Soạn Thảo Văn Bản Online

Soạn Bài: Ôn Dịch, Thuốc Lá – Ngữ Văn 8 Tập 1

Bàn Về Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng

Cơ Sở Chính Trị Và Pháp Lý Của Việc Ban Hành Luật Về Hoạt Động Của Chủ Tịch Nước

Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật – Một Số Vấn Đề Cần Lưu Ý

Chuyên Mục: Tìm Hiểu Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật (Phần 13) .công An Tra Vinh

Trong bối cảnh vấn đề bản quyền phần mềm ngày càng siết chặt thì viêc đầu tư cho một bộ phần mềm Office là khá tốn kém, một số người đã chuyển sang sử dụng các bộ office mã nguồn mở miễn phí như OpenOffice. Đồng thời, hiện nay đã xuất hiện một xu hướng mới, đó là sử dụng các dịch vụ soạn thảo văn bản online miễn phí. Một lợi điểm nữa khi sử dụng các dịch vụ này là bạn không phải cài đặt các phần mềm như MS Office hay OpenOffice vào máy. Writely là một trong những dịch vụ như vậy, với đặc điểm hỗ trợ gõ tiếng Việt có dấu.

Trước tiên bạn truy cập vào địa chỉ www.writely.com và đăng ký làm thành viên. Ngay lập tức, bạn có thể sử dụng được dịch vụ soạn thảo tài liệu trực tuyến này. Việc đăng ký cũng khá đơn giản. Sau khi vào trang web bạn bấm vào Sign-up ở góc trên bên phải, tiếp theo, bạn chỉ cần điền địa chỉ email của mình (dùng để làm user name khi truy cập) và password (không phải password hộp mail) để truy cập vào Writely, xong bấm vào Register. Mặc dù bạn có thể truy cập và soạn thảo ngay sau khi đăng ký nhưng bạn cũng nên duyệt mail và kích hoạt (activate) việc đăng ký.

Bạn đăng nhập để soạn thảo tại địa chỉ http://www.writely.com. Sau khi đăng nhập, bạn đã có thể soạn thảo văn bản bằng cách bấm vào tab New (ở phía trên bên trái).

Nhập tên của văn bản vào hộp thoại hiện ra. Sau đó hãy bấm OK. Nếu máy bạn có cài chương trình chống pop-up thì lúc này bạn sẽ nhận được thông báo như “You have Popup Blocking turned on. You must turn it off for this site to work properly”.

Bạn hãy bấm vào Continue để cửa sổ soạn thảo hiện ra. Trong trường hợp bạn không cài chương trình chống pop-up thì sẽ không có bước này. Bạn có thể soạn thảo và thực hiện các thao tác chỉnh sửa văn bản cơ bản giống hệt trong MS Word như undo, redo, cắt, dán, đậm, nghiêng, gạch chân, canh trái, canh phải, canh đều 2 bên, chọn font, kiểu font, cỡ font, kiểm tra lỗi chính tả, thậm chí có thể insert hình, bảng (table), các đường dẫn (link)…

Soạn thảo xong bạn bấm vào biểu tượng đĩa mềm để lưu lại online. Nếu muốn in ra bạn bấm vào biểu tượng máy in (biểu tượng thứ ba bên trái cửa sổ soạn thảo). Nếu muốn Pulish tập tin này (chia sẻ cho mọi người), bạn bấm chọn thẻ Publish (hàng trên cùng, bên trái cửa sổ soạn thảo), chọn Make this document publish, sau đó tiếp tục bấm OK trong thông báo hiện ra.

Để kết thúc soạn thảo bạn bấm vào Done (góc trên bên phải cửa sổ soạn thảo).

Để lưu văn bản vào ổ cứng, bạn bấm vào mũi tên xổ xuống ở thẻ File và chọn Save As Word… Sau đó chọn tên văn bản và nơi để lưu lại trên ổ cứng. Để lưu lại dưới dạng PDF bạn chọn Save As PDF… Ngoài ra bạn còn có thể lưu lại dưới dạng file Html, RTF, OpenOffice file.

Để xem online và soạn thảo tiếp ở các lần sau, bạn vào địa chỉ: http://www.writely.com/BasePage.aspx?action=login (hoặc từ trang chủ, bấm vào Sign in here). Điền địa chỉ email và password để vào nơi cất giữ. Lúc này tập tin mà bạn soạn thảo sẽ nằm ở mục Active Documents và có tên là tên mà bạn đã đặt lúc trước. Những tập tin đã được Publish sẽ có thêm chữ Published bên phải tên của tập tin. Bấm vào tên tập tin, cửa sổ soạn thảo sẽ hiện ra cho bạn soạn tiếp, sửa đổi và in ấn.

Ngoài ra Writely còn một số tiện ích khác (chẳng hạn như dịch vụ upload tập tin) đang chờ các bạn khám phá.

LÝ ANH BÌNH

Sơ Đồ Tư Duy Người Lái Đò Sông Đà Tổng Quát Nhất

Tác Phẩm: Người Lái Đò Sông Đà (Trích)

Soạn Bài: Mùa Xuân Nho Nhỏ – Ngữ Văn 9 Tập 2

Chính Phủ, Thủ Tướng Ban Hành 6 Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Trong Tháng 2/2021

Soạn Bài: Mẹ Tôi – Ngữ Văn 7 Tập 1

Đọc Hiểu Văn Bản: “Uy

Văn Bản Pháp Luật – Bdif.vn

Gia Lai: Ban Hành Quy Chế Quản Lý, Vận Hành, Khai Thác, Sử Dụng Hệ Thống Một Cửa Điện Tử Và Cổng Dịch Vụ Công Của Tỉnh

Giáo Án Ngữ Văn 10 – Nâng Cao

Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm “Văn Học Nghệ Thuật”

Rèn Kỹ Năng Đọc – Hiểu Văn Bản Văn Học Ngoài Chương Trình Cho Học Sinh Chuyên Văn

Đọc – hiểu văn bản: “Uy-lit-xơ Trở về” (trích SỬ THI “Ô ĐI XÊ”)

I. ĐỌC – HIỂU TIỂU DẪN.

1. SỬ THI “Ô ĐI XÊ”.

– Là 1 trong hai sử thi nổi tiếng của văn học Hi Lạp cổ đại (TK IX-VIIITCN)

– Tương truyền là do Hô me rơ (nhà thơ mù) sáng tác dựa theo truyền thuyết về cuộc chiến thành Tơ roa (xảy ra trước đó 3 thế kỉ)

– Tác phẩm gồm 12 110 câu thơ chia thành 24 khúc ca

* Tóm tắt: sgk (nhân vật chính là người anh hùng Uy-lit-xơ và hành trình trở về quê hương I tác đoàn tụ cùng gia đình)

* Chủ đề: Khát vọng chinh phục thiên nhiên để khai sáng, mở rộng giao lưu giữa các nền văn minh văn hoá; đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình.Qua đó thể hiện sức mạnh trí tuệ, ý chí của con người.

* Vị trí đoạn trích: Đoạn trích thuộc khúc ca thứ XXIII của sử thi Ô-đi-xê.

II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN.

1. Nhân vật Uy lít xơ:

– Tài năng: như một vị thần ( thắng trong cuộc thi bắn cung; tiêu diệt những tên cầu hôn đầu sỏ; trừng phạt lũ đầy tớ phản bội..) với trí tuệ mẫn tiệp ( bảo gia nhân bày tiệc, tìm cách đối phó với gia đình những kẻ cầu hôn vừa bị mình trừng trị..)

– Ngoại hình: đẹp như một vị thần

⇒ Uy-lit-xơ là hiện thân cho vẻ đẹp của người anh hùng chiến trận thời cổ đại

– Tính cách:

+ Nhẫn nại đợi vợ công nhận mình trong sự tin tưởng (thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy )

+ Trách Pê-nê-lốp vì có trái tim sắt đá hơn ai hết trong đám đàn bà yếu đuối … có gan ngồi cách xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời, trải qua bao nỗi gian truân, nay mới về xứ sở

+ Hờn dỗi: đòi nhũ mẫu kê giường để ngủ một mình

+ Giật mình vì tưởng tình cảm vợ chồng không còn nguyên vẹn (qua bí mật về chiếc giường của hai vợ chồng )

+ khi vợ nhận ra chồng: ôm lấy vợ và khóc dầm dề

⇒ Diễn biến tâm lí phức tạp nhằm khắc họa tính cách trần tục của Uy-lit-xơ. Uy-lit-xơ vừa là người anh hùng muôn vàn trí xảo vừa là con người trần thế nhất mực thủy chung với gia đình

2. Nhân vật Pê-nê-lốp:

* Khi chưa gặp Uy-lit-xơ:

– Nàng thận trọng nói với nhũ mẫu về mối hồ nghi của mình: Chính chàng đã chết rồi; Chỉ có thần linh mới có thể tiêu diệt được bọn cầu hôn

– Nhũ mẫu đưa bằng chứng vết sẹo: Pê-nê-lốp không tin;

* Khi gặp Uy-lit-xơ:

– Pê-nê-lốp rất đỗi phân vân: vừa bàng hoàng xúc động vừa thận trọng dò xét.

– Ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu, lòng sửng sốt: đăm đăm âu yếm nhìn chồng; lúc lại không nhận ra chồng; gọi chồng là “ngài” xưng “tôi”.

– Bị con trai và cả Uy-lit-xơ trách móc, Pê-nê-lốp vẫn thận trọng đưa ra phép thử đối với Uy-lit-xơ dựa vào bí mật chỉ có hai người biết

+ Cách thử bí mật chiếc giường trong đoạn này vừa cho thấy phẩm chất trí tuệ của Pê-nê-lốp ( trọng danh dự, thận trọng, tỉnh táo) vừa cho thấy sự thủy chung, kiên trinh của nàng

* Khi Uy-lit-xơ nói ra bí mật chiếc giường:

– Pê-nê-lốp bủn rủn cả chân tay, chạy ngay lại, nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng, giãi bày tâm sự. Niềm vui sướng, hạnh phúc tột cùng.

⇒ Pê-nê-lốp là người phụ nữ khôn ngoan, tỉnh táo, thủy chung

3. Nghệ thuật:

– Ngôn ngữ kể chuyện trang trọng, chậm rãi, sử dụng nhiều định ngữ ( Pê-nê-lốp thận trọng, Uy-lit-xơ muôn vàn trí xảo,..)

– Lời nói của nhân vật được chau chuốt (vừa có hình ảnh vừa có chiều sâu trí tuệ ); tâm lí nhân vật được khắc họa rõ nét

– Sử dụng nghệ thuật so sánh mở rộng

Cổng Điện Tử Thành Phố Hưng Yên

Hưng Yên Triển Khai Bổ Sung Các Biện Pháp Cấp Bách Phòng, Chống Dịch

Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Trà Vinh

Sở Tư Pháp Tỉnh Tuyên Quang

Cổng Điện Tử Tỉnh Ninh Bình

Chuyên Đề Đọc Hiểu Văn Bản

Bí Quyết Vận Dụng Kiến Thức Liên Môn Trả Lời Câu Hỏi Đọc Hiểu Văn Bản Nhật Dụng

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tích Hợp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Các Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn 8

Tích Hơp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Các Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn 8

Đề Cương Ôn Tập Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 8

Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng Văn 9 Trang 94 (Ngắn Gọn): Hệ Thống Các Văn Bản Nhật Dụng Đã Học

1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt

Ví dụ 1: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

…Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này.

(Trích Tuỳ bútNgười lái đò Sông Đà -Nguyễn Tuân)

Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào là chính?

(Trả lời: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là miêu tả).

Ví dụ 2: ” Hắn về lần này trông khác hằn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai con mắt gườm gườm trong gớm chết! Hắn mặt cái quần nái đen với áo tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết! ( – Nam Cao )

Hãy chỉ ra các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên ?

(Trả lời: Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên là: tự sự, miêu tả, biểu cảm).

Ví dụ 3: ” Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa“

(Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào?

( Trả lời: Đoạn văn trên được viết theo phương thức nghị luận)

Ví dụ 4: ” Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí, vì vậy con người không thể sống thiếu nước. Nước chiếm khoảng 58 – 67% trọng lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70 – 75%, đồng thời nước quyết định tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con người.

Khi cơ thể mất nước, tình trạng rối loạn chuyển hóa sẽ xảy ra, Protein và Enzyme sẽ không đến được các cơ quan để nuôi cơ thể, thể tích máu giảm, chất điện giải mất đi và cơ thể không thể hoạt động chính xác. Tình trạng thiếu nước do không uống đủ hàng ngày cũng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của não bởi có tới 80% thành phần mô não được cấu tạo từ nước, điều này gây trí nhớ kém, thiếu tập trung, tinh thần và tâm lý giảm sút…”

(Nanomic.com.vn)

Đoạn trích được viết theo phương thức biểu đạt nào?

(Trả lời: Đoạn trích được viết theo phương thức thuyết minh)

Ví dụ 5:

Đò lên Thach Hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

(Lê Bá Dương, Lời người bên sông)

Phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ là phương thức nào?

(Phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ là biểu cảm)

Ví dụ 6: Dịch bệnh E-bô-la ngày càng trở thành “thách thức” khó hóa giải. Hiện đã có hơn 4000 người tử vong trong tổng số hơn 8000 ca nhiễm vi rút E-bô-la. Ở năm quốc gia Tây Phi. Hàng nghìn trẻ em rơi vào cảnh mồ côi vì E-bô-la. Tại sao Li-bê-ri-a, cuộc bầu cử thượng viện phải hủy do E-bô-la “tác quái”

Với tinh thần sẻ chia và giúp đỡ năm nước Tây Phi đang chìm trong hoạn noạn, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã gửi những nguồn lực quý báu với vùng dịch để giúp đẩy lùi “bóng ma” E-bô-là, bất chấp nhưng nguy cơ có thể xảy ra.

Mĩ đã quyết định gửi 4000 binh sĩ, gồm các kĩ sư, chuyên gia y tế, hàng loạt nước ở Châu Âu, Châu Á và Mĩ-la-tinh gửi trang thiết bị và hàng nghìn nhân viên y tế tới khu vực Tây Phi. Cu-ba cũng gửi hàng trăm chuyên gia y tế tới đây.

Trong bối cảnh chưa có vắc xin điều trị căn bệnh E-bô-la, việc cộng đồng quốc tế không “quay lưng” với vùng lõi dịch ở Tây Phi, tiếp tục gửi chuyên gia và thiết bị tới đây để dập dịch không chỉ là hành động mang tính nhân văn, mà còn thắp lên tia hi vọng cho hàng triệu người Phi ở khu vực này.

(Dẫn theo nhân dân.Com.vn)

Văn bản trên sử dụng các phương thức biểu đạt chủ yếu nào?

( Trả lời: Phương thức chủ yếu: thuyết minh – tự sự)

2- Yêu cầu nhận diện phong cách chức năng ngôn ngữ:

1

Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

– Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt…Trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm trong giao tiếp với tư cách cá nhân

– Gồm các dạng chuyện trò/ nhật kí/ thư từ…

Ví dụ 1 : Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: ” Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời chúng hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi chúng phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của chúng phải được hình thành trong sự hòa hợp và tương trợ. Chúng phải được trưởng thành khi được mở rộng tầm nhìn, thu nhận thêm những kinh nghiệm mới“.

* Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

( Trả lời: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận).

Ví dụ 2:

“Dịch bệnh E-bô-la ngày càng trở thành “thách thức” khó hóa giải. Hiện đã có hơn 4000 người tử vong trong tổng số hơn 8000 ca nhiễm vi rút E-bô-la. Ở năm quốc gia Tây Phi. Hàng nghìn trẻ em rơi vào cảnh mồ côi vì E-bô-la. Tại sao Li-bê-ri-a, cuộc bầu cử thượng viện phải hủy do E-bô-la “tác quái”

Với tinh thần sẻ chia và giúp đỡ năm nước Tây Phi đang chìm trong hoạn noạn, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã gửi những nguồn lực quý báu với vùng dịch để giúp đẩy lùi “bóng ma” E-bô-là, bất chấp nhưng nguy cơ có thể xảy ra.

Mĩ đã quyết định gửi 4000 binh sĩ, gồm các kĩ sư, chuyên gia y tế, hàng loạt nước ở Châu Âu, Châu Á và Mĩ-la-tinh gửi trang thiết bị và hàng nghìn nhân viên y tế tới khu vực Tây Phi. Cu-ba cũng gửi hàng trăm chuyên gia y tế tới đây.

Trong bối cảnh chưa có vắc xin điều trị căn bệnh E-bô-la, việc cộng đồng quốc tế không “quay lưng” với vùng lõi dịch ở Tây Phi, tiếp tục gửi chuyên gia và thiết bị tới đây để dập dịch không chỉ là hành động mang tính nhân văn, mà còn thắp lên tia hi vọng cho hàng triệu người Phi ở khu vực này“.

(Dẫn theo nhân dân.Com.vn)

Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

(Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí)

Ví dụ 3: ” Nhà di truyền học lấy một tế bào của các sợi tóc tìm thấy trên thi thể nạn nhân từ nước bọt dính trên mẩu thuốc lá. Ông đặt chúng vào một sản phẩm dùng phá hủy mọi thứ xung quanh DNA của tế bào.Sau đó, ông tiến hành động tác tương tự với một số tế bào máu của nghi phạm.Tiếp đến, DNA được chuẩn bị đặc biệt để tiến hành phân tích.Sau đó, ông đặt nó vào một chất keo đặc biệt rồi truyền dòng điện qua keo. Một vài tiếng sau, sản phẩm cho ra nhìn giống như mã vạch sọc ( giống như trên các sản phẩm chúng ta mua) có thể nhìn thấy dưới một bóng đèn đặc biệt. Mã vạch sọc DNA của nghi phạm sẽ đem ra so sánh với mã vạch của sợi tóc tìm thấy trên người của nạn nhân”.

( Nguồn : Le Ligueur, 27 tháng 5 năm 1998)

* Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

( Trả lời: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ khoa học).

3. Yêu cầu nhận diện và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) các hình thức, phương tiện ngôn ngữ

3.1. Các biện pháp tu từ:

–Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu)

so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng,…

–Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…

Ví dụ 1: Chỉ ra biện pháp tu từ chính được sử dụng trong đoạn thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó:

” Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;”( – Xuân Diệu)

(Trả lời: – Biện pháp tu từ được sử dụng là phép trùng điệp (điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc): Của…này đây…/ Này đây… của … Hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ là nhấn mạnh vẻ đẹp tươi non, phơi phới, rạo rực, tình tứ của mùa xuân qua tâm hồn khát sống, khát yêu, khát khao giao cảm mãnh liệt của nhân vật trữ tình).

3.2. Các hình thức, phương tiện ngôn ngữ khác:

– Từ láy, thành ngữ, từ Hán – Việt …

– Điển tích điển cố,…

Ví dụ 1: “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?” (Trích Vợ nhặt – Kim Lân)

Chỉ ra những thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng.

. (Trả lời: – Các thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn: dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, ăn nên làm nổi. Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các thành ngữ: các thành ngữ dân gian quen thuộc trong lời ăn tiếng nói nhân dân được sử dụng một cách sáng tạo, qua đó lời kể của người kể hòa vào với dòng suy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ; suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật trở nên thật gần gũi, được thể hiện rất tự nhiên; nỗi lòng, tâm trạng cùa người mẹ thương con thật được diễn tả thật chân thực).

Ví dụ 4: Cho đoạn văn sau:

” Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lí cố tình để sát vào mâm cỗ cho bàn ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò… – món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây…”

(Trích Mùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng)

Đoạn văn sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó trong đoạn văn?

(Trả lời: – Trong đoạn văn, tác giả có sử dụng biện pháp liệt kê:

“…gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò…”

-Tác dụng: Biện pháp liệt kê giúp cho nhà văn miêu tả sinh động mâm cỗ Tết vốn tràn trề, ngồn ngộn những của ngon vật lạ)

4. Yêu cầu nhận diện các phương thức trần thuật

5. Yêu cầu nhận diện các phép liên kết ( liên kết các câu trong văn bản)

Phép lặp từ ngữ

Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước

Phép liên tưởng (đồng nghĩa / trái nghĩa)

Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/ trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước

Phép thế

Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các từ ngữ đã có ở câu trước

Phép nối

Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối kết)với câu trước

Ví dụ: Đọc kỹ đoạn văn sau và xác định các phép liên kết được sử dụng:

” Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa“ . (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

( Trả lời: Các phép liên kết được sử dụng là:

– Phép lặp: “Trường học của chúng ta”

– Phép thế: “Muốn được như thế”… thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước đó.)

6. Nhận diện các thao tác lập luận

6

So sánh

So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm.

Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh tương phản.

7. Yêu cầu nhận diện kiểu câu và nêu hiệu quả sử dụng

7.1. Câu theo mục đích nói:

– Câu tường thuật (câu kể)

– Câu cảm thán (câu cảm)

– Câu nghi vấn ( câu hỏi)

– Câu khẳng định

– Câu phủ định.

7.2. Câu theo cấu trúc ngữ pháp

– Câu đơn

– Câu ghép/ Câu phức

– Câu đặc biệt.

Ví dụ 1: Sáng ngày 16/5, hơn 1.300 học sinh trường THPT Phan Huy Chú, Hà Nội tham gia buổi học ngoại khóa mang tên Chủ quyền biển đảo, khát vọng hòa bình. Buổi học được tổ chức với ý nghĩa thể hiện tình yêu đất nước, một lòng hướng về biển Đông.

Nhà trường cho rằng buổi ngoại khoá như thế này rất cần thiết, giúp nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho các em học sinh, đồng thời nâng cao hiểu biết về chủ quyền lãnh thổ và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước.

Trong buổi ngoại khoá này, các học sinh trong trường đã xếp hình, tạo thành dải chữ S bản đồ đất nước Việt Nam cùng hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Hoạt động xếp hình diễn ra khá sớm vào lúc 6h30 nhưng các học sinh tham gia đều rất hào hứng, sôi nổi. Vừa xếp hình, các học sinh trường Phan Huy Chú còn được nghe kể về chiến công của cha ông trong việc bảo vệ đất nước, được nâng cao và tự ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với Tổ quốc. (Theo )

Đọc đoạn trích trên và cho biết kiểu câu nổi bật nhất mà văn bản sử dụng là gì? Tác dụng của kiểu câu đó trong việc thể hiện nội dung văn bản?

( Trả lời: – Kiểu câu sử dụng nhiều nhất là câu tường thuật, câu phức.

– Tác dụng: Cung cấp cụ thể, đầy đủ và chính xác các thông tin hoạt động ngoại khóa của học sinh trường THPT Phan Huy Chú.)

Ví dụ 2: ” Tại Thế vận hội đặc biệt Seatte [dành cho những người tàn tật] có chín vận động viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham dự cuộc đua 100m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao đi với quyết tâm chiến thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ bị vấp té liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người kia nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ một ai! Một cô gái bị hội chứng down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé: – Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn. Cô gái nói xong, cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích. Khán giả trong sân vận động đồng loạt đứng dậy. Tiếng vỗ tay hoan hô vang dội nhiều phút liền. Mãi về sau, những người chứng kiến vẫn còn truyền tai nhau câu chuyện cảm động này”.

. Đọc đoạn văn bản trên và chỉ ra những câu đặc biệt được sử dụng trong văn bản trên. Nêu tác dụng của chúng.

(Trả lời: Các câu đặc biệt được sử dụng trong đoạn văn:

Câu: ” Trừ một cậu bé“. Hiệu quả biểu đạt: tạo sự chú ý về sự đặc biệt của một vận động viên so với đám đông trên đường đua.

-Câu: ” Tất cả không trừ một ai“. Hiệu quả biểu đạt: Đặt trong mối liên hệ với câu trước đó, câu có tác dụng nhấn mạnh, gây sự chú ý sự đồng lòng thực hiện một hành động cao cả (vì người bị tổn thương về thể chất nặng hơn mình).

8. Yêu cầu xác định nội dung chính của văn bản/ Đặt nhan đề cho văn bản

Ví dụ 1: ” Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lí cố tình để sát vào mâm cỗ cho bàn ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò… – món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây…”

(TríchMùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng)

Đọc kĩ và xác định nội dung chính của đoạn trích trên? Hãy đặt nhan đề cho đoạn văn. (Trả lời: Đoạn văn miêu tả mâm cỗ Tết thịnh soạn do bàn tay tài hoa, chu đáo của cô Lí làm ra để thết đãi cả gia đình. Có thể đặt nhan đề là ” Mâm cỗ Tết”.

