Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà

Giáo Án Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”

Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà

Giáo án điện tử môn Ngữ văn 12

Giaó án bài Người lái đò sông Đà

Giáo án bài Người lái đò sông Đà thuộc môn Ngữ văn lớp 12 được biên soạn kỹ lưỡng bởi những giáo viên giàu kinh nghiệm giảng dạy. Bài giáo án mẫu bài Người lái đò sông Đà này nhằm cung cấp cho các thầy/cô tài liệu tham khảo hữu ích nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giúp học sinh nhanh chóng nắm bắt được thông điệp bài học.

– Nguyễn Tuân –

I. Mục tiêu bài học

Giúp học sinh:

Thấy được dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên như một nhân vật sống động, có cá tính, có tính cách: vừa hung bạo vừa trữ tình, vừa dữ dội vừa đầy chất thơ;

Thấy được vẻ đẹp của con người Tây Bắc tài trí và dũng cảm qua hình tượng ông lái đò vượt qua thác Sông Đà;

Thấy được sự độc đáo, tài hoa uyên bác, sự giàu có của chữ nghĩa Nguyễn Tuân và phần nào phong cách nghệ thuật của nhà văn qua đoạn trích.

II. Phương tiện thực hiện và cách thức tiến hành 1. Phương tiện thực hiện:

Sách giáo khoá và sách giáo viên.

Thiết kế bài dạy – học.

2. Cách thức tiến hành:

Tổ chức giờ dạy theo cách nêu vấn đề kế hợp với hình thức trao đổi thảo luận, trả lời câu hỏi.

III. Tiến trình dạy học 1. Ổn định lớp: 2. Kiểm tra bài cũ: 3. Bài mới:

Hoạt động 1: Tìm hiểu chung

Thao tác 1: Yêu cầu học sinh nêu những nét lớn về tiểu sử của nhà văn và những tác phẩm chính.

GV: Nêu vài nét về gia đình và quê hương của Nguyễn Tuân?

GV: Hoạt động sống của Nguyễn Tuân từ thời thanh thiếu niên đến khi cầm bút sáng tạo văn chương?

Thao tác 2: Yêu cầu HS đọc SGK và trình bày ngắn gọn về tác phẩm.

I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả

Sinh ngày: 10-07-1910.

Quê quán: Hà Nội.

Là con của một gia đình công chức.

Thời niên thiếu ông được đi nhiều nơi, tham gia chống người Pháp, từng làm thư kí nhà máy đèn.

Năm 1930, ông bắt đầu viết văn làm báo. Năm 1937, ông chuyên tâm viết văn

Những tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời, Những chuyến đi,…

2. Tác phẩm

Tuỳ bút thường là tác phẩm văn xuôi tự sự cỡ nhỏ, có cấu trúc phúng túng, nhà văn thể hiện những ấn tượng suy nghĩ cá nhân về những sự việc, những vấn đề cụ thể.

Trong tuỳ bút, cái tôi tác giả đa dạng, nên khuôn mặt thể loại ở mỗi tác phẩm cũng có những nét độc đáo riêng

Ngôn ngữ của tuỳ bút giàu hình ảnh và giàu chất thơ.

Người lái đò Sông Đà được trích trong tuỳ bút Sông Đà.

Được sáng tác trong chuyến đi thực tế Tây Bắc

Cảm hứng sáng tác:

“Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”

” Chúng thủy gia đông tẩu

Đà giang độc bắc lưu”.

Viết Sông Đà nhà thơ muốn đề thơ, phổ nhạc vào sông nước quê hương. Cảm hứng sông Đà đã thành nghệ thuậ t, “thành một gợi cảm mênh mang” về sông quê, về con người Việt Nam. Và ông cũng là một “Đà giang độc bắc lưu” trên bình diện nghệ thuật.

Giáo Án Môn Ngữ Văn 12 Tiết 46, 47: Đọc Văn Người Lái Đò Sông Đà ( Trích)

Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 12

Hướng Dẫn Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “người Lái Đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân)

Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà

Kiến Thức Cơ Bản Bài Người Lái Đò Sông Đà

Giáo Án Ngữ Văn 12: Người Lái Đò Sông Đà

Giáo Án Ngữ Văn 12 Tiết 47, 48: Người Lái Đò Sông Đà ( Trích) Nguyễn Tuân

Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà Định Hướng Phát Triển Năng Lực 2022

Đọc Hiểu Văn Bản: Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

5 Trang Gõ Captcha Kiếm Tiền Online Uy Tín Nhất 2022

Chuyển Đổi Âm Thanh (Trực Tuyến Miễn Phí) — Convertio

Nguyễn Tuân

I- Giới thiệu:

Xuất xứ: TP được xuất bản lần đầu năm 1960 in trong tập tùy bút “Sông Đà”. Đến 1982, khi cho in lại trong tập 2 bộ tuyển tập Nguyễn Tuân thì ông có sửa và đổi tên là “Người lái đò ông Đà”.

HCST: TP là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958 của NT. Ông đến với nhiều vùng khác nhau, sống với bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân cầu đường và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem lại cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.

Bố cục: 3 đoạn

Ông lái đò chính bờ sông (171): Giới thiệu ông lái đò Sông Đà

Hùng vĩ của Sông Đà dòng nước SĐ (175): Hình ảnh con SĐ và những cuộc vượt thác của ông lái đò

Tôi có bay tạt ngang XHCN ở TB (179): Con sông hiền hòa và c/s tươi vui ở ven bờ SĐ.

Chủ đề: Qua hình ảnh người lái đò vượt SĐ trên nền bức tranh sông nước đất trời hùng vĩ và trữ tình, tác giả thể hiện tình cảm yêu mến thiên nhiên đất nước, con người và cuộc sống mới ở vùng cao Tây Bắc.

II- Phân tích: Thiên tùy bút này vừa là một công trình khảo cứu công phu vừa là một áng văn giàu tính thẩm mĩ về SĐ và con người SĐ.

Hình ảnh người lái đò sông Đà:

Chân dung đầy sức hấp dẫn:

Ngoại hình: Với hình dáng thật đặc biệt, phù hợp với công việc trên sông nước “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũnh khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp một cái cuống lái tưởng tượng. Giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt gềnh sông, nhãn giới ông vời vợi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Cái đầu quắc thước ấy đặt trên một cái thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng chất mun”.

Tính cách: Gan dạ, linh hoạt, thích đương đầu trước sóng gió những con thác. Ông bảo: “Chạy thuyền trên khúc sông không có thác, nó dễ dại tay dại chân và buồn ngủ”

Tư thế của một dũng tướng tài năng, phong thái của một nghệ sĩ tài hoa:

Trước hết, ông hiểu thật rành mạch về đối tượng “Trí nhớ ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở. Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc lòng đến cả những cái than chấm câu và những đoạn xuống dòng”.

