Đọc Hiểu Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”

--- Bài mới hơn ---

  • Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà
  • Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà : Dàn Ý Và Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Nhất
  • Máy Đọc Văn Bản Trực Tuyến
  • Nhằm giúp các bạn rèn luyện được kĩ năng trả lời phần đọc hiểu. chúng tôi sẽ sưu tầm và đưa ra một số đề đọc hiểu để các bạn tham khảo và rèn luyện kĩ năng làm bài.

    Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

    ” Trong những dòng sông đẹp ở các nư­ớc mà tôi thư­ờng nghe nói đến, hình như­ chỉ sông Hư­ơng là thuộc về một thành phố duy nhất. Trư­ớc khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản tr­ường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như­ cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trư­ờng Sơn, sông Hư­ơng đã sống một nửa cuộc đời của mình như­ một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Như­ng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải đ­ược về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở ng­ười con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hư­ơng nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành ng­ười mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông H­ương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vư­ợt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như­ không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá d­ưới chân núi Kim Phụng.”

    Câu 1. Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm nào? Văn bản đó thuộc thể loại gì ?

    Câu 2. Đối tượng miêu tả của đoạn kí ? Đối tượng ấy hiện lên như thế nào qua đoạn văn ?

    Câu 3. Trong đoạn văn, tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật gì ? Tác dụng của những biện pháp nghệ thuật ấy ?

    Câu 4. Nhân vật “tôi” hiện lên như thế nào trong đoạn văn?

    Câu 5. Đặc điểm Sông Hương ở đoạn này có điểm gì tương đồng với đặc điểm sông Đà ở thượng nguồn trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân?

    ĐÁP ÁN

    Câu 1. Đoạn văn trích trong tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Văn bản thuộc thể kí (bút kí)

    Câu 2.

    Đối tượng miêu tả của đoạn văn đoạn văn: Sông Hương ở thượng nguồn

    Dòng sông hiện lên với vẻ độc đáo:

    + Dòng chảy phong phú: vừa mãnh liệt vừa dịu dàng, say đắm

    + Dòng sông mang vẻ đẹp nữ tính: từ cô gái di-gan đến người mẹ phù sa

    + Dòng sông mang vẻ đẹp kín đáo với tâm hồn sâu thẳm

    Câu 3.

    Trong đoạn văn, tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật: đối lập (tương phản), so sánh, nhân hóa.

    Tác dụng:

    + Nghệ thuật đối lập (tương phản) nhằm làm nổi bật vẻ độc đáo của dòng sông

    + Nghệ thuật so sánh, nhân hóa khiến sông Hương trở nên sinh động, có hồn, dòng sông gần với tâm hồn của con người xứ Huế.

    Câu 4. Nhân vật “tôi” hiện lên rõ nét :

    – Kiến thức phong phú, am tường về Huế

    – Trí tưởng tượng phong phú độc đáo, mãnh liệt

    – Ngôn ngữ phong phú, tài hoa

    – Tình yêu đối với xứ Huế

    Câu 5. Điểm tương đồng giữa sông Hương ở đoạn này và sông Đà ở thượng nguồn là: sự hùng vĩ.

    Mod Văn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Giáo Án Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 12 Tiết 46, 47: Đọc Văn Người Lái Đò Sông Đà ( Trích)
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 12
  • Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”
  • Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà
  • Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà : Dàn Ý Và Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Nhất
  • Người lái đò sông Đà là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu đất nước say đắm, thiêt tha của một con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc.

    Đọc hiểu Người lái đò sông Đà

    Đọc đoạn văn bản rồi trả lời các câu hỏi:

    Ông đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc sông Đà đã 10 năm liền và thôi làm đò cũng đã đôi chục năm nay. Tay ông lêu nghêu như cái sào. Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy cái cuống lái tưởng tượng. Giọng ông nói ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông. Nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào trong sương mù. Quê ông ở ngay chỗ ngã tư sông sát tỉnh. Ông chở đò dọc, chở chè mạn, chè cối từ Mường Lay về Hòa Bình, có khi trở về đến tận bến Nứa Hà Nội. Ông bảo: Chạy thuyền trên sông không có thác, nó sẽ dễ dại tay chân và buồn ngủ. Cho nên ông chỉ muốn cắm thuyền ở Chợ Bờ, cái chỗ biên giới thủy phân cuối cùng của đá thác sông Đà… Trên dòng sông Đà, ông xuôi ngược hơn trăm lần rồi. Chính tay ông giữ lái đò độ sâu chục lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sâu mái chèo. Trí nhớ ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước, những con thác hiểm trở sông Đà, với người lái đò ấy, như thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc lòng từ dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm than, chấm xuống dòng…

    Câu 1: Đoạn trích trên được trích trong tác phẩm nào, của ai? Giới thiệu đôi nét về tác phẩm

    Câu 2: Xác định thể loại văn bản và những phương thức biểu đạt của đoạn văn trên.

    Câu 3: Việc kết hợp nhiều phương thức biểu đạt như thế mang lại hiệu quả gì?

    Câu 4: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất, có hiệu quả nhất trong đoạn văn.

    Câu 5: Vì sao ông đò Lai Châu chỉ muốn cắm thuyền ở chỗ biên giới thủy phân cuối cùng của đá thác Sông Đà? Điều đó chứng tỏ ông đò là người như thế nào?

    Đáp án đề đọc hiểu Người lái đò sông Đà số 1

    Câu 1: Đoạn trích trên được trích trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân

    – Giới thiệu đôi nét về tác phẩm:

    • Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tập tùy bút sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân
    • Tác phẩm là thành quả của nhà văn trong chuyến ông đi tới Tây Bắc tìm kiếm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc đặc biệt là chất vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn con người lao động chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng.
    • Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn sau cách mạng tháng Tám.

    – Thể loại văn bản: tùy bút

    – Phương thức biểu đạt của đoạn văn trên là: tự sự, miêu tả, biểu cảm.

    Câu 3: Việc kết hợp nhiều phương thức biểu đạt giúp nhà văn vừa tái hiện chân thực, sinh động đối tượng, sự việc vừa bày tỏ tư tưởng, tình cảm một cách dễ dàng, hiệu quả, giúp người đọc dễ hiểu, dễ tiếp cận.

    – Biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất, có hiệu quả nhất trong đoạn văn: biện pháp so sánh.

    – Tác dụng của biện pháp tu tù đó là: Khắc họa ông lái đò với vẻ đẹp từng trải, hiểu biết, thành thạo nghề lái đò và nắm chắc đối tượng chiến đấu của mình.

    Câu 5: Ông đò Lai Châu chỉ muốn cắm thuyền ở chỗ biên giới thủy phân cuối cùng của đá thác Sông Đà vì: “Chạy thuyền trên sông không có thác, nó sẽ dễ dại tay chân và buồn ngủ”

    – Điều đó chứng tỏ ông đò là người gan dạ, quen với việc đối mặt với hiểm nguy, biến những thử thách khó khăn trở thành thuận lợi.

    Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    …Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. ( Trích Tuỳ bút Sông Đà-Nguyễn Tuân)

    Câu 1: Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?

    Câu 2: Nội dung của đoạn trích là gì?

    Câu 3: Chỉ rõ các biện pháp tu từ có trong đoạn văn và nêu tác dụng của nó.

    Câu 4: Đoạn văn làm nảy nở trong anh/chị những cảm xúc, cảm giác gì?

    Đáp án đề đọc hiểu Người lái đò sông Đà số 2

    Câu 1: Đoạn văn trên được viết theo phương thức miêu tả là chính.

    Câu 2: Nội dung của đoạn trích là: đoạn văn tả về thác nước và đá ở sông Đà ( hay còn gọi là thạch thuỷ trận)

    – Từ xa, thác nước biểu thị sức mạnh qua âm thanh dữ dội

    – Đến gần, thác nước hiện ra với hình ảnh sóng bọt trắng xóa cả một chân trời đá

    Câu 3: Các biện pháp tu từ có trong đoạn văn là:

    • So sánh : thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo..
    • Nhân hoá: oán trách , van xin, khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo.., rống lên , mai phục ,nhổm cả dậy ,ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó …

    – Tác dụng của biện pháp tu từ đó là: gợi hình ảnh con sông Đà hùng vĩ, dữ dội. Không còn là con sông bình thường, Sông Đà như có linh hồn, đầy tâm địa, nham hiểm.

    Câu 4: Đoạn văn mang đến ngƣời đọc những cảm nhận rất rõ ràng, sinh động, khoáng đạt về sự dữ dội, mãnh liệt của dòng sông hung bạo. Người đọc yêu thích mạo hiểm thì tò mò thích thú khám phá, trải nghiệm những cảm xúc, cảm giác phi thƣờng còn với những ngƣời “yếu vía” thì cảnh tượng hùng vĩ, hiểm trở của dòng sông cũng khiến họ phải rùng mình, khiếp đảm, sợ hãi.

    Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu sau:

    “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như đời Lí, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh núi đồi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “Dải sông Đà bọt nước lênh đênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”. (Trích “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân)

    Câu 1: Nêu nội dung chính của đoạn trích trên

    Câu 2: Xác định phương thức biểu đạt trong đoạn văn trên

    Câu 3: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn trên và nêu tác dụng của nó.

    Câu 4: Liệt kê những hình ảnh tiêu biểu nhất cho quang cảnh sông Đà trong đoạn văn trên.

    Đáp án đề đọc hiểu Người lái đò sông Đà số 3

    Câu 1: Nội dung chính của đoạn trích: đoạn văn được nhà văn miêu tả khi xuôi thuyền trên sông Đà; cảnh ven sông Đà ở hạ nguồn thơ mộng, lặng tờ, dạt dào sức sống.

    Câu 2: Phương thức biểu đạt trong đoạn văn trên là: miêu tả, biểu cảm, tự sự.

    Câu 3: Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn trên là:

    – So sánh: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.

    – Nhân hóa: Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”

    Câu 4: Những hình ảnh tiêu biểu nhất cho quang cảnh sông Đà trong đoạn văn trên là:

    – nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa

    – Bờ sông hoang dại, hồn nhiên.

    – Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương

    – Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng

    – Dòng sông quãng này lững lờ…

    Giangdh (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 12 Tiết 46, 47: Đọc Văn Người Lái Đò Sông Đà ( Trích)
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 12
  • Hướng Dẫn Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “người Lái Đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân)
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Trang Gõ Captcha Kiếm Tiền Online Uy Tín Nhất 2022
  • Chuyển Đổi Âm Thanh (Trực Tuyến Miễn Phí) — Convertio
  • Chuyển Đổi Font (Trực Tuyến Miễn Phí) — Convertio
  • Cách Chỉnh Sửa Tài Liệu Word Trực Tuyến
  • Cách Chuyển Ảnh Thành Văn Bản Không Bị Lỗi Font 100%
  • Đọc- hiểu văn bản:

    “Người lái đò sông Đà”

    (Trích tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân)

    I. Đọc -hiểu chú thích:

    1. Tác giả:

    – Nguyễn Tuân (1910- 1987), quê ở Hà Nội, là gương mặt tiêu biểu của nền văn học dân tộc, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp.

    + Học hết bậc thành chung (tương đương THCS) → viết văn, làm báo, hoạt động cách mạng.Năm 1945 lấy văn chương phục vụ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ. Năm 1948 – 1958 là tổng thư kí hội nhà văn Việt Nam

    – Ông có biệt tài về thể kí đặc biệt là tuỳ bút. Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa uyên bác, có phong cách nghệ thuật độc đáo, có tình cảm thiết tha với cuộc đời và truyền thống dân tộc. Ông là nhà văn của những tính cách độc đáo, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cách tuyệt mĩ,… Kho từ vựng phong phú, tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình, có nhạc điệu trầm bổng, có phối âm, phối thanh linh hoạt, tài ba…

    – Các tác phẩm chính: Vang bóng một thời, Một chuyến đi, Thiều quê hương, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi…

    * Phong cách nghệ thuật: phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân có sự thay đổi trong những sáng tác ở thời kì trước và sau cách mạng tháng Tám song có thể thấy những điểm nhất quán sau:

    – Phong cách của Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ “ngông”, trong mỗi trang viết của mình, Nguyễn Tuân luôn muốn thể hiện sự tài hoa, uyên bác của bản thân. Chất tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân được thể hiện:

    + Khám phá, phát hiện sự vật ở phương diện thẩm mĩ.

    + Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ.

    + Vận dụng tri thức, vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo dựng hình tượng.

    – 1996 ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

    2. Tác phẩm:

    – Hoàn cảnh sáng tác: “Người lái đò sông Đà” là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây rộng lớn, xa xôi. Tác phẩm in trong tập “Tuỳ bút sông Đà”, năm 1960.

    – Thể loại: bút kí.

    – Nội dung: Ca ngợi thiên nhiên Tây Bắc tươi đẹp, ca ngợi hình ảnh người lái đò lão luyện giàu ý chí, một thứ vàng mười của đất nước. Thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng.

    – Bố cục: (3 phần)

    + Phần 1 (từ đầu đến “đậm đà nhà đó”): giới thiệu khái quát nhân vật.

    + Phần 2 (tiếp đó đến “dòng nước sông Đà”): Cuộc sống của con người trên sông Đà và cuộc ác chiến với dòng sông.

    + Phần 3 (còn lại): vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà.

    II. Đọc – hiểu văn bản.

    1. Hình tượng con sông Đà.

    Sông Đà biểu tượng cho vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc – một dòng chảy vĩ đại giữa núi rừng Tây Bắc. Về địa lí, dòng sông bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua vùng núi cao hiểm trở, tốc độ dòng sông chảy xiết mạnh mẽ.

    Tác giả nhân hoá con sông Đà: như một sinh thể có hồn, có hoạt động, có tâm trạng và có hai nét tính cách đối lập.

    a. Vẻ đẹp con sông Đà hung bạo, dữ dằn:

    – Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, có quãng lòng sông bị thắt hẹp lại như cái yết hầu → gây ấn tượng về độ cao hun hút.

    – Những quãng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm… → sự phối hợp giữa sóng và gió tạo nên sức mạnh uy hiếp.

    – Những “hút nước” chết người luôn sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào → Đá sông lập lờ cạm bẫy,dữ dội và khủng khiếp.

    – Tiếng nước thác sông Đà với nhiều cung bậc dữ dội khác nhau, nước nghe như ai oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích,giọng gằn mà chế nhạo…rống lên…lồng lộn …. gầm thét… → so sánh tài hoa nhằm làm nổi bật: thác nước như những bầy thuỷ quái hung hăng, bạo ngược

    – Quãng sông Đà với bao đá nổi, đá chìm, phối hợp cùng sóng thác như dàn thạch trận, lập nhiều phòng tuyến. Trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một kẻ thù số một… → sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò.

