Đọc Hiểu Văn Bản Bài Qua Đèo Ngang / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang

Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)

Nêu Ý Nghĩa Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN TÌM HIỂU KHÁI NIỆM – Thơ Đường luật

Còn gọi là thơ cận thể. Thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ đời Đường ở Trung Quốc. Có ba dạng chính : Thơ bát cú (mỗi bài tám câu), thơ tứ tuyệt (mỗi bài bốn câu) và thơ bài luật (dạng kéo dài của thơ Đường luật), trong đó thơ bát cú, nhất là thất ngôn bát cú (mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ), được coi là dạng cơ bản vì từ nó, có thể suy ra các dạng khác. Về bố cục, một bài bát cú gồm 4 phần : đề, thực, luận, kết. Trong đề, câu thứ nhất là phá đề, câu thứ hai là thừa đề. Phá đề mở ý của đầu bài ra, thừa đề tiếp ý của phá đề chuyên vào thân bài. Thực (câu 3 và 4) còn gọi là trích thực hay cập trạng, giải thích rõ ý của đầu bài. Luận (câu 5 và 6) phát triển rộng ý của đầu bài. Kết (hai câu cuối) kết thúc ý toàn bài. Cách chia thành 4 phần như vậy cũng như việc quy định rõ nhiệm vụ cho từng phần càng về sau càng chặt. Các nhà thơ có tài năng thường không để cho bố cục nói trên gò bó. Về luật bằng trắc, buộc phải theo sự quy định về thanh bằng thanh trắc trong từng câu và trong cả bài. Hệ thống này được tính từ chữ thứ hai của câu thứ nhất. Nếu chữ này thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng (và ngược lại). Sự sắp xếp âm thanh chẳng qua chỉ làm cho điệu thơ không đơn điệu. Muốn vậy trong mỗi câu, các cặp bằng trắc lần lượt thay nhau trong mỗi cặp câu (còn gọi là liên), các chữ tương ứng của câu số lẻ và số chẵn phải có thanh ngược nhau (trừ chữ thứ năm và thứ bảy trong liên đầu) ; nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi của liên dưới, muốn vậy chữ thứ hai của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh với chữ thứ hai của câu lẻ thuộc liên dưới (sự giống nhau đó gợi là niêm vì làm cho hai câu thuộc hai liên dính vào nhau). Ví dụ : công thức bốn câu đầu của một bài thơ luật bằng :

Trên thực tế, ít người theo đúng hoàn toàn công thức, do đó sinh ra lệ bất luận : chữ thứ nhất của câu hoàn toàn bất luận (bằng trắc đều được) ; chữ thứ năm nói chung ngược thanh với chữ thứ bảy, song cũng có thể bất luận ; riêng chữ thứ ba, nếu là bằng thì không nên đổi thành trắc, nhất là ở câu có vần. Về cách đối : đôi ở phần thực và luận. Các chữ đối nhau về nguyên tắc phải cùng từ loại. Các nhà thơ thường thích dùng các kiểu đối khác nhau để giảm tính chất gò bó như đối lưu thuỷ (hơi thơ cũng như ý của câu thứ hai là do câu thứ nhất trượt xuống, không thể đứng một mình), tá đối (mượn âm hoặc nghĩa một từ khác để đối), điệu đối (chủ yếu là đối về âm điệu), tự đối (đối trong nội bộ một câu), khoan đối (đối không thật chỉnh)… về cách gieo vần : chỉ gieo một vần và chỉ gieo vần bằng (ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8). Riêng chữ cuối câu thứ nhất, đặc biệt là ở thơ ngũ ngôn, có thể không gieo vần.

Trong quá trình sử dụng, các nhà thơ đã sáng tạo thêm nhiều biệt thể mới của thơ Đường luật như tiệt hạ (ý, lời của mỗi câu thơ đều lơ lửng), yết hậu (thơ tứ tuyệt mà câu cuối chỉ có một vài chữ), thủ vĩ ngâm (câu một giống câu tám),… Nhiều nhà thơ Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến đã sử dụng thể thơ Đường luật để viết nhiều bài thơ có giá trị và trong quá trình sử dụng, đã dân tộc hoá thể thơ này về nhiều phương diện. Do tính chất gò bó về hình thức, từ lâu, đối với số đông người làm thơ, thơ Đường luật khó diễn đạt được đầy đủ, sinh động tình cảm của con người hiện đại. Tuy vậy, thơ Đường luật thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện trên một số lĩnh vực và ở một số trường hợp nhất định trong cuộc sống văn hoá của nhân dân ta.

(Nguyễn Khắc Phi/ Từ điển văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984)

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

Ở bài thơ này bà Huyện chỉ nói tâm tư của mình.

Đèo Ngang là một cảnh được nhiều người ngâm vịnh. Vì vị trí lịch sử (vùng giáp ranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong suốt hai thế kỉ) đã đành, còn là vì cảnh trí thiên nhiên ngoạn mục : đứng trên đỉnh nhìn quanh, đông là biển xanh thăm thẳm, sóng tung bọt trắng vào chân núi, tây là núi biếc trùng trùng, bắc nam là vùng cận sơn, đất sỏi một màu đỏ thẫm. Đường ô tô nay còn quanh co, khuất khúc, huống gì hồi xưa. Tột đỉnh, ngày đó là cửa quan đỏ chót ba chữ Hoành Sơn Quan.

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Bà đến đây vào lúc bóng chiều đã ngả, không chỉ xế mà xế tà. Thời điểm ấy không còn là thời điểm cho vui tươi, rạng rỡ mà đã xiêu xiêu về phía hoài niệm, mơ màng, cảnh vẫn ra vẻ tươi : cỏ cây chen giữa đá, lá chen giữa hoa (có thể hiểu : đá chen giữa cỏ cây, hoa chen giữa lá). Nhưng sao lại không vui, mà lại gây ấn tượng chen lấn, giành giật, tranh lấy một không gian sống ? Tịnh không mảy may chào đón, hớn hở gặp được một nhà thơ lại là một bà quan. Cỏ cây, đá, lá, hoa cứ làm việc của nó, chang biết gì đến người khách quý.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mây nhà.