Miêu tả NLĐSĐ, Nguyễn Tuân đã dành cho nhân vật của mình những tình cảm yêu mến, trân trọng. Đoạn tả cảnh vượt thác hết sức sinh động. Nhiều tình tiết, đầy tính kịch, thể hiện tư thế của một trang dũng tướng kì tài khi lâm trận. Ông lái đò đã bình tĩnh đương đầu với bao thác ghềnh cuồng bạo, xử lí các tình huống hiểm nghèo một cách dũng cảm, quyết liệt thông minh, táo bạo như một tay vượt thác nhà nghề.

Nghệ thuật nhân hóa qua Ba trùng vi thạch trận : Vòng 1, Sông đà “Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt. Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên tay mình. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá thúc gối vào bụng và hông thuyền.Nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông”, ông lái đò “Cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch” tỉnh táo vượt qua nguy hiểm.Vòng 2, Sông Đà “Tăng nhiều cửa tử cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn.Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh vào sóng đá”, Ông lái đò “Nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến.Vòng 3, Sông Đà “Ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là đường chết. Luồng sống ở chặng ba này là ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác kia”, Ông lái đò “Phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”

Sau khi vượt thác, ông lái đò lại có phong thái của một nghệ sĩ tài hoa, Ông ung dung đốt lửa trong hang đá, bàn tán về cá anh vũ.

Hình ảnh con sông Đà: Được miêu tả như một nhân vật sống động với hai nét tính cách đối lập qua nghệ thuật nhân hóa, so sánh

Sông Đà hung bạo, hiểm ác: Được t/g miêu tả cụ thể, đậm nét bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo, kết cấu trùng điệp “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”.

Nét dữ dội đầu tiên của con sông qua nghệ thuật nhân hóa là những thác nước gầm réo muôn đời: “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”.

Sau thác là Đá “Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhỏm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá. Có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”

Và Hút nước “Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bêtông thả xuống sông để chuẩn bị làm mống cầu. Những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rói dầu sôi vào. Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống. Có những con thuyền đã bị cái hút đó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến mất đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”.

Tính thơ mộng trữ tình của dòng sông:

Con sông thơ mộng được miêu tả từ trên cao “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt sương xuân”

Nước sông đổi thay tùy mùa tiết “Mùa xuân dòng sông ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh bến của sông Gấm sông Lô. Mùa thu nước sông Đà từ từ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về.

Con sông hiền hòa “Con sông Đà gợi cảm. Đã có lần tôi nhìn sông Đà như một cố nhân. Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Cảnh ven sông ở đây lặng lờ. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa mà tịnh không một bóng người. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.

Biện pháp nhân hóa và ẩn dụ được vận dụng: “Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi”

Cuộc sống mới đáng yêu, đầy niềm tin:

Cuộc sống mới tràn đầy niềm tin qua tiếng hát “gửi xuống một hai câu và có khi hát cả một bài vì hai bên bờ Sông Đà, ai ai cũng biết hát cả đấy”.

Cuộc sống mới bắt đầu thay da đổi thịt qua hình ảnh “mấy lá ngô non đầu mùa một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”

III- Kết luận: NT nhìn thiên nhên và con người trong hoàn cảnh khắc nghiệt, đồng thời cảm nhận thiên nhên và con người ở cả hai phương diện thẩm mĩ, tài hoa. NLĐSĐ là tấm lòng dào dạt với c/s, một c/s đáng yêu và quyến rũ mà NT hòa nhịp bằng trái tim chân thành của 1 nhà nghệ sĩ tài hoa.

5 Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Soạn Người Lái Đò Sông Đà Hay Và Dễ Hiểu Nhất

Hướng Dẫn Học Sinh Cách Làm Văn Lớp 8 Hay Để Đạt Điểm Cao

Nghị Luận Về Đức Tính Trung Thực

Phong Cách Ngôn Ngữ, Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

Giáo Án Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”

Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà

Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà

Hoạt động 2. Hoạt động hình thành kiến thức mới

GV tổ chức cho HS nhớ lại và trình bày những nét cơ bản về tác giả đã được học ở bài Chữ người tử tù lớp 11.

? Cho biết thể loại và xuất xứ tác phẩm?

? Người lái đò sông Đà được sáng tác trong hoàn cảnh nào?

? Thiên tùy bút đã kế thừa những nét riêng biệt, đặc sắc nào trong phong cách nghệ thuật của NT về đề tài, nguồn cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ?

? Vì sao có thể nói rằng, so với những tập tùy bút viết trước CM, Người lái đò sông Đà nói riêng và tập Sông Đà nói chung đã cho thấy diện mạo của một Nguyễn Tuân đã căn bản đổi thay, để trở thành một nhà văn mới trong thời đại mới?

? Từ điều vừa mổ xẻ, thử phát biểu cảm hứng chủ đạo của tác phẩm?

GV gọi HS đọc các đoạn văn ở trang 186,187.

– Nhóm 1,2: Tác giả đã khắc họa sự hung bạo ấy trên nhiều dạng vẻ. Chỉ ra những dạng vẻ đó?

Nhóm 1 trả lời, nhóm 2 bổ sung.

– Nhóm 3,4: Để diễn tả chính xác và sinh động những gì Nguyễn Tuân quan sát thấy về sự hung bạo của dòng sông, tác giả đã thêm vào rất nhiều nét tài hoa vốn có nào? Thử nêu vài dẫn chứng minh họa?

Nhóm 3 trả lời, nhóm 4 bổ sung.

? Nguyễn Tuân còn cho ta thấy, bên cạnh và cả bên trong sự hung bạo ấy, hình ảnh con sông vẫn nổi bật lên như một biểu tượng cho điều gì?

? Nếu phải cho một lời nhận xét ngắn gọn về khả năng sử dụng ngôn từ của Nguyễn Tuân, em sẽ nói thế nào?

GV lưu ý: Dòng Đà giang chỉ thực sự trữ tình khi đã chảy qua Chợ Bờ, và đã để lại những hòn đá thác xa xôi trên thượng nguồn Tây Bắc.

Gọi 1 HS đọc các đoạn văn ở trang 190, 191.

? Chứng minh rằng những đoạn văn viết về vẻ trữ tình của sông Đà cũng là kết quả của những công phu tìm tòi khó nhọc của một người nhất quyết không bao giờ chịu bằng lòng với những tri thức hời hợt? Ví dụ: Để chắc chắn dòng Đà không hề đenàmấy lần bay tạt ngang trên con sông, quan sát kĩ càng để đi đến quả quyết:

+ Vào mùa xuân: nước sông Đà có sắc xanh – xanh ngọc bích.