Ví dụ 2: Từ sau khi Việt Nam hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) của đất nước tăng lên đáng kể. Đầu tư từ ngân sách cho KH&CN vẫn giữ mức 2% trong hơn 10 năm qua, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên rất nhanh, đến thời điểm này đã tương đương khoảng 1tỷ USD/năm. Cơ sở vật chất cho KH&CN đã đạt được mức độ nhất định với hệ thống gần 600 viện nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu của Nhà nước, hơn 1.000 tổ chức KH&CN của các thành phần kinh tế khác, 3 khu công nghệ cao quốc gia ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã bắt đầu có sản phẩm đạt kết quả tốt. Việt Nam cũng có cơ sở hạ tầng thông tin tốt trong khu vực ASEAN (kết nối thông tin với mạng Á- Âu, mạng VinaREN thông qua TEIN2, TEIN4,… (Báo , ngày 16/5/2014- Mai Hà, Ánh Tuyết)

*Đọc đoạn văn trên và cho biết nội dung chính bàn về vấn đề gì? Đặt tên cho văn bản.

( Trả lời: – Nội dung chính của đoạn văn bàn về: Sự phát triển của KH&CN Việt Nam trong hoàn cảnh hội nhập, Có thể đặt tên cho đoạn văn làKhoa học công nghệ của Việt Nam,….)

Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

9. Yêu cầu nhận diện các lỗi diễn đạt và chữa lại cho đúng

9.1. Lỗi diễn đạt ( chính tả, dùng từ, ngữ pháp)

9.2. Lỗi lập luận ( lỗi lô gic…)

Ví dụ: Đây là đoạn văn còn mắc nhiều lỗi dùng từ, chính tả, ngữ pháp, logic…, Anh/chị hãy chỉ ra những sai sót đó và chữa lại cho đúng.

” Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, người đọc tiếp nhận với một không gian ngột ngạt, với nỗi khổ đè nặng trên đôi vai gầy yếu và nỗi đau xé lòng chị Dậu tưởng như đã thành nỗi đau tột cùng. Nhưng khi Chí Phèo với những tiếng chửi tục tĩu cùng khuôn mặt đầy vết sẹo, với bước chân chện choạn, ngật ngưởng bước đi trên những dòng văn của Nam Cao, thấy rằng đó mới là kẻ khốn cùng ở nông dân Việt Nam ngày trước. Qua đó, Nam Cao không chỉ lột trần sự thật đau khổ của người nông dân mà còn nêu được một quy luật xuất hiện trong làng xã Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám: hiện tượng người nông dân bị đẩy vào con đường lưu manh hoá “

10. Yêu cầu nêu cảm nhận nội dung và cảm xúc thể hiện trong văn bản

– Cảm nhận về nội dung phản ánh

– Cảm nhận về cảm xúc của tác giả

Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau trong bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…của Nguyễn Duy và trả lời câu hỏi sau:

“(…) Mẹ ta không có yếm đào

nón mê thay nón quai thao đội đầu

rối ren tay bí tay bầu

váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa”

Ở khổ thơ này, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là gì?

(Trả lời: – Hình ảnh của người mẹ nghèo bình dị, lam lũ, quê mùa, tần tảo, tất tả, bươn chải giữa chốn trần gian được gợi qua trang phục, qua lam lũ nhọc nhằn lao động với bao lo toan vất vả.

– Cảm xúc của nhà thơ là nỗi buồn lặng thấm thía về gia cảnh nghèo nàn của mẹ là tình yêu thương, trân trọng và niềm tự hào về mẹ).

11. Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản

12. Yêu cầu nhận diện các hình thức nghị luận (hoặc cách thức trình bày của đoạn văn/ Kết cấu đoạn văn)

Tổng Kết Phần Văn (Tiếp Theo)

Tiết 132, 133: Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng

Soạn Bài Cầu Long Biên

“nâng Cao Hiệu Quả Dạy Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn Thcs”

Một Số Kinh Nghiệm Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng

Đọc Hiểu Văn Bản: Mẹ Tôi

Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Mẹ Tôi Ngắn Nhất

Cảm Nghĩ Của Em Về Tác Phẩm Mẹ Tôi

Giới Thiệu Về Đoạn Trích Mẹ Tôi Của Tác Giả A

Vb Mẹ Tôi Me Toi Ppt

Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 2

Hướng dẫn Soạn bài Mẹ tôi chi tiết. Với bản soạn văn 7 này các bạn sẽ được trả lời toàn bộ các câu hỏi trong phần Đọc- hiểu và Luyện tập chi tiết nhất, qua đó nắm vững nội dung bài học

Tìm hiểu chung tác phẩm Mẹ tôi

Câu 1. Lý do đặt nhan đề

Câu 1. Thái độ người bố với con? Lý do

Đối diện với việc đứa con trai yêu quí của mình có hành vi thiếu lễ độ với mẹ, người bố có rất nhiều suy nghĩ và cảm xúc nhưng chủ yếu vẫn là những cảm xúc tiêu cực

– Buồn đau: Chứng kiến cảnh con mình xúc phạm thân mẫu của nó cũng là “nhát dao đâm vào tim”. Nhát dao ấy quá mạnh và dứt khoát đến mức người bố khó thể chống đỡ trong giây lát.

– Tức giận: người bố không quên khi chứng kiến sự buồn khổ của mẹ khi chứng kiến con mình nằm giữa ranh giới sinh tử mong manh. Bố nhắc nhở về sự đánh đổi của mẹ để dành lại sự sống cho con. Vậy mà đứa con đó lại dùng thái độ vô ơn để trả lại ân tình của mẹ.

– Nghiêm khắc nhắc nhở con

+ Ngày đau buồn nhất trong tất cả những ngày đau buồn mà con có thể sẽ phải trải qua là ngày mất mẹ.

+ Ngày con lớn khôn, trưởng thành và có thể tự làm chủ cuộc sống, lúc ấy điều con mong cầu sẽ không là gì hết ngoại trừ được trở lại giai đoạn thơ dại được mẹ lo lắng, chở che. Lúc không còn được ở bên mẹ, hình ảnh mẹ tổn thương do hành vi khiếm nhã của con sẽ khiến con thấy tội lỗi hơn bội phần. Niềm day dứt ấy chính là bản án lương tâm mà cả đời con không thể xóa tội.

– Đưa ra hình phạt nhắc nhở con: từ bây giờ con không cần hôn bố trong khoảng thời gian. Điều này không phải bố hết thương con mà bố muốn nhấn mạnh rằng những điều con làm với mẹ đã tạo cho cả bố vết thương lòng.

Câu 3. Hình ảnh người mẹ

Người mẹ không phải nhân vật trực tiếp nhưng không khó để khắc họa. Mẹ của En-ri-cô là đại diện cho vô số người mẹ trên thế giới này với những đức tính tiêu biểu như:

– Thương con hết mực, đau đớn khi thấy con bị bệnh và lo sợ trước nỗi đau mất con, sẵn sàng đánh đổi thanh xuân và sức khỏe để con mình có thể lớn lên khỏe mạnh và bình an

– Hi sinh hết mình: thức suốt đêm để chăm sóc con,…

Những lý do được đề cập ở câu a, c, d và e chính là lý do tại sao E-ri-cô vô cùng xúc động khi em đọc được thư của bố mình. Qua đó thấy được rằng bản chất của Enrico là đứa trẻ lương thiện. Em rất ngoan và luôn kính trọng, yêu thương bố mẹ mình.

Câu 5. Lý do chọn hình thức viết thư

Người bố không trực tiếp giáo dục hay mắng mỏ con mà lại chọn viết thư là bởi những lý do sau;

– Nếu trực tiếp nói chuyện thì có thể xảy ra hiện tượng người bố tức giận mà mắng mỏ, xúc phạm và đánh đập con mình con mình. Hành vi này sẽ không đạt được điều gì ngoài nỗi đau thể xác với con và sự chai lì của một đứa trẻ.

– Ngược lại nếu lựa chọn hình thức viết thư, bố có thể bình tâm suy xét việc gì nên nói và việc gì không nên. Cậu bé sẽ đủ bình tĩnh để đọc và thấm thía được những gì bố muốn dạy dỗ và nhắc nhở mình.

Soạn bài Cổng trường mở ra Luyện tập

Câu 1. Phân tích về hình ảnh người mẹ trong bài Mẹ Tôi

Mẹ tôi là văn bản được trích trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi Những tấm lòng cao cả của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, đây đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Văn bản thể hiện tấm lòng cao cả của người mẹ đối với đứa con thân yêu của mình.

Bức thư do bố En-ri-cô viết trong hoàn cảnh En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, người bố viết thư này giúp En-ri-cô suy nghĩ, nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của mình.

Để En-ri-cô nhận ra lỗi lầm của mình trước hết người cha thể hiện thái độ đau buồn, giận dữ và có phần thất vọng. Thái độ đó được thể hiện rõ qua những lời văn gay gắt, từ ngữ mạnh mẽ: “con đã thiếu lễ độ với mẹ”, “bố không thể nén cơn tức giận”. Trong đoạn đầu bức thư ông đã hết sức nghiêm khắc trước những lỗi lầm của con, thậm chí ông còn cảnh cáo: “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”. Lời lẽ nghiêm khắc, thái độ dứt khoát dù có đôi chút nặng nề nhưng đã tác động phần nào đến nhận thức của En-ri-cô.

Để En-ri-cô nhận ra sự thiếu lễ độ với mẹ là hoàn toàn sai trái, bức thư đã gợi lên hình ảnh dịu dàng, hiền hậu của mẹ, một hình ảnh bình dị mà vô cùng lớn lao.

Trước hết, mẹ của En-ri-cô có tình yêu thương con sâu sắc, cao cả. Bà tận tụy, lo lắng cho En-ri-cô suốt ngày đêm trong những ngày cậu ốm: “thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con” bà cũng giống như bao bà mẹ khác, luôn quan tâm, săn sóc và hết mình vì con. Thậm chí bà còn có thể hi sinh vì con “bỏ hết một năm hạnh phúc” để “tránh cho con một giờ đau đớn” hình ảnh tương phản kết hợp với “mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con” càng làm nổi bật rõ hơn sự hi sinh, tình yêu thương của bà dành cho đứa con yêu quý của mình.

Không chỉ yêu thương con, mẹ còn có vị trí vô cùng quan trọng với con. Mẹ là điểm tựa, là sự cưu mang, che chở trong suốt cuộc đời con: “mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay đón vào lòng”, dù có khôn lớn trưởng thành thì cũng sẽ cảm thấy yếu đuối nếu không có mẹ ở bên che chở. Nỗi bất hạnh, đau đớn nhất đối với con là không còn mẹ: “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Bằng những lời lẽ vừa tha thiết, xúc động vừa nghiêm khắc, cảnh tỉnh người cha đã cho thấy vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi con người và “thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó” .

Văn bản đã cho thấy chân dung của một người mẹ có tình yêu thương con tha thiết, sâu nặng. Qua hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, ta thấy người mẹ với tình yêu thương bao la, cao cả có vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ đối với mình.

Chủ Đề Văn Bản Nhật Dụng

Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Người Bố Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của A

Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Người Bố Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A

Soạn Bài Mẹ Tôi Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Soạn Bài Mẹ Tôi (Siêu Ngắn)

Dịch Văn Bản Tiếng Anh Chuẩn Online

Agribank Việt Nam Khẳng Định Luôn Tuân Thủ Pháp Luật

Agribank Chi Nhánh Tp Hồ Chí Minh Gửi Đơn Tố Giác Tội Phạm

Làm Thế Nào Để Gửi Tiền Tiết Kiệm Trực Tuyến Tại Agribank Để Tránh Dịch Covid

Phân Tích Nhân Vật Anh Thanh Niên Trong Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa, Từ

Văn Bản Anh Thanh Niên

Dịch văn bản tiếng anh chuẩn online nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực dịch thuật cùng đội ngũ biên dịch tiếng Anh chất lượng, chúng tôi hân hạnh cung cấp dịch vụ dịch tiếng Anh chuyên ngành kinh tế. Những tài liệu chuyên ngành kinh tế do Công ty dịch thuật Asean đảm nhiệm luôn đạt yêu cầu khắt khe về chất lượng phù hợp với những chuẩn mực quốc tế.