Cỏ cây, hoa đá còn giành giật nhau đất sống, hỏi con người sẽ ra sao ? Rõ là tội nghiệp : Lân với cổ đá, tiều chỉ vài chú lẻ loi, thân hình lom khom như bị núi đè xuống dưới nhỏ nhoi, xa lơ dưới vực sâu. Còn chợ thì tận bên sông (có thể hồi đó, sông Roòn đang còn ở gần núi, từ Đèo có thể nhìn thấy chợ bên sông?), xa tít xa mù, lẽ ra đông nhà đông người, thì chỉ có lác đác mỗi nơi một vài nhà ! Dưới núi, bên sông sao nghe xa xôi thế ! cỏ đá thì giành nhau chỗ sinh tồn vì quá đông, thiên nhiên quá rậm rạp, còn con người thì sao mà thưa thớt, bé nhỏ, hắt hiu vậy ? cảm giác không gian sao mà mênh mông, trông vắng !

Cảnh hiện thực khách quan đó chăng? Hay là cảnh tâm trạng ? Đến hai câu luận mới rõ dần :

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Ít nhất đây cũng là tâm trạng con người bé nhỏ đối diện với thiên nhiên bao la. Cũng cần biết một chút điển tích : chim cuốc được lưu truyền là hồn vua Thục Đế mất nước nên đau lòng gào kêu mãi quốc quốc. Con đa đa (chữ Hán gọi là gia gia) nhắc tích Bá Di, Thúc Tề, bề tôi nhà Thương, thà chết đói chứ không chịu sống với nhà Chu (triều đại đã diệt nhà Thương) và ăn thóc nhà Chu ; nó là hoá thân của hai vị ấy nên nó luôn kêu “bất thực cốc Chu gia” (dân gian nhại là “bắt con tép kho cà”) tức không ăn thóc nhà Chu ; nhưng gia gia thì nhắc đến nhà.

Bỗng dưng nhắc đến nước, đến nhà chắc không phải không có căn cớ.

Bà Nguyễn Thị Hinh, người Đàng Ngoài, thuộc Lê Trịnh ; nay đã là triều Nguyễn, con cháu chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nói như xưa, mệnh thời thế là đã chuyên về họ Nguyễn. Tuy vậy, trong tâm tư thế hệ bà, người đất Bắc không khỏi không ngầm lắng một niềm luyến tiếc nhà Lê, tiếc thương thời cũ. Gia đình bà lại ở Hà Nội. Thăng Long xưa nay đã thay đổi và đã mất dần dấu tích xưa. Nay bà lại vào kinh, một nơi lạ nước lạ nhà, một mình ngàn dặm. Phụ nữ xưa kia mấy khi xa nhà. Nhớ cảnh cũ người xưa, nghĩ nước nhớ nhà, tâm trạng ấy, càng đi xa vào Nam càng nặng, và qua Đèo Ngang là như bước qua vùng đất Đàng Trong, chốn lạ. Cho dù đau lòng bên trong và mỏi miệng bên ngoài, mỗi bên có thể nặng nhẹ khác nhau, nhưng nhớ nước và thương nhà đều một mực tha thiết. Cặp phạm trù nước nhà này có gốc rất sâu trong lòng Việt Nam. Chạm tới nó là khơi động bao nỗi niềm thiết tha, gắn bó của con người với nước và nhà, nước chung và nhà riêng nhưng nhuyễn quánh làm một. Nhớ nước đã đau, thương nhà đã mỏi. Thương nhà đã thêm chiều sâu ở nhớ nước. Nhớ thương như thế không còn là nhớ thương bình thường của riêng một người. Đó là một nỗi nhớ thương có tính cách lịch sử.

Mượn tiếng kêu của hai con chim mà gợi đến nỗi niềm ấy trong lòng, kì thực là từ cảnh trước mắt quay về cảnh đã qua, từ hiện tại trở về quá khứ. Quốc quốc, gia gia trở thành những sinh vật của thời nào, nơi nào, không phải của thời điểm này, không gian này. Nó có đấy mà như không có đấy. Nó mơ hồ, huyền hoặc như nó là hiện thân của tấm lòng người khách đi đường lẻ loi, nhiều tâm sự. Hai cầu thơ như hai tiếng vọng của xa xôi thời gian và mờ mịt không gian, mường tượng như hai tiếng than thương tự đáy lòng.

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Đúng là vậy. Trước cảnh trời, non, nước ở Đèo Ngang, non trùng điệp, nước mênh mông, trước cái vô cùng của trời đất, cảnh bể dâu của cuộc đời, con người thấy bé nhỏ tội nghiệp bao nhiêu ! Thêm cái tâm trạng ngổn ngang nhiều suy cảm, con người càng thấy mình cô đơn. Cho nên, quay lại, chỉ có mình với mình, với mảnh tình riêng của mình, đơn lẻ, nhỏ nhoi. Sáu câu thơ là một sự trống vắng mênh mông.

Ta có cảm tưởng bài thơ tả cảnh mà không tả cảnh, chỉ mượn cảnh để tả tâm trạng một người nhưng cũng không phải tâm trạng một người. Nó là một tiếng nói của lịch sử, một chứng tích lịch sử, một đoạn đau thương trong trường khúc đau thương của non nước Việt Nam ở giai đoạn lịch sử có tính bi kịch này. Cái bóng xế tà của nhà thơ không chỉ chiếu nghiêng xuống bài thơ mà còn ngả dài xuống lịch sử, xuống số phận nhân dân ta và đất nước ta dưới triều Nguyễn. Bài thơ của một khoảnh khắc mà ai hay lại là một dự báo cho lâu dài.

(Theo Lê Trí Viễn, Sđd)

VĂN BẢN ĐỌC THÊM

QUA ĐÈO NGANG

Bãi thẳm, ngần xa, cảnh vắng teo

Đèo Ngang lợi bể nước trong veo

Thà là cúi xuống cây đòi sụt

Xô xát trông lên sóng muốn trèo

Lảnh chảnh đầu mầm chim vững tổ

Lanh đanh cuối vụng cá ngong triều

Cuộc cờ kim cổ chừng bao nả

Non nước trông qua vẫn bấy nhiêu.

(Lê Thánh Tông)

* Gợi dẫn

Hãy phân tích điểm giống và khác nhau giữa bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan và của Lê Thánh Tông.

Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn

Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7

Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Qua Đèo Ngang

Bài Soạn Môn Ngữ Văn 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Gọn

Phân Tích Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Của Bà Huyện Thanh Quan

Thuyết Minh Về Thể Thơ Thất Ngôn Bát Cú

3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Đèo Ngang thuộc dãy núi Hoành Sơn, phân cách địa giới hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Là một địa danh nổi tiếng trên đất nước ta. Đã có nhiều thi nhân làm thơ vịnh Đèo Ngang như: Cao Bá Quát có bài Đăng Hoành Sơn, Nguyễn Khuyến có bài Qua Hoành Sơn… Nhưng tiêu biểu, được nhiều người biết và yêu thích nhất vẫn là bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan. Hôm nay chúng ta cùng đi tìm hiểu cái hay của bài thơ này.

– Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh. Quê ở Hà Nội, sống vào khoảng cuối thể kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

– Là một trong 3 nữ sĩ nổi tiếng của thơ ca trung đại Việt Nam mang đậm phong cách hoài cổ.

– Bà là người nổi tiếng hay chữ vì là con một ông Đốc học danh tiếng, nên được nhà vua mời vào kinh giữ chức Cung Trung giáo tập để dạy các phi tần và các vị công chúa.

– Chồng bà là quan tri huyện của huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình, nên mọi người gọi là là Bà Huyện Thanh Quan.

– Thơ của bà thường viết về thiên nhiên, phần lớn vào lúc xế chiều, gợi lên cảm giác vắng lặng, buồn buồn. Cảnh trong thơ bà giống như bức tranh thủy mặc, chấm phá, diễn tả bằng nghệ thuật ước lệ. Tả cảnh để gửi gắm tình cảm nhớ thương da diết đối với quá khứ vàng son một đi chưa trở lại. Đó là cái bài thơ hoài cổ, hoài thương rất điển hình. Đối với bà cái đẹp là dĩ vãng. Hiện tại vắng vẻ, quạnh hiu, chỉ là cái bóng mờ mờ của dĩ vãng mà thôi.

– Bà sáng tác không nhiều, hầu hết viết bằng chữ Nôm, theo thể Đường luật: Thăng Long thành hoài cổ; Qua chùa Trấn Bắc; Chiều hôm nhớ nhà; Nhớ nhà; Tức cảnh chiều thu; Cảnh đền Trấn Võ; Cảnh Hương Sơn.

Dưới thời vua Minh Mạng, bà được vời vào kinh đô Huế, giữ chức Cung Trung Giáo Tập (Nữ quan dạy nghi lễ) để dạy nghi lễ cho các công chúa và cung phi. Trên đường đi vào Huế nhận chức, khi dừng chân nghỉ tại Đèo Ngang bà đã viết nên thi phẩm tuyệt tác này.

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật: Mỗi bài có 8 câu, mỗi câu có 7 chữ. Chỉ có một vần được gieo ở cuối câu thơ và hiệp vần với nhau với nhau ở các câu: 1,2,4,6,8

– Phần 1: 4 câu thơ đầu: Khung cảnh Đèo Ngang buổi chiều tà.

– Phần 2: 4 câu cuối: Tâm trạng của nữ sĩ khi dừng chân tại Đèo Ngang.

– Cảnh hoang vu, vắng vẻ lúc chiều tà:

– Từ láy gợi hình: lom khom, lác đác gợi tả hình dáng vất vả, nhỏ nhoi, thưa thớt của người và vật.

– Dùng lượng từ: vài, mấy chỉ sự ít ỏi.

– Đảo trật tự cú pháp: nhấn mạnh sự sống và hoạt động của con người ở đèo Ngang.

– Nữ thi sĩ đã sử dụng một thủ pháp nghệ thuật rất quen thuộc trong thơ cổ đó là biện pháp: Tả cảnh ngụ tình.

– Sự xuất hiện âm thanh của tiếng chim quốc và tiếng chim đa đa tạo nên một nét động trong bức tranh đèo Ngang.

– Nghệ thuật ẩn dụ, chơi chữ: mượn tiếng chim để bày tỏ lòng người có tác dụng:

+ Làm nổi bật hai trạng thái cảm xúc của người con xa xứ.

+ Diễn tả tâm trạng nhớ quê nhà, nhớ nước

+ Tạo nhạc điệu cân đối cho lời thơ.

– Câu thơ: “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước gợi một không gian mênh mông, bao la, bát ngát mà xa lạ.

– Trong bối cảnh không gian đó, con người sẽ cảm thấy mình cô đơn, lẻ loi, rợn ngợp.

– Cụm từ “tình riêng ta với ta” có ý nghĩa:

+ Tình riêng: tâm sự sâu kín, chỉ một mình mình biết, mình hay.

+ Ta với ta: mình đối diện với chính mình.

– Giọng thơ với âm hưởng, nhịp điệu như một tiếng thở dài, ngậm ngùi, nuối tiếc.

– Điệp từ “ta” được sử dụng ở ngôi thứ nhất số ít. Hai từ mà lại chỉ một con người để cực tả nỗi buồn thầm lặng cô đơn đến tột cùng của người lữ thứ.

– Thể hiện tâm trạng cô đơn thầm lặng, nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ trước cảnh vật Đèo Ngang.

– Qua Đèo Ngang là một bài thơ xuất sắc, thể hiện tài năng và tấm lòng yêu mến non sông, đất nước của nữ sĩ.

– Khung cảnh đèo Ngang trong buổi chiều tà hùng vĩ nhưng hoang sơ, buồn, tiêu điều, xơ xác. Nỗi buồn cô đơn, sâu thẳm mang nặng nỗi sầu nhân thế mà không thể chia sẻ cùng ai của nhà thơ.

– Sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình.

– Sáng tạo trong việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật khác: phép đối xứng, đảo trật tự cú pháp, chơi chữ, tương phản, giọng hơ, từ láy, từ đồng âm khác nghĩa, gợi hình, gợi cảm.

– Sử dụng nghệ thuật đối hiệu quả.

– Thể thơ Đường luật sang trọng được sử dụng điêu luyện.

Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 29

Giáo Án Bài Qua Đèo Ngang

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan

Bài Thơ: Qua Đèo Ngang

Bài Thơ: Qua Đèo Ngang

Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Giáo Án Bài Qua Đèo Ngang

Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 29

Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Qua Đèo Ngang

-Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, chưa rõ năm sinh, năm mất

-Quê quán: làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội

-Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh), tỉnh Thái Bình, do đó mà có tên gọi Bà Huyện Thanh Quan

-Bà là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật.

-Thơ bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay. Tác phẩm nào của bà cũng buồn thương da diết, trang nhã và rất điêu luyện

1. Hoàn cảnh ra đời

Bài thơ được sáng tác khi bà từ trên đường từ Bắc Hà vào Huế nhận chức “Cung Trung giáo tập”

2. Bố cục (4 phần )

-Phần 1 (hai câu đề): Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

-Phần 2 (hai câu thực): Cuộc sống của con người ở Đèo Ngang

-Phần 3 (hai câu luận): Tâm trạng của tác giả

-Phần 3 (hai câu kết): Nỗi cô đơn đến tột cùng của tác giả

3. Giá trị nội dung

bài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả

4. Giá trị nghệ thuật

-Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

-Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

-Sử dụng từ láy gợi hình gợi cảm và nghệ thuật đối lập, đảo ngữ

I. Mở bài

-Giới thiệu về tác giả Bà Huyện Thanh Quan (tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, đặc điểm sáng tác…)

-Giới thiệu về bài thơ “Qua Đèo Ngang” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

II. Thân bài

1.Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

-Thời gian: xế chiều – thời điểm dễ gợi nên nỗi buồn cô đơn, sự trống vắng

-Không gian: Đèo Ngang – một con đèo hùng vĩ, phân chia hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, là ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài ngày xưa

-Cảnh vật:

+Các sự vật: cỏ cây, lá, đá, hoa

+Động từ: chen – lẫn vào nhau, không ra hàng ra lối, động từ “chen” chen vào giữa hai câu thơ gợi cảnh tượng rậm rạp, hoang sơ

⇒Cảnh vật đầy sức sống nhưng hoang sơ, rậm rạp và hắt hiu

2.Cuộc sống con người ở Đèo Ngang

-Sử dụng từ láy có giá trị gợi hình: lom khom, lác đác – gợi cảm giác thưa thợt, ít ỏi

-Nghệ thuật đảo ngữ:

+Lom khom … tiều vài chú

+Lác đác … chợ mấy nhà

⇒Nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi, nhỏ nhoi của sự sống ở giữa cảnh vật thiên nhiên rộng lớn, hoang sơ

⇒Hình ảnh con người hiện lên thưa thớt, ít ỏi làm cho cảnh vật thêm hoang vắng, tiêu điềi. Qua đó, gợi cảm giác buồn hiu, vắng lặng của tác giả

3.Tâm trạng của tác giả

-Âm thanh của chim quốc quốc, gia gia: nghệ thuật lấy động tả tĩnh, chơi chữ. Tiếng chim quốc, chim gia gia nhớ nước, thương nhà cũng chính là tiếng lòng của tác giả thiết tha, da diết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước

-Câu thơ như một tiếng thở dài của tác giả

⇒Tâm trạng nhớ nước, nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Đó cũng chính là tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ

4.Nỗi cô đơn tột cùng của tác giả

-Con người nhỏ bé, lẻ loi, cô đơn, một mình đối diện với cả vũ trụ bao la, rộng lớn

-“Một mảnh tình riêng, ta với ta”: một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không có ai để se chia, san sẻ

⇒Tâm trạng cô đơn, trống vắng, lẻ loi một mình đối diện với chính mình giữa vũ trụ bao la, rộng lớn

III.Kết bài

-Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác giả:

+Nội dung: Cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống của con người và tâm trạng nhớ nước, thương nhà và nỗi cô đơn của tác giả

+Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú, sử dụng từ láy, nghệ thuật đảo ngữ…

Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

Bài Giảng Môn Ngữ Văn Lớp 7

Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7

Viết Đoạn Văn :qua Văn Bản Qua Đèo Ngang Em Cảm Nhận Cảnh Đèo Ngang So Với Tâm Trạng Của Tác Giả Câu Hỏi 1264323

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Soạn Bài : Qua Đèo Ngang

Bồi Dưỡng Kỹ Năng Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Trong Bối Cảnh Hiện Nay

Hệ Thống Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Về Chứng Thực Ở Cấp Xã, Hot

Hình Thức Và Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

Khái Niệm Và Các Hình Thức Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Cần Có Những Điều Khoản Nào?

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

Bà Huyện Thanh Quan (? – ?), tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Bình ngày nay), do đó có tên gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là một nữ sĩ vào loại tài danh hiếm có thời phong kiến. Tác phẩm của bà hiện còn lại sáu bài thơ trong đó có bài Qua Đèo Ngang nổi tiếng.

Bài thơ này được viết theo thể thất ngôn bát cú. Đây là một trong hai dạng cơ bản, phổ biến nhất của thơ Đường luật, gồm thất ngôn bát cú (7 chữ, 8 câu) và thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ, 4 câu). Thơ thất ngôn bát cú Đường luật có những quy định rất chặt chẽ về bố cục (tổ chức cơ bản về nội dung và hình thức), luật (quy định về vần, thanh trong cả bài, đối giữa các cặp câu 3 – 4, 5 – 6), niêm (sự liên kết giữa các câu 1 – 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7).

1. Nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ, về cách gieo vần và về phép đối.

: Dựa vào phần giới thuyết thể thơ ở trên, tự kiểm tra về số câu, số chữ, cách gieo vần và phép đối của bài thơ.

2. Cảnh vật được miêu tả và lúc chiều tà. Thời điểm đó dễ gợi lên tâm trạng buồn, cô đơn nhất là với người lữ thứ.

3. Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết: cỏ cây, hoa lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, tiếng chim quốc, chim đa đa, có vài chú tiều phu. Các chi tiết này cho thấy cảnh Đèo Ngang um tùm, rậm rạp. Con người thì ít ỏi, thưa thớt. Các từ láy: lom khom, lác đác, các từ tượng thanh: quốc quốc, đa đa có tác dụng lớn trong việc gợi hình, gợi cảm và càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.

4. Cảnh Đèo Ngang là cảnh thiên nhiên, núi đèo bát ngát, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng rất hoang sơ. Cảnh được miêu tả vào lúc chiều tà, lại được nhìn từ tâm trạng của kẻ xa quê nên cảnh gợi lên cảm giác buồn, hoang sơ, vắng lặng.

5. Có thể thấy, ấn sâu kín trong bức tranh thiên nhiên là tâm trạng của người lữ thứ (Bà Huyện Thanh Quan). Đó là tâm trạng buồn, cô đơn, hoài cổ. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được tiếng kêu da diết của chim quốc, chim đa đa cũng chính là tiếng lòng tha thiết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước. Câu thơ cuối cùng chính là cao trào của nỗi buồn, nỗi cô đơn của người khách xa quê.

6. Giữa cảnh trời, non, nước và một mảnh tình riêng có quan hệ đối lập nhau. Cảnh càng rộng lớn thì tình càng cô đơn, con người càng nhỏ bé. Như thế, rõ ràng cảnh góp phần khiến nỗi cô đơn của tác giả càng lớn hơn, nặng nề hơn.

Đọc một bài thơ thất ngôn bát cú, trước hết phải chú ý đọc đúng nhịp (4/3), sau nữa là chú ý đến phép đối trong hai cặp 3 – 4, 5 – 6. Riêng với bài thơ này, cần chú ý đọc chậm, diễn cảm, thể hiện được nỗi buồn sâu lắng của tác giả.

– Từ ta thứ nhất và từ ta thứ hai đều chỉ bản thân người nói.

– Vì thế, ta với ta có nghĩa là không có ai khác (chỉ có một mình tác giả mà thôi).

Soạn Bài Qua Đèo Ngang

Chính Sách Liên Quan Đến Quản Lý Chất Thải Rắn Sinh Hoạt

Văn Bản Pháp Luật Về Chất Thải Rắn

Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Rắn

Văn Bản Pháp Lý Liên Quan Đến Tên Miền

Soạn Bài Qua Đèo Ngang

Soạn Bài : Qua Đèo Ngang

Bồi Dưỡng Kỹ Năng Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Trong Bối Cảnh Hiện Nay

Hệ Thống Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Về Chứng Thực Ở Cấp Xã, Hot

Hình Thức Và Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

Khái Niệm Và Các Hình Thức Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

Soạn bài Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan

* Bố cục : đề – thực – luận – kết

– 2 câu đề : cái nhìn chung về cảnh vật

– 2 câu thực : miêu tả cuộc sống con người

– 2 câu luận : tâm trạng tác giả

– 2 câu kết : nỗi cô đơn lên cao

Câu 1 (trang 103 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Qua Đèo Ngang thuộc thể loại

Thất ngôn bát cú

+ Tám câu, mỗi câu 7 chữ

+ Cách gieo vần: cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8

+ Câu 3 và 4 đối nhau, câu 5 và câu 6 đối nhau

Câu 2 (trang 105 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Cảnh tượng Đèo Ngang được nêu trong bài: thời điểm chiều tà

→ Thời điểm chiều tà gợi lên những nỗi buồn, nhất là người phụ nữ xa nhà

Câu 3 (trang 105 sgk ngữ văn 7 tập 1)

– Cảnh vật gồm có: cỏ, cây, hoa, lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, có tiếng chim cuốc và chim đa đa, có vài chú tiều phu

– Cảnh Đèo Ngang rậm rạp, um tùm, hoang vắng: cỏ cây chen đá

– Con người xuất hiện thưa thớt, ít ỏi: lác đác chợ mấy nhà, tiều vài chú

– Tiếng kêu quốc quốc, gia gia khắc khoải càng gợi lên cảm giác buồn giữa không gian hoang vắng

Câu 4 (Trang 105 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Cảnh tượng ở Đèo Ngang: um tùm cỏ cây, hoang vắng, thưa thớt con người

– Tiếng chim quốc quốc kêu trong bi thiết càng làm tăng thêm nỗi buồn, sự hoang vắng

→ Cảnh vật hoang sơ, thưa thớt càng làm nỗi nhớ quê hương dâng lên và làm nỗi buồn, nỗi cô đơn, âm thầm của mình khi đối diện với thiên nhiên

Câu 5 (trang 87 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi Đèo Ngang là tâm trạng cô đơn, nhớ nhà, nhớ nước

– Tác giả mượn cảnh vật để giãi bày tâm trạng

– Mượn tiếng chim để gợi nhớ quá khứ nước nhà

– Câu thơ cuối biểu cảm trực nỗi buồn, nỗi cô đơn thầm kín, hướng nội của tác giả

⇒ Tâm trạng của tác giả: buồn, cô đơn, hoài cổ

Câu 6 (trang 87 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Một mảnh tình riêng với ta giữa cảnh trời, non, nước bao la ở Đèo Ngang khác với những không gian khác

– Tác giả đối diện với không gian hoang vắng, hiu quạnh → cảm thấy cô đơn và nỗi buồn nhân lên gấp bội

Bài giảng: Qua đèo ngang – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Chính Sách Liên Quan Đến Quản Lý Chất Thải Rắn Sinh Hoạt

Văn Bản Pháp Luật Về Chất Thải Rắn

Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Rắn

Văn Bản Pháp Lý Liên Quan Đến Tên Miền

Khai Bổ Sung Mục: Mã Văn Bản Pháp Quy

Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang

Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)

Nêu Ý Nghĩa Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Bài thơ: Qua Đèo Ngang

Bài giảng: Qua đèo ngang – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

Nội dung bài thơ: Qua Đèo Ngang

I. Đôi nét về tác giả Bà Huyện Thanh Quan

– Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, chưa rõ năm sinh, năm mất

– Quê quán: làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội

– Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh), tỉnh Thái Bình, do đó mà có tên gọi Bà Huyện Thanh Quan

– Bà là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật.

– Thơ bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay. Tác phẩm nào của bà cũng buồn thương da diết, trang nhã và rất điêu luyện

II. Đôi nét về tác phẩm Qua Đèo Ngang

1. Hoàn cảnh ra đời

Bài thơ được sáng tác khi bà từ trên đường từ Bắc Hà vào Huế nhận chức “Cung Trung giáo tập”

2. Bố cục (4 phần )

– Phần 1 (hai câu đề): Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

– Phần 2 (hai câu thực): Cuộc sống của con người ở Đèo Ngang

– Phần 3 (hai câu luận): Tâm trạng của tác giả

– Phần 3 (hai câu kết): Nỗi cô đơn đến tột cùng của tác giả

3. Giá trị nội dung

bài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả

4. Giá trị nghệ thuật

– Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

– Sử dụng từ láy gợi hình gợi cảm và nghệ thuật đối lập, đảo ngữ

III. Dàn ý phân tích tác phẩm Qua Đèo Ngang

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Bà Huyện Thanh Quan (tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, đặc điểm sáng tác…)

– Giới thiệu về bài thơ “Qua Đèo Ngang” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

II. Thân bài

1. Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

– Thời gian: xế chiều – thời điểm dễ gợi nên nỗi buồn cô đơn, sự trống vắng

– Không gian: Đèo Ngang – một con đèo hùng vĩ, phân chia hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, là ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài ngày xưa

– Cảnh vật:

+ Các sự vật: cỏ cây, lá, đá, hoa

+ Động từ: chen – lẫn vào nhau, không ra hàng ra lối, động từ “chen” chen vào giữa hai câu thơ gợi cảnh tượng rậm rạp, hoang sơ

⇒ Cảnh vật đầy sức sống nhưng hoang sơ, rậm rạp và hắt hiu

2. Cuộc sống con người ở Đèo Ngang

– Sử dụng từ láy có giá trị gợi hình: lom khom, lác đác – gợi cảm giác thưa thợt, ít ỏi

– Nghệ thuật đảo ngữ:

+ Lom khom … tiều vài chú

+ Lác đác … chợ mấy nhà

⇒ Nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi, nhỏ nhoi của sự sống ở giữa cảnh vật thiên nhiên rộng lớn, hoang sơ

⇒ Hình ảnh con người hiện lên thưa thớt, ít ỏi làm cho cảnh vật thêm hoang vắng, tiêu điềi. Qua đó, gợi cảm giác buồn hiu, vắng lặng của tác giả

3. Tâm trạng của tác giả

– Âm thanh của chim quốc quốc, gia gia: nghệ thuật lấy động tả tĩnh, chơi chữ. Tiếng chim quốc, chim gia gia nhớ nước, thương nhà cũng chính là tiếng lòng của tác giả thiết tha, da diết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước

– Câu thơ như một tiếng thở dài của tác giả

⇒ Tâm trạng nhớ nước, nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Đó cũng chính là tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ

4. Nỗi cô đơn tột cùng của tác giả

– Con người nhỏ bé, lẻ loi, cô đơn, một mình đối diện với cả vũ trụ bao la, rộng lớn

– “Một mảnh tình riêng, ta với ta”: một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không có ai để se chia, san sẻ

⇒ Tâm trạng cô đơn, trống vắng, lẻ loi một mình đối diện với chính mình giữa vũ trụ bao la, rộng lớn

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác giả:

+ Nội dung: Cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống của con người và tâm trạng nhớ nước, thương nhà và nỗi cô đơn của tác giả

+ Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú, sử dụng từ láy, nghệ thuật đảo ngữ…

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

tac-gia-tac-pham-lop-7.jsp

Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn

Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Chi Tiết)

Bài 8. Qua Đèo Ngang

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Gọn Nhất

Top 3 Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Nhất.

Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Chi Tiết)

Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn

CHÀO MỪNG THẦY CÔ VỀ DỰ GiỜ LỚP

MÔN : VĂN 7

GIÁO VIÊN: PHAN THANH TUYỀN

HỎI:Đọc bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương và cho biết bài thơ có mấy lớp nghĩa? Mỗi lớp nghĩa biểu đạt ý cơ bản gì?

Đáp án

Bài thơ có 2 lớp nghĩa:

– Nghĩa đen: miêu tả đặc tính của chiếc bánh trôi và quá trình tạo nó. Ca ngợi nét đẹp văn hóa của dân tộc.

– Nghĩa bóng: (nghĩa chính) đề cao trân trọng vẻ đẹp nhan sắc và tâm hồn, sự trong trắng son sắt của người phụ nữ Việt Nam xưa và sự cảm thông sâu sắc cho thân phận chìm nổi của họ.

KIỂM TRA MIỆNG

Quan sát bức tranh sau và nêu hiểu biết của em

về Đèo Ngang?

Tiết 29 ,Văn bản : Qua Đèo Ngang

(Bà huyện Thanh Quan)

I. ĐỌC – TÌM HiỂU CHUNG 1.Tác giả

Tiết 29, Văn bản : Qua Đèo Ngang

(Bà huyện Thanh Quan)

-Tên thật: Nguyễn Thị Hinh. Sống ở thế kỷ XIX Quê ở

làng NghiTàm (nay thuộcTây Hồ, Hà Nội). Chồng bà

làm tri huyệnThanh Quan (nay thuộc Thái Ninh, Thái

Bình). Do đó có tên gọi Huyện ThanhQuan.

– Bà là một trong số nữ sỹ tài hoa hiếm có trong thời

trung đại. Hiện còn để lại 6 bài thơ Nôm Đường luật,

trong đó có bài thơ Qua Đèo Ngang. (6 bài thơ gồm:

Thăng Long thành hoài cổ; Chiềuhôm nhớ nhà; Chùa

Trấn Bắc; Cảnh chiều hôm; Đền Trấn Võ; Qua Đèo

Ngang)

I. Đọc và tìm hiểu chung 1.Tác giả

Tiết 29, Văn bản : Qua Đèo Ngang

(Bà huyện Thanh Quan)

2.Tác phẩm

– Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ được ra đời khoảng thế

kỷ 19, khi bà Huyện Thanh Quan lần đầu xa nhà, xa

quê, vào kinh đô Huế nhận chức “Cung trung giáo

tập” (dạy nghi lễ cho các cung nữ, phi tần theo chỉ dụ

của nhà vua).

– Thể thơ :

2. Tác phẩm

Thể thơ :

Thất ngôn bát cú Đường luật.

Tiết 29 Văn bản : Qua Đèo Ngang

(Bà huyện Thanh Quan)

QUA ĐÈO NGANG

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà,

T T B B T T B

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

T B B T T B B

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

B B T T B B T

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

T T B B T T B

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

T T B B B T T

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

B B T T T B B

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

B B T T B B T

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

T T B B B T B

2. Tác phẩm

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời, non,nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

ĐỀ

THỰC

LUẬN

KẾT

3. Bố cục :

4 phần

Tiết 29 Văn bản : Qua Đèo Ngang

(Bà huyện Thanh Quan)

2. Tác phẩm

3. Bố cục : 4 phần

Tiết 29 Văn bản : Qua Đèo Ngang

(Bà huyện Thanh Quan)

4. Giải thích từ khó

– Con quốc quốc 🙁 cũng viết là cuốc cuốc ) chim đỗ quyên ( chim cuốc )

– Cái gia gia 🙁 cũng viết là da da ) : chim đa đa , còn gọi là gà gô .

– Đèo Ngang :Thuộc dãy núi Hoành Sơn , một nhánh của dãy núi Trường Sơn , chạy thẳng ra biển , phân chia địa giới hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh .

-Tiều :Người chuyên nghề đốn củi

II. Phân tích:

1. Hai câu đề :

Bước tới Đèo Ngang,

Tiết 29, Văn bản : Qua Đèo Ngang

(Bà huyện Thanh Quan)

1. Tìm hàm nghĩa cụm từ ” Ta với ta ”

2. Cảnh Đèo Ngang được miêu tả trong thời điểm nào ?

A. Xế trưa B. Xế chiều

C. Ban mai D. Đêm khuya .

3. Tâm trạng của tác giả thể hiện qua bài thơ là tâm trạng như thế nào ?

A. Yêu say trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước .

B. Đau xót ngâm ngùi trước sự đổi thay của quê hương

C. Buồn thương da diết khi phải sống trong cảnh cô đơn .

D. Cô đơn trước thực tại , da diết nhớ về quá khứ của đất nước .

Đ

Đ

Hướng dẫn học tập( Hướng dẫn HS tự học ở nhà)

* Đối với bài học ở tiết học này:

– Về nhà học bài , học ghi nhớ , học thuộc lòng văn bản.

– Viết thành văn cảm nhận sâu sắc của em về bài thơ.

* Đối với bài học ở tiết học tiếp theo

– Chuẩn bị bài ” Bạn đến chơi nhà”

+ Tác giả , tác phẩm

+ Cảm xúc của nhà thơ khi bạn tới chơi

+ Gia cảnh của chủ nhà

+ Ý nghĩa bài thơ

Hướng Dẫn Về Việc Xử Lý Đối Với Những Trường Hợp Có Sai Phạm Trong Công Tác Tuyển Dụng Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức

Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Vi Phạm

Quyết Định Thành Lập Hội Đồng Tuyển Sinh Vào Trường Mầm Non Năm Học 2022

Hiến Chương Liên Hợp Quốc 1945

Mẫu Quyết Định Sa Thải Người Lao Động Trong Doanh Nghiệp Tư Nhân

Giáo Án Bài Qua Đèo Ngang

Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 29

Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Qua Đèo Ngang

Bài Soạn Môn Ngữ Văn 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Gọn

Phân Tích Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Của Bà Huyện Thanh Quan

2. Kĩ năng 3. Thái độ

– Yêu cảnh thiên nhiên đẹp.

1. Ổn định tổ chức

– Kiểm tra sĩ số:

2. Kiểm tra đầu giờ 3. Bài mới

Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

HĐ1.HDHS đọc và tìm hiểu chú thích:

I.Đọc và tìn hiểu chú thích:

1. Đọc.

2. Tìm hiểu chú thích:

a. Tác giả tác phẩm:

* Tác giả:

– Bà Huyện Thanh Quan: Tên thật là Nguyễn Thị Hinh sống vào đầu thế kỉ XIX.

Quê : Nghi Tàm – Tây Hồ – Hà Nội

– Là một trong ba nhà thơ nữ nổi tiếng nhất ở thế kỉ XVIII – XIX.

* Tác phẩm: Qua Đèo Ngang

– Là một trong số bài thơ còn sót lại của bà.

– Có thể được viết khi bà trên đường vào kinh thành Huế nhận chức.

b. Từ khó

– Đèo Ngang

– Tiều

– GV yêu cầu đọc: Giọng buồn, buồn buồn, ngắt nhịp đúng (4/3 C7: 4/1/1/1)

– GV đọc 1 lượt – 2 HS đọc

– HS đọc và GV nhận xét cách đọc.

– HS đọc phần chú thích (*)

? Nêu những hiểu biết của em về Bà Huyện Thanh Quan và tp?

– HS trả lời

Dựa vào phần chú thích trình bày hiểu biết về Đèo Ngang và từ tiều ?

HĐ2.HDHS đọc hiểu văn bản:

II.Tìm hiểu văn bản:

1. Kiểu văn bản:Biểu cảm

– Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật.

+ Số câu: 8 câu/ bài

+ Số chữ trong trong 1câu: 7 chữ

+ Gieo vần chữ cuối các câu: 1,2,4,6,8 (tà, hoa, nhà, gia, ta)

+ Có NT đối giữa câu 3 – 4, 5 – 6

+ Có niêm luật chặt chẽ. (B -T)

– Luật thơ:

Trong câu, các tiếng 2,4,6 phải theo luật B, T rõ ràng: tiếng 2 trùng thanh với tiếng thứ 6 và khác thanh với tiếng thứ 4.

Các tiếng 1,3,5 B, T tuỳ ý.

H:Bài thơ thuộc phương thức biểu đạt nào?

H: Thuộc thể thơ nào?

H: Dựa vào bài thơ, nêu dấu hiệu nhận biết thể thơ này? (số câu, số chữ/ câu, gieo vần)

– GV có thể nói thêm về niêm và bố cục (Bố cục: Đề, thực, luận, kết

H: Bài thơ này nên phân tích theo bố cục như thế nào?

2. Bố cục: – Hai câu đề

– Hai câu thực

– Hai câu luận

– Hai câu kết.

– Nếu ta đảo 2 câu thơ thành: Vài chú tiều lom khom dưới núi/ Mấy nhà chợ lác đác bên sông thì ý nghĩa thay đổi như thế nào?

(Không diễn tả được cái nhìn từ xa (dưới núi, bên sông), bắt đầu là hình dáng sự sống, sau đó mới thấy người)

Hai từ láy ” lom khom, lác đác” đặt đầu câu có t/d gì?

(Sự sống thấp thoáng trong khung cảnh hoang sơ, bát ngát)

H:Hai câu thực thể hiện cảm xúc sâu kín của nhà thơ ntn?

c. Hai câu luận:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Nghệ thuật đối, đảo ngữ, lấy động tả tĩnh, đồng âm, ẩn dụ tượng trrưng.

( Quốc= nước / Nhớ nước

Gia = nhà / Thương nhà)

H: Tại sao cảnh buồn, hoang sơ, thiếu sự sống làm nhà thơ nhớ nước, thương nhà?

– Tiếng chim kêu buồn, khắc khoải, triền miên không dứt làm tăng thêm sự vắng lặng và càng xoáy sâu thêm vào nỗi buồn nhớ của nhà thơ.

(Cảnh núi sông buồn làm t/g nghĩ đến cảnh buồn của đất nước, cảnh cư dân sống thưa thớt làm nhớ đến gia đình

H:Nghệ thuật đó đã có tác dụng gì trong việc bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình?

H:Nói rõ hơn về nghệ thuật lấy động tả tĩnh ở đây?

H:Ở hai câu cuối tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó trong việc diễn tả tâm trạng của nhà thơ?

d. Hai câu kết

+ Cụm từ “ta với ta”: tuy 2 mà 1, chỉ để nói một người, một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không ai sẻ chia.

Hai câu cuối cực tả tâm trạng cô đơn, buồn đau, nhớ tiếc quá khứ, nỗi thương nước nhớ nhà của cá nhân tác giả.

H:Em hiểu như thế nào về cụm từ “ta với ta” (2 chữ ta) ở đây?

H:Hai câu thơ cuối nói lên điều gì?

H:Qua sự phân tích trên hãy rút ra nội dung và nghệ thuật của bài thơ này?

4. Củng cố, luyện tập 5. Hướng dẫn về nhà

300 BÀI GIẢNG GIÚP CON HỌC TỐT LỚP 7 CHỈ 399K

Phụ huynh đăng ký mua khóa học lớp 7 cho con, được tặng miễn phí khóa ôn thi học kì. Cha mẹ hãy đăng ký học thử cho con và được tư vấn miễn phí. Đăng ký ngay!

Tổng đài hỗ trợ đăng ký khóa học: 084 283 45 85

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Giáo án Ngữ văn lớp 7 chuẩn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 7 Tập 1 và Tập 2 theo chuẩn Giáo án của Bộ GD & ĐT.

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan

Bài Thơ: Qua Đèo Ngang

Bài Giảng Môn Ngữ Văn Lớp 7

Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)

Nêu Ý Nghĩa Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”

Viết Đoạn Văn :qua Văn Bản Qua Đèo Ngang Em Cảm Nhận Cảnh Đèo Ngang So Với Tâm Trạng Của Tác Giả Câu Hỏi 1264323

Soạn bài Qua đèo ngang

Bố cục

– Phần 1 (6 câu thơ đầu): Cảnh đèo Ngang khi chiều về

– Phần 2 (còn lại): Nỗi lòng nhà thơ

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

– Bài thơ Qua đèo ngang là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật

– Dấu hiệu:

+ bài thơ có tám câu mỗi câu bảy chữ hợp vần ở chữ cuối câu một và chữ cuối các câu chẵn( 1,2,4,6,8)

+ có phép đối ở các cặp câu 3,câu 4 và câu 5, câu 6

Câu 2 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

– Cảnh tượng đèo Ngang được miêu tả vào lúc xế tà (trời đã về chiều , ngày sắp tàn)

– Thời điểm đó có những lợi thế rất lớn khi bộc lộ tâm trạng cô đơn của tác giả khi qua đèo Ngang

+ Thời điểm này thường dễ gợi buồn cho lòng người vì đó thường là thời gian con người được sum họp cùng gia đình trong khi mình lại cô đơn nơi này

+ ca dao dân ca cũng rất hay lấy cảnh chiều để gợi tâm trạng

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Vẳng nghe chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau

Câu 3 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

– Cảnh đèo Ngang được miêu tả bằng những chi tiết

+ cỏ cây, hoa lá, tiếng chim cuốc

+ lác đác, mấy nhà, vài chú tiều

+ các từ láy lom khom,lác đác các từ tượng thanh quốc quốc gia gia được dùng khéo léo giàu khả năng gợi hình biểu cảm

Câu 4 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

– Qua miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan cảnh tượng đèo Ngang hiện lên với bức tranh thiên nhiên hoang sơ bát ngát núi đèo có sự sống con người nhưng vắng lặng, qua đó bộc lộ tâm trạng cô đơn u buồn của tác giả

Câu 5 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

– Khi qua đèo Ngang tâm trạng tác giả thấy cô đơn hoài cổ trong nỗi nhớ nước thương nhà thấm đậm tâm hồn

– Tâm trạng đó được thể hiện qua hai hình thức

+ mượn cảnh nói tình (cảnh chiều tà ở đèo Ngang, tiếng chim cuốc nhớ nước, tiếng chim đa đa thương nhà)

+ trực tiếp tả tình: câu thơ cuối bài (Một mảnh tình riêng ta với ta)

Câu 6 (trang 104 Ngữ Văn 7 Tập 1):

– Nói đến mảnh tình riêng giữa cảnh trời non nước bao la ở đèo Ngang khác với nói mảnh tình riêng ttrong không gian chật hẹp ở chỗ nó thể hiện tương quan đối lập: trời non, nước càng bao la càng rộng thì mảnh tình riêng càng nặng nề u uất

Luyện tập

Bài 1 (trang 104 Ngữ Văn 7 Tập 1):

– Hàm nghĩa của cụm từ ta với ta: hai từ ta ở đây đều chỉ tác giả chỉ có mình tác giả . Qua đó khắc sâu hơn nữa tâm trạng cô đơn trống trải u buồn giữa thiên nhiên đất trời mênh mông hoang vắng nơi xứ lạ của Bà Huyện Thanh Quan

Bài giảng: Qua đèo ngang – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang

Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7

Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang

Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

– Thơ thất ngôn bát cú gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ.

– Gieo vần ở các chữ cuối của các câu 1, 2, 4, 6, 8 : tà – hoa- nhà – gia – ta.

– Có phép đối giữa câu 3 với câu 4, câu 5 với câu 6.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

– Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả ở thời điểm lúc chiều tà.

– Thời điểm đó có lợi thế khi gợi cảm giác vắng lặng, là lúc mong được sum họp, mong được trở về nhà. Qua đó bộc lộ tâm trạng cô đơn của tác giả.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

– Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết: cỏ cây, hoa lá, vài chú tiều phu, con sông, cái chợ, mấy cái nhà, tiếng chim quốc, chim gia gia.

– Các từ láy: lom khom, lác đác; các từ tượng thanh: quốc quốc, gia gia có tác dụng lớn trong việc gợi hình, gợi cảm và tô đậm vẻ hoang vắng, quạnh hiu.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

Qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan, cảnh tượng Đèo Ngang hiện lên với bức tranh thiên nhiên hoang sơ, bát ngát núi đèo, có sự sống con người nhưng nhỏ bé, vắng lặng, thưa thớt và buồn tẻ.

Câu 5 Trả lời câu 5 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan được thể hiện qua hai hình thức:

– Mượn cảnh nói tình: mượn hình ảnh hoang vắng, thưa thớt của con người nói lên nỗi quạnh hiu, mượn tiếng kêu mang âm vọng đất nước, gia đình để thể hiện nỗi nhớ nhà, nhớ nước.

– Trực tiếp tả tình (câu thơ cuối): ” Một mảnh tình riêng, ta với ta “: cô đơn, buồn.

Câu 6

Trả lời câu 6 (trang 106, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

Nói đến một mảnh tình riêng giữa cảnh trời, non, nước bao la ở Đèo Ngang có sự khác biệt với cách nói một mảnh tình riêng trong không gian chật hẹp là vì: trời, non, nước càng bao la càng rộng thì mảnh tình riêng càng nặng nề, u uất.

Luyện tập Trả lời câu hỏi (trang 104 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

“Ta với ta” chỉ chính bản thân tác giả, thể hiện nỗi cô đơn sâu sắc.

Bố cục

Kết cấu 4 phần: đề – thực – luận – kết

– 2 câu đề : cái nhìn chung về cảnh vật

– 2 câu thực : miêu tả cuộc sống con người

– 2 câu luận : tâm trạng tác giả

– 2 câu kết : nỗi cô đơn lên cao

ND chính

Bài thơ cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng của sự sống con người nhưng còn hoang sơ. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà và nỗi buồn, cô đơn thầm lặng của tác giả.

chúng tôi

Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7

Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Chi Tiết)

Top 3 Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Nhất.

Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Gọn Nhất

Bài 8. Qua Đèo Ngang