+ Mỗi độ thu về: lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa.

? Cách viết của nhà văn đã thay đổi thế nào khi chuyển sang biểu hiện sông Đà như một dòng chảy trữ tình? Dẫn chứng minh hoạ? (Câu 3, SGK)

I. Tìm hiểu chung:

1.Tác giả: (Xem lại phần tiểu dẫn bài Chữ người tử tù, SGK Ngữ văn 11, tập I, tr 107).

– Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960).

– Thành quả thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi.

– Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm ra những chữ nghĩa xác đáng nhất.

– Cho thấy diện mạo của một Nguyễn Tuân mới mẻ, khao khát được hòa nhịp với đất nước và cuộc đời (không giống với Nguyễn Tuân trước cách mạng, con người chỉ muốn xê dịch cho khuây cảm giác ″thiếu quê hương″)

– Cảm hứng chủ đạo: Nhiệt tình ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi nhân dân của một nhà văn mà trái tim đang tràn đầy niềm hứng khởi khi thấy nay mình đã có đất nước, mình đã không còn ″thiếu quê hương″.

II. Đọc – hiểu văn bản:

1. Hình tượng con sông Đà:

a. Con sông Đà hung bạo:

– Quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ:

+ Trong phạm vi một lòng sông hẹp, như chiếc yết hầu bị đá bờ sông chẹt cứng.

+ Trong khung cảnh mênh mông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa.

+ Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu.

+ Những trùng vi thạch trận sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái.

+ Âm thanh luôn thay đổi: oán trách à khiêu khích, chế nhạo → rống lên.

– Mượn ở các ngành, các bộ môn trong và ngoài nghệ thuật để làm nên hàng loạt so sánh liên tưởng, tưởng tượng kì lạ, bất ngờ.

+ Hình dung một cảnh tượng rất đỗi hoang sơ bằng cách liên tưởng đến hình ảnh của chốn thị thành, có hè phố, có khung cửa sổ trên ″cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện″.

+ Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát: nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc, ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.

+ Lấy hình ảnh ″ ô tô sang số nhấn ga″ trên ″ quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực ″ để ví von với cách chèo thuyền…

+ Tưởng tượng về cú lia ngược của chiếc máy quay từ đáy cái hút nướcà cảm thấy có một cái thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày.

+ Dùng lửa để tả nước:

→ Biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước.

→ Bậc kì tài trong lĩnh vực sử dụng ngôn từ (sự phá cách mà ngoại trừ các tay bút thực sự tài hoa, không ai làm nổi).

b. Con sông Đà trữ tình:

* Sự tài hoa đã làm nên sức gợi cảm của một dòng chảy trữ tình:

– Viết những câu văn mang dáng dấp mềm mại, yên ả, trải dài như chính dòng nước: con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình,…

– Dụng công tạo ra một không khí mơ màng, khiến người đọc có cảm giác như được lạc vào một thế giới kì ảo.

+ Con sông giống như một cố nhân lâu ngày gặp lại.

+ Nắng cũng ″giòn tan″ và cứ hoe hoe vàng mãi cái sắc Đường thi ″yên hoa tam nguyệt″

+ Mũi thuyền lặng lẽ trôi trên dòng nước lững lờ như thương như nhớ.

+ Con hươu thơ ngộ trên áng cỏ sương như biết cất lên câu hỏi không lời.

+ Bờ sông hoang dại và hồn nhiên như một bờ tiền sử, phảng phất nỗi niềm cổ tích.

* Đây là kết quả của những công phu tìm tòi khó nhọc của một người nhất quyết không bằng lòng với những tri thức hời hợt, hoặc đã quen nhàm (Dẫn chứng: miêu tả nước sông Đà thay đổi theo mùa).

→ Sự tài hoa đã đem lại cho áng văn những trang tuyệt bút.

→ Tạo dựng nên cả một không gian trữ tình đủ sức khiến người đọc say đắm, ngất ngây.

Gọi HS đọc đoạn miêu tả 1 quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà.

? Phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con sông Đà hung bạo?

Gợi ý:

+ Thoạt nhìn, em có nhận xét gì về tính chất của cuộc chiến?

+ Kết quả ra sao?

+ Nguyễn Tuân cho thấy nguyên nhân làm nên chiến thắng của con người có hề bí ẩn không? Đó chính là điều gì?

? Hãy cắt nghĩa vì sao, trong con mắt của Nguyễn Tuân, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta?

? Thử phát hiện nét độc đáo trong cách khắc hoạ nhân vật ông lái đò?

Hướng dẫn HS vận dụng phép so sánh Người lái đò sông Đà với Chữ người tử tù viết trước cách mạng ở phương diện khắc họa con người.

? Có thể xem Người lái đò sông Đà như một khúc hùng ca, ca ngợi điều gì?

? Qua tác phẩm, em có thể rút ra được điều gì về tác giả Nguyễn Tuân?

Hoạt động 3. Hoạt động thực hành

– Làm bài tập 1,2 phần Luyện tập ở nhà.

2. Hình tượng người lái đò trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo

– Tính chất cuộc chiến: không cân sức

+ Sông Đà: sóng nước hò reo quyết vật ngửa mình thuyền; thạch trận với đủ 3 lớp trùng vi vây bủa, được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và nham hiểm → dữ dội, hiểm độc với sức mạnh được nâng lên hàng thần thánh.

+ Con người: nhỏ bé, không hề có phép màu, vũ khí trong tay chỉ là chiếc cán chèo trên một con đò đơn độc hết chỗ lùi.

– Kết quả: Thác dữ đã không chặn bắt được con thuyền; con người chiến thắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên.

+ Con người cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hết lớp này đến lớp kia của trùng vi thạch trận; đè sấn được sóng gió, nắm chặt cái bờm sóng mà thuần phục sự hung hãn của dòng sông.

+ Những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉu, thất vọng qua bộ mặt xanh lè.

– Nguyên nhân làm nên chiến thắng: sự ngoan cường, dũng cảm, tài trí, chí quyết tâm và nhất là kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh.

* Nhận xét:

+ Thiên nhiên: vàng; con người lao động: vàng mười →trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả, con người đẹp hơn tất cả và quý giá hơn tất cả.

+ Con người được ví với khối vàng mười quý giá lại chỉ là những ông lái, nhà đò nghèo khổ, làm lụng âm thầm, giản dị, vô danh.

+ Những con người vô danh đó đã nhờ lao động, nhờ cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên mà trở nên lớn lao, kì vĩ, hiện lên như đại diện của Con Người.

⇒ Nét độc đáo trong cách khắc hoạ:

– Tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ.

– Tạo tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất.