    – Tâm địa của sông Đà được miêu tả qua “thạch trận”:

       + Thạch trận : ” Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền”

       + Thủy trận :”Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng ngang chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn sẵn trận địa.

       + Ba trùng vi giăng bẫy trên con sông:” Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông” , “vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào”, “còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả.

    Với vốn từ cực kì phong phú cùng bút pháp lãng mạn tô đậm để gây ấn tượng mãnh liệt, cảm giác rùng rợn, dựng lên một con sông hung bạo đầy đe dọa với con người.

    Bàn luận: Với nghệ thuật miêu tả tài hoa, vốn từ cực kì phong phú, ngôn ngữ tạo hình đặc sắc, cấu trúc trùng điệp, giọng văn mạnh mẽ, vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học như địa lí, điện ảnh để làm nên hàng loạt so sánh, liên tưởng kì lạ, bất ngờ, bút pháp lãng mạn tô đậm, Nguyễn Tuân đã tái tạo lại hình tượng con sống Đà hung bạo, dữ dội và đầy hiểm trở trên nhiều dáng vẻ, cảm giác rùng rợn, dựng lên một con sông hung bạo đầy đe dọa với con người. Bên trong sự hung bạo đó, con sông Đà cũng nổi bật lên như một biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và đất nước.

    b. Vẻ đẹp con sông trữ tình, thơ mộng:

    Miêu tả con sông ở nhiều góc độ:

    – Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ diễm kiều → nét đẹp duyên dáng, mềm mại thơ mộng.

    – Nhìn ngắm con sông từ nhiều thời gian, không gian khác nhau, Nguyễn Tuân đó phát hiện những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của màu nước sông Đà. Nó biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng. Vào mùa xuân, nước có sắc xanh “nhất định phải là sắc xanh ngọc bích chứ không phải xanh canh hến”Vào mùa thu, nước “lừ đừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa” → so sánh về màu sắc, làm cho dòng sông có vẻ đẹp riêng của mỗi mùa.

    – Cảm nhận con sông: “Tôi nhìn sông Đà như một cố nhân”; “Vui như nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng” → những hình ảnh so sánh gợi tả và gợi cảm. Nhà văn cảm nhận rõ nét cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân quen của con sông và nhất là cái chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh sắc thiên nhiên sông Đà.

    – Từ điểm nhìn của một khách hải hồ trên dòng sông, nhà văn đã quan sát và khắc họa những vẻ đẹp hết sức đa dạng và nên thơ của cảnh vật ven sông vừa hoang sơ nhuốm màu cổ tích vừa trù phú, tràn trề nhựa sống: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử…hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”→ so sánh có sức khêu gợi sâu xa khắc hoạ vẻ đẹp hoang sơ và dấu ấn văn hoá ngàn xưa của cha ông (Nguyễn Tuân cổ kính, đĩnh đạc nghiêm trang và hiện đại là thế).

    Bàn luận: Với những so sánh độc đáo gợi tả, gợi cảm, ấn tượng, giọng văn nhẹ nhàng, câu văn trải dài, mềm mại, âm điệu êm đềm. Hình ảnh con sông hiện lên thật trữ tình và thơ mộng. Thành công đó chính là kết quả của những công phu tìm tòi khó nhọc, công sức lao động nghiêm túc, cần cù, kiên nhẫn của nhà văn.

    Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Cảm nhận và miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới. Nhà văn ca ngợi vẻ đẹp, kì vĩ, hào hùng, trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên → chất vàng của thiên nhiên. Qua đó bộc lộ tình yêu tha thiết, say đắm của nhà văn đối với quê hương đất nước nói chung và thiên nhiên Tây Bắc nói riêng.

    2. Hình tượng người lái đò.

    a. Người lái đò sông Đà:

    – Ông lái đò Sông Đà làm nghề chở đò dọc trên Sông Đà – nghề vận tải đường nước, ông mang chân dung người lao động sông nước đẹp vạm vỡ khỏe mạnh. Cuộc sống hằng ngày của ông là chiến đầu với con Sông Đà, vật lộn với thiên nhiên để giành giật sự sống, để tồn tại.

    – Ông là người tinh thạo trong nghề nghiệp:

    + “Nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”. “Thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”. “Nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà”.

    + Ông thuộc lòng những đặc điểm địa hình của Sông Đà “nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào tất cả các luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”, Sông Đà “như một thiên anh hùng ca mà ông đò thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”.

    + Ông là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ … những luồng nước”, …

    + Ông là người trí dũng tuyệt vời, dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: Ông sẵn sàng đối mặt với thác dữ, chinh phục “cửa tử”, “cửa sinh”, vượt qua trận thuỷ chiến với đá chìm, đá nổi, với những trùng vi thạch trận và phòng tuyến đầy nguy hiểm. Ông lái đò vượt qua bằng những hành động táo bạo và chuẩn xác. Ông hiện lên như một vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm. Ung dung đối đầu với thác dữ “nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo …”, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng, phóng thẳng thuyền vào giữa thác …”

    + Ông là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, không thích lái đò trên khúc sông bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là chuyện thường.

    → Nổi bật lên hình ảnh ông lái đò từng trải, mang đậm dấu ấn nghề nghiệp, một con người có trí nhớ cao độ.

    b. Cuộc chiến với con sông Đà hung bạo:

    + Không có phép màu, dữ dội và hiểm độc.

    → Một cuộc chiến không cân sức.

    – Cuộc chiến chia làm 3 vòng:

    * Vòng 1:

    Sông Đà:

    – Sông Đà bày thạch trận trên sông. Thần sông dàn ra năm cửa đá thì có đến bốn cửa tử, cửa sinh duy nhất nằm sát bờ trái và huy động hết sức mạnh của sóng thác đánh vỗ mặt con thuyền. Trận đá chia làm ba hàng chặn ngang, phối hợp với đá nước thác reo hò, thách thức vang dậy, bẻ gãy cánh chèo.

    – Luồng sóng hung tợn “liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Thậm chí còn đánh đòn tỉa, đánh đòn âm… nhưng người lái đò bình tĩnh giữ chắc mái chèo giúp con thuyền “khỏi bị hất khỏi bờm sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Ngay cả lúc bị trúng đòn hiểm, mặt méo bệch đi nhưng ông vẫn tỉnh táo chỉ huy con thuyền lướt đúng vào luồng sinh.

    – Sóng nước túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra…bóp chặt lấy hạ bọ người lái đò.

    Ông đò:

    – Ông đò cố nén đau thương (vì thác đã đánh trúng vào chỗ hiểm), hai chân vẫn kẹp chặt lấy guồng lái, điều khiển con thuyền.

    – Tỉnh táo chỉ huy không một chút nghỉ tay, nghỉ mắt.

    → Người lái đò như một viên tướng tả xung, hữu đột, bình tĩnh, gan góc và tự tin, chiến đấu và chiến thắng.

    * Vòng 2:

    Sông đà:

    – Dòng sông đã thay đổi sơ đồ phục kích và cả chiến thuật, tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào. Cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn.

    – Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Bọn thuỷ quân …xô ra dịnh níu thuyền xô vào của tử.

    Người lái đò:

    – Ông đò đã “nắm chắc quy luật của thần sông thần đá” nên lập tức cũng thay đổi chiến thuật theo, nhận ra cạm bẫy của bọn thuỷ quân nơi cửa ải nước này.

    – Ông không né tránh mà đưa con thuyền cưỡi lên sóng thác”“cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”.

    – “Nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo vào cửa đá ấy”.

    – Người lái đò tả xung, hữu đột như một chiến tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc có thừa lòng quả cảm đã đưa được con thuyền vượt qua tập đoàn cửa tử khiến cho những bộ mặt đá hung hăng dữ tợn phải xanh lè, thất vọng.

    → Với trí tưởng tượng và vốn từ phong phú đặc biệt là kiến thức về quân sự: cách bài binh bố trận, Nguyễn Tuân tạo dựng được đoạn văn mang đầy không khí trận mạc, sinh động.

    * Vòng 3:

    Sông Đà:

    – Thạch trận ít cửa tử hơn nhưng bên phải bên trái đều là luồng chết cả, cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và bọn đá hậu vệ canh giữ.

    Người lái dò:

    – ông đò không hề bất ngờ trước mưu mô hiểm độc của bọn chúng, tiếp tục chỉ huy con thuyền vượt qua trùng vây thứ 3.

    – Vút vút cửa ngoài, cửa trong, vừa xuyên nhanh vừa tự động lái → thế là hết.

    → Sử dụng từ ngữ tượng hình, tượng thanh, nghệ thuật so sánh, câu văn ngắt ra nhiều để diễn tả các động tác trong cùng một khoảng thời gian của người lái đò → mạo hiểm, dũng cảm, thuần thục, giỏi giang trong nghề leo ghềnh,vượt thác. Đó chính là tài hoa của người nghệ sĩ (Nguyễn Tuân quan niệm: Dù bất cứ nghề nào, con người bộc lộ tài năng, khéo léo, điêu luyện trong nghề nghiệp, người đó là nghệ sĩ).

    – Sau cuộc vượt thác, ông trở về với cuộc sống đời thường, sau cuộc chiến “đêm ấy nhà ông đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam..cá túa ra tràn đầy đồng ruộng”. Đó là cuộc sống thường nhật của người lái đò ngày nào cũng chiến đấu với thiên nhiên → Cuộc sống bình dị, khiêm nhường nhưng rất đáng khâm phục.

    * Với nghệ thuật miêu tả giàu tính tạo hình, kết hợp nhiều yếu tố điện ảnh, lối kể chuyện hồi hộp giàu kịch tính, có cái nhìn của nhà địa lý chính xác, nhà quân sự tài ba, nhà văn đã làm nổi bật cuộc chiến đầy dữ dội nhưng cuối cùng con người đã chiến thắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên → kì tích lao động của con người. Nguyên nhân làm nên chiến thắng của con người không hề bí ẩn. Đó chính là sự ngoan cường, chí quyết tâm và nhất là kinh nghiệm đò giang sông nước đã giúp con người nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá. Đó chính là những yếu tố làm nên chất “vàng mười” của nhân dân Tây Bắc và của những người lao động nói chung. Qua đó nhà văn ca ngợi ý chí của con người, ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi huy hoàng.

    Đây là hình ảnh về một người lao động mới mang vẻ đẹp khác thường. Người lái đò hiện lên như là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, tài trí và luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ. Ông chỉ huy cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan và biết nhìn thử thách đó bằng cái nhìn giản dị mà không thiếu vẻ lãng mạn. Hình ảnh ông lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đã tìm được nhân vật mới cho mình, những con người đáng trân trọng, đáng ngợi ca, không thuộc tầng lớp thượng lưu đài các một thời vang bóng mà là những người lao động bình thường- chất “vàng mười của Tây Bắc”. Qua hình tượng người lái đò sông Đà, nhà văn muốn phát biểu quan niệm : người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày.

    III. Tổng kết:

    1. Nội dung:

    Người lái đò sông Đà ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc. Qua hình tượng sông Đà và người lái đò, Nguyễn Tuân muốn thể hiện niềm yêu mến thiết tha với thiên nhiên đất nước và ngợi ca những con người lao động – chất vàng mười của cuộc sống.

    2. Nghệ thuật:

    – Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị của tác giả.

    – Ngôn ngữ đa dạng, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao.

    – Câu văn có nhịp điệu, lúc thì hối hả, mau lẹ, khi thì chậm rãi, như tãi ra để diễn tả vẻ đẹp trữ tình rất nên thơ của con sông.

    – Cách sử dụng từ ngữ độc đáo, đắc địa, tài ba, sử dụng vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực.

    – Cách sử dụng từ ngữ độc đáo, đắc địa, tài ba, sử dụng vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà Định Hướng Phát Triển Năng Lực 2022
  • Giáo Án Ngữ Văn 12 Tiết 47, 48: Người Lái Đò Sông Đà ( Trích) Nguyễn Tuân
  • Giáo Án Ngữ Văn 12: Người Lái Đò Sông Đà
  • 5 Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân
  • Soạn Người Lái Đò Sông Đà Hay Và Dễ Hiểu Nhất
  • Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà : Dàn Ý Và Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Nhất
  • Máy Đọc Văn Bản Trực Tuyến
  • Chuyển Đổi Văn Bản Thành Audio Với Ispeech
  • Nhận Dạng Và Chuyển Đổi Bảng Mã Font Chữ Tiếng Việt Online Nhanh Nhất
  • Trên Đường Bộ, Người Lái Xe ô Tô Có Được Phép Dừng Xe, Đỗ Xe Song Song Với Một Xe Khác, Dàn ý Đường Đi Khó Không Khó Vì Ngăn Sông Cách Núi Mà Khó Vì Lòng Người Ngại Núi E Sông, Người Lái Đò Sông Đà, Bức Thư Gửi Người Còn Sống, Đáp án 5 Người Qua Sông, Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà, Bài Văn Mẫu Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12, Văn Tế Sống Người Con Gái, Văn Bnả Người Lái Đò Sông Đà, Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà, Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà, Bộ Quy Tắc Sống Xanh Của Người Hà Nội, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật, Tư Tưởng Chính Trị Đạo Đức Lối Cua Con Nguoi Sống, Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà, Cuộc Sống Thanh Cao Của Người, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Chăm Lo Đời Sống Cho Người Lao Động , Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đời Sống Hiệp Hội Từ Góc Nhìn Người Dân, Đời Sống Đạo Của Người Huynh Trưởng, 4 Quan Niệm Sống Của Người ấn Độ, Bí Quyết Sống Khỏe Của Người Nhật, Bài Tham Luận Chăm Lo Đời Sống Người Lao Động, Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà, ổn Định Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Người Lao Động, Dàn ý Về Cuọc Sống Của Người Dân Tây Bắc Trong Tác Phẩm Cợ Chồng A Phủ, Nghiên Cứu Đào Tạo Song Ngữ Cấp Tiểu Học: Góc Nhìn Người Trong Cuộc, Sách Hướng Dẫn Về Đời Sống Dành Cho Người Nước Ngoài, Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân Về ô Nhiễm Nguồn Nước Sông, Tăng Trưởing Kinh Tế Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Dàn Bài Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Con Người, Trong Thông Tin Vô Tuyến, Người Ta Đã Dùng Các Sóng Điện Từ Có Tần Số Từ Hàng Nghìn … Trở Lên, Chung Minh Rang Bao Ve Moi Truong Thien Nhien La Bao Ve Cuoc Song Cua Con Nguoi, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, ảnh Hưởng Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Con Người Việt Nam, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tiểu Luận Phân Tích Và Đánh Giá Những ảnh Hưởng Facebook Với Đời Sống Con Người, Luận Văn Tăng Trưong Kinh Tế Có Giúp Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Tầm Quan Trọng Của An Toàn Giao Thong Trong Đơi Sống Đoi Voi Con Nguoi Dac Bietj La Lua Tuoi Hoc Sin, Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Con Người., Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Là Sóng Ngang, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Có Người Bị Thương Nghiêm Trọng, Người Lái Xe Và Người Có Mặt, Một Máy Thu Thanh Đang Thu Sóng Ngắn. Để Chuyển Sang Thu Sóng Trung, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Chung Tính Chất Nào Dưới Đây?, Mạch Dao Động Lí Tưởng Lc Có Thể Phát Ra Sóng Vô Tuyến Truyền Trong Không Khí Với Bước Sóng, Tia Hồng Ngoại Và Tia Rơnghen Đều Có Bản Chất Là Sóng Điện Từ, Có Bước Sóng Dài Ngắn Khác Nhau Nên, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Cùng Tính Chất, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Cùng Tính Chất Nào, Trắc Nghiệm ôn Tập Dao Động Và Sóng Điện Từ – Sóng ánh Sáng, 2 Phương Trình Đường Thẳng Song Song, Một Sóng Điện Từ Đang Lan Truyền Từ Một Đài Phát Sóng ở Hà Nội Đến Máy Thu, Phương Trình 2 Đường Thẳng Song Song, Quan Niệm Thế Nào Là Cuộc Sống Đáng Sống, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Song Song, Khái Niệm 2 Đường Thẳng Song Song, Đề Xuất Giải Pháp Bảo Vệ Bờ Cửa Sông Ven Biển Cửa Sông Cái Lớn, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Giống Nhau ở Chỗ, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Khác Nhau ở, Định Nghĩa 2 Mặt Phẳng Song Song, Bài Giảng 2 Đường Thẳng Song Song, Tia Rơn-ghen (tia X) Là Sóng Điện Từ Có Bước Sóng, Định Lý 2 Đường Thẳng Song Song, Trắc Nghiệm 2 Mặt Phẳng Song Song, Mẫu Báo Cáo Thực Hành Đo Cường Độ Dòng Điện Và Hiệu Điện Thế Đối Với Đoạn Mạch Song Song, Báo Cáo Thực Hành Đo Hiệu Điện Thế Và Cường Độ Dòng Điện Đối Với Đoạn Mạch Song Song, Định Lý 2 Đường Song Song, Phương Trình Song Song Với Ox, 2 Phương Trình Song Song, Định Lý 2 Mặt Phẳng Song Song, Chọn Câu Sai. Sóng Điện Từ Là Sóng, Chuyên Đề 2 Mặt Phẳng Song Song, Bài Giảng 2 Mặt Phẳng Song Song, Tiểu Thuyết Sóng ở Đáy Sông, Công Thức 2 Bản Mặt Song Song, Công Thức R Song Song, Giải Bài Tập 2 Mặt Phẳng Song Song, Ta ₫ến ₫ể Cho Chiên ₫ược Sống Và Sống Sung Mãn, Bài Tập Chuyên Đề Hai Mặt Phẳng Song Song, Định Lý Từ Vuông Góc Đến Song Song, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Dưới Đây Là Sai Trong Quá Trình Truyền Sóng Điện Từ, Nguyên Tắc Chọn Sóng Của Mạch Chọn Sóng Trong Máy Thu Vô Tuyến Dựa Trên, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Mang Năng Lượng, Thông Tin Nào Sau Đây Là Sai Khi Nói Về Tia X Có Bước Sóng Ngắn Hơn Bước Sóng Của Tia Tử Ngoại, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Người Lái Xe Và Người Có Mặt Tại Hiện Trường Vụ Tai Nạn Phải Thực Hiệ, Con Người Và Nhân Tố Con Người Trong Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Tri Thức 4.0, Số Người Chết, Số Người Bị Thương, Số Vụ Tai Nạn Từ Năm 2013,2014,2015,2016, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Người Lái Xe Và Người Có Mặt Tại Hiện Trường Vụ Tai Nạn Phải Thực Hiệ, Trong Khu Dân Cư, ở Nơi Cho Phép Người Lái Xe, Người Điều Khiển Xe Máy Chuyên Dùng Được Quay, Khi Đang Lên Dốc Người Ngồi Trên Xe Mô Tô Có Được Kéo Theo Người Điều Khiển Xe Đạp Hay Không, Người Điều Khiển Xe Mô Tô 2 Bánh, Xe Gắn Máy Được Phép Chở Tối Đã 2 Người Trong Những Trường Hợp Nào, Định Lý Song Song, Bài Tập 2 Mặt Phẳng Song Song, O To Đâu Đến Đo Hai Chiếc Đau Song Song, Định Lý Dời Lực Song Song, Sống Một Cuộc Sống Dư Dật,

    Trên Đường Bộ, Người Lái Xe ô Tô Có Được Phép Dừng Xe, Đỗ Xe Song Song Với Một Xe Khác, Dàn ý Đường Đi Khó Không Khó Vì Ngăn Sông Cách Núi Mà Khó Vì Lòng Người Ngại Núi E Sông, Người Lái Đò Sông Đà, Bức Thư Gửi Người Còn Sống, Đáp án 5 Người Qua Sông, Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà, Bài Văn Mẫu Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12, Văn Tế Sống Người Con Gái, Văn Bnả Người Lái Đò Sông Đà, Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà, Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà, Bộ Quy Tắc Sống Xanh Của Người Hà Nội, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật, Tư Tưởng Chính Trị Đạo Đức Lối Cua Con Nguoi Sống, Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà, Cuộc Sống Thanh Cao Của Người, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Chăm Lo Đời Sống Cho Người Lao Động , Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đời Sống Hiệp Hội Từ Góc Nhìn Người Dân, Đời Sống Đạo Của Người Huynh Trưởng, 4 Quan Niệm Sống Của Người ấn Độ, Bí Quyết Sống Khỏe Của Người Nhật, Bài Tham Luận Chăm Lo Đời Sống Người Lao Động, Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà, ổn Định Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Người Lao Động, Dàn ý Về Cuọc Sống Của Người Dân Tây Bắc Trong Tác Phẩm Cợ Chồng A Phủ, Nghiên Cứu Đào Tạo Song Ngữ Cấp Tiểu Học: Góc Nhìn Người Trong Cuộc, Sách Hướng Dẫn Về Đời Sống Dành Cho Người Nước Ngoài, Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân Về ô Nhiễm Nguồn Nước Sông, Tăng Trưởing Kinh Tế Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Dàn Bài Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Con Người, Trong Thông Tin Vô Tuyến, Người Ta Đã Dùng Các Sóng Điện Từ Có Tần Số Từ Hàng Nghìn … Trở Lên, Chung Minh Rang Bao Ve Moi Truong Thien Nhien La Bao Ve Cuoc Song Cua Con Nguoi, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, ảnh Hưởng Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Con Người Việt Nam, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tiểu Luận Phân Tích Và Đánh Giá Những ảnh Hưởng Facebook Với Đời Sống Con Người, Luận Văn Tăng Trưong Kinh Tế Có Giúp Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Tầm Quan Trọng Của An Toàn Giao Thong Trong Đơi Sống Đoi Voi Con Nguoi Dac Bietj La Lua Tuoi Hoc Sin, Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Con Người., Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Là Sóng Ngang, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Có Người Bị Thương Nghiêm Trọng, Người Lái Xe Và Người Có Mặt, Một Máy Thu Thanh Đang Thu Sóng Ngắn. Để Chuyển Sang Thu Sóng Trung, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Chung Tính Chất Nào Dưới Đây?, Mạch Dao Động Lí Tưởng Lc Có Thể Phát Ra Sóng Vô Tuyến Truyền Trong Không Khí Với Bước Sóng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”
  • Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Giáo Án Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà
  • Đọc Toàn Tập Người Lái Đò Sông Đà

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà
  • Bài: Người Lái Đò Sông Đà
  • Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân
  • Hướng Dẫn Soạn Người Lái Đò Sông Đà Dễ Hiểu
  • I. Hoàn cảnh ra đời người lái đò sông đà

    Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” được in trong tập tuỳ bút “Sông Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.

    Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”

    Qua “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơ mộng, hùng vỹ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình. Đồng thơi, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới: chất vàng mười của đất nước trong xây dựng CNXH qua hình ảnh người lái đò sông Đà.Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa.

    II.Nguyễn Tuân – ý chính trong người lái đò song đà

    Câu 4: Anh (chị) hãy trình bày những nét chính trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân?

    _Gợi ý_

    – Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc. Phong cách này có thể gói gọn trong một chữ “ngông”.

    – Trước Cách mạng, ông quay về tìm kiếm vẻ đẹp của một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng. Sau Cách mạng, Nguyễn Tuân tìm thấy sự gắn bó giữa quá khứ với hiện tại và tương lai.

    – Nguyễn Tuân là người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông chủ yếu khám phá thiên nhiên và sự vật ở phương diện thẩm mĩ, khám phá con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ.

    – Nguyễn Tuân có một kho từ vựng phong phú, có khả năng tổ chức câu văn giàu giá trị tạo hình, có nhịp điệu và biết co duỗi nhịp nhàng.

    Câu 5: Trong đoạn trích “Người lái đò sông Đà” (Sông Đà – Nguyễn Tuân), ông lái đò đã phải vượt qua những trùng vi thạch trận nào? Ý nghĩa của cuộc vượt thác?

    _Gợi ý_

    – Ông lái đò đã vượt qua ba trùng vi thạch trận:

    + Năm cửa trận, bốn cửa tử và một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ ở phía tả ngạn song.

    + Tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại lệch qua phía bờ hữu ngạn.

    + Bên phải bên trái đều là luồng chết, cửa sinh ở giữa con thác.

    – Ý nghĩa:

    Ba lần vượt thác của ông lái đò thực sự là ba trận chiến gian nan vất vả và đầy nguy hiểm. Dòng sông càng hung dữ thì càng tôn lên vẻ đẹp của con người lao động. Nguyễn Tuân đã viết lên một khúc tráng ca hào hung về vẻ đẹp của con người trong lao động.

    Câu 6: Nêu vắn tắt hai vẻ đẹp của người lái đò trong “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân. Nguyên nhân chiến thắng của ông lái đò.

    _Gợi ý_

    – Ông là người trí dũng tuyệt vời. Ông sẵn sàng đối mặt với thác dữ, với những “trùng vi thạch trận” và những phòng tuyến đầy nguy hiểm. Người lái đò đã vượt qua chúng bằng những động tác táo bạo chuẩn xác.

    – Ông lái đò là người tài hoa nghệ sĩ. Ông đối đầu với ghềnh thác cuồng bạo bằng sự tự tin, ung dung nghệ sĩ, nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn. Sau khi đọ trí, thi tài với con sông thủy quái, ông lại ung dung đốt lửa nướng cơm lam, say sưa nói về các loài cá mà không hề bận tâm đến chuyện vượt thác.

    – Nguyên nhân chiến thắng của ông lái đò: sự ngoan cường, dũng cảm và nhất là kinh nghiệm sông nước.

    Câu 7: Anh / chị hãy cho biết câu thơ của Nguyễn Quang Bích mà Nguyễn Tuân dẫn ra làm đề từ cho bài tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” ? Dịch nghĩa câu thơ đó ?

    _Gợi ý_

    – Câu thơ của Nguyễn Quang Bích:

    ” Chúng thủy giai đông tẩu

    Đà giang độc bắc lưu”

    – Dịch nghĩa: Mọi dòng sông đều chảy về hướng đông – chỉ có sông Đà chảy theo hướng bắc.

    Câu 8: Tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân có mấy nhân vật ? Tại sao gọi con sông Đà là một nhân vật ?

    _Gợi ý_

    – Tùy bút “Người lái đò sông Đà” có 2 nhân vật: ông lái đò và con sông Đà.

    – Gọi con sông Đà là một nhân vật vì con sông dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân là một sinh thể có hoạt động, có cá tính, có tâm hồn, trạng thái khá phức tạp. Theo Nguyễn Tuân sông Đà có 2 tính cách: hung bạo và trữ tình.

    Câu 9: Phóng túng và bay bổng là một nét riêng trong cách viết của Nguyễn Tuân. Anh/ chị hãy trích dẫn một câu văn trong bài tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” nói lên nét đẹp trữ tình của con sông?

    _Gợi ý_

    Trong bài tùy bút “Người lái đò sông Đà” có nhiều câu văn rất phóng túng và bay bổng, như để miêu tả nét đẹp trữ tình của con sông. Nguyễn Tuân viết: “Con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

    Câu 10: Nguyên nhân chiến thắng của ông lái đò trong “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân? Qua hình ảnh ông lái đò nhà văn muốn phát biểu quan niệm gì?

    _Gợi ý_

    – Nguyên nhân chiến thắng: Sự ngoan cường, dũng cảm và nhất là kinh nghiệm sông nước.

    – Quan niệm: Người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động hàng ngày.

    Câu 11: Qua việc tìm hiểu về tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, Anh/ chị hãy nêu ý nghĩa văn bản?

    _Gợi ý_

    Ý nghĩa: Nguyễn Tuân giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam.

    III.

    Đề : Phân tích tác phẩm người lái đò song đà

    Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc.

    Khi lòng ta đã hóa những con tàu

    Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

    Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu.”

    (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

    Trong những ngày tháng cả nước rộn rang lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để xây dựng lại một miền quê của Tổ quốc, có biết bao nhà văn, nhà thơ đã thực hiện quá trình lột xác để đến với cách mạng. Một trong những nhà nghệ sĩ yêu nước ấy là Nguyễn Tuân – cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam. Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc qua tùy bút Người lái đò sông Đà – một tác phẩm thể hiện rõ nét và sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông.

    Đến với nghệ thuật, đối với Nguyễn Tuân là đến với sự tìm tòi và sáng tạo, bởi vì “nhà văn là người sáng tạo lại thế giới”. Nguyễn Tuân sợ mình của ngày hôm nay giống với mình của ngày hôm qua, sợ sự trùng lặp tầm thường. Chính vì thế, ông đã lấy “chủ nghĩa” xê dịch “làm đề tài cho tác phẩm, làm mục đích cho cuộc đời mình. Sống là để đi, để tìm hiểu những điều mới lạ.

    Trước cách mạng, một mình với chiếc vali, Nguyễn Tuân đã bôn ba trên nhiều miền quê đất nước nhưng với tâm trạng của kẻ “thiếu quê hương”, bất mãn với cuộc đời. Đó cũng là tâm trạng chung của thời đại. Sau cách mạng, ông cũng xuôi ngược nhiều nơi nhưng với tinh thần của người yêu quê hương xứ sở, muốn góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Chính nhà văn đã từng nói đến Tây Bắc là để “đi tìm cái thứ vàng mười của màu sắc song núi Tây Bắc, và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và bền vững”. Với tình yêu quê hương sâu nặng và bầu nhiệt huyết sôi nổi ấy, Nguyễn Tuân đã sử dụng uyển chuyển, tinh vi vốn ngôn ngữ phong phú của mình để viết nên những tờ hoa thơm thảo về con người và thiên nhiên của miền sông núi này…

    Tác giả hay đi tìm cảm giác mạnh cho các giác quan. Vì vậy, những trang văn của ông thường mang theo âm điệu của những trận cuồng phong, bão tố. Nhưng không vì thế mà chúng mất đi nét dịu hiền, thơ mộng. Qua ngòi bút Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên vừa hung bạo nhưng cũng vừa trữ tình. Nó mang tâm địa xảo quyệt của thứ kẻ thù số một, có thể cướp đi mạng sống của bất cứ kẻ nào lỡ sa chân vào “thạch trận”…”Nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ…đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông” và khi thấy chiếc thuyền nào nhô vào thì chúng “nhỏm cả dậy để vồ lấy”… Nhưng cái hung hãn dữ tợn ấy vẫn không làm mất đi được nét trữ tình ở sông Đà. Miêu tả con sông ở những đoạn xuôi dòng, ngòi bút Nguyễn Tuân bỗng trở nên mềm mại, uyển chuyển, mang đậm chất thơ. “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân”…

    Trên con sông ấy, ông lái đò xuất hiện, dữ dội và phi thường. Trong cuộc chiến đấu “một mất, một còn” với thác nước, tác giả cho ta thấy được cái tài hoa, trí dũng tuyệt vời của ông lái. Người lái đò sông Đà là hiện thân của tác giả, chỉ thích lao vào những cuộc chiến đấu nguy hiểm với thác nước dữ dội mà không ưa xuôi thuyền trên dòng sông êm ả…

    Giọng văn Nguyễn Tuân thật tự nhiên và phóng túng khi miêu tả hai trạng thái đối lập của cùng một sự vật. Sông Đà vừa trữ tình vừa hung bạo, vừa là “kẻ thù , vừa là “cố nhân”. Dưới ngòi bút tác giả, con sông không chết cứng mà vận động một cách mạnh mẽ, sôi nổi bằng những từ ngữ gợi hình ảnh, tác động mạnh vào giác quan người đọc. Ông lái đò cũngthế cũng xuất hiện một cách sinh động, rõ nét và sắc sảo… Đối với Nguyễn Tuân, “đã là văn thì trước hết phải là văn”. Văn phải đẹp, phải trau chuốt. Cái đẹp ấy đã chi phối cách nhìn của tác giả trên toàn bộ tác phẩm. Con người và sự vật, qua ngòi bút Nguyễn Tuân, đều được khai thác trên phương tiện mĩ thuật và tài hoa nghệ sĩ.

    Nét đẹp sông Đà là một công trình dày công sáng tạo của tạo hóa. Nó vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Nó đẹp từ dáng dấp đến màu sắc. Cái áng tóc trữ tình của người thiếu nữ ấy là nguồn cảm hứng cho biết bao nhà thơ, nhà văn. Nước sông Đà cũng thế. “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, “Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượi bữa”. Con sông ấy đối với tác giả không chỉ đơn thuần là một cảnh đẹp thiên nhiên mà nó thật gợi cảm. Nó gây nên nỗi nhớ da diết cho những ai đã từng một lần gặp gỡ rồi lại đi xa. Gặp lại sông Đà, tác giả cảm thấy tâm hồn lâng lâng vui sướng như gặp lại cố nhân. “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”.

    Và trong cái đẹp đẽ, thơ mộng của đất trời thiên nhiên, con người xuất hiện như một nghệ sĩ tài hoa. Ông lái điều khiển con thuyền một cách chủ động và thuần thục. Ông bao giờ cũng đứng trên thác sóng dữ dội mà bắt chúng phải qui hàng. “Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về phía cửa đá ấy”. Nguyễn Tuân miêu tả hình ảnh ông lái điều khiển chiếc thuyền cứ như một nhạc sĩ đang kéo đàn violon.

    “Người lái đò sông Đà” là một bước chuyển lớn trong phong cách Nguyễn Tuân. Trước cách mạng, nhà văn thường đi tìm đề tài cho tác phẩm bằng cách quay về với quá khứ, với một thời vang bóng đã qua. Nhân vật của Nguyễn Tuân là những Huấn Cao, quản ngục mang tâm trạng của kẻ “nào biết trên đầu có ai”. Nhân vật “vang bóng một thời” là những vị anh hùng ngang dọc, “khinh bạc đến điều”. Nhưng sau cách mạng, Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở những con người lao động hết sức bình dị, gần gũi.

    Huấn Cao giờ đây đã lùi vào dĩ vãng chỉ còn đây một ông lái đò cả đời gắn bó với công việc, với cuộc sống. Hình ảnh ông lái lênh đênh trên sóng nước, chiến đấu với tử thần bằng cây sào bé nhỏ gây xiết bao xúc động trong lòng người đọc. Nguyễn Tuân đã trao tặng ông chiếc huy chương anh hùng lao động trên ngực như một niềm hãnh diện thiêng liêng. Ông lái xuất hiện trước mắt chúng ta như những người nghệ sĩ tài hoa trí dũng song toàn. Miêu tả hình ảnh người đời thường lái đò, Nguyễn Tuân đã thể hiện tấm lòng trân trọng, cảm phục những con người góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc.

    Trong việc tái hiện lại hình ảnh sông núi Tây Bắc và người lái đò, Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc… Mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động. “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Âm thanh sóng vỗ vào đá, vào mạn thuyền, sóng dậy lên thành thác núi, “một anh bạn quay phim táo tợn…đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròng trành” rồi lao xuống “đáy hút sông Đà” để quay phim… Tất cả những gì nhà văn viết ra, những gì nhà văn tưởng tượng và sáng tạo nên đều như được dựng lại trước người đọc. Tiếp xúc với tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, ta như đang đứng trước con sông ấy, chứng kiến cuộc vật lộn giữa ông lái với thác nước, chứng kiến từng đoạn sông dữ tợn, lởm chởm những đá ngầm, đá nổi và cả những đoạn sông êm ả, trữ tình.

    Trong đoạn văn, Nguyễn Tuân dùng cả những kiến thức về quân sự, võ học… Cuộc chiến đấu giữa người lái với thạch trận sông Đà diễn ra thật hấp dẫn, li kì: “Mặt nước hò la”, sóng nước “đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”. Nó “bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”… Tất cả những từ ngữ và hình ảnh mang đậm nét “quân sự, võ thuật” ấy như gợi lại trước mắt ta quan cảnh một cuộc hỗn chiến nguy hiểm, đầy hồi hộp hấp dẫn.

    Nguyễn Tuân từng được mệnh danh là nhà văn của sự tài hoa và uyên bác. Nguồn tri thức khổng lồ của ông về lịch sử, khoa học, địa lí, sinh học… thường được tuôn trào dào dạt trong tác phẩm. Với Người lái đò sông Đà, tác giả đã đưa ta đến với một miền quê hương Tổ quốc. Vị trí sông Đà, lịch sử sông Đà đã được Nguyễn Tuân giới thiệu bằng những trang viết đầy tính “uyên bác”. Nhiều địa danh được tác giả nhắc đến trong tác phẩm như Tà Mường Vát, Sơn La,Hát Loóng… Tất cả, tất cả chứng tỏ sự hiểu biết rất rộng và rất sâu của tác giả khi viết về sông Đà…

    Khả năng diễn đạt và vốn ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thật phong phú. Mỗi từ ngữ khi đưa vào câu văn dường như đã được chắt lọc, gọt giũa cẩn thận. Ông đã sáng tạo nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo. Giọng văn đôi khi có vẻ thô kệch, dàn trải nhưng lại hết sức cô đúc và tự nhiên. Nguyễn Tuân không những viết nên những trang văn đầy tài hoa và lịch lãm mà ông còn sáng tạo nên những trang thơ cho đời. Đọc những dòng viết về con sông Đà trữ tình, ta không khỏi ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước giọng văn êm ái, dịu dàng như thơ của Nguyễn Tuân.

    Viết về người lái đò sông Đà, viết về một vùng quê hương Tổ quốc, Nguyễn Tuân đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thiên nhiên đất nước. Sông Đà càng đẹp, càng sinh động, ông lái càng anh dũng, ngoan cường trong công việc ta càng thấy được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn – Người lao động trong tác phẩm Nguyễn Tuân thật bình dị từ công việc đến hình dáng, cách ăn nói. Nhưng ông ta lại là người anh hùng trước mắt Nguyễn Tuân. Nhà văn đã phát hiện ra trong con người bình dị ấy chất nghệ sĩ tài hoa, dám đương đầu với sóng to gió lớn để chèo chống con thuyền qua sông. Ông lái hiện lên trong tác phẩm là người lao động hăng hái, quên mình vì công việc.

    Cuộc sống quanh ta vốn dĩ rất tầm thường, cũ kĩ. Ngày lại qua ngày, mây vẫn bay và gió vẫn thổi…nhưng chính nhà văn là người mang lại cho ta một thế giới mới, tinh khôi, kì diệu. Nguyễn Tuân cũng là một nhà văn, một người góp phần sáng tạo lại thế giới. Văn chương của Nguyễn Tuân đã mang đến cho chúng ta một chân trời huyền bí riêng biệt, hấp dẫn và độc đáo. Đó là chân trời của cái đẹp, của sự tài hoa và uyên bác…

    Đề : Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà (1)

    Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập sông Đà (1960). Viết tuỳ bút này Nguyễn Tuân tự coi mình là người đi tìm cái thứ vàng mười của màu sắc núi sông Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa được vui và vững bền. Chất vàng mười của con người ấy chính là người lái đò sông Đà. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân người lái đò vừa là người anh hùng vừa là người nghệ sỹ tài hoa trong nghề của mình.

    Chẳng phải tình cờ khi, để nói về màu sắc của núi sông, Nguyễn Tuân chỉ dùng một chữ vàng. Để rồi sau đó, ông sẽ dùng chữ vàng mười để gọi tên vẻ đẹp và giá trị quý báu của con người lao động. Điều đó chứng tỏ, trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả “Người lái đò sông Đà”, con người đẹp hơn tất cả và quý giá hơn tất cả. Với ” Người lái đò sông Đà” Nguyễn Tuân đã dựng hình ảnh một sông Đà mà ông đã từng muốn” trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” nhưng cũng rất đúng nếu nói rằng thiên nhiên ấy cũng chính là kẻ tôn vinh số một giá trị của con người. Người lái đò sông Đà kia sẽ là ai nếu con thuyền của ông không phải vật lộn với “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”? Có thể người ấy sẽ mang một vẻ đẹp nào đó của một ông ngư, ông chài, ông lái đò nhưng sẽ không trở thành đối tượng của một khúc hùng ca. Trái lại cái hùng vĩ của sóng, của thác, của sông nước Đà Giang đã làm sáng chói lên hình ảnh con người đẹp nhất, kiêu hùng nhất, người lái đò trên sông Đà người anh hùng người nghệ sĩ chế ngự thiên nhiên hùng mạnh.

    Người lái đò Sông Đà trước hết là một ông già bảy mươi tuổi đã giành một phần lớn cuộc đời mình cho nghề lái đò dọc trên sông Đà. Đó là một người lái đò lão luyện: ” Trên dòng sông Đà ông xuôi, ông ngược hơn 100 lần rồi, chính tay giữ lái đò sáu chục lần” trong thời gian hơn chục năm làm nghề lái đò cái nghề đầy nguy hiểm và gian khổ này. Đây là một con người từng trải, hiểu biết, rất thành thạo trong nghề lái đò và đã đạt đến trình độ ” Bằng cách lấy mắt và nhớ tỷ mỉ như đóng đinh vào tất cả những luông nước của tất cả những con thác hiểm trở”. Nguyễn Tuân đã bày tỏ sự khâm phục của mình đối với con người này ” sông Đà đối với ông lái đò ấy như một thiên anh hùng mà ông đã thuộc cả đến dấu chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng”.

    Thoạt nhìn, đó là một cuộc đấu không cân sức. Bởi đó là trận đấu mà ở bên này là một thiên nhiên lớn lao, dữ dội và hiểm độc, với sức mạnh được nâng lên hàng thần thánh, có sông nước hò réo quyết vật ngửa mình thuyền, có thạch trận vời đủ ba lớp trùng vi vây bủa, được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và nham hiểm; còn bên kia là con người bé nhỏ, không hề có phép màu, vũ khí trên tay chỉ là chiếc cán chèo – những chiếc que thật mỏng manh trước nguy nga sóng thác – trên một con đò đơn độc hết chỗ lùi. Người xưa vẫn coi ” Cưỡi con gió mạnh, đạp đầu sóng dữ” là biểu trưng cho một lý tưởng sống anh hùng. Ông lái đò này dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân cũng chính là con người cưỡi gió đạp sóng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Người lái đò của Nguyễn Tuân không có phép màu, ông đâu có đôi cánh tay Hec Quyn để sánh được với sức lực của Thuỷ Tinh. Nhưng ông đã ” Nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”, cái kinh nghiệm đò giang sông nước lên thác xuống ghềnh và cái trí tuệ ấy đã khiến cho ông lái dù trong tay chỉ có cây chèo (cái que nhỏ giữa nguy nga sóng thác) vẫn có thể phá thành vượt ải như một chiến tướng bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống thiên nhiên. Một cảm hứng hào hùng đã khiến ngòi bút Nguyễn Tuân tả một cuộc vượt thác Sông Đà vẫn diễn ra thường nhật thành một trận đánh biến ảo hấp dẫn, một khúc hát ca ngợi chiến công của một bậc anh hùng. Cuộc chiến đấu của người lái đò có thể chia thành 3 chặng vượt vòng vây của thác nước, đá sông.