Dịch thuật Asean đã hợp tác với rất nhiều công ty, tổ chức, cá nhân, dịch rất nhiều tài liệu. Một số tài liệudịch văn bản tiếng anh chuẩn online mà chúng tôi đã hoàn thành như:

Dịch thuật Asean đã đạt được nhiều sự tín nhiệm của khách hàng cho Dịch vụ Dịch văn bản tiếng anh chuẩn online :

1. ĐỘI NGŨ NHÂN VIÊN BIÊN DỊCH TIẾNG ANH CHẤT LƯỢNG

Với đội ngũ biên dịch viên 100% kinh nghiệm từ 3 đến 15 năm trong lĩnh vực dịch thuật tiếng Anh. trình độ từ Đại học trở lên, am hiểu sâu về lĩnh vực xuất nhập khẩu, Dịch thuật Asean tự tin mang đến dịch vụ Dịch tiếng.

Anh ngành kinh tế chất lượng nhất. Công ty Dịch thuật Asean luôn tự hào và hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng dịch vụ mà chúng tôi đem đến cho Quý khách hàng, với đội ngũ dịch thuật viên hùng hậu cùng với những cộng tác viên là các chuyên gia, người bản xứ, giảng viên ngôn ngữ đang giảng dạy, làm việc tại các cơ quan chính phủ, Đại sứ quán và các trường Đại học trên cả nước, những chuyên gia làm việc trong lĩnh vực kinh tế giúp khách hàng hoàn toàn yên tâm về chất lượng cũng như uy tín khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi cung cấp. Dịch thuật Asean đảm bảo mang đến cho quý khách hàng bản dịch tiếng Anh chuẩn xác nhất.

2. QUẢN LÝ CHẶT CHẼ, PHÂN BAN RÕ RÀNG, SỰ ĐÂU TƯ MẠNH MẼ

Dịch thuật Asean luôn áp dụng quy trình quản lý Quốc tế chặt chẽ, logic nhất nhằm đảm bảo sự hoạt động tốt nhất, mang lại kết quả cao nhất.

Bên cạnh đó Dịch Thuật Asean áp dụng quy trình Dịch thuật chuẩn: các bước từ khâu nhận tài liệu, phân tích tài liệu, gửi tài liệu cho bộ phận biên dịch tài liệu, kiểm tra lại tài liệu… và gửi đến tận tay quý khách hàng. Nó là cả một quá trình chặt chẽ, kiểm tra nghiêm ngặt để gửi trao đến khách hàng những bản dịch chất lượng nhất mà không tốn quá nhiều thời gian, chi phí quý khách hàng.

Để làm được điều đó, Asean đã có sự phân ban rõ ràng trong hệ thông công ty. Từ bộ phận tư vấn, chăm sóc khách hàng, bộ phận luật sư hộ trợ miễn phí 24/24h, bộ phận kiểm tra tài liệu, bộ phận dịch, bộ phận hiệu đính, công nghệ thông tin và cuối cùng là bộ phận giao nhận tài liệu…tất cả đều phối hợp ăn ý, và tất cả chỉ để có thể làm hài lòng Qúy khách hàng và đem lại sự thành công cao nhất cho Quý khách hàng cũng như chất lượng của Dịch thuật Chuyên nghiệp Asean .

3. UY TÍN VÀ BẢO MẬT

Không chỉ lĩnh vực báo chí mà rất nhiều lĩnh vực khác luôn cần tính bảo mật cao. Không những chuyên nghiệp về chất lượng bản dịch. Dịch thuật Asean còn luôn giữ bảo mật đối với mọi tài liệu, thông tin từ phía khách hàng. Tất cả các biên dịch viên của chúng tôi đều ký kết hợp đồng về bảo mật thông tin nhằm không tiết lộ tài liệu của quý khách hàng.

4. ĐẢM BẢO THỜI GIAN VÀ CHI PHÍ HỢP LÝ NHẤT CHO KHÁCH HÀNG

Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực dịch thuật. Luôn đảm bảo hoàn thành bản dịch đúng thời gian mà khách hàng yêu cầu. Không chỉ cung cấp những dịch vụ trọn gói. Dịch đa chuyên ngành với chất lượng tốt nhất. Dịch thuật Asean còn cam kết thời gian bàn giao là nhanh nhất hiện nay: Với các gói Dịch vụ dịch thuật – công chứng lấy nhanh sau 30 phút, với chi phí là thấp nhất nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho Quý khách hàng. Quý khách hàng có thể tham khảo hoặc gọi điện trực tiếp đến hotline để được tư vấn tốt nhất.

Dịch văn bản tiếng anh chuẩn online Uy tín Chất Lượng Mức giá cạnh tranh nhất

GIAO DỊCH GỬI TÀI LIỆU DỊCH THUẬT:

Qúy khách muốn dịch văn bản tiếng anh chuẩn online chúng tôi hỗ trợ theo 02 cách.

+ Đến trực tiếp tại các văn phòng giao dịch của công ty dịch thuật Asean

+ Quý khách có thể gửi Mail Tài liệu đến địa chỉ Email: [email protected] hoặc [email protected] hoặc gia zalo viber : +84936336993 chúng tôi sau 10 phút Nhân viên công ty sẽ gọi điên gửi báo giá cụ thể chi tiết tài liệu của quý khách hàng.

HOTLINE: 02743049899 – 0936336993

HÃY ĐẾN VỚI DỊCH THUẬT ASEAN ĐỂ ĐƯỢC PHỤC VỤ TỐT NHẤT ( 24h/24h)

Dịch Văn Bản Tiếng Anh Dịch Thuật Asean

Phân Tích Bài Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Văn Bản Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông

Đi Tìm Vẻ Đẹp Của Một Dòng Sông (Tiếp Cận Văn Bản Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông)

Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông?

Soạn Bài Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học

Soạn Văn Bài: Văn Bản Văn Học

Tuần 23. Luyện Tập Đọc

Soạn Bài Luyện Tập Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học

Đề Cương Ôn Tập Môn Văn Lớp 9 Học Kì 2

Văn Bản, Tiếng Việt, Làm Văn Trong Đề Học Kì 2 Môn Văn Lớp 8 Ninh Hòa

b. Ý nghĩa đoạn trích sau là gì?

“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn

Voi uống nước, nước sông cũng phải cạn

Đánh một trận sạch không kinh ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông

Nổi gió to trút sạch lá khô

Thông tổ kiến phá toang đê vỡ”

c. Hiểu thế nào là “Ý toại ngôn ngoại”

d. Hai câu thơ trên mang ý nghĩa:

+ Thể hiện khát vọng lớn lao của thân nam nhi trong trời đất, đó là dâng hiến tài năng, sức mạnh để bảo vệ, phát triển quê hương, đất nước.

+ Thể hiện sự tự ý thức của tác giả Phạm Ngũ Lão đối với món nợ công danh, công danh với núi non chưa trả hết thì hổ thẹn khi nghe người ta nói chuyện Vũ Hầu.

– Có cách hiểu như vậy bởi những nguyên nhân sau:

+ Trong xã hội phong kiến xưa, những bậc nam nhi luôn coi việc cống hiến tài năng, sức mạnh cho đất nước là một trách nhiệm không thể thiếu ở một nam nhân, đó là món nợ tang bồng, nợ công danh.

+Vũ Hầu là một tấm gương của con người hiền tài, với những đóng góp lớn lao, quý báu cho đất nước. Vì vậy nói đến chuyện Vũ Hầu chính là sự tự ý thức về trách nhiệm của bản thân tác giả.

2. Luyện tập cảm nhận hình tượng văn học

a. Trong truyện Chử Đồng Tử có những tình tiết nào hay và độc đáo?

b. Dựa vào những tình tiết tiêu biểu, hãy mô tả lại hình tượng người ở ẩn trong bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

c. Trong truyện Chử Đồng Tử có những tình tiết hay và độc đáo như:

+ Gia cảnh nghèo khó: hai cha con mặc chung nhau một chiếc khố.

+ Cuộc gặp gỡ bất ngờ của Chử Đồng Tử và Tiên Dung

+ Chử Đồng Tử chung sống cùng tiên

+ Chử Đồng Tử được Phật cho một cây gậy và chiếc nón có phép lạ.

d. Bài thơ Nhàn đã khắc họa rõ bức chân dung của người nho sĩ ẩn dật, đó là một con người lánh xa cuộc đời, về ở ẩn nơi rừng núi, sống vui vẻ với những thú vui tao nhàn: câu cá, cuốc đất trồng cây…lánh xa nơi thị phi bát nháo, tìm về nơi vắng vẻ nuôi dưỡng tâm hồn thanh cao của người ẩn sĩ, sinh hoạt gắn liền với tự nhiên, coi những phú quý, hòa hoa danh vọng tựa như một giấc chiêm bao.

3. Luyện tập khái quát tư tưởng, quan điểm của tác phẩm và đoạn trích

a. Phát biểu khái quát tư tưởng của bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương.

b. Động cơ nào khiến tác giả không ngại “vụng về” soạn ra Trích diễm thi tập.

a. Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương thể hiện được sự coi trong những giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc thông qua việc biên soạn, lưu giữ các tác phẩm thơ văn

b. Động cơ để Hoàng Đức Lương soạn ra Trích diễm thi tập:

+ Đó chính là sự xót xa trước thực trạng thơ văn hay trong dân gian bị thất truyền, giá trị văn hóa của dân tộc bị mai một, mất mát.

+ Do ý thức của nhà văn trong việc lưu giữ các giá trị tinh hoa của văn hóa, của dân tộc.

+ Để cho con cháu đời sau có cơ hội tiếp thu những tác phẩm có giá trị ấy, nhắc nhở ý thức lưu truyền.

Soạn Bài Tổng Kết Phương Pháp Đọc Hiểu Văn Bản Văn Học

Soạn Bài: Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học

Soạn Bài Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam (Chi Tiết)

Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam

Chuyên Đề Văn Học Dân Gian

Máy Đọc Văn Bản Trực Tuyến

Chuyển Đổi Văn Bản Thành Audio Với Ispeech

Nhận Dạng Và Chuyển Đổi Bảng Mã Font Chữ Tiếng Việt Online Nhanh Nhất

Cách Chỉnh Sửa File Word, Excel, Powerpoint Trực Tuyến

Hướng Dẫn Chỉnh Sửa File Word, Excel, Powerpoint Trực Tuyến

Tuyển Dụng Ctv Đánh Văn Bản

Các công cụ trực tuyến sau đây sẽ giúp bạn thực hiện điều này một cách dễ dàng. Một số chỉ cho phép bạn chuyển một đoạn văn ngắn thành giọng nói, số khác có thể chuyển toàn bộ file PDF, hoặc file Word thành giọng nói để lưu vào máy iPod hoặc bất kỳ máy nghe nhạc MP3 khác.

Epssivo còn tạo ra những đường dẫn ngắn gọn giúp bạn có thể gởi đoạn giọng nói kèm theo email, chat hoặc blog một cách thuận tiện hơn. Một điểm thú vị khác nữa là bạn có thể nhập trực tiếp đoạn text cần chuyển thành giọng nói vào tiếp theo sau tên miền của trang này trên thanh địa chỉ của trình duyệt để chuyển đổi nhanh.

3. SpokenText

SpokenText (www.spokentext.net) là một công cụ chuyển đổi văn bản sang giọng nói rất mạnh mẽ với nhiều chức năng và tùy chọn khác. Tuy nhiên, để sử dụng được dịch vụ miễn phí này, bạn cần đăng ký một tài khoản, hơi rườm ra nhưng cũng rất xứng đáng. Sau khi bạn kích hoạt đường link trong email, việc đăng ký sẽ hoàn tất.

Talkr (www.talkr.com) không hẳn là công cụ chuyển đổi văn bản thành giọng nói, mà chính xác là một tiện ích trực tuyến cho phép bạn nghe lại các bài viết blog trên máy tính, iPod hoặc các máy MP3. Tiện ích này hữu dụng khi bạn đã có sẵn một blog với chức năng RSS (đa phần các dịch vụ blog có sẵn chức năng RSS) và bạn muốn chuyển các bài viết từ RSS sang giọng nói. Có thể xem Talkr là một kênh phát thanh riêng cho blog của bạn.

Talkr là một kênh podcast tức thời, thông qua nó, bạn có thể chuyển đổi các đường dẫn RSS của mình thành file MP3 để podcast. Sử dụng Talkr cũng cần phải đăng ký tài khoản. Sau khi đăng nhập, bạn chỉ cần nhập vào đường link RSS của bạn hoặc của bấy kỳ người khác mà bạn muốn chuyển nội dung bài blog đó thành file MP3. Ngoài ra, bạn có thể nghe các podcast được ưa thích của các thành viên khác ngay tại trang chủ của Talkr.

Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà : Dàn Ý Và Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Nhất

Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà

Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà

Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”

Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi

Tổng Hợp Kiến Thức Đọc Hiểu Văn Bản Môn Ngữ Văn Đầy Đủ Nhất

Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi, Gợi Dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825

Bộ 5 Đề Đọc Hiểu Và Nghị Luận Văn Học Xoay Quanh Tác Phẩm Làng Của Kim Lân

Tình Huống Truyện Độc Đáo Trong Tác Phẩm Làng Và Chiếc Lược Ngà

Phân Tích Tình Huống Độc Đáo Trong Truyện Ngắn Làng

Đọc hiểu văn bản Cha tôi

Gợi dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825 – 1874) hiệu là Tỉnh Trai và Vọng Tân, tự là Hoàng Trung, người làng Thanh Lương, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 1843, Đặng Huy Trứ đỗ cử nhân, năm 1848 đỗ tiến sĩ nhưng vì phạm huý ông đã bị đánh trượt và bị tước luôn học vị cử nhân.

Ông đã dâng nhiều thư điều trần đề xuất nhiều tư tưởng tân tiến nhưng đáng tiếc là những tư tưởng của ông không được thực hiện.

2. Đặng Dịch Trai ngôn hành lục thuộc thể kí, là tác phẩm khá thành công của Đặng Huy Trứ. Tác phẩm là những trang hồi tưởng của tác giả về người cha đáng kính của mình, ông Đặng Văn Trọng (tên hiệu là Dịch Trai). Tác phẩm ghi lại chi tiết lời nói và việc làm của Đặng Văn Trọng cùng nhiều chi tiết quan trọng về cuộc đời, qua đó thể hiện những quan niệm về cuộc sống của tác giả và tình cảm kính trọng của ông đối với người cha đáng kính.

3. Đoạn trích có nhiều từ cổ, cần đọc kĩ chú thích. Lưu ý thể hiện rõ giọng đọc các lời thoại.

Đoạn tríchlần lượt thuật lại ba sự kiện tiêu biểu, ba khúc ngoặt trên đường thi cử của nhân vật “tôi” (tức Đặng Huy Trứ). Sự kiện là việc thi cử đỗ trượt của “tôi” nhưng vấn đề tác giả muốn thể hiện ở đây lại nằm ở hành động, lời nói của người cha. Những phản ứng của người cha trước việc đỗ trượt của con trai đã thể hiện rõ nhân cách và cái nhìn sâu sắc của ông về con người.

Sự kiện thứ nhất xảy ra vào mùa thu năm Quý Mão (1843), “tôi theo cha cùng người anh con bác trưởng là Đặng Huy Sĩ đến trường Phú Xuân để thi”. Nhân vật “tôi” đi thi với mục đích “quen với tiếng trống trường thi”. Khi người ta xướng danh, yết bảng thì “tôi” đi xem hát. Cũng chỉ định đi chơi về rồi ngó bảng tú tài. Tất nhiên, đây chỉ là cách nói khiêm tốn của người thuật chuyện, song nó cũng thể hiện được thái độ đi thi của ông. Sự kiện đầy bất ngờ đã xảy ra, khi xướng danh họ Đặng, mọi người đều nghĩ là Đặng Văn Trọng. Thế nhưng người đỗ thứ ba lại chính là “tôi”. Đỗ thứ ba trong kì thi này là một vinh dự rất lớn, là hi vọng và mong đợi của mọi sĩ tử, kể cả của thân phụ Đặng Huy Trứ, tức Đặng Văn Trọng, một người tài giỏi mà ai cũng nghĩ là xứng đáng. Thế nhưng, thái độ của hai cha con lại hoàn toàn bất ngờ. Con thì không quan tâm, vẫn mải đi chơi và khiêm tốn với “ý định” “để đến tối sẽ đi coi bảng tú tài xem có tên mình hay không”. Còn người cha, nghe tin con đỗ, một tin vui đối với cả gia tộc, dòng họ thì lại có phản ứng thật lạ : “cha tôi dựa vào cây xoài, nước mắt ướt áo” như là “gặp việc chẳng lành”. Không phải ông buồn vì con thi đỗ mà ông lại trượt. Những giọt nước mắt của người cha ấy thể hiện tấm lòng cao cả, nỗi lo lắng của một người cha, một người từng trải, người vốn đã rất hiểu lẽ đời. Câu trả lời của ông hợp tình hợp lí : “Có gì đáng vui đâu. Đỗ đạt cao là để dành cho người có phúc đức. Con tôi tính tình chưa già dặn, chưa có đức nghiệp gì… Cổ nhân đã nói “Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh dã !””. Đó là nỗi băn khoăn của một người cha luôn lo lắng cho con. Câu trả lời của ông vừa rất khiêm tốn lại rất chân thành. Những câu nói ấy đã có ngầm ý rằng : mục đích của việc thi cử không nhất thiết phải đỗ đạt để làm quan ngay. Sự đời cái gì dễ kiếm thì không được trân trọng dù nó rất quý giá. Dù là người có tài năng thực sự nhưng nếu đỗ đạt quá sớm sẽ sinh ra kiêu ngạo và tự mãn. Phản ứng của người cha là phản ứng của người hiểu sâu xa câu chuyện “Tái ông thất mã”. Kể lại sự kiện này, tác giả đã chọn chi tiết, ngôn ngữ rất khéo léo để thể hiện nhân cách và suy nghĩ sâu xa của người cha. Ngôn ngữ và cách nói của người cha thể hiện ông là một nhà nho mẫu mực. Những lí lẽ ông đưa ra đều thật trọn vẹn, có trên có dưới. Không tự ti nhưng cũng không kiêu căng tự mãn: “Nào ngờ, mới một lần đi thi lại trúng thứ ba. Đó là do triều đình nuôi dưỡng, tổ tông tích đức, gia đình giáo dục mà được thế… Nhìn lên, tôi đội ơn tác thành của thiên tử, lại cảm kích công vun trồng của tổ tiên, chỉ sợ con tôi không báo đáp được nghĩa nặng ơn dày nên không cầm nổi nước mắt”. Tác giả đã dùng lời đáp ấy và mượn lời nhận xét của mọi người để tỏ lòng kính trọng và niềm tự hào về người cha của mình.

Sự kiện thứ hai được thuật lại trong đoạn trích vẫn lại là chuyện thi cử. Lần thứ hai, người con đỗ đạt và người cha cũng có phản ứng tương tự. Đó là”Khoa thi Hội mùa xuân năm Đinh Mùi nhân tứ tuần đại khánh của đức Hiến tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị, vua cho mở Ân khoa”.

Người cha nghe tin con đỗ đạt không hồ hởi vui mừng mà lo lắng : “Bậc đỗ đại khoa ắt phải là người phúc phận lớn. Con tôi đức độ ra sao mà được như vậy, chỉ làm cho tôi thêm lo lắng”. Không phải người cha không tin vào khả năng của con mình. Đây là cách phản ứng của một người cha có suy nghĩ sâu sắc, chín chắn. Ông đã thể hiện quan niệm của mình về người quân tử. Người đỗ đạt phải là người có tài và có đức. Đó là quan niệm của một chính nhân quân tử, một con người hiểu đời, hiểu người, hiểu lẽ sống và hiểu chính con trai mình.

Sự kiện thứ ba được tác giả thuật lại trong đoạn trích có khác với hai sự kiện trên. Tác giả đã chọn kể hai sự việc đồng thời xảy ra trong gia đình để ngợi ca tấm lòng và nhân cách của người cha. “Kì thi Đình năm ấy vào ngày 26 tháng 4. Đúng hôm đó, từ cuối nhà bên trái điện Cần Chánh báo tin dữ : bác ngự y Đặng Văn Chức mất […]. Tôi thì vừa bị đánh hỏng trong kì thi Đình… Cả nhà lại càng buồn cho tôi”. Trước hai tin dữ ấy, Đặng Văn Trọng đau đớn trước cái chết của người anh và coi việc con trai bị đánh hỏng là “không có chuyện gì đáng kể”. Với phản ứng của người cha như trên, có thể suy đoán dường như người cha không muốn con trai mình đỗ đạt. Một nhà nho theo nghiệp sách đèn khoa cử không lẽ lại coi thường chuyện đỗ đạt như vậy. Xem lại thì không phải vậy. Tấm lòng của người cha ấy được thể hiện rõ ở lời nói của ông trong phần kết đoạn trích. Khi việc tang người anh trai đã hơi thư, ông mời quay sang khuyên nhủ con trai. Lời khuyên nhủ này là tâm sự giấu kín từ nơi sâu thẳm tấm lòng người cha : “Đã vào thi Đình thì không còn đánh trượt nữa, từ đời Lê đến nay như thế đã lâu mà nay con lại bị đánh trượt”. Ông đã phân tích cho con trai thấy sai lầm nghiêm trọng của mình để người con nhận rõ điều trái phải. Việc để bị đánh trượt trong kì thi Đình là một lỗi lầm rất lớn. Nhưng ông không dừng lại ở việc chỉ ra sai lầm của con, mà quan trọng hơn, ông đã khuyên nhủ con trai những lời thấu tình đạt lí. Lời khuyên của người cha chứa đựng những triết lí về cuộc sống. Nó đã giúp cho người con nhận ra lỗi lầm của mình, nhưng không bị rơi vào sự tuyệt vọng, bi quan hay phẫn uất. Bài học ông dạy con có thể thu gọn trong câu “Thất bại là mẹ thành công”. Những lí lẽ người cha đưa ra thật thấu tình đạt lí, nó buộc người con phải suy nghĩ mà quyết tâm tiến thủ. “… tước cả khoa danh của con là để rèn luyện cho con nên người. Ông Phạm Văn Huy ở Thiên Lộc… Tài học, phẩm hạnh của con còn kém các ông ấy muôn lần. Người ta ai chẳng có lúc mắc sai lầm, quý là ở chỗ biết sửa chữa”.

Lí lẽ và quan niệm về chuyện thi cử, về thành công và thất bại của người cha đều rất sâu sắc. Đó cũng chính là một bài học nhân sinh quý giá cho người đời sau.

Người cha hiện lên trong lời tự thuật của nhân vật “tôi” thật đáng kính trọng. Ông là điển hình mẫu mực của một nhà nho chân chính. Qua câu chuyện của bản thân mình, tác giả đã đưa ra một triết lí sống rất thực tế và sâu sắc : ở đời, điều quan trọng không phải là thành công hay thất bại. Điều quan trọng là ta phải biết vì sao mình thất bại, từ đó rút ra bài học cho bản thân. Thành công không kiêu ngạo tự mãn, thất bại không bi quan tuyệt vọng. Phải biết mình biết ta, biết sống cho đúng mực và phải biết đứng lên sau khi ngã.

Cách kể chuyện trong đoạn trích rất tiêu biểu cho nghệ thuật viết kí. Tác giả rất trung thành với sự thực nhưng không dừng lại ở việc thuật lại sự việc. Trong khi thuật lại các sự kiện, người viết đã lựa chọn chi tiết, sự việc tiêu biểu để từ đó thể hiện thái độ của bản thân hoặc những quan niệm, tư tưởng có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Đặng Huy Trứ để lại nhiều sách về giáo dục, sử, binh thư, riêng về văn, có Đặng Hoàng Trung văn sao(Bản sao tập văn của Đặng Hoàng Trung), Đặng Hoàng Trung thi sao (Bản sao tập thơ của Đặng Hoàng Trung), Đặng Dịch Trai ngôn hành lục (Sao lục châm ngôn và hành trạng của Đặng Dịch Trai), Tứ giới thi(Thơ về bốn điều răn)…, trong đó đáng kể nhất là Đặng Hoàng Trung thi sao và Đặng Dịch Trai ngôn hành lục. Thi sao gồm 12 quyển, 1250 bài thơ làm trong thời gian 1840 – 1860. Thơ ông bày tỏ tấm lòng quan tâm đến đời sống người dân thường ở nông thôn, chung niềm vui nỗi buồn với họ, từ bác thợ cày, phụ nữ nuôi tằm, chị vú nuôi trẻ, bà đỡ hộ sản đến người chạy chợ, nhà nho nghèo… Qua nhiều bài thơ, tác giả đã khắc hoạ nhiều mặt đời sống phong phú ở miền quê, bằng những chi tiết cụ thể, như đống rấm trấu ban đêm, mẹt cau phơi ngày lạnh. Các sản vật địa phương cùng những nghề thủ công như rổ tre Bàu La, gạo gie An Cựu, lò vịt An Xuân, nghề làm đá ở Lục Bảo v.v… cũng đi vào thơ của ông. Sau khi ra làm quan, tác giả dành phần lớn thơ để bộc lộ rõ hơn nữa lòng ưu thời mẫn thế cùng những suy tư về vận mệnh ngả nghiêng của đất nước. Lòng yêu nước đó đã được thể hiện cụ thể bằng hành động chống giặc Pháp đến hơi thở cuối cùng.

Thơ Đặng Huy Trứ tuy chưa sánh được với các nhà thơ cự phách về mặt nghệ thuật nhưng mặt mạnh của ông lại là đưa được những hình ảnh hiện thực sinh động, cá thể, giàu sắc thái địa phương vào thơ. Mặt mạnh này càng thể hiện đầy đủ hơn ở cuốn văn xuôi Đặng Dịch Trai ngôn hành lục. Đây là cuốn hồi kí viết về người cha nhưng đề cập đến cả một gia đình đông đúc của ông, gồm bà, mẹ, các bác, anh em họ, hàng xóm láng giềng…, đặc biệt là phần kể chuyện về thuở ấu thơ, việc học hành, thi cử cùng mối tình thuỷ chung vượt lễ giáo của ông với cô hàng bánh. Những chân dung nhân vật, những tập tục một thời đều được ông kể lại tỉ mỉ, chân thật, do đó rất hấp dẫn người đọc ; là những tư liệu quý giúp bạn đọc đời sau hiểu về đời sống đương thời mà không phải nhà văn đương thời nào cũng để tâm ghi chép. Điều đó hẳn không tách rời với những cởi mở, đổi mới của ông trong việc nhìn ra nước ngoài, góp phần chấn hưng nền kinh tế nước nhà một cách thiết thực.

Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022 Trường Thpt Yên Lạc, Vĩnh Phúc (Lần 5)

Hương Làng (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5

Những Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Văn Bản Làng Hay Nhất

2 Bài Văn Em Hãy Giới Thiệu Về Nhà Văn Kim Lân Và Truyện Ngắn Làng

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9 Chuẩn Nhất, Học Kì 2

Đọc Hiểu Văn Bản “bếp Lửa”

Bài Cảm Thụ Văn Bản Bếp Lửa Của Bằng Việt

Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt, 6 Bài Văn Mẫu Hay, Mở Bài, T

Soạn Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Đọc Hiểu Văn Bản “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”

Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Nhà thơ Bằng Việt (tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng), sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

“Bằng Việt là một nhà thơ được bạn đọc biết đến từ phần thơ in chung với Lưu Quang Vũ trong tập Hương cây – Bếp lửa (1968). Nỗi nhớ quê hương đầu tiên thành thơ là dành cho bếp lửa:”Một bếp lửa chờn vờn sương sớm, một bếp lửa ấp iu nồng đượm” gắn với hình ảnh người bà và bên người bà là người cháu. Bài thơ nói về tình bà cháu vừa sâu sắc, vừa thấm thía trong những năm đầu đất nước đói kém, loạn lạc, cuối đời gian khổ khó khăn. Cảm xúc tinh tế, đượm buồn của ông về những kỷ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt nam. Bài thơ biều hiện một triết luận thầm kín: những gì là thân thiết nhất của mỗi tuổi thơ mỗi con người, đều có sức toả sáng, nâng đỡ họ trong suốt cuộc đời. Mạch triết luận thầm kín được khởi đầu từ Bếp lửa còn được tiếp nối trong nhiều bài thơ khác như Trở lại trái tim mình khi ông coi thủ đô Hà Nội như một cội nguồn tình cảm, cội nguồn sức mạnh. Cùng với Thư gửi người bạn xa đất nước, Tình yêu và báo động, Trở lại trái tim, nhà thơ ghi lại được những trạng thái phong phú của một tâm hồn thanh niên rất mực mến yêu đất nước, con người, nêu bật được một thủ đô hào hoa, thanh lịch, trầm tĩnh và anh hùng. Bằng Việt còn có những bài thơ khá tài hoa diễn đạt những suy tư về những danh nhân văn hoá nhân loại như Béttôven, Pauxtôpxki, Plixetxcaia. Người đọc còn biết đến ông về những lo toan chu đáo, những bồi hồi thương nhớ của một người cha ở nơi xa chăm chú theo dõi từng bước đi chập chững của đứa con, trong bài thơ Về Nghệ An thăm con với lời thơ điềm đạm, kiệm lời mà có sức vang xa. Có thể nói với 20 bài thơ trong tập Hương cây – Bếp lửa, Bằng Việt đã khắc hoạ được một triết luận thầm kín của riêng mình. Ông là một trong số không nhiều nhà thơ trẻ được bạn đọc tin yêu ngay từ ban đầu của thơ. Thơ Bằng Việt thường nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi nghĩ suy, gây được một cảm giác gần gũi, thân thiết đối với người đọc. Thơ ông thường sâu lắng trầm tư thích hợp với người đọc thơ trong sự trầm tĩnh, vắng lặng. Đó là một dấu ấn riêng của thơ Bằng Việt, còn lưu lại trong ký ức người đọc” (Từ điển văn học, Sđd).

2. Tác phẩm:

– Các tác phẩm chính: Hương cây – Bếp lửa (thơ, in chung, 1968); Những gương mặt những khoảng trời (thơ, 1973); Đất sau mưa (thơ, 1977); Khoảng cách giữa lời (thơ, 1983); Cát sáng (thơ, 1986); Bếp lửa – khoảng trời (thơ tuyển, 1988), Phía nửa mặt trăng chìm (thơ, 1986); Mozart (truyện danh nhân, 1978); Lọ lem (dịch thơ Eptusenkô); Hãy nói bằng ngôn ngữ của tình yêu (dịch thơ Ritsos).

– Tác giả đã được nhận: Giải nhất văn học – nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ Trở lại trái tim mình; Giải thưởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa Bình (Liên Xô) trao tặng năm 1982.

– Bài thơ Bếp lửa được tác giả Bằng Việt sáng tác năm 1963, khi tác giả là sinh viên đang học ở nước ngoài.

Bài thơ gợi lại những kỉ niệm sâu sắc của người cháu về người bà và tuổi ấu thơ được ở cùng bà.

II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Chỉ là một tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng trưa, chỉ là một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm,… mà có biết bao nghĩa tình, mà sao tha thiết, lắng sâu đến thế! Thì ra, có khi những điều nhỏ nhoi, giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình, chắt đọng những điều thiêng liêng, là hiện hình của những tình cảm thiết tha, chân thành, không thể nào quên. Tiếng gà trưa đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỉ niệm về một thời ấu thơ sống trong tình thương yêu của bà. Còn với Bằng Việt, trong bài thơ Bếp lửa (1963), như chính nhan đề của nó (cũng như nhan đề của bài thơ của Xuân Quỳnh: Tiếng gà trưa), “Bếp lửa” đã trở thành một hình ảnh biểu trưng cho sự ấm áp, nồng đượm của tình bà cháu. “Bếp lửa” khơi gợi, làm nhen lên, lan toả, cháy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức, đượm buồn.

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Bài thơ đã bắt đầu như thế. Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa “chập chờn trong sương sớm, chập chờn trong kí ức. Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc thương yêu của cháu khi nhớ về bà. Hình ảnh “Một bếp lửa” điệp lại hai lần như nhắc nhớ, như hơi thổi vào bếp lửa đang “ấp iu”, để nhịp hồi tưởng bắt đầu… Để trong những dòng thơ tiếp theo, bao kỉ niệm thân thương ùa về:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

(…)

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

Cháu nhớ, từ lúc cháu mới lên bốn tuổi, sống bên bà “tám năm ròng”… Nhớ quê mình ngày ấy, những ngày “đói mòn đói mỏi”, những ngày “bố đánh xe khô rạc ngựa gầy”, nhớ “khói hun nhèm mắt”, “sống mũi còn cay” đến tận bây giờ… Nhớ bà kể chuyện Huế trong tha thiết tiếng tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu từ cánh đồng xa, da diết, khắc khoải vọng về, nghe chộn rộn, nao nao, lại như se sắt, xa xăm. Nhớ khi vắng bố mẹ, “bà bảo cháu nghe”, “dạy cháu làm”, “chăm cháu học”. Nhớ “Năm giặc đốt làng”, cháu giúp bà dựng lại nhà. Nhớ lời bà dặn khi viết thư để bố yên tâm,… Cứ thế, trong dòng hồi nhớ nôn nao, những sự việc cụ thể hiện về nguyên vẹn từng chi tiết như thể vừa mới xảy ra hôm qua đây thôi. Và thấm đẫm trong từng hình ảnh, từng sự việc ấy là tình cảm sâu nặng của cháu với bà, hướng về bà. Hình ảnh người bà được khắc hoạ gắn liền với bếp lửa, là khi “cháu cùng bà nhóm lửa”, “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”, “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen”, “Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm – Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm”,…

Hình ảnh bếp lửa trở đi trở lại (12 lần) trong suốt bài thơ. Cuộc đời bà lận đận, khó nhọc, giãi dầu mưa nắng nhưng bà luôn dành cho cháu tình thương yêu, săn sóc, chở che ấm nồng như bếp lửa. Bà – bếp lửa là hai mà như một, hoà quyện, hun thấm, thiêng liêng. Bếp lửa gợi nhắc hình bóng thân thiết của bà, và nhớ đến bà là cháu lại không thể quên bếp lửa ấm tình thủa ấy. Bếp lửa đã không còn chỉ là bếp lửa thông thường nữa. Bà nhen lửa là bà nhen lên:

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

Bà nhóm lửa là bà:

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Từ ngọn lửa được nhen lên từ bếp lửa của bà hoá thành ngọn lửa của tình thương yêu ấp ủ, ngọn lửa của niềm tin yêu bền bỉ cháy mãi không thôi. Bà nhóm lửa là bà nhóm lên, truyền cho cháu lẽ sống, lòng cảm thông chia sẻ. Mỗi khi xúc cảm kết thành những suy ngẫm sâu xa, lời thơ lại trào dâng lên như những điệp khúc bập bùng, chứa đựng niềm xúc động rưng rưng, rần rật cháy trong mạch tự sự của nhân vật trữ tình.

Những hình ảnh thực, cụ thể, vốn rất đỗi gần gũi, thân quen đã được tác giả nâng lên thành những hình ảnh biểu tượng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc. Điều bình dị đã trở nên quý giá, thiêng liêng, kì lạ. Kì lạ, thiêng liêng vì nó nhỏ bé, giản đơn mà đã trở thành hành trang theo cháu trong suốt cuộc đời. Kì lạ, thiêng liêng là vì “đã mấy chục năm rồi” mà bếp lửa của bà vẫn nồng đượm trong cháu, ngọn lửa của bà vẫn thầm cháy trong cháu “đến tận bây giờ”.

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

– Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…

Bài thơ Bếp lửa được sáng tác khi Bằng Việt đang là sinh viên ngành Luật của Trường Đại học Tổng hợp Ki-ép (Liên Xô cũ). Kì lạ và thiêng liêng biết bao khi trong cuộc sống đã ” Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” mà lòng vẫn khôn nguôi hình ảnh người bà với bếp lửa ở tận miền kí ức ấu thơ.

Cứ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, bếp lửa của bà, ngọn lửa của bà, tình thương yêu của bà, cuộc đời bà đã soi rọi, toả ấm con đư¬ng cháu đi. Có thể cuộc sống hiện đại sẽ không còn nhiều người biết đến bếp lửa như ở nơi quê nghèo ấy nữa, nhưng nó đã thành biểu tượng, sẽ còn mãi giá trị “khơi gợi cho người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam”(1). Điều nhỏ nhoi, giản dị mà có ý nghĩa sâu sắc, lớn lao là như vậy.

(Sưu tầm)

Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt

Luật Xây Dựng Và Văn Bản Hướng Dẫn Công Trình Xây Dựng

Bài 8: Văn Bản: Bạn Đến Chơi Nhà

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Của Nguyễn Khuyến

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bạn Đến Chơi Nhà Lớp 7 Hay Nhất

Đọc Hiểu Văn Bản Tấm Cám

Tóm Tắt Các Sự Kiện Chính Trong Văn Bản Tấm Cám Câu Hỏi 45291

Tóm Tắt Truyện Cổ Tích Tấm Cám Bằng 3 Cách Khác Nhau

Tóm Tắt Truyện “tấm Cám” Lớp 10 Ngắn Gọn Hay Nhất

Giáo Án Bài Tấm Cám (Tiết 1)

Soạn Văn Lớp 10 Bài Tấm Cám Ngắn Gọn Hay Nhất

Đọc hiểu văn bản Tấm Cám

Gợi dẫn 1. Thể loại Truyện cổ tích là một thể loại truyện dân gian có nguồn gốc từ thời nguyên thuỷ nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người. Theo Nguyễn Đổng Chi, truyện cổ tích có bốn đặc điểm :

Yếu tố tưởng tượng trong loại hình truyện cổ tích Việt Nam nói chung ít xa lạ với nhân tính : loại truyện sinh hoạt chiếm một tỉ lệ tương đối cao ; loại truyện thần kì, truyện loài vật, truyện phiêu lưu mạo hiểm chiếm một tỉ lệ tương đối thấp.

– Truyện cổ tích Việt Nam thấm đậm chất liệu đời sống xã hội Việt cổ ; là biểu trưng nghệ thuật của cái hiền hoà, nhân ái, hay tính chừng mực trong tâm lí dân tộc.

– Tính cách phê phán hiện thực khá đậm trong truyện cổ tích Việt Nam ; nhân vật tích cực thường tỏ ra không bằng lòng với trật tự, tập tục có sẵn, phản ứng lại cái ti tiện tầm thường.

– Truyện cổ tích Việt Nam có một mảng đáng kể nêu bật vai trò tích cực của người phụ nữ, đề cập đến ước mơ tình yêu và hôn nhân tự do( 1).

Truyện cổ tích gồm ba loại lớn :

– Truyện cổ tích thần kì ;

– Truyện cổ tích sinh hoạt ;

– Truyện cổ tích loài vật.

2. Tác phẩm

Tấm Cám thuộc loại truyện cổ tích thần kì, thể hiện những đặc trưng tiêu biểu của truyện cổ tích. Đó là câu chuyện về cuộc chiến đấu giữa thiện và ác, là minh hoạ cho tư tưởng “ở hiền gặp lành” của nhân dân, là câu chuyện về những người thấp cổ bé họng trong xã hội nhưng lại có những phẩm chất tốt đẹp. Câu chuyện có hai tuyến nhân vật, đây là nét tiêu biểu cho thi pháp truyện cổ tích : Tấm – đại diện cho phía thiện, luôn bị chèn ép và hãm hại ; mẹ con Cám – đại diện của cái ác, luôn tìm mọi cách hãm hại người tốt. Cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa thiện và ác được thể hiện rõ ở mối quan hệ Tấm – Cám.

Trong truyện cổ tích, yếu tố kì ảo có vai trò giúp Thiện thắng ác, tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm ; đồng thời thể hiện sức sáng tạo và ước mơ của nhân dân lao động về một cuộc sống tốt đẹp và công bằng hơn. Tấm Cám là câu chuyện có nhiều ý nghĩa : ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa văn hoá… Kết thúc truyện tuy rất bi thảm song nó thể hiện niềm căm phẫn tột độ của tác giả dân gian đối với cái ác.

3. Tóm tắt

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm ở với dì ghẻ, bị mẹ con Cám bắt làm lụng suốt ngày. Một lần, để giành lấy yếm đỏ, Cám lừa đổ hết tép trong giỏ của Tấm, chỉ còn sót lại con bống. Tấm khóc, Bụt hiện lên dặn Tấm về nuôi cá bống. Mẹ con Cám lại lừa Tấm đi chăn trâu xa, ở nhà giết bống. Mất bống, Tấm khóc. Bụt hiện lên và dặn cô nhặt x­ương bống chôn vào bốn chân gi­ường. Vua mở hội. Bụt bày cách cho Tấm nhặt thóc gạo nhanh và có quần áo, khăn, giày đẹp để đi hội. Vua nhặt đ­ược chiếc giày Tấm đánh rơi bèn truyền lệnh ướm giày kén vợ và Tấm trở thành hoàng hậu.

Ngày về nhà giỗ cha, Tấm bị mẹ con dì ghẻ bày m­ưu giết chết để Cám đư­ợc thế chân. Tấm biến thành chim vàng anh bay vào cung. Nhiều lần bị Cám hãm hại, Tấm phải hoá thân thành cây xoan đào, khung cửi rồi cây thị… Về ở với bà cụ bán n­ước, Tấm đảm đang, khéo léo. Vua ghé vào quán nư­ớc thấy miếng trầu giống trầu Tấm têm ngày xư­a bèn hỏi thăm, nhận ra vợ mình và đón nàng về cung. Cám càng sinh lòng ghen ghét, ao ư­ớc đ­ược xinh đẹp như­ chị. Tấm bày cách xui Cám ngồi dưưới hố thật sâu rồi sai ngư­ời dội nư­ớc sôi xuống. Cám chết. Nghe tin dữ, mụ dì ghẻ uất lên, ngã vật xuống đất chết theo.

4. Cách đọc và kể

– Thể hiện lời dẫn chuyện khác với lời nhân vật.

– Dựa trên đặc điểm của các nhân vật, thể hiện giọng đọc, giọng kể : Tấm hiền thục, Cám chanh chua, Bụt nhân từ, mẹ Cám độc ác.

Một vấn đề nổi bật trong truyện cổ tích Tấm Cám là xung đột truyện. Mâu thuẫn giữa Tấm với mẹ con dì ghẻ phản ánh mối xung đột giữa cái thiện với cái ác trong xã hội. Xung đột này thường được truyện cổ tích giải quyết theo hướng cái thiện chiến thắng cái ác, dù phải trải qua gian nan, nguy khó, cuối cùng kẻ “ở hiền” tất sẽ “gặp lành”, được hưởng hạnh phúc và cái ác sẽ bị trừng trị một cách đích đáng.

Xét trên phương diện diễn biến, từ mở đầu đến kết thúc truyện, thái độ của Tấm đối với hành vi tàn ác của mẹ con Cám chuyển biến theo hướng sự phản kháng mỗi lúc một tăng tiến ; đồng thời cuộc đấu tranh giành và giữ hạnh phúc của Tấm trước mẹ con dì ghẻ ngày càng gian nan, quyết liệt hơn. Từ một cô Tấm hiền lành, chăm chỉ, lương thiện luôn luôn bị ức hiếp, bị bắt nạt, chỉ biết khóc trong oan ức, tủi cực,… đến một hoàng hậu bị cái ác hãm hại, giết chết, hết hoá thành vàng anh đến thành cây xoan đào, trở thành khung cửi và bị đốt thành tro, đến khi hoá thân vào quả thị rồi trở lại là cô Tấm,… Quá trình chết đi sống lại ấy cho thấy tính chất gian khó của cuộc đấu tranh “một mất một còn” của cái thiện với cái ác, đồng thời cũng cho thấy sức sống mãnh liệt đến mức không thể bị tiêu diệt của cái thiện.

Sự trở về với cuộc đời của Tấm ở cuối truyện nói lên quan niệm của nhân dân ngày xưa về hạnh phúc với triết lí “ở hiền gặp lành”. Trong ước mơ về công lí, công bằng xã hội ấy, cái thiện, người lương thiện được phần thắng, được hưởng hạnh phúc, đó là một kết cục tốt đẹp mang đặc trưng của truyện cổ tích ; còn cái ác phải trả giá, đúng như triết lí “ác giả ác báo”, “gieo gió gặp bão” mà nhân dân đã đúc kết.

Qua số phận của nhân vật Tấm, tác giả dân gian đã gửi gắm nhiều ước mơ, khát vọng. Đó là ước mơ về sự công bằng xã hội, cái thiện chiến thắng, cái ác phải trả giá ; ước mơ về hạnh phúc gia đình (Tấm – vua, sự trở về của Tấm bên vua…) ; ước mơ chính đáng và sự bù đắp cho những oan khổ bằng sự đổi đời (Tấm trở thành hoàng hậu) ; ước mơ tình nghĩa (Tấm và bà cụ hàng nước ; chim vàng anh, xoan đào và vua),…

Sự xuất hiện miếng trầu têm cánh phượng trong truyện mang nhiều ý nghĩa. Miếng trầu gắn với phong tục hôn nhân, với sự kết giao, hẹn ước, với tình nghĩa thuỷ chung,… mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam. Có thể thấy hình ảnh miếng trầu và tục ăn trầu trong truyện Sự tích trầu cau hoặc trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ, ví dụ :

– Miếng trầu ăn ngọt như đường, Đã ăn lấy của, phải thương lấy người. – Miếng trầu là đầu câu chuyện. – Miếng trầu nên dâu nhà người.

Trong quá trình chuyển biến của thái độ, sự phản kháng của Tấm đối với hành vi tàn ác của mẹ con Cám, cũng là quá trình đấu tranh của cái thiện với cái ác, yếu tố kì ảo có một vai trò quan trọng, thể hiện khát vọng, ước mơ, quan niệm của nhân dân. Nếu như ở phần đầu của truyện, mỗi lần Tấm gặp khó khăn Bụt đều hiện lên để ban tặng cho những vật thần kì, thì đến phần sau câu chuyện, ta không còn thấy Tấm khóc, cũng không thấy Bụt hiện ra nữa, mặc dù càng về sau thì sự nguy khó, gian nan mà Tấm gặp phải càng cao. Tính chất của yếu tố kì ảo ở phần sau không giống như ở phần đầu truyện, dù nó vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc quyết định số phận, quá trình hoá thân của Tấm nhưng rõ ràng là tác giả dân gian đã gửi gắm vào nhân vật Tấm ý thức chủ động trong việc giành và giữ hạnh phúc cho mình. Chim vàng anh, xoan đào, quả thị, rồi Tấm trở về và trừng trị mẹ con Cám, ở giai đoạn này cái thiện đã trực diện đấu tranh, quyết giành lấy sự sống trước cái ác.

Truyện Tấm Cám thể hiện rõ đặc điểm của thể loại truyện cổ tích thần kì. Đó là sự xuất hiện của yếu tố kì ảo và vai trò của nó đối với diễn biến, kết thúc câu chuyện. Có thể liệt kê ra các yếu tố kì ảo trong truyện Tấm Cám : Bụt, con gà biết nói tiếng người, đàn chim sẻ, sự hoá thân của Tấm thành chim vàng anh, xoan đào, quả thị rồi trở lại làm người, con quạ biết nói.

Tham khảo một số bản kể :

1. Các bản kể của người Kinh

a) Các bản kể ở đồng bằng Bắc Bộ :

Bản kể trên là bản kể phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ. Một số làng xã ở Bắc Ninh có đền thờ bà Tấm. Đây là hiện tượng phong kiến hoá truyện cổ tích dân gian để đề cao một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng rộng ở một vùng nhất định. Truyện ỷ Lan Thái hậu đã mượn nhiều chi tiết của truyện dân gian Tấm Cám. Các làng, xã như Dương Quang, Thuận Quang (huyện Thuận Thành), Sơn Trung, Sơn Nam (huyện Võ Giàng), Hưng Lãng, Thanh Đăng, Cát Lư, Thục Cầu, Nghĩa Lộ, Hoàng Nha, Thanh Miếu (huyện Văn Mĩ, Hải Hưng), Phú Thị (Gia Lâm, Hà Nội)… có đền thờ ỷ Lan Thái hậu (vợ Lí Thánh Tông), tức gọi là đền bà Tấm. Có một số chi tiết khác với bản kể chung, như :

– Tấm đem đôi hài quý phơi nắng, chẳng may chim thần cắp đi một chiếc đem vào bỏ ở cung vua Lí Thánh Tông. Vua đi cầu tự, bắt đàn bà con gái ướm thử, Tấm bận cắt cỏ không ra đón vua, vua cho gọi lại ướm hài thì chân vừa như in. Vua lấy làm vợ, gọi là ỷ Lan thái phi. ỷ Lan từ chỗ là cung phi được tôn làm nguyên phi (đứng đầu các phi sau hoàng hậu), về sau đoạt ngôi thái hậu của bà Thượng dương.

– Giày của Tấm là do chen chúc nhau ngày hội mà tuột ra. Vua nhận được giày, bắt dân gian ướm chân. Một số vùng như La Miệt (Quế Võ), Nga Hoàng (Võ Giàng)… trong ngày hội làng trước đây còn có tục chen nhau, với niềm tin có làm như vậy mới có hạnh phúc.

– Trong bốn lọ chôn ở chân giường có một lọ nước thần, Tấm tắm rửa, người mỗi ngày mỗi đẹp.

– Ông Bụt được thay bằng nhà sư Đại Điên, vị pháp sư đã giết Từ Vinh và bị Từ Đạo Hạnh đánh chết.

Sự tích ỷ Lan Thái hậu không phải là dị bản của truyện dân gian Tấm Cám mà là hiện tượng vay mượn cốt truyện dân gian để đề cao một nhân vật lịch sử. Chúng ta nêu ở đây để đối chiếu với tham khảo.

b) Bản kể ở đồng bằng Nam Bộ :

Cốt truyện cũng giống như bản kể chung, chỉ khác một số chi tiết :

– Tấm, Cám là hai chị em sinh đôi, Cám có xấu hơn nhưng khuôn mặt có hao hao giống nhau. Về sau, Cám giết Tấm tranh lấy vua, vua mới bị lầm.

– Tấm, Cám đi bắt cá để chọn xem ai làm chị, chứ không phải để lấy cái yếm đỏ. Do đó, lúc con Cám lừa Tấm, nó hát :

Đầu ai có rơm có rác, Kêu tôi bằng bác Tôi phủi rác cho

– Chim sẻ hiện lên, bày cho Tấm sàng gạo. Tấm chỉ sàng một loáng là đấu thóc và đấu gạo tách khỏi hẳn nhau.

– Vua tới dự giỗ chồng bà lão hàng nước, cầm miếng trầu mà nhận ra Tấm.

2. Các bản kể của đồng bào miền núi

a) Các bản kể của đồng bào Tày :

Truyện Tua Gia – Tua Nhi na ná như truyện Tấm Cám, ngoài ra có một số chi tiết khác như :

– Mụ dì ghẻ bắt Tua Gia gánh nước bằng ống bương thủng và lừa :

Gánh nước thì gánh suối xa Chớ gánh gần nhà, nước chẳng nên ăn

– Tua Gia bị giết hoá kiếp thành gà chứ không phải chim vàng anh.

– Tua Gia có con trai, Tua Gia chết đi, sống lại, nhờ có con trai mà vua và Tua Gia mới nhận ra nhau.

Ngoài truyện Tua Gia – Tua Nhi, đồng bào Tày còn có một số truyện khác như Nàng Khao – nàng Dăm, Cô gái mồ côi, nội dung cơ bản cũng như vậy.

b) Bản kể của đồng bào Nùng :

Truyện Ô Pẻn – Ô Kin của đồng bào Nùng giản đơn, ít chi tiết nhưng lại có những chi tiết đậm màu sắc núi rừng, thí dụ :

– Mẹ Ô Pẻn bị bố Ô Pẻn đánh chết vứt vào rừng hoá thành thần hổ. Ô Pẻn bị dì ghẻ bắt lên rừng canh nương. Thần hổ săn sóc Ô Pẻn, cô gái trở nên xinh đẹp vô cùng. Ô Kin thấy vậy, tranh đi canh nương. Thần hổ hiện lên quật chết. Quạ báo tin Ô Kin chết cho mụ dì ghẻ, mụ này lên rừng tìm xác con cũng bị thần hổ quật chết luôn.

c) Bản kể của đồng bào Thái :

Đồng bào Thái có truyện ý Ưởi, ý Noọng.

– ý Ưởi bị dì ghẻ hành hạ, khi mang giỏ cá rỗng không về bị dì đánh đuổi lên rừng, ngủ trong một túp lều lợp lá chuối. Hổ bắt gặp, định ăn thịt nhưng thấy ý Ưởi khổ sở, hổ động lòng thương lại giúp nàng có quần áo đẹp. Vua đi săn gặp nàng lấy làm vợ.

– ý Ưởi trèo cây cau bị dì ghẻ chặt gốc, ngã xuống suối chết đuối, hoá thành chim gáy. Dì ghẻ giết chim vứt vào lửa. Một bà cụ xin than mang xác chim bị cháy về, chim hoá thành người.

Truyện này không có nhiều chi tiết hoá kiếp như các bản kể phổ biến.

d) Bản kể của đồng bào Mèo :

Đồng bào Mèo có truyện Gầu Nà – Gầu Rềnh.

– Gầu Nà mồ côi, hàng ngày bị dì ghẻ bắt đi chăn bò. Bò thường hoá ra người và dệt vải đẹp cho Gầu Nà. Gầu Rềnh bắt chước tranh đi chăn bò bị bò húc đau và người càng ngày càng xấu xí.

– Gầu Nà gặp Nù Náng, một chàng trai Mèo khoẻ đẹp. Hai người lấy nhau. Đến ngày cưới, mẹ con Gầu Rềnh tìm cách đánh tráo cô dâu, nhưng Nù Náng thông minh đã đánh tráo lại và lấy được Gầu Nà.

– Đoạn cuối, lúc mụ dì ghẻ chết, hồn mụ còn hoá ra hai cây gạo để ngăn cách vợ chồng Gầu Nà nhưng thất bại.

Các bản kể ít nói đến vua hay hoàng tử mà thường nói đến một chàng trai khoẻ, đẹp. Truyện không nhắc đến chi tiết đôi giày.

e) Bản kể của đồng bào Chàm :

Truyện Ca Dong, Ha Lốc có một số chi tiết đáng lưu ý :

– Ca Dong là con gái nuôi, Ha Lốc là con gái đẻ.

– Ca Dong sống một mình buồn bã, nuôi con cá giá rốc làm em, hàng ngày bớt phần cơm nuôi nó.

– Ca Dong bị mất cá, nằm mê, hồn cá hiện lên bảo đem xương bỏ vào gáo dừa chôn ở ngã ba đường. Xương cá biến thành một đôi giày vàng. Ca Dong nhặt được một chiếc, còn một chiếc chim thần cắp vào cung vua.

– Vua xuống chiếu cho dân gian dự hội ướm giày. Ca Dong bị người mẹ nuôi trộn ngô lẫn vừng, rồi bắt nhặt riêng ra, lại còn bắt gỡ một cuộn chỉ rối.

– Bốn kiếp của Ca Dong là rùa, măng tre, chim sáo và quả thị.

g) Bản kể của đồng bào Xơ-rê :

Đồng bào Xơ-rê (Tây Nguyên) có truyện Gơ Liu, Gơ Lát.

Phần mở đầu truyện này có chi tiết chim thần thả xuống đất một đôi giày, ai ướm vừa thì hoàng tử lấy làm vợ. Gơ Liu ướm vừa được lấy hoàng tử. Gơ Lát giết Gơ Liu. Gơ Liu hoá thành khóm trúc, rồi hoá thành chim, thành cây thị. Đoạn cuối, chính hoàng tử là người giết Gơ Lát làm mắm về cho mụ dì ghẻ.

3. Các bản kể ở nước ngoài

a) Bản kể ở Căm-pu-chia :

Người Khơ-me có truyện Nàng Can-tóc và nàng Song Ang-cát. Can-tóc có nghĩa là xinh tươi, Song Ang-cát có nghĩa là đầu mẩu củi. Truyện kể về một người đàn ông goá vợ có con gái là Can-tóc, sau lấy vợ kế, có con riêng là Song Ang-cát. Truyện na ná truyện Tấm Cám, có một số chi tiết khác như :

– Ông Bụt thay bằng một vị pháp sư. Con cá bống được thay bằng một con cá quả. Vị pháp sư hiện lên bảo thả cá xuống ao và gọi :

Quả đẹp quả xinh Lên ăn cơm lành Cho mau chóng lớn

– Chi tiết đôi giày ở bản kể Căm-pu-chia có điều lí thú. Pháp sư bảo Can-tóc lấy một chiếc giày (chỉ một chiếc) ở gầm giường cất đi. Còn chiếc kia Song Ang-cát nhặt được nhưng không biết làm gì, vứt ra bờ rào. Quạ bay qua quắp mang vào cung vua.

– Sự biến hoá của Can-tóc không phải thành chim, thành khung cửi, thành quả thị mà là thành cây chuối và thành cây tre.

– Kết thúc truyện không có chi tiết làm mắm gửi dì ghẻ.

b) Bản kể ở Thái Lan :

ở Thái Lan có truyện Con cá vàng. U-ay là con vợ chồng người đánh cá. Mẹ bị chết đuối. Dì ghẻ có hai cô gái độc ác là Ai và Le. Một hôm bị dì ghẻ đánh đập, U-ay ra bờ sông khóc. Mẹ hiện lên thành một con cá nhỏ. U-ay mang cá về nuôi ở giếng. Những chi tiết mụ dì ghẻ lừa U-ay bắt cá ăn thịt giống như trong truyện Tấm Cám. U-ay về lấy chiếc vẩy cá còn sót lại chôn ở rừng, vẩy mọc lên hai cây ma khua. Vua đi săn thấy cây quý, hỏi ra biết là U-ay trồng bèn lấy nàng làm vợ. Mụ dì ghẻ nhắn U-ay về thăm bố ốm làm bẫy giết. U-ay biến thành chim chào mào. Một số chi tiết biến hoá cũng na ná như truyện Tấm Cám. Đoạn cuối, một vị đạo sĩ cho vua biết sở dĩ U-ay bị khổ như vậy là vì kiếp trước đã giết một con gà mẹ và bắt con gà con cho con chơi.

ở Miến Điện cũng có truyện Con rùa tương tự như vậy, chỉ khác người mẹ là một con rùa. Ngoài những bản kể ở khu vực Đông Nam á, ta có thể kể ra đây một số bản kể của Trung Quốc, ấn Độ.

c) Bản kể ở Trung Quốc :

ở Trung Quốc có truyện Nàng Diệp Hạn. Truyện kể có một cô gái tên là Diệp Hạn, bố mẹ chết phải ở với dì ghẻ. Một hôm bắt được một con cá quý, nàng nuôi ở chậu, rồi thả xuống ao, cá mỗi ngày một lớn. Cá chỉ nổi lên khi nào thấy bóng Diệp Hạn trên bờ. Mụ dì ghẻ bắt Diệp Hạn đi gánh nước xa, lấy áo của nàng lừa cá, rồi bắt ăn thịt. Mất cá, Diệp Hạn khóc lóc đem xương cá chôn cất. Nhờ đó, cô có quần áo đẹp và giày vàng. Diệp Hạn đi xem hội, đánh rơi giày, có người bắt được bán cho vua Đà Hãn. Vua cũng cho dân ướm giày và lấy Diệp Hạn. Mẹ con mụ dì ghẻ bị trời đánh. Dân thương hại chôn cất và có miếu thờ…

d) Bản kể ở ấn Độ :

ở ấn Độ có truyện kể về một hoàng hậu gian ác hành hạ con chồng và giết chết con chồng. Hành vi của mụ bị vua phát hiện và xử tội chết, mụ bị đốt cháy lấy xương gửi về cho mẹ mụ.

ở Bắc ấn có truyện một nàng công chúa đánh rơi giày xuống dòng sông, một con cá to nuốt mất. Người đầu bếp của một vương quốc láng giềng mổ con cá đó bắt được chiếc giày đẹp, đem nộp vua. Vua truyền ai ướm vừa chân sẽ rước về làm hoàng hậu.

Ngoài những bản kể ở châu á, trong số những bản kể ở châu Âu có thể đối chiếu với truyện Tấm Cámcủa ta, ta có thể kể truyện Lọ Lem của Pháp.

Đối chiếu và so sánh các bản kể ở Việt Nam, bản kể mà chúng ta chọn giảng đã trải qua một sự lựa chọn tinh vi và mang tính chất dân tộc sâu sắc. Truyện Tấm Cám của ta có ba chặng rành mạch trong tình tiết :

1. Sự xung đột gia đình tập trung xung quanh chi tiết con bống và đôi giày.

2. Sự biến hoá của Tấm xung quanh chi tiết con vàng anh và quả thị.

3. Sự báo thù của Tấm và cái chết đáng kiếp của mẹ con mụ dì ghẻ.

ở một số bản kể khác, các chi tiết không được phong phú như thế. Có truyện chỉ có một hoặc hai chặng cuối. Một số truyện cho con người biến thành bò, thành hổ v.v… rõ ràng là không lí thú bằng.

Có một số truyện ở phần kết thúc lại thuyết minh cho giáo lí đạo Phật hoặc đề cao vương quyền không phù hợp với nội dung cơ bản của sáng tác dân gian.

Soạn Bài Tấm Cám (Ngắn Gọn)

Giáo Án Bài Tấm Cám Soạn Theo Phương Pháp Dạy Học Tích Cực

Truyện Cổ Tích Tấm Cám Bản Gốc

Có Nên Đổi Kết Thúc Truyện Tấm Cám?

Sách Giáo Khoa Sửa Đoạn Kết Tấm Cám