– Sử dụng ngôn ngữ miêu tả đầy cá

tính, giàu chất tạo hình.

* Khúc hùng ca ca ngợi con người, ca ngợi ý chí của con người, ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi trước sức mạnh tựa thánh thần của dòng sông hung dữ. Đó chính là những yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc và của những người lao động nói chung.

III. Tổng kết:

– Tác phẩm: Ngợi ca vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng, vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc

– Tác giả Nguyễn Tuân:

+ Tình yêu đất nước say đắm, thiết tha.

+ Lao động nghệ thuật nghiêm túc, cần cù, công phu.

+ Tài hoa, uyên bác trong việc dùng chữ nghĩa.

IV. Luyện tập

– Làm câu 5 phần Hướng dẫn học bài ở lớp

– Làm bài tập 1,2 phần Luyện tập ở nhà

Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà

Giáo Án Môn Ngữ Văn 12 Tiết 46, 47: Đọc Văn Người Lái Đò Sông Đà ( Trích)

Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 12

Hướng Dẫn Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “người Lái Đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân)

Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà

Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà

Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà

Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà : Dàn Ý Và Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Nhất

Máy Đọc Văn Bản Trực Tuyến

Chuyển Đổi Văn Bản Thành Audio Với Ispeech

Nhận Dạng Và Chuyển Đổi Bảng Mã Font Chữ Tiếng Việt Online Nhanh Nhất

Trên Đường Bộ, Người Lái Xe ô Tô Có Được Phép Dừng Xe, Đỗ Xe Song Song Với Một Xe Khác, Dàn ý Đường Đi Khó Không Khó Vì Ngăn Sông Cách Núi Mà Khó Vì Lòng Người Ngại Núi E Sông, Người Lái Đò Sông Đà, Bức Thư Gửi Người Còn Sống, Đáp án 5 Người Qua Sông, Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà, Bài Văn Mẫu Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12, Văn Tế Sống Người Con Gái, Văn Bnả Người Lái Đò Sông Đà, Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà, Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà, Bộ Quy Tắc Sống Xanh Của Người Hà Nội, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật, Tư Tưởng Chính Trị Đạo Đức Lối Cua Con Nguoi Sống, Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà, Cuộc Sống Thanh Cao Của Người, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Chăm Lo Đời Sống Cho Người Lao Động , Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đời Sống Hiệp Hội Từ Góc Nhìn Người Dân, Đời Sống Đạo Của Người Huynh Trưởng, 4 Quan Niệm Sống Của Người ấn Độ, Bí Quyết Sống Khỏe Của Người Nhật, Bài Tham Luận Chăm Lo Đời Sống Người Lao Động, Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà, ổn Định Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Người Lao Động, Dàn ý Về Cuọc Sống Của Người Dân Tây Bắc Trong Tác Phẩm Cợ Chồng A Phủ, Nghiên Cứu Đào Tạo Song Ngữ Cấp Tiểu Học: Góc Nhìn Người Trong Cuộc, Sách Hướng Dẫn Về Đời Sống Dành Cho Người Nước Ngoài, Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân Về ô Nhiễm Nguồn Nước Sông, Tăng Trưởing Kinh Tế Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Dàn Bài Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Con Người, Trong Thông Tin Vô Tuyến, Người Ta Đã Dùng Các Sóng Điện Từ Có Tần Số Từ Hàng Nghìn … Trở Lên, Chung Minh Rang Bao Ve Moi Truong Thien Nhien La Bao Ve Cuoc Song Cua Con Nguoi, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, ảnh Hưởng Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Con Người Việt Nam, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tiểu Luận Phân Tích Và Đánh Giá Những ảnh Hưởng Facebook Với Đời Sống Con Người, Luận Văn Tăng Trưong Kinh Tế Có Giúp Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Tầm Quan Trọng Của An Toàn Giao Thong Trong Đơi Sống Đoi Voi Con Nguoi Dac Bietj La Lua Tuoi Hoc Sin, Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Con Người., Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Là Sóng Ngang, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Có Người Bị Thương Nghiêm Trọng, Người Lái Xe Và Người Có Mặt, Một Máy Thu Thanh Đang Thu Sóng Ngắn. Để Chuyển Sang Thu Sóng Trung, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Chung Tính Chất Nào Dưới Đây?, Mạch Dao Động Lí Tưởng Lc Có Thể Phát Ra Sóng Vô Tuyến Truyền Trong Không Khí Với Bước Sóng, Tia Hồng Ngoại Và Tia Rơnghen Đều Có Bản Chất Là Sóng Điện Từ, Có Bước Sóng Dài Ngắn Khác Nhau Nên, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Cùng Tính Chất, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Cùng Tính Chất Nào, Trắc Nghiệm ôn Tập Dao Động Và Sóng Điện Từ – Sóng ánh Sáng, 2 Phương Trình Đường Thẳng Song Song, Một Sóng Điện Từ Đang Lan Truyền Từ Một Đài Phát Sóng ở Hà Nội Đến Máy Thu, Phương Trình 2 Đường Thẳng Song Song, Quan Niệm Thế Nào Là Cuộc Sống Đáng Sống, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Song Song, Khái Niệm 2 Đường Thẳng Song Song, Đề Xuất Giải Pháp Bảo Vệ Bờ Cửa Sông Ven Biển Cửa Sông Cái Lớn, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Giống Nhau ở Chỗ, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Khác Nhau ở, Định Nghĩa 2 Mặt Phẳng Song Song, Bài Giảng 2 Đường Thẳng Song Song, Tia Rơn-ghen (tia X) Là Sóng Điện Từ Có Bước Sóng, Định Lý 2 Đường Thẳng Song Song, Trắc Nghiệm 2 Mặt Phẳng Song Song, Mẫu Báo Cáo Thực Hành Đo Cường Độ Dòng Điện Và Hiệu Điện Thế Đối Với Đoạn Mạch Song Song, Báo Cáo Thực Hành Đo Hiệu Điện Thế Và Cường Độ Dòng Điện Đối Với Đoạn Mạch Song Song, Định Lý 2 Đường Song Song, Phương Trình Song Song Với Ox, 2 Phương Trình Song Song, Định Lý 2 Mặt Phẳng Song Song, Chọn Câu Sai. Sóng Điện Từ Là Sóng, Chuyên Đề 2 Mặt Phẳng Song Song, Bài Giảng 2 Mặt Phẳng Song Song, Tiểu Thuyết Sóng ở Đáy Sông, Công Thức 2 Bản Mặt Song Song, Công Thức R Song Song, Giải Bài Tập 2 Mặt Phẳng Song Song, Ta ₫ến ₫ể Cho Chiên ₫ược Sống Và Sống Sung Mãn, Bài Tập Chuyên Đề Hai Mặt Phẳng Song Song, Định Lý Từ Vuông Góc Đến Song Song, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Dưới Đây Là Sai Trong Quá Trình Truyền Sóng Điện Từ, Nguyên Tắc Chọn Sóng Của Mạch Chọn Sóng Trong Máy Thu Vô Tuyến Dựa Trên, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Mang Năng Lượng, Thông Tin Nào Sau Đây Là Sai Khi Nói Về Tia X Có Bước Sóng Ngắn Hơn Bước Sóng Của Tia Tử Ngoại, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Người Lái Xe Và Người Có Mặt Tại Hiện Trường Vụ Tai Nạn Phải Thực Hiệ, Con Người Và Nhân Tố Con Người Trong Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Tri Thức 4.0, Số Người Chết, Số Người Bị Thương, Số Vụ Tai Nạn Từ Năm 2013,2014,2015,2016, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Người Lái Xe Và Người Có Mặt Tại Hiện Trường Vụ Tai Nạn Phải Thực Hiệ, Trong Khu Dân Cư, ở Nơi Cho Phép Người Lái Xe, Người Điều Khiển Xe Máy Chuyên Dùng Được Quay, Khi Đang Lên Dốc Người Ngồi Trên Xe Mô Tô Có Được Kéo Theo Người Điều Khiển Xe Đạp Hay Không, Người Điều Khiển Xe Mô Tô 2 Bánh, Xe Gắn Máy Được Phép Chở Tối Đã 2 Người Trong Những Trường Hợp Nào, Định Lý Song Song, Bài Tập 2 Mặt Phẳng Song Song, O To Đâu Đến Đo Hai Chiếc Đau Song Song, Định Lý Dời Lực Song Song, Sống Một Cuộc Sống Dư Dật,

Trên Đường Bộ, Người Lái Xe ô Tô Có Được Phép Dừng Xe, Đỗ Xe Song Song Với Một Xe Khác, Dàn ý Đường Đi Khó Không Khó Vì Ngăn Sông Cách Núi Mà Khó Vì Lòng Người Ngại Núi E Sông, Người Lái Đò Sông Đà, Bức Thư Gửi Người Còn Sống, Đáp án 5 Người Qua Sông, Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà, Bài Văn Mẫu Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12, Văn Tế Sống Người Con Gái, Văn Bnả Người Lái Đò Sông Đà, Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà, Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà, Bộ Quy Tắc Sống Xanh Của Người Hà Nội, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật, Tư Tưởng Chính Trị Đạo Đức Lối Cua Con Nguoi Sống, Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà, Cuộc Sống Thanh Cao Của Người, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Chăm Lo Đời Sống Cho Người Lao Động , Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đời Sống Hiệp Hội Từ Góc Nhìn Người Dân, Đời Sống Đạo Của Người Huynh Trưởng, 4 Quan Niệm Sống Của Người ấn Độ, Bí Quyết Sống Khỏe Của Người Nhật, Bài Tham Luận Chăm Lo Đời Sống Người Lao Động, Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà, ổn Định Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Người Lao Động, Dàn ý Về Cuọc Sống Của Người Dân Tây Bắc Trong Tác Phẩm Cợ Chồng A Phủ, Nghiên Cứu Đào Tạo Song Ngữ Cấp Tiểu Học: Góc Nhìn Người Trong Cuộc, Sách Hướng Dẫn Về Đời Sống Dành Cho Người Nước Ngoài, Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân Về ô Nhiễm Nguồn Nước Sông, Tăng Trưởing Kinh Tế Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Dàn Bài Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Con Người, Trong Thông Tin Vô Tuyến, Người Ta Đã Dùng Các Sóng Điện Từ Có Tần Số Từ Hàng Nghìn … Trở Lên, Chung Minh Rang Bao Ve Moi Truong Thien Nhien La Bao Ve Cuoc Song Cua Con Nguoi, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, ảnh Hưởng Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Con Người Việt Nam, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tiểu Luận Phân Tích Và Đánh Giá Những ảnh Hưởng Facebook Với Đời Sống Con Người, Luận Văn Tăng Trưong Kinh Tế Có Giúp Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Tầm Quan Trọng Của An Toàn Giao Thong Trong Đơi Sống Đoi Voi Con Nguoi Dac Bietj La Lua Tuoi Hoc Sin, Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Con Người., Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Là Sóng Ngang, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Có Người Bị Thương Nghiêm Trọng, Người Lái Xe Và Người Có Mặt, Một Máy Thu Thanh Đang Thu Sóng Ngắn. Để Chuyển Sang Thu Sóng Trung, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Chung Tính Chất Nào Dưới Đây?, Mạch Dao Động Lí Tưởng Lc Có Thể Phát Ra Sóng Vô Tuyến Truyền Trong Không Khí Với Bước Sóng,

Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”

Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Giáo Án Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà

Bài: Người Lái Đò Sông Đà

Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Hướng Dẫn Soạn Người Lái Đò Sông Đà Dễ Hiểu

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Trang 192 Sgk Ngữ Văn 12, Tập 1

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Chi Tiết)

– Nguyễn Tuân (10/7/1910 – 28/7/1987) quê ở Hà Nội, là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, sở trường về tùy bút và kí, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

– Xuất thân: gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn, đặc biệt là người cha có ảnh hưởng sâu sắc tới cá tính con người và cá tính nghệ thuật Nguyễn Tuân.

+ Trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc: có những nét riêng biệt.

– Gắn bó với các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc: tiếng mẹ đẻ, kiệt tác văn chương, nhạc điệu hoặc đài các của thể ca trù hoặc dân dã của các điệu hò xứ Quảng…

– Say mê cảnh sắc đẹp của quê hương đất nước.

– Trân trọng những thú chơi tao nhã của trí thức nho gia tài hoa sinh bất phùng thời.

+ Ý thức cá nhân phát triển rất cao:

– Quan niệm viết văn là một hình thức chơi văn độc đáo nhưng đã đẩy việc chơi đến đỉnh cao – chơi một cách nghệ thuật. Viết văn trước hết là để khẳng định cá tính độc đáo của mình.

– Ham du lịch, nâng niềm ham thích này thành lý thuyết “chủ nghĩa xê dịch”, với lối sống tự do, phóng túng, quá khuôn khổ chế độ thuộc địa đương thời.

+ Con người rất mực tài hoa, uyên bác:

– Tuy chỉ viết văn nhưng am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh…

– Biết vận dụng con mắt nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác để tăng cường khả năng quan sát, biểu hiện thế giới của nghệ thuật ngôn từ.

– Sự uyên bác: ham đọc, tạo cho mình vốn tri thức sâu rộng, bề thế, làm giàu chất tài hoa nghệ sĩ, vẽ nên bức tranh đời sống, con người đầy “sinh sắc” ngay cả những nơi mà ông chưa đặt chân tới.

+ Biết quí trọng nghề nghiệp văn chương:

– Quan niệm lao động nghệ thuật là hình thức lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”.

– Trân trọng nghề viết là trân trọng độc giả, trân trọng chính mình – lòng tự trọng, ý thức giữ gìn nhân cách.của bản thân. (Nhân cách của nhà văn chính là văn cách của anh ta – ý của Trần Dần). Dứt khoát phân biệt nghề văn với thói con buôn vụ lợi (“Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn cho là vô ích. Ở đâu có đồng tiền, ở đó cái đẹp không tồn tại” – Nguyễn Tuân).

3. Sự nghiệp sáng tác. a. Quá trình sáng tác và các đề tài chính

+ Quá trình sáng tác

– Thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng…

– Năm 1938, nhận ra sở trường: tùy bút, bắt đầu có những tác phẩm thành công xuất sắc.

– Sau cách mạng tháng Tám, vẫn tiếp tục khai thác thế mạnh tuỳ bút và có một số tuỳ bút nổi tiếng: “Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi”.

+ Những đề tài chính:

– Trước cách mạng: 3 đề tài chính:

* Vẻ đẹp vang bóng một thời

* Chủ nghĩa xê dịch.

* Đời sống trụy lạc

– Sau cách mạng:

Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, chào đón, phục vụ cách mạng nhiệt tình; kiếm tìm vẻ đẹp của non sông; phát hiện chất “vàng mười”, chất ngọc tiềm ẩn trong các tầng lớp nhân dân – những người lao động đang tiến hành xây dựng, chiến đấu và bảo vệ đất nước. Hình tượng nghệ thuật trung tâm: nhân dân, vừa dũng cảm, anh hùng vừa là nghệ sĩ tài hoa

b. Phong cách nghệ thuật:

+ Nhận định chung: gói gọn trong một chữ “ngông”

– Ngông là:

* Một việc làm khác đời, ngược đời, bất bình thường một cách tài hoa để khinh đời, nhạo đời. Ngoài tài hoa, người chơi phải có nhân cách.

* Thường thích những cái độc đáo không giống ai.

– Nguyễn Tuân chơi ngông:

* Bằng văn chương, băn khoăn: viết cái gì cũng phải khác lạ (đề tài, nhân vật, kết cấu, cách hành văn, sáng tạo hình ảnh, dùng từ, đặt câu…), văn khoe tài hoa, uyên bác.

* Cơ sở: Đối lập với môi trường thị dân tầm thường ngày xưa. Truyền thống chơi ngông trong văn chương: Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà…

+ Đặc điểm:

– Sự tài hoa, uyên bác.

– Sự thống nhất.

– Sự vận động.

2. Tác phẩm “Người lái đò Sông Đà: II. Đọc hiểu văn bản a. Trước hết, con sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả là dòng sông hùng vĩ, hung bạo, dữ dội.

– Đó là cảnh đá bờ sông dựng đứng vách thành: “chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”.

– Đó là “quãng mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy”.

– Lại một đoạn sông khác, trên sông có những cái hút nước xoáy tít “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Có những thuyền đã bị nó hút tụt xuống, thuyền trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi đến mười phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.

– Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng người ta đã bị đe doạ bởi “tiếng thác nước nghe như oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa”.

Trong việc tái hiện lại hình ảnh sông núi Tây Bắc và người lái đò, Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc… Mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động. “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá. Đá ở đây vẫn ngàn năm mai phục hết lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này… là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược… nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá bé”.

b. Bên cạnh tính cách hung bạo, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân con sông Đà lại rất trữ tình và thơ mộng, gợi bao cảm xúc làm mê say lòng người.

– “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

– Không chỉ đẹp ở hình dáng, sông Đà còn gợi cảm ở màu sắc, mà tác giả đã bao lần dày công quan sát mới nói hết được vẻ độc đáo ấy: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm sông Lô”, “Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”… Đó là thời điểm cho câu chữ Nguyễn Tuân lai láng chất thơ ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông bằng cái nhìn và tình cảm của một người tự nhận sông Đà như một “cố nhân”.

– Đặc biệt là không khí hoang dại, tĩnh lặng, để lột tả không khí nên thơ ấy, Nguyễn Tuân đã tả đàn hươu ngẩng đầu ngơ ngác mơ một tiếng còi sương, và cái nắng tháng ba Đường thi Yên hoa tam nguyệt, gợi tâm sự của người tình nhân chưa quen biết. Lúc này, không thấy đâu con sông Đà diện mạo và tâm địa độc ác, mà chỉ thấy tình cảm của dòng sông đối với con người như một cố nhân, xa thì thấy nhớ thương, gặp lại thì thấy mừng “vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”.

– Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà”. Vẻ đẹp ấy như trang nghiêm trong mạch Đường thi cổ điển, vừa lắng đọng hoài vọng về một thuở Lý, Trần,Lê, vừa bâng khuâng cảm giác về sự sống nảy lộc đâm chồi : “Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”

* Nguyễn Tuân đã rất thành công trong việc sử dụng nhiều thuật ngữ của các ngành nghề khác nhau nhằm miêu tả vẻ hùng vĩ, thơ mộng của con sông Đà và mở ra bao liên tưởng độc đáo, bất ngờ trong tâm trí người đọc.

2. Hình tượng người lái đò Sông Đà: a. Người lái đò hiện lên trước hết là một người chiến sĩ có lòng dũng cảm, gan dạ, kiên cường, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa

– Ông đã “Nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”, kinh nghiệm đũ giang sụng nước, lên thác xuống ghềnh đó khiến cho ụng lỏi đũ dù trong tay chỉ có cây chèo vẫn có thể phá thành vượt ải như một dũng tướng bách chiến bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống lại thiên nhiên.

– Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

– Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một: “Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó … Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. .. một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…”

+ Ở trùng vi thứ nhất, sông Đà đã bày binh trùng trùng lớp lớp thạch trận trên sông. Chúng mở ra năm cửa, có bốn cửa tử và một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ bên phía tả ngạn. Ở trùng vi này, người lái đò đã vô cùng bình tĩnh, khéo léo trước con song hung dữ, hai tay giữ chặt mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, người lái đò “phá luôn trùng vi thứ hai”.

+ Ở trùng vi thứ hai, kẻ địch thay chiến thuật, chúng tăng thêm nhiều cửa tử. Cửa sinh bố trí lệch sang phía hữu ngạn, lập lờ, bí hiểm hơn ở trùng vi trước, hòng đánh lừa con thuyền. Nhưng ông đò đã nắm chắc binh pháp của thân sông, thần đá, thuộc quy luật phục kích của lũ đá. Ông nghĩ “Cưỡi lên thác Sông Đà phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi ông đò ghì cương lái phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết một đường chéo con thuyền lướt nhanh, bất ngờ, khiến cả bọn đá thủy quân không kịp trở tay, khiến “Cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đó tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng”.

+ Ở trùng vi thứ ba, ít cửa hơn, bên phải, bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở ngay giữa con thác. Ông đò như một người chỉ huy dày dạn cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó “Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được” Bản hùng ca vượt thác lên đến cao trào. Con thuyền lướt nhanh trên đầu sóng, trên con thuyền vun vút đó chúng ta nhìn rõ hình ảnh người lái đò anh hùng vừa dũng cảm thông minh, vừa thật là tài hoa.

b. Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa.

– Trong ” Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là “tay lái hoa”. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.

– Ông lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác.

– Ở phần vĩ thanh của khúc ca vượt thác, nhà văn chuyển gam với mấy câu tả êm nhẹ, câu kể thủ thỉ, tâm tình “Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Sông nước lại thanh bình. “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi”.

*Sơ kết: Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: “Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo”. Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dễ thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, chỉ có Nguyễn Tuân.

III. Tổng kết:

Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân. Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc mà còn ca ngợi vẻ đẹp bình dị, anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây.

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà

Đọc Toàn Tập Người Lái Đò Sông Đà

Bài 30. Ôn Tập Phần Văn

Ôn Tập Ngữ Văn 7

Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cả Năm

Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Hướng Dẫn Soạn Người Lái Đò Sông Đà Dễ Hiểu

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà Trang 192 Sgk Ngữ Văn 12, Tập 1

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Chi Tiết)

Cho Mình Hỏi Bài Tóm Tắt Văn Bản “người Lái Đò Sông Đà”?

Trên Đường Bộ, Người Lái Xe ô Tô Có Được Phép Dừng Xe, Đỗ Xe Song Song Với Một Xe Khác, Dàn ý Đường Đi Khó Không Khó Vì Ngăn Sông Cách Núi Mà Khó Vì Lòng Người Ngại Núi E Sông, Người Lái Đò Sông Đà, Bức Thư Gửi Người Còn Sống, Đáp án 5 Người Qua Sông, Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà, Bài Văn Mẫu Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12, Văn Tế Sống Người Con Gái, Văn Bnả Người Lái Đò Sông Đà, Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà, Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà, Bộ Quy Tắc Sống Xanh Của Người Hà Nội, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật, Tư Tưởng Chính Trị Đạo Đức Lối Cua Con Nguoi Sống, Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà, Cuộc Sống Thanh Cao Của Người, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Chăm Lo Đời Sống Cho Người Lao Động , Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đời Sống Hiệp Hội Từ Góc Nhìn Người Dân, Đời Sống Đạo Của Người Huynh Trưởng, 4 Quan Niệm Sống Của Người ấn Độ, Bí Quyết Sống Khỏe Của Người Nhật, Bài Tham Luận Chăm Lo Đời Sống Người Lao Động, Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà, ổn Định Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Người Lao Động, Dàn ý Về Cuọc Sống Của Người Dân Tây Bắc Trong Tác Phẩm Cợ Chồng A Phủ, Nghiên Cứu Đào Tạo Song Ngữ Cấp Tiểu Học: Góc Nhìn Người Trong Cuộc, Sách Hướng Dẫn Về Đời Sống Dành Cho Người Nước Ngoài, Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân Về ô Nhiễm Nguồn Nước Sông, Tăng Trưởing Kinh Tế Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Dàn Bài Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Con Người, Trong Thông Tin Vô Tuyến, Người Ta Đã Dùng Các Sóng Điện Từ Có Tần Số Từ Hàng Nghìn … Trở Lên, Chung Minh Rang Bao Ve Moi Truong Thien Nhien La Bao Ve Cuoc Song Cua Con Nguoi, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, ảnh Hưởng Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Con Người Việt Nam, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tiểu Luận Phân Tích Và Đánh Giá Những ảnh Hưởng Facebook Với Đời Sống Con Người, Luận Văn Tăng Trưong Kinh Tế Có Giúp Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Tầm Quan Trọng Của An Toàn Giao Thong Trong Đơi Sống Đoi Voi Con Nguoi Dac Bietj La Lua Tuoi Hoc Sin, Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Con Người., Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Là Sóng Ngang, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Có Người Bị Thương Nghiêm Trọng, Người Lái Xe Và Người Có Mặt, Một Máy Thu Thanh Đang Thu Sóng Ngắn. Để Chuyển Sang Thu Sóng Trung, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Chung Tính Chất Nào Dưới Đây?, Mạch Dao Động Lí Tưởng Lc Có Thể Phát Ra Sóng Vô Tuyến Truyền Trong Không Khí Với Bước Sóng, Tia Hồng Ngoại Và Tia Rơnghen Đều Có Bản Chất Là Sóng Điện Từ, Có Bước Sóng Dài Ngắn Khác Nhau Nên, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Cùng Tính Chất, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Cùng Tính Chất Nào, Trắc Nghiệm ôn Tập Dao Động Và Sóng Điện Từ – Sóng ánh Sáng, 2 Phương Trình Đường Thẳng Song Song, Một Sóng Điện Từ Đang Lan Truyền Từ Một Đài Phát Sóng ở Hà Nội Đến Máy Thu, Phương Trình 2 Đường Thẳng Song Song, Quan Niệm Thế Nào Là Cuộc Sống Đáng Sống, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Song Song, Khái Niệm 2 Đường Thẳng Song Song, Đề Xuất Giải Pháp Bảo Vệ Bờ Cửa Sông Ven Biển Cửa Sông Cái Lớn, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Giống Nhau ở Chỗ, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Khác Nhau ở, Định Nghĩa 2 Mặt Phẳng Song Song, Bài Giảng 2 Đường Thẳng Song Song, Tia Rơn-ghen (tia X) Là Sóng Điện Từ Có Bước Sóng, Định Lý 2 Đường Thẳng Song Song, Trắc Nghiệm 2 Mặt Phẳng Song Song, Mẫu Báo Cáo Thực Hành Đo Cường Độ Dòng Điện Và Hiệu Điện Thế Đối Với Đoạn Mạch Song Song, Báo Cáo Thực Hành Đo Hiệu Điện Thế Và Cường Độ Dòng Điện Đối Với Đoạn Mạch Song Song, Định Lý 2 Đường Song Song, Phương Trình Song Song Với Ox, 2 Phương Trình Song Song, Định Lý 2 Mặt Phẳng Song Song, Chọn Câu Sai. Sóng Điện Từ Là Sóng, Chuyên Đề 2 Mặt Phẳng Song Song, Bài Giảng 2 Mặt Phẳng Song Song, Tiểu Thuyết Sóng ở Đáy Sông, Công Thức 2 Bản Mặt Song Song, Công Thức R Song Song, Giải Bài Tập 2 Mặt Phẳng Song Song, Ta ₫ến ₫ể Cho Chiên ₫ược Sống Và Sống Sung Mãn, Bài Tập Chuyên Đề Hai Mặt Phẳng Song Song, Định Lý Từ Vuông Góc Đến Song Song, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Dưới Đây Là Sai Trong Quá Trình Truyền Sóng Điện Từ, Nguyên Tắc Chọn Sóng Của Mạch Chọn Sóng Trong Máy Thu Vô Tuyến Dựa Trên, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Mang Năng Lượng, Thông Tin Nào Sau Đây Là Sai Khi Nói Về Tia X Có Bước Sóng Ngắn Hơn Bước Sóng Của Tia Tử Ngoại, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Người Lái Xe Và Người Có Mặt Tại Hiện Trường Vụ Tai Nạn Phải Thực Hiệ, Con Người Và Nhân Tố Con Người Trong Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Tri Thức 4.0, Số Người Chết, Số Người Bị Thương, Số Vụ Tai Nạn Từ Năm 2013,2014,2015,2016, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Người Lái Xe Và Người Có Mặt Tại Hiện Trường Vụ Tai Nạn Phải Thực Hiệ, Trong Khu Dân Cư, ở Nơi Cho Phép Người Lái Xe, Người Điều Khiển Xe Máy Chuyên Dùng Được Quay, Khi Đang Lên Dốc Người Ngồi Trên Xe Mô Tô Có Được Kéo Theo Người Điều Khiển Xe Đạp Hay Không, Người Điều Khiển Xe Mô Tô 2 Bánh, Xe Gắn Máy Được Phép Chở Tối Đã 2 Người Trong Những Trường Hợp Nào, Định Lý Song Song, Bài Tập 2 Mặt Phẳng Song Song, O To Đâu Đến Đo Hai Chiếc Đau Song Song, Định Lý Dời Lực Song Song, Sống Một Cuộc Sống Dư Dật,

Trên Đường Bộ, Người Lái Xe ô Tô Có Được Phép Dừng Xe, Đỗ Xe Song Song Với Một Xe Khác, Dàn ý Đường Đi Khó Không Khó Vì Ngăn Sông Cách Núi Mà Khó Vì Lòng Người Ngại Núi E Sông, Người Lái Đò Sông Đà, Bức Thư Gửi Người Còn Sống, Đáp án 5 Người Qua Sông, Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà, Bài Văn Mẫu Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà, Văn Bản Người Lái Đò Sông Đà Lớp 12, Văn Tế Sống Người Con Gái, Văn Bnả Người Lái Đò Sông Đà, Bài Giảng Người Lái Đò Sông Đà, Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà, Bộ Quy Tắc Sống Xanh Của Người Hà Nội, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật, Tư Tưởng Chính Trị Đạo Đức Lối Cua Con Nguoi Sống, Phân Tích Người Lái Đò Sông Đà, Cuộc Sống Thanh Cao Của Người, Đề Bài Người Bạn ấy Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Chăm Lo Đời Sống Cho Người Lao Động , Người Bạn Sống Mãi Trong Lòng Tôi, Đời Sống Hiệp Hội Từ Góc Nhìn Người Dân, Đời Sống Đạo Của Người Huynh Trưởng, 4 Quan Niệm Sống Của Người ấn Độ, Bí Quyết Sống Khỏe Của Người Nhật, Bài Tham Luận Chăm Lo Đời Sống Người Lao Động, Phân Tích Hình Tượng Người Lái Đò Sông Đà, ổn Định Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Người Lao Động, Dàn ý Về Cuọc Sống Của Người Dân Tây Bắc Trong Tác Phẩm Cợ Chồng A Phủ, Nghiên Cứu Đào Tạo Song Ngữ Cấp Tiểu Học: Góc Nhìn Người Trong Cuộc, Sách Hướng Dẫn Về Đời Sống Dành Cho Người Nước Ngoài, Đánh Giá Nhận Thức Của Người Dân Về ô Nhiễm Nguồn Nước Sông, Tăng Trưởing Kinh Tế Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Dàn Bài Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Con Người, Trong Thông Tin Vô Tuyến, Người Ta Đã Dùng Các Sóng Điện Từ Có Tần Số Từ Hàng Nghìn … Trở Lên, Chung Minh Rang Bao Ve Moi Truong Thien Nhien La Bao Ve Cuoc Song Cua Con Nguoi, Đời Sống Hàng Ngày Của Người Dân Tây Nguyên, ảnh Hưởng Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Con Người Việt Nam, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tiểu Luận Phân Tích Và Đánh Giá Những ảnh Hưởng Facebook Với Đời Sống Con Người, Luận Văn Tăng Trưong Kinh Tế Có Giúp Cai Thiện Cuộc Sống Của Người Nghèo, Tầm Quan Trọng Của An Toàn Giao Thong Trong Đơi Sống Đoi Voi Con Nguoi Dac Bietj La Lua Tuoi Hoc Sin, Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Con Người., Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Khi Nói Về Sóng Điện Từ Phát Biểu Nào Sau Đây Là Sai Sóng Điện Từ Là Sóng Ngang, Khi Xảy Ra Tai Nạn Giao Thông, Có Người Bị Thương Nghiêm Trọng, Người Lái Xe Và Người Có Mặt, Một Máy Thu Thanh Đang Thu Sóng Ngắn. Để Chuyển Sang Thu Sóng Trung, Sóng Điện Từ Và Sóng Cơ Học Không Có Chung Tính Chất Nào Dưới Đây?, Mạch Dao Động Lí Tưởng Lc Có Thể Phát Ra Sóng Vô Tuyến Truyền Trong Không Khí Với Bước Sóng,

Bài: Người Lái Đò Sông Đà

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà

Đọc Toàn Tập Người Lái Đò Sông Đà

Bài 30. Ôn Tập Phần Văn

Ôn Tập Ngữ Văn 7

Người Lái Đò Sông Đà (Trích)

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Văn Bản Nào Có Hiệu Lực Cao Nhất Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam

Hiến Pháp Là Luật Cơ Bản Của Nhà Nước Có Hiệu Lực Pháp Lí Cao Nhất

Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất

Cách Sử Dụng Word Online Soạn Thảo Văn Bản Trực Tuyến

thuộc thể văn tùy bút nhưng nặng về tính chất bút kí. Đây là thể văn có tính chất tư liệu cung cấp những tri thức chính xác về người thật, việc thật và cảnh thật. Đọc Người lái đò Sông Đà, chúng ta cảm nhận được những tri thức hết sức phong phