xlovakia, Cu Ba, Hunggari, Ba Lan, Mông Cổ, Liên bang Nga… ); Viện Kiểm sát trung ương (Bungari, Triều Tiên), hoặc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (Lào).

Nghi Phạm Gi.ế.t Người Bỏ X.ác Vào Vali Có Bị Dẫn Độ Về Hàn Quốc?

Phiếu Yêu Cầu Sửa Chữa Ô Tô

Việc Giải Thích, Sửa Chữa Bản Án, Quyết Định Hình Sự Của Tòa Án

Mẫu Thông Báo Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Thuê Nhà

Trao Đổi Về Thời Điểm Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Dịch Vụ