    Ở trùng vi thứ nhất: Vừa vào trận, sóng nước, đá sông hò la vang dậy, ùa vào bẻ gãy cán chèo vô khí, đá trái thúc vào bụng, vào hông thuyền. Nước như đô vật túm thắt lưng ông đò rồi đánh miếng đòn độc, đánh vào chỗ hiểm. Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt cuống lái, mặt méo lệch đi. Con thuyền bơi chèo vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn và tỉnh táo của người cầm lái, ông đò thực là một chiễn sĩ dũng cảm, rất bình tĩnh nén mọi đau đớn để chiến thắng kẻ thù.

    Ở trùng vi thứ hai: Kẻ địch thay chiến thuật, chúng tăng thêm nhiều cửa tử .Cửa sinh bố trí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 30. Ôn Tập Phần Văn
  • Ôn Tập Ngữ Văn 7
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cả Năm
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Các Văn Bản Nhật Dụng Trong Ngữ Văn Lớp 7
  • Bài Soạn Lớp 9: Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự
  • Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà
  • Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà : Dàn Ý Và Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Nhất
  • Máy Đọc Văn Bản Trực Tuyến
  • Chuyển Đổi Văn Bản Thành Audio Với Ispeech
  • ĐỌC HIỂU NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ ( Nguyễn Tuân) Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: ...Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. ( Trích Tuỳ bút Sông Đà-Nguyễn Tuân) 1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính? 2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ? 3. Trong đoạn văn trên, Nguyễn Tuân sử dụng nhiều biện pháp tu từ về từ. Xác định biểu hiện các phép tu từ đó và nêu tác dụng của hình thức nghệ thuật này là gì ? 4. Đoạn văn bản trên Nguyễn Tuân đã sử dụng tổng hợp tri thức của những ngành nào ? Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng đó là gì ? Trả lời: 1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức miêu tả là chính. 2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là : tả về thác nước và đá ở sông Đà ( hay còn gọi là thạch thuỷ trận) 3. Trong đoạn văn trên, Nguyễn Tuân sử dụng nhiều biện pháp tu từ về từ. Đó là : - So sánh : thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo.. - Nhân hoá: oán trách , van xin, khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo.., rống lên , mai phục ,nhổm cả dậy ,ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó ... Tác dụng của hình thức nghệ thuật này là : gợi hình ảnh con sông Đà hùng vĩ, dữ dội. Không còn là con sông bình thường, Sông Đà như có linh hồn, đầy tâm địa, nham hiểm. Qua đó, ta thấy được phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân. 4. Đoạn văn bản trên Nguyễn Tuân đã sử dụng tổng hợp tri thức của nhiều ngành . Cụ thể : - âm nhạc : tả âm thanh tiếng thác : nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên... - Hội hoạ : vẽ bộ mặt của Đá : nhăn nhúm méo mó - Quân sự: mai phục Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng đó là : thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân khi tả dòng sông Đà. Con sông được nhìn ở nhiều góc độ, trở nên sống động, mạnh mẽ, ấn tượng, thể hiện tình yêu thiên nhiên sâu đậm của nhà văn. TÂY TIẾN Đề 1: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: 1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của tác giả? 2. Nêu ý nghĩa tu từ của từ láy chơi vơi trong đoạn thơ. 3. Câu thơ : Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi được phối thanh như thế nào? Nêu hiệu quả nghệ thuật của việc phối thanh đó. 4. Cụm từ bỏ quên đời thể hiện vẻ đẹp bi hùng của người lính Tây Tiến như thế nào? Trả lời: 1/ Đọc thơ thể hiện nỗi nhớ da diết của tác giả về miền Tây và đoàn quân Tây Tiến. Đó là những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội. 2/ Từ láy " chơi vơi" gợi nỗi nhớ mênh mông, không định hình, không theo trình tự thời gian và không gian, cứ dâng trào theo cảm xúc của nhà thơ. 3/ Câu thơ : Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi được phối toàn thanh bằng. Hiệu quả nghệ thuật : tạo cảm giác được những mệt mỏi, căng thẳng đã được trút hết và những con người đã chiếm lĩnh được đỉnh cao, đã phóng tầm mắt ra bốn phương nhẹ nhõm, sảng khoái ngắm nhìn trong không gian bao la, mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà của người dân tộc như đang bồng bềnh trôi giữa màn mưa rừng. 4/ Cụm từ bỏ quên đời thể hiện vẻ đẹp bi hùng của người lính Tây Tiến : Từ "bỏ" khẳng định người coi cái chết nhẹ nhàng trong dãi dầu mưa nắng, lúc vượt qua núi đèo. Nhà thơ đã sử dụng cách nói giảm nhưng vẫn gieo vào lòng người đọc sự xót xa thương cảm về những gian nan, vất vả mà người lính Tây Tiến đã phải trải qua. Đề 2: "Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa, Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa". Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: 1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của tác giả? 2. Các từ "xiêm áo", "khèn","man điệu", "e ấp" có vai trò gì trong việc thể hiện những hình ảnh vẻ đẹp văn hoá miền núi và tâm trạng người lính Tây Tiến? 3. Câu thơ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa được sử dụng nghệ thuật gì? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó. Trả lời: 1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng của tác giả : đó là nỗi nhớ những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng. 2/ Các từ "xiêm áo", "khèn","man điệu", "e ấp" có vai trò trong việc thể hiện những hình ảnh vẻ đẹp văn hoá miền núi và tâm trạng người lính Tây Tiến : a/ Vẻ đẹp thể hiện bản sắc dân tộc, nhất là văn hoá miền núi. Đó là vẻ đẹp của các cô gái Tây Bắc trong trang phục lạ: xiêm áo, vừa e thẹn, vừa tình tứ trong một vũ điệu lạ: man điệu, nhạc cụ lạ : khèn, dáng điệu lạ: e ấp. b/ Tâm trạng người lính: vừa ngạc nhiên, vừa đắm say trong tiến khèn, điệu múa.Tâm hồn các anh vẫn phơi phới niềm lạc quan yêu đời, đầy ắp niềm vui và mộng mơ, quên đi bao nỗi nhọc nhằn, gian khổ. 3/ Câu thơ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa được sử dụng nghệ thuật đối lập. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ : gợi vẻ đẹp hoang sơ, vữa dữ đội, vừa thơ mộng của núi rừng, đồng thời thể hiện bút pháp "thi trung hữu hoạ" ( trong thơ có hoạ) của Qung Dũng. VIỆT BẮC Đề 1: "Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay..." Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: 1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của mình và ta? Mười lăm năm ấy là khoảng thời gian nào ? Tại sao gợi nhớ Mười lăm năm ấy ?, 2. Nêu ý nghĩa tu từ của các từ láy trong đoạn thơ? 3. Hình ảnh áo chàm sử dụng biện pháp tu từ gì? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp đó ? 4. Cách ngắt nhịp của câu thơ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay có gì lạ? Nêu hiệu quả nghệ thuật của cách ngắt nhịp đó. Trả lời: 1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng nhớ thương, lưu luyến, bồi hồi xúc động của mình và ta. Mười lăm năm ấy là khoảng thời gian kể từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Gợi nhớ Mười lăm năm ấy vì đó là khoảng thời gian Việt Bắc là căn cứ cách mạng, thời gian gắn bó lâu dài, có tình cảm tha thiết, sâu nặng giữa nhân dân Việt bắc với cán bộ kháng chiến. 2. Ý nghĩa tu từ của từ láy thiết tha gợi tâm trạng thương nhớ của ngườ ở lại. Các từ láy tha thiết , bâng khuâng , bồn chồn gợi tâm trạng tả tâm trạng của người cán bộ: nhớ, buồn vì phải chia tay với Việt Bắc, nơi đã gắn bó suốt "mười lăm năm" với bao "đắng cay ngọt bùi". Những người cán bộ cũng hồi hộp, không yên trong lòng vì sắp được trở về quê hương sau thời gian dài xa cách. 3. Hình ảnh áo chàm sử dụng biện pháp tu từ hoán dụ để chỉ người Việt Bắc. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp hoán dụ: gợi tâm trạng lưu luyến trong giây phút chia tay giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến. 4. Cách ngắt nhịp của câu thơ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay lạ ở chỗ từ nghịp bình thường 2/2/2/2, Tố Hữu chuyển sang nhịp 3/3/2. Hiệu quả nghệ thuật của cách ngắt nhịp : gợi tâm trạng bịn rịn, xúc động đến nghẹn ngào không nói nên lời trong giây phút chia tay của người cán bộ kháng chiến. . TIẾNG HÁT CON TÀU - Chế Lan Viên - Đề 1: Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân. Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường, Con đã đi nhưng con cần vượt nữa Cho con về gặp lại mẹ yêu thương. Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: 1. Nêu ý chính của đoạn thơ? 2. Nêu ý nghĩa từ "máu rỏ", "chín trái đầu xuân " trong đoạn thơ. 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh ở đoạn thơ thứ 2 ? Trả lời: 1. Ý chính của đoạn thơ : Về với Tây Bắc là về với kỉ niệm kháng chiến. Đó là niềm khát khao mãnh liệt và niềm hạnh phúc lớn lao khi trở về với nhân dân cùng với những kỉ niệm sâu nặng đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến. 2. Ý nghĩa từ "máu rỏ" : gợi giá trị to lớn của đau thương, mất mát, hi sinh thầm lặng của bao người, "chín trái đầu xuân " gợi thành quả lao động . Nơi máu rỏ là nơi trái chín, nơi đau thương, hi sinh là nơi sự sống sinh sôi, nảy nở nhờ quá trình lao động bền bỉ, hăng say . Điều đó gợi sức sống bất diệt của vùng đất kháng chiến, của con người Việt Nam. 3. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh ở đoạn thơ thứ 2 : Nhà thơ so sánh kháng chiến như ngọn lửa . Cuộc kháng chiến đã đi qua Mười năm nhưng sức ấm nóng vẫn còn lan toả đến Nghìn năm sau. Kháng chiến trở thành ngọn đuốc soi đường đi cho dân tộc và cho Con- nhà thơ cách mạng.- tìm về lại với Mẹ-Nhân dân. Đề 2: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Con nhớ anh con, người anh du kích Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con. Con nhớ em con, thằng em liên lạc Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư. Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài. Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mế ơn nuôi. Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương ? Khi ta ở, chi là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: 1. Ý chính của đoạn thơ là gì ? 2. Nêu hiệu quả nghệ thuật so sánh, ẩn dụ ở đoạn thơ thứ nhất? 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc "Khi ta ở " ,"Khi ta đi " ? Trả lời: 1. Ý chính của đoạn thơ : Về với Tây Bắc là về với Nhân dân. Nhà thơ thể hiện lòng biết ơn vô hạn với nhân dân, trong đó có những con người cụ thể như anh du kích, thằng em liên lạc, bà Mế Việt Bắc. 2. Hiệu quả nghệ thuật so sánh, ẩn dụ ở đoạn thơ thứ nhất : chỉ 4 câu thơ, nhà thơ dùng đến 5 hình ảnh so sánh, ẩn dụ : - Nai - về - suối cũ/- Cỏ - đón - giêng hai/- Chim én - gặp mùa/- Trẻ thơ đói lòng - gặp - sữa/- Chiếc nôi ngừng - gặp - cánh tay đưa. Ý nghĩa: trở về với nhân dân là qui luật tất yếu, khách quan của lịch sử. Trở về với nhân dân là nhu cầu sống chủ quan của người nghệ sĩ . Nhân dân là bầu sữa ngọt nuôi dưỡng, là bà mẹ dịu hiền nâng giấc tâm hồn nhà thơ. Tác giả khái quát vai trò to lớn của nhân dân với mỗi cá nhân. Với tư cách con người,nhân dân, cuộc đời là sự sống. Với tư cách nghệ sĩ, nhân dân, cuộc đời là ngọn nguồn duy trì cảm hứng sáng tác. 3. Hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc "Khi ta ở " ,"Khi ta đi ": Tác giả đưa ra qui luật kì diệu: chính tâm hồn con người với biết bao gắn bó đã biến đất đai vô tri, tên địa danh vô cảm thành không gian thiêng liêng, thành miền nhớ đầy xúc cảm, nơi lưu giữ kỉ niệm hay những mảnh tâm hồn. Đề 2: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Con nhớ anh con, người anh du kích Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con. Con nhớ em con, thằng em liên lạc Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư. Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài. Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mế ơn nuôi. Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương ? Khi ta ở, chi là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau: 1. Ý chính của đoạn thơ là gì ? 2. Nêu hiệu quả nghệ thuật so sánh, ẩn dụ ở đoạn thơ thứ nhất? 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc "Khi ta ở " ,"Khi ta đi " ? Trả lời: 1. Ý chính của đoạn thơ : Về với Tây Bắc là về với Nhân dân. Nhà thơ thể hiện lòng biết ơn vô hạn với nhân dân, trong đó có những con người cụ thể như anh du kích, thằng em liên lạc, bà Mế Việt Bắc. 2. Hiệu quả nghệ thuật so sánh, ẩn dụ ở đoạn thơ thứ nhất : chỉ 4 câu thơ, nhà thơ dùng đến 5 hình ảnh so sánh, ẩn dụ : - Nai - về - suối cũ/- Cỏ - đón - giêng hai/- Chim én - gặp mùa/- Trẻ thơ đói lòng - gặp - sữa/- Chiếc nôi ngừng - gặp - cánh tay đưa. Ý nghĩa: trở về với nhân dân là qui luật tất yếu, khách quan của lịch sử. Trở về với nhân dân là nhu cầu sống chủ quan của người nghệ sĩ . Nhân dân là bầu sữa ngọt nuôi dưỡng, là bà mẹ dịu hiền nâng giấc tâm hồn nhà thơ. Tác giả khái quát vai trò to lớn của nhân dân với mỗi cá nhân. Với tư cách con người,nhân dân, cuộc đời là sự sống. Với tư cách nghệ sĩ, nhân dân, cuộc đời là ngọn nguồn duy trì cảm hứng sáng tác. 3. Hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc "Khi ta ở " ,"Khi ta đi ": Tác giả đưa ra qui luật kì diệu: chính tâm hồn con người với biết bao gắn bó đã biến đất đai vô tri, tên địa danh vô cảm thành không gian thiêng liêng, thành miền nhớ đầy xúc cảm, nơi lưu giữ kỉ niệm hay những mảnh tâm hồn. Đây là một trong những đề bài tập Đọc hiểu ( có đáp án) được GIỚI THIỆU TRONG PHẦN MỀM DẠY- HỌC VÀ ÔN TẬP TRONG KỲ THI QUỐC GIA THPT NĂM 2022 NGỮ VĂN 12 1. Tiện ích của phần mềm : -Với học sinh : có thể sử dụng trang web để đọc hiểu rộng hơn về chương trình Ngữ Văn lớp 12 . Các em sẽ tự ôn thi Quốc gia THPT theo sự hướng dẫn cụ thể. 2. Các phần chính của phần mềm: 2.1/ Phần Bài tập trắc nghiệm của trang web gồm có: - Trắc nghiệm Phần Văn Trắc nghiệm Tiếng Việt -Trắc nghiệm Làm văn: Mục đích phần trắc nghiệm khách quan là hỗ trợ học sinh tự học thông qua tự kiểm tra kiến thức đã học. Làm bài tập trắc nghiệm, học sinh chỉ cần đưa trỏ chuột vào các thanh tiêu đề, liên kết với các bài, đánh dấu chọn vào câu đúng. Mỗi đề đưa ra đều có 04 lựa chọn. Học sinh khi tự học, sẽ làm bài trực tiếp trên máy tính. Cuối bài tập đều có đáp án và tính câu đúng theo tỉ lệ %, bao nhiêu phần trăm đúng là sẽ tính ra điểm. Ví dụ: đúng 100% được tính 10 điểm. Thầy cô cũng dựa vào hệ thống bài tập trắc nghiệm để thiết kế câu hỏi Đọc hiểu văn bản trong PISA. Trang web cũng chuyển toàn bộ bài tập trắc nghiệm sang tập tin word ( có đáp án) để thầy cô chỉnh sửa và in ấn. 2.2/ Phần Cùng đọc hiểu văn bản của trang web gồm nhiều thư mục . Cụ thể : 2.2.1/ Đọc văn bản: gồm tất cả văn bản trong chương trình Ngữ văn 12, giúp học sinh tự học thông qua đọc lại Ngữ liệu văn bản để tìm hiểu nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Ngoài ra, những văn bản trích đoạn, trang web sẽ cung cấp toàn bộ các chương còn lại để học sinh có cái nhìn bao quát về tác phẩm. 2.2.2/Hỏi đáp Ngữ văn 12: Đây là phần giúp giáo viên dạy tiết ôn tập và học sinh có kiến thức để làm bài về tác gia, tác phẩm, ý nghĩa nhan đề, nội dung và nghệ thuật chính của tác phẩm. Chỉ cần liên kết vào trong từng câu hỏi, sẽ có phần gợi ý trả lời. 2.2.3/ Chân dung nhà văn : Đây là phần tư liệu giúp hiểu thêm về cuộc đời của các nhà văn, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm trong chương trình thông qua những mẩu chuyện có thật, những giai thoại, những bài phỏng vấn hoặc chính nhà văn nói về tác phẩm của mình. 2.2.4/Ôn tập nghị luận văn học: Gồm nghị luận về thơ ( HKI- có phần bài tập và đáp án Đọc hiểu) và nghị luận về tác phẩm văn xuôi ( HKII) 2.2.5/Bồi dưỡng thi học sinh Giỏi (trong dia CD 2) : Gồm những đề thi và gợi ý làm bài giúp GV và học sinh có cơ sở luyện tập để dự thi học sinh giỏi cấp Tỉnh đạt kết quả cao. 3- Cấu hình để ứng dụng chương trình: - Công cụ sử dụng: Microsoft Office FrontPage 2003 dưới ngôn ngữ *.html - Cấu hình tối thiểu: Pentium III ; 256 Mb Ram, độ phân giải 800x600 với 256 màu; hệ điều hành MS Windows 98, Internet Explorer 6. - Cấu hình yêu cầu để sử dụng hiệu quả các chức năng trình duyệt, âm thanh và đồ hoạ: Card âm thanh, loa, Ram 256 Mb, DirectX 8, Internet Explorer 6, màn hình 32 bit. - Chương trình không yêu cầu phải cài đặt. - Tập tin thực thi (EXE): chúng tôi ( Biểu tượng hình tròn màu vàng) 4 - Hướng dẫn sử dụng: -Toàn bộ chương trình đều tự thực thi trên CD. Vì thế, chương trình sẽ tự động chạy khi được đưa vào ổ đĩa CD-Rom. Tuy nhiên, nếu chương trình không tự chạy do đã chép vào một Folder, ta mở Folder ra, chọn biểu tượng tập tin thực thi chúng tôi nhấp chuột, trang web sẽ hiện ra trang chủ. -Lưu ý: Nếu máy tính đang chạy chương trình quét vi rút Bkav, bạn hãy tắt chương trình này trước. Nếu không, hệ thống sẽ báo lỗi. -Trước khi chạy chương trình không phải cài thêm bất kì chương trình phụ nào. - Giao diện Tiếng Việt, sử dụng bảng mã Unicode, đẹp mắt, trực quan, rõ ràng, dễ hiểu. 5/ Cách mở ổ đĩa: b. Cách 2: không cần tắt BKaV - Chép toàn ổ đĩa CD vào ổ cứng. - Theo đường dẫn :AutoPlayDocsTrang Chu_HomePage. Bấm vào Trang Chu_HomePage ( chạy bằng Internet Explorer) 6/ Liên hệ : Thầy ( cô ) nào có nhu cầu tìm hiểu phần mềm, xin liên hệ qua địa chỉ Email nguyenhieudung1968@gmail.com để tác giả ( Số 01223745614 (DĐ) giải đáp ( Một bộ gồm 2 dia CD Tap I va Tap II). Thầy(cô) vui lòng khi gửi mail ghi rõ Họ và tên:..............Địa chỉ nơi công tác ( Trường, xã, huyện, tỉnh...) để được phản hồi những thông tin chi tiết hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”
  • Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Giáo Án Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 12 Tiết 46, 47: Đọc Văn Người Lái Đò Sông Đà ( Trích)
  • Bài: Người Lái Đò Sông Đà

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân
  • Hướng Dẫn Soạn Người Lái Đò Sông Đà Dễ Hiểu
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Trang 192 Sgk Ngữ Văn 12, Tập 1
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Chi Tiết)
  • – Nguyễn Tuân (10/7/1910 – 28/7/1987) quê ở Hà Nội, là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, sở trường về tùy bút và kí, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

    – Xuất thân: gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn, đặc biệt là người cha có ảnh hưởng sâu sắc tới cá tính con người và cá tính nghệ thuật Nguyễn Tuân.

    + Trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc: có những nét riêng biệt.

    – Gắn bó với các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc: tiếng mẹ đẻ, kiệt tác văn chương, nhạc điệu hoặc đài các của thể ca trù hoặc dân dã của các điệu hò xứ Quảng…

    – Say mê cảnh sắc đẹp của quê hương đất nước.

    – Trân trọng những thú chơi tao nhã của trí thức nho gia tài hoa sinh bất phùng thời.

    + Ý thức cá nhân phát triển rất cao:

    – Quan niệm viết văn là một hình thức chơi văn độc đáo nhưng đã đẩy việc chơi đến đỉnh cao – chơi một cách nghệ thuật. Viết văn trước hết là để khẳng định cá tính độc đáo của mình.

    – Ham du lịch, nâng niềm ham thích này thành lý thuyết “chủ nghĩa xê dịch”, với lối sống tự do, phóng túng, quá khuôn khổ chế độ thuộc địa đương thời.

    + Con người rất mực tài hoa, uyên bác:

    – Tuy chỉ viết văn nhưng am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh…

    – Biết vận dụng con mắt nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác để tăng cường khả năng quan sát, biểu hiện thế giới của nghệ thuật ngôn từ.

    – Sự uyên bác: ham đọc, tạo cho mình vốn tri thức sâu rộng, bề thế, làm giàu chất tài hoa nghệ sĩ, vẽ nên bức tranh đời sống, con người đầy “sinh sắc” ngay cả những nơi mà ông chưa đặt chân tới.

    + Biết quí trọng nghề nghiệp văn chương:

    – Quan niệm lao động nghệ thuật là hình thức lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”.

    – Trân trọng nghề viết là trân trọng độc giả, trân trọng chính mình – lòng tự trọng, ý thức giữ gìn nhân cách.của bản thân. (Nhân cách của nhà văn chính là văn cách của anh ta – ý của Trần Dần). Dứt khoát phân biệt nghề văn với thói con buôn vụ lợi (“Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn cho là vô ích. Ở đâu có đồng tiền, ở đó cái đẹp không tồn tại” – Nguyễn Tuân).

    3. Sự nghiệp sáng tác. a. Quá trình sáng tác và các đề tài chính

    + Quá trình sáng tác

    – Thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng…

    – Năm 1938, nhận ra sở trường: tùy bút, bắt đầu có những tác phẩm thành công xuất sắc.

    – Sau cách mạng tháng Tám, vẫn tiếp tục khai thác thế mạnh tuỳ bút và có một số tuỳ bút nổi tiếng: “Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi”.

    + Những đề tài chính:

    – Trước cách mạng: 3 đề tài chính:

    * Vẻ đẹp vang bóng một thời

    * Chủ nghĩa xê dịch.

    * Đời sống trụy lạc

    – Sau cách mạng:

    Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, chào đón, phục vụ cách mạng nhiệt tình; kiếm tìm vẻ đẹp của non sông; phát hiện chất “vàng mười”, chất ngọc tiềm ẩn trong các tầng lớp nhân dân – những người lao động đang tiến hành xây dựng, chiến đấu và bảo vệ đất nước. Hình tượng nghệ thuật trung tâm: nhân dân, vừa dũng cảm, anh hùng vừa là nghệ sĩ tài hoa

    b. Phong cách nghệ thuật:

    + Nhận định chung: gói gọn trong một chữ “ngông”

    – Ngông là:

    * Một việc làm khác đời, ngược đời, bất bình thường một cách tài hoa để khinh đời, nhạo đời. Ngoài tài hoa, người chơi phải có nhân cách.

    * Thường thích những cái độc đáo không giống ai.

    – Nguyễn Tuân chơi ngông:

    * Bằng văn chương, băn khoăn: viết cái gì cũng phải khác lạ (đề tài, nhân vật, kết cấu, cách hành văn, sáng tạo hình ảnh, dùng từ, đặt câu…), văn khoe tài hoa, uyên bác.

    * Cơ sở: Đối lập với môi trường thị dân tầm thường ngày xưa. Truyền thống chơi ngông trong văn chương: Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà…

    + Đặc điểm:

    – Sự tài hoa, uyên bác.

    – Sự thống nhất.

    – Sự vận động.

    2. Tác phẩm “Người lái đò Sông Đà: II. Đọc hiểu văn bản a. Trước hết, con sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả là dòng sông hùng vĩ, hung bạo, dữ dội.

    – Đó là cảnh đá bờ sông dựng đứng vách thành: “chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”.

    – Đó là “quãng mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy”.

    – Lại một đoạn sông khác, trên sông có những cái hút nước xoáy tít “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Có những thuyền đã bị nó hút tụt xuống, thuyền trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi đến mười phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.

    – Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng người ta đã bị đe doạ bởi “tiếng thác nước nghe như oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa”.

    Trong việc tái hiện lại hình ảnh sông núi Tây Bắc và người lái đò, Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc… Mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động. “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá. Đá ở đây vẫn ngàn năm mai phục hết lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này… là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược… nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá bé”.

    b. Bên cạnh tính cách hung bạo, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân con sông Đà lại rất trữ tình và thơ mộng, gợi bao cảm xúc làm mê say lòng người.

    – “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

    – Không chỉ đẹp ở hình dáng, sông Đà còn gợi cảm ở màu sắc, mà tác giả đã bao lần dày công quan sát mới nói hết được vẻ độc đáo ấy: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm sông Lô”, “Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”… Đó là thời điểm cho câu chữ Nguyễn Tuân lai láng chất thơ ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông bằng cái nhìn và tình cảm của một người tự nhận sông Đà như một “cố nhân”.

    – Đặc biệt là không khí hoang dại, tĩnh lặng, để lột tả không khí nên thơ ấy, Nguyễn Tuân đã tả đàn hươu ngẩng đầu ngơ ngác mơ một tiếng còi sương, và cái nắng tháng ba Đường thi Yên hoa tam nguyệt, gợi tâm sự của người tình nhân chưa quen biết. Lúc này, không thấy đâu con sông Đà diện mạo và tâm địa độc ác, mà chỉ thấy tình cảm của dòng sông đối với con người như một cố nhân, xa thì thấy nhớ thương, gặp lại thì thấy mừng “vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”.

    – Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà”. Vẻ đẹp ấy như trang nghiêm trong mạch Đường thi cổ điển, vừa lắng đọng hoài vọng về một thuở Lý, Trần,Lê, vừa bâng khuâng cảm giác về sự sống nảy lộc đâm chồi : “Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”

    * Nguyễn Tuân đã rất thành công trong việc sử dụng nhiều thuật ngữ của các ngành nghề khác nhau nhằm miêu tả vẻ hùng vĩ, thơ mộng của con sông Đà và mở ra bao liên tưởng độc đáo, bất ngờ trong tâm trí người đọc.

    2. Hình tượng người lái đò Sông Đà: a. Người lái đò hiện lên trước hết là một người chiến sĩ có lòng dũng cảm, gan dạ, kiên cường, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa

    – Ông đã “Nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”, kinh nghiệm đũ giang sụng nước, lên thác xuống ghềnh đó khiến cho ụng lỏi đũ dù trong tay chỉ có cây chèo vẫn có thể phá thành vượt ải như một dũng tướng bách chiến bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống lại thiên nhiên.

    – Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

    – Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một: “Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó … Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. .. một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…”

    + Ở trùng vi thứ nhất, sông Đà đã bày binh trùng trùng lớp lớp thạch trận trên sông. Chúng mở ra năm cửa, có bốn cửa tử và một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ bên phía tả ngạn. Ở trùng vi này, người lái đò đã vô cùng bình tĩnh, khéo léo trước con song hung dữ, hai tay giữ chặt mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, người lái đò “phá luôn trùng vi thứ hai”.

    + Ở trùng vi thứ hai, kẻ địch thay chiến thuật, chúng tăng thêm nhiều cửa tử. Cửa sinh bố trí lệch sang phía hữu ngạn, lập lờ, bí hiểm hơn ở trùng vi trước, hòng đánh lừa con thuyền. Nhưng ông đò đã nắm chắc binh pháp của thân sông, thần đá, thuộc quy luật phục kích của lũ đá. Ông nghĩ “Cưỡi lên thác Sông Đà phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi ông đò ghì cương lái phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết một đường chéo con thuyền lướt nhanh, bất ngờ, khiến cả bọn đá thủy quân không kịp trở tay, khiến “Cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đó tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng”.

    + Ở trùng vi thứ ba, ít cửa hơn, bên phải, bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở ngay giữa con thác. Ông đò như một người chỉ huy dày dạn cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó “Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được” Bản hùng ca vượt thác lên đến cao trào. Con thuyền lướt nhanh trên đầu sóng, trên con thuyền vun vút đó chúng ta nhìn rõ hình ảnh người lái đò anh hùng vừa dũng cảm thông minh, vừa thật là tài hoa.

    b. Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa.

    – Trong ” Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là “tay lái hoa”. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.

    – Ông lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác.

    – Ở phần vĩ thanh của khúc ca vượt thác, nhà văn chuyển gam với mấy câu tả êm nhẹ, câu kể thủ thỉ, tâm tình “Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Sông nước lại thanh bình. “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi”.

    *Sơ kết: Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: “Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo”. Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dễ thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, chỉ có Nguyễn Tuân.

    III. Tổng kết:

    Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân. Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc mà còn ca ngợi vẻ đẹp bình dị, anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà
  • Đọc Toàn Tập Người Lái Đò Sông Đà
  • Bài 30. Ôn Tập Phần Văn
  • Ôn Tập Ngữ Văn 7
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cả Năm
  • Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân
  • Hướng Dẫn Soạn Người Lái Đò Sông Đà Dễ Hiểu
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Trang 192 Sgk Ngữ Văn 12, Tập 1
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Chi Tiết)
  • Cho Mình Hỏi Bài Tóm Tắt Văn Bản “người Lái Đò Sông Đà”?
  • Trên Đường Bộ, Người Lái Xe ô Tô Có Được Phép Dừng Xe, Đỗ Xe Song Song Với Một Xe Khác, Dàn ý Đường Đi Khó Không Khó Vì Ngăn Sông Cách Núi Mà Khó Vì Lòng Người Ngại Núi E Sông, Người Lái Đò Sông Đà, Bức Thư Gửi Người Còn Sống, Đáp án 5 Người Qua Sông, Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà, Bài Văn Mẫu Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12, Văn Tế Sống Người Con Gái, Văn Bnả Người Lái Đò Sông Đà, Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà, Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà, Bộ Quy Tắc Sống Xanh Của Người Hà Nội, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật, Tư Tưởng Chính Trị Đạo Đức Lối Cua Con Nguoi Sống, Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà, Cuộc Sống Thanh Cao Của Người, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Chăm Lo Đời Sống Cho Người Lao Động , Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đời Sống Hiệp Hội Từ Góc Nhìn Người Dân, Đời Sống Đạo Của Người Huynh Trưởng, 4 Quan Niệm Sống Của Người ấn Độ, Bí Quyết Sống Khỏe Của Người Nhật, Bài Tham Luận Chăm Lo Đời Sống Người Lao Động, Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà, ổn Định Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Người Lao Động, Dàn ý Về Cuọc Sống Của Người Dân Tây Bắc Trong Tác Phẩm Cợ Chồng A Phủ, Nghiên Cứu Đào Tạo Song Ngữ Cấp Tiểu Học: Góc Nhìn Người Trong Cuộc, Sách Hướng Dẫn Về Đời Sống Dành Cho Người Nước Ngoài, Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân Về ô Nhiễm Nguồn Nước Sông, Tăng Trưởing Kinh Tế Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Dàn Bài Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Con Người, Trong Thông Tin Vô Tuyến, Người Ta Đã Dùng Các Sóng Điện Từ Có Tần Số Từ Hàng Nghìn … Trở Lên, Chung Minh Rang Bao Ve Moi Truong Thien Nhien La Bao Ve Cuoc Song Cua Con Nguoi, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, ảnh Hưởng Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Con Người Việt Nam, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tiểu Luận Phân Tích Và Đánh Giá Những ảnh Hưởng Facebook Với Đời Sống Con Người, Luận Văn Tăng Trưong Kinh Tế Có Giúp Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Tầm Quan Trọng Của An Toàn Giao Thong Trong Đơi Sống Đoi Voi Con Nguoi Dac Bietj La Lua Tuoi Hoc Sin, Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Con Người., Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Là Sóng Ngang, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Có Người Bị Thương Nghiêm Trọng, Người Lái Xe Và Người Có Mặt, Một Máy Thu Thanh Đang Thu Sóng Ngắn. Để Chuyển Sang Thu Sóng Trung, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Chung Tính Chất Nào Dưới Đây?, Mạch Dao Động Lí Tưởng Lc Có Thể Phát Ra Sóng Vô Tuyến Truyền Trong Không Khí Với Bước Sóng, Tia Hồng Ngoại Và Tia Rơnghen Đều Có Bản Chất Là Sóng Điện Từ, Có Bước Sóng Dài Ngắn Khác Nhau Nên, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Cùng Tính Chất, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Cùng Tính Chất Nào, Trắc Nghiệm ôn Tập Dao Động Và Sóng Điện Từ – Sóng ánh Sáng, 2 Phương Trình Đường Thẳng Song Song, Một Sóng Điện Từ Đang Lan Truyền Từ Một Đài Phát Sóng ở Hà Nội Đến Máy Thu, Phương Trình 2 Đường Thẳng Song Song, Quan Niệm Thế Nào Là Cuộc Sống Đáng Sống, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Song Song, Khái Niệm 2 Đường Thẳng Song Song, Đề Xuất Giải Pháp Bảo Vệ Bờ Cửa Sông Ven Biển Cửa Sông Cái Lớn, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Giống Nhau ở Chỗ, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Khác Nhau ở, Định Nghĩa 2 Mặt Phẳng Song Song, Bài Giảng 2 Đường Thẳng Song Song, Tia Rơn-ghen (tia X) Là Sóng Điện Từ Có Bước Sóng, Định Lý 2 Đường Thẳng Song Song, Trắc Nghiệm 2 Mặt Phẳng Song Song, Mẫu Báo Cáo Thực Hành Đo Cường Độ Dòng Điện Và Hiệu Điện Thế Đối Với Đoạn Mạch Song Song, Báo Cáo Thực Hành Đo Hiệu Điện Thế Và Cường Độ Dòng Điện Đối Với Đoạn Mạch Song Song, Định Lý 2 Đường Song Song, Phương Trình Song Song Với Ox, 2 Phương Trình Song Song, Định Lý 2 Mặt Phẳng Song Song, Chọn Câu Sai. Sóng Điện Từ Là Sóng, Chuyên Đề 2 Mặt Phẳng Song Song, Bài Giảng 2 Mặt Phẳng Song Song, Tiểu Thuyết Sóng ở Đáy Sông, Công Thức 2 Bản Mặt Song Song, Công Thức R Song Song, Giải Bài Tập 2 Mặt Phẳng Song Song, Ta ₫ến ₫ể Cho Chiên ₫ược Sống Và Sống Sung Mãn, Bài Tập Chuyên Đề Hai Mặt Phẳng Song Song, Định Lý Từ Vuông Góc Đến Song Song, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Dưới Đây Là Sai Trong Quá Trình Truyền Sóng Điện Từ, Nguyên Tắc Chọn Sóng Của Mạch Chọn Sóng Trong Máy Thu Vô Tuyến Dựa Trên, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Mang Năng Lượng, Thông Tin Nào Sau Đây Là Sai Khi Nói Về Tia X Có Bước Sóng Ngắn Hơn Bước Sóng Của Tia Tử Ngoại, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Người Lái Xe Và Người Có Mặt Tại Hiện Trường Vụ Tai Nạn Phải Thực Hiệ, Con Người Và Nhân Tố Con Người Trong Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Tri Thức 4.0, Số Người Chết, Số Người Bị Thương, Số Vụ Tai Nạn Từ Năm 2013,2014,2015,2016, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Người Lái Xe Và Người Có Mặt Tại Hiện Trường Vụ Tai Nạn Phải Thực Hiệ, Trong Khu Dân Cư, ở Nơi Cho Phép Người Lái Xe, Người Điều Khiển Xe Máy Chuyên Dùng Được Quay, Khi Đang Lên Dốc Người Ngồi Trên Xe Mô Tô Có Được Kéo Theo Người Điều Khiển Xe Đạp Hay Không, Người Điều Khiển Xe Mô Tô 2 Bánh, Xe Gắn Máy Được Phép Chở Tối Đã 2 Người Trong Những Trường Hợp Nào, Định Lý Song Song, Bài Tập 2 Mặt Phẳng Song Song, O To Đâu Đến Đo Hai Chiếc Đau Song Song, Định Lý Dời Lực Song Song, Sống Một Cuộc Sống Dư Dật,

    Trên Đường Bộ, Người Lái Xe ô Tô Có Được Phép Dừng Xe, Đỗ Xe Song Song Với Một Xe Khác, Dàn ý Đường Đi Khó Không Khó Vì Ngăn Sông Cách Núi Mà Khó Vì Lòng Người Ngại Núi E Sông, Người Lái Đò Sông Đà, Bức Thư Gửi Người Còn Sống, Đáp án 5 Người Qua Sông, Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà, Bài Văn Mẫu Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12, Văn Tế Sống Người Con Gái, Văn Bnả Người Lái Đò Sông Đà, Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà, Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà, Bộ Quy Tắc Sống Xanh Của Người Hà Nội, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật, Tư Tưởng Chính Trị Đạo Đức Lối Cua Con Nguoi Sống, Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà, Cuộc Sống Thanh Cao Của Người, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Chăm Lo Đời Sống Cho Người Lao Động , Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đời Sống Hiệp Hội Từ Góc Nhìn Người Dân, Đời Sống Đạo Của Người Huynh Trưởng, 4 Quan Niệm Sống Của Người ấn Độ, Bí Quyết Sống Khỏe Của Người Nhật, Bài Tham Luận Chăm Lo Đời Sống Người Lao Động, Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà, ổn Định Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Người Lao Động, Dàn ý Về Cuọc Sống Của Người Dân Tây Bắc Trong Tác Phẩm Cợ Chồng A Phủ, Nghiên Cứu Đào Tạo Song Ngữ Cấp Tiểu Học: Góc Nhìn Người Trong Cuộc, Sách Hướng Dẫn Về Đời Sống Dành Cho Người Nước Ngoài, Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân Về ô Nhiễm Nguồn Nước Sông, Tăng Trưởing Kinh Tế Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Dàn Bài Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Con Người, Trong Thông Tin Vô Tuyến, Người Ta Đã Dùng Các Sóng Điện Từ Có Tần Số Từ Hàng Nghìn … Trở Lên, Chung Minh Rang Bao Ve Moi Truong Thien Nhien La Bao Ve Cuoc Song Cua Con Nguoi, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, ảnh Hưởng Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Con Người Việt Nam, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tiểu Luận Phân Tích Và Đánh Giá Những ảnh Hưởng Facebook Với Đời Sống Con Người, Luận Văn Tăng Trưong Kinh Tế Có Giúp Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Tầm Quan Trọng Của An Toàn Giao Thong Trong Đơi Sống Đoi Voi Con Nguoi Dac Bietj La Lua Tuoi Hoc Sin, Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Con Người., Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Là Sóng Ngang, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Có Người Bị Thương Nghiêm Trọng, Người Lái Xe Và Người Có Mặt, Một Máy Thu Thanh Đang Thu Sóng Ngắn. Để Chuyển Sang Thu Sóng Trung, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Chung Tính Chất Nào Dưới Đây?, Mạch Dao Động Lí Tưởng Lc Có Thể Phát Ra Sóng Vô Tuyến Truyền Trong Không Khí Với Bước Sóng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài: Người Lái Đò Sông Đà
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà
  • Đọc Toàn Tập Người Lái Đò Sông Đà
  • Bài 30. Ôn Tập Phần Văn
  • Ôn Tập Ngữ Văn 7
  • Hướng Dẫn Soạn Người Lái Đò Sông Đà Dễ Hiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Trang 192 Sgk Ngữ Văn 12, Tập 1
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Chi Tiết)
  • Cho Mình Hỏi Bài Tóm Tắt Văn Bản “người Lái Đò Sông Đà”?
  • Top 3 Bài Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà Ngắn Gọn Nhất
  • Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà Ngữ Văn 12
  • Nguồn Internet

    I.Tìm hiểu chung để soạn Người Lái Đò Sông Đà

    1. Tác giả

    Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là một trong 9 tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.

    – Là nhà văn tài hoa, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.

    – Ông có sở trường về tùy bút và ký

    – Tác phẩm của Nguyễn Tuân mang cá tính riêng, độc đáo, phóng khoáng, sự hiểu biết phong phú, cách dùng từ đa dạng và đầy sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt.

    – Phong cách sáng tác của tác giả được đánh giá lại bằng một từ “ngông”. Nguyễn Tuân ngông trên sự tài ba, xuất chúng, khí chất hơn người từ ngoài đời sống thực đến đời sống văn chương.

    2. Tác phẩm

    a) Hoàn cảnh ra đời

    Người lái đò sông Đà là áng văn nổi bật in trong tùy bút sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân.

    – Tác phẩm là sự kết tinh từ chuyến đi của tác giả đi tới vùng cao Tây Bắc xa xôi để tìm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc và đặc biệt hơn nữa là chất vàng mười đã qua thử lửa ở trong tâm hồn của con người lao động đã chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và đầy chất thơ.

    b) Bố cục

    – Phần 1: Sự hung dữ, hùng vĩ của con sông Đà

    – Phần 2: Cuộc sống của con người lao động trên sông Đà và hình ảnh người lái đò sông Đà

    – Phần 3: Nét đẹp trữ tình, nên thơ của sông Đà

    *Lưu ý: Trong khi soạn văn Người lái đò sông Đà luôn nắm được sơ lược về tác giả, tác phẩm để làm tốt hơn phần mở bài trong các bài văn phân tích.

    II. Tìm hiểu văn bản và soạn Người Lái Đò Sông Đà

    1. Hình tượng con sông Đà

    – Hình tượng con sông Đà được khắc họa 2 tính cách hoàn toàn trái ngược nhau: hung bạo và trữ tình.

    Nguồn Internet

    a) Hình ảnh con sông Đà hung bạo

    – Tâm địa sông Đà

    + Thạch trận: “Đá ở đây… mai phục hết trong lòng sông, …quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, … là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền”.

    + Thủy trận: “Đám tảng đám hòn … chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền…”

    +Ba trùng vi:” Vòng đầu … nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh” , “vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử”, “còn một trùng vây thứ ba nữa, ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả”.

    b) Hình ảnh con sông Đà trữ tình

    *Trong khi soạn văn Người lái đò sông Đà, chúng ta luôn có những ý chốt, những ý đánh giá và khái quát lại các dẫn chứng đã nêu ra để dễ nắm bài hơn.

    2. Hình tượng người lái đò

    Nguồn Internet

    – Giới thiệu về người lái đò:

    Tác giả giới thiệu người lái đò sông Đà là người lái ra hoa. Cuộc sống hằng ngày của ông là lèo lái con thuyền vật lộn với dòng sông Đà, chiến đấu với thiên nhiên để dành giật sự sống. Người lái đò hiện lên với ngoại hình độc đáo “tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh khuỳnh” – một sự ví von, miêu tả rất giản dị mà giàu tính gợi hình. Hình ảnh người lái đò sông Đà còn là hiện thân của người lao động khỏe mạnh, vạm vỡ trước thiên nhiên, núi rừng.

    – Hình ảnh người lái đò qua những lần vượt thác dữ:

    Phân tích bài Người lái đò Sông Đà dễ hiểu

    Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông

    III. Tổng kết bài soạn Người Lái Đò Sông Đà

    1. Tóm tắt nội dung

    Tác phẩm Người lái đò sông Đà ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên vừa hùng dũng, kỳ vĩ lại vừa nên thơ, trữ tình cùng hình ảnh con người lao động bình dị mà tài hoa nơi núi rừng Tây Bắc. Thông qua tác phẩm, Nguyễn Tuân còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, yêu thiên nhiên và con người lao động cũng như một tình cảm đặc biệt dành cho vùng cao Tây Bắc.

    2. Giá trị nghệ thuật

    Tác giả đã khai thác triệt để, kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn cùng sự sử dụng tinh tế các từ ngữ gợi hình, gợi cảm, các biện pháp so sánh, nhân hóa đầy độc đáo.

    Với những chia sẻ hướng dẫn cách soạn Người lái đò sông Đà như trên, hy vọng các bạn sẽ nắm được hình tượng dòng sông Đà hùng vĩ, trữ tình và người lái đò sông Đà tài hoa, bình dị được Nguyễn Tuân khắc họa rõ nét trong tác phẩm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân
  • Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12
  • Bài: Người Lái Đò Sông Đà
  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà
  • Đọc Toàn Tập Người Lái Đò Sông Đà
  • Người Lái Đò Sông Đà (Trích)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
  • Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam
  • Hiến Pháp Là Luật Cơ Bản Của Nhà Nước Có Hiệu Lực Pháp Lí Cao Nhất
  • Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất
  • Cách Sử Dụng Word Online Soạn Thảo Văn Bản Trực Tuyến
  • thuộc thể văn tùy bút nhưng nặng về tính chất bút kí. Đây là thể văn có tính chất tư liệu cung cấp những tri thức chính xác về người thật, việc thật và cảnh thật. Đọc Người lái đò Sông Đà, chúng ta cảm nhận được những tri thức hết sức phong phú về địa hình, địa thế, về lịch sử của con người Sông Đà, về những con người đầy trí dũng, xứng đáng là nghệ sĩ tài ba trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh.

    Đoạn trích này có hai nhân vật: con sông Đà và người lái đò trên sông này. Cả hai nhân vật đều có mối quan hệ mật thiết với nhau.

    1. Sông Đà

    Dưới ngòi bút của Nguyền Tuân, sông Đà không vô tri vô giác mà có tính cách, có tâm trạng và hoạt động. Nhà văn lưu ý hai đặc điểm chính của con sông là hung bạo và trữ tình. Trước tiên là tính hung bạo thể hiện ra ở cái diện mạo bên ngoài của con sông. Đó là những thúc đá, những cảnh đá bờ sông dựng đứng vách thành, dài hàng cây số nước xô đá, dá xô sóng, sóng xô gió, những hút nước ghê rợn, nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Để thể hiện sinh động và cụ thể tính cách này, đã sử dụng những cách ví von độc đáo, miêu tả gây cảm giác mạnh mẽ, đập vào giác quan người đọc. Đặc biệt trong đoạn miêu tả quãng Tà Mường Vát, nhà văn vận dụng cả tri thức của điện ảnh.

    Để nêu bật thêm cái đáng sợ của Sông Đà, Nguyễn Tuân đã đặc tả con thác hung bạo như chặn đánh tiêu diệt người lái đò. Con sông ở đoạn này chẳng khác chi bầý thủy quái khống lồ vừa hung hăng vừa xảo quyệt, khi ẩn nấp mai phục, khi lừa miếng đánh du kích, khi quay vòng đánh quật trở lại theo lối vu hồi, khi khiêu khích, thách thức, chế nhạo, khi hò la gầm thét “như tiếng một ngàn con trâu mộng dang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa”. Thành công của nhà văn ở đây là trí tưởng tượng tạo hình rất phong phú căn cứ ở sự thật được quan sát kĩ lưỡng, chính xác và sử dụng ngôn từ rất điêu luyện.

    Bên cạnh tính hung bạo, Sông Đà lại mang tính cách trữ tình đầy chất thơ, thân thiết với con người. Tác giả hình dung con sông này như một người đàn bà kiều diễm “tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mùi khói núi Mèo dốt nương xuân…”.

    Nguyễn Tuân say sưa nhìn ngắm Sông Đà từ nhiều thời điểm, nhiều không gian khác nhau và phát hiện được màu sắc của nó một cách tinh tế. Mùa xuân, dòng sông “xanh ngọc bích”, mùa thu, nước sông “lừ lừ chín đỏ”.

    Trong mắt nhà văn, Sông Đà chẳng khác gì một “cố nhân” khi xa thì gợi thương gợi nhớ. Con sông có chất thơ Đường cổ điển, có chất thơ hồn nhiên mơ mộng như “?nộí nỗi niềm cổ tícli”, có chất thơ tình tứ của Tản Đà gửi “người tình nhân chưa qụen biết”. Cảnh ven sông lặng lờ, tịnh không một bóng người hoang vắng nhưng đầy thi vị được Nguyễn Tuân thể hiện bằng một ngòi bút đằm thắm dịu dàng.

    2. Người lái đò Sông Đà

    Trên bức tranh Sông Đà, Nguyễn Tuân còn khắc họa sinh động hình tượng người lái đò như một người lao động đầy trí dũng có cốt cách như một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh. Đây cũng là một nhân vật chính luận của nhà văn – những con người tài hoa nghệ sĩ. Khái niệm tài hoa nghệ sĩ ở đây khá rộng: đó là những con người đã đạt tới trình độ nghệ thuật tinh vi điêu luyện trong nghề nghiệp của mình chứ không chỉ là những người làm nghệ thuật theo kiểu hiểu thông thường. Trong bài này người lái đò nghệ sĩ. Lái đò mà đạt đến một trình độ nghệ thuật cao cường đầy tài hoa; Nhà văn gọi là tay lái ra hoa.

    Người lái đò Sông Đà ở đây đã nắm dược cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà. Bởi vậy, ông hoàn toàn làm chủ dược nó. Ông nắm chắc được từng luồng lạch, từng ngọn thác, từng nơi dựng vách đá, từng luồng lành luồng dữ… Nói chung, ông nắm rất vững quy luật biến đổi “tính tình phức tạp” – của con Sông Đà.

    Để khắc họa sâu đậm tài nghệ củâ người lái đò, Nguyễn Tuân đã đặc tả cuộc chiến đâu giữa ông, một con người đầy trí dũng, với con thác dữ. ông vượt thác như là một viên tướng ngày xưa lao vào một trận đồ bát quái đã bày bố sẵn với rất nhiều cạm bẫy được giăng ra, hết vòng này đến vòng khác, mỗi vòng đều có những “viên tướng đá” nham hiểm và quái ác đang chực chờ để tiêu diệt đối phương. Nhằm áp đảo tinh thần “kẻ địch”, đám quân thác đá còn diễu võ dương oai, nổi trống nổi chiêng, hò la dữ dội… Đoạn văn “Còn xa lắm mới đến cái thác dưới… Họ nghĩ thế lúc ngừng chèo” là đoạn văn vô cùng sinh dộng, giàu tình tiết dựng cảnh, đầy giá trị tạo hình, đầy kịch tính trong lối thuật kế, đặc biệt là mạch văn ở đây dồn dập chẳng khác gì dòng chảy của con sông.

    Khi đã chinh phục dược thác dữ của con sông cũng chả thấy ai bàn thêm một lài nào về cuộc chiến thắng vừa qua, nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi.

    Vì sao?

    Bởi vì những cuộc “chiến đấu” như thế đã diễn ra thường ngày trên dòng Sông Đà.

    Gợi ý trả lời các câu hỏi hướng dẫn học bài

    Câu 1

    Sông Đà, tập bút kí đặc sắc trong đó có Người lái dò Sông Đà là thành quả nghệ thuật có được từ chuyến đi gian khố và hào hứng của nhà văn Nguyễn Tuân đển miền Tây Bấc rộng lớn. Ông đã không quản ngại khó khăn, cực khổ đã lặn lội dọc ngang trên vùng đất hiểm trở và thơ mộng ấy để “đi tìm cái thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tắt cả những con người ngày nay đang nhiệt tỉnh gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thèm sáng sủa tươi vui và vững bền”.

    Đọc áng văn đẹp này với chất liệu thực tế ngồn ngộn đầy sinh động, chân thực, cụ thể đủ thấy nhà văn đã quan sát rất công phu và tìm hiểu kĩ càng khi viết về Sông Đà và người lái đò Sông Đà.

    Câu 2 và 3

    Nguyễn Tuân đã phát hiện ra hai đặc điểm chính của Sông Đà là hung bạo và trữ tình. Nghĩa là Sông Đà hùng vĩ vừa dữ tợn, hiểm ác, gây hại cho mọi người nhưng cũng vừa thơ mộng, thân thiết với con người.

    Lúc hung bạo, sông Đà như kẻ thù số một của con người với những vách đá dựng đứng cao vút, những hút nước ghê rợn, những thác nước dữ dội, chờ sẵn để nhấn chìm mọi con thuyền. Những thác nước đó luôn rông lên, lồng lộn tuôn phá, gầm gào…

    Miêu tả những nét hung bạo ấy của Sông Đà, Nguyễn Tuân đã dùng lối so sánh độc đáo (nó rống lèn như tiếng một hgàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre…), cách cấu trúc câu trùng điệp (nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…) và phép nhân hóa xác hợp (mặt nước hò la vang dậy… ùa vào bẻ gẫy cán chèo, “sóng nước”, “sát nách” mà đá trái mà thúc gối vào bụng vào hông thuyền, cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè…

    Lúc trữ tình, Sông Đà lại dịu dàng, thơ mộng, gắn bó thân thiết với con người như một “cố nhân”, nếu phải chia xa thì dạt dào nhớ nhung lưu luyến.

    Miêu tả những nét trữ tình đó của Sông Đà, Nguyễn Tuân có cách liên tưởng bất ngờ (con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai…), dùng những hình ảnh dịu dàng trong sáng đầy thi vị (màu nắng tháng ba Đường thi, con hươu, tiếng còi sương, tiếng cá dập nước…). Ngoài ra nhà văn còn viết những- câu văn như thơ về mặt ý tưởng và thanh điệu. Nhà văn lại dùng chen càu thơ Tản Đà rất gợi tả dòng sông thân thiết của nhà thơ.

    Câu 4

    Trong tác phẩm, người lái đò Sông Đà được thể hiện như một người lao động đồng thời như một nghệ sĩ. ông bình tĩnh, ung dung đôi đầu với sự hung bạo và nham hiểm của ghềnh thác Sông Đà. Như một viên tướng già xung trận, người lái đò rất mực oai phong, tỉnh táo, tìm hiểu, nắm chắc đối phương ứng phó linh hoạt để giành phần thắng lợi.

    Cái chết ngỡ như đã kề bên thế mà vượt thác xong, người nghệ sĩ tài hoa ấy đã “ung dung đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, bàn tán về cá anh vũ và dường như quên ngay cuộc chiến dấu với thác ghềnh ban nãy”. Một chi tiết cần lưu ý nữa là hàng ngày, người lái đò vẫn buộc bu gà vào đuôi thuyền để nghe tiếng gáy cho “đỡ nhớ nương ruộng bản mường mình”.

    Như thế, người lái đò ở đây vừa có tư thế vị anh hùng vừa có phong cách của một nghệ sĩ tài hoa tài tử.

    Với sức tưởng tượng sáng tạo của Nguyễn Tuân, đoạn tả cuộc chiến đấu ác liệt giữa người lái đò và thác dữ đã hiện lên trước mắt người đọc như một trường đoạn phim sôi động, hấp dẫn và đầy kịch tính.

    Thác dữ như thể kẻ tử thù, như thể những con vật hung ác được nhà văn thể hiện sinh động bằng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa phong phú: rống lèn như tiếng ngàn con trâu mộng, rung tít lên như tuyếc bin thủy điện; Như thể quân liều mạng, dòng thác hùm beo đang hồng hộc thế mạnh.

    Trong khi đó, người lái đò như thể một viên tướng giả xông vào một trận đồ bát quái với muôn vàn cạm bẫy nham hiểm và quái ác. Đó không chỉ là một con người trí dũng tài nghệ tuyệt vời chinh phục được thác dữ của con sông mà còn là một nghệ sĩ tài hoa tài tử, một người lái đò đã đạt đến trình độ cao cường trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh mà tác giả gọi là “tay lái ra hoa”.

    Câu 5

    Học sinh có thế chọn và phân tích một số câu văn thể hiện rõ nhất nét tài hoa về bút pháp trong cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân.

    Ví dụ đoạn viết về vẻ trữ tình của Sông Đà với những câu văn mềm mại, êm ả trải dài với những hình ảnh của áng tóc ẩn hiện trong mây, cái áng tóc trữ tình (…) ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Hay Sông Đà như một cố nhân trong nỗi niềm du khách. Như cái miếng sáng loé lên trong trò chiếu gương con trẻ, như một bờ tiền sử, như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa. Những cách so sánh đặc sắc, biến hoá, không trùng lặp ấy khiến người đọc phải sửng sốt trước vẻ đẹp trữ tình của một dòng sông và nhất là vẻ đẹp ngôn ngữ của Nguyễn Tuân.

    Mai Thu

    • tuyf but nguwoi lai do soong dda vawn ban
    • bài văn người lái đò sông đà
    • người lái dò
    • người lái đò sông Đà
    • văn bản nguoi lái dò sông đà
    • văn bản người lái đò sông đà
    • đọc nguoi lai do song da

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Lái Đò Sông Đà ( Trích) Nguyễn Tuân
  • 3 Bài Văn Phân Tích Tác Phẩm Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân
  • Tóm Tắt Tác Phẩm Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân
  • Người Lái Đò Sông Đà
  • Một Số Kinh Nghịêm Dạy Văn Bản Nhật Dụng Lớp 7 Và Lớp 9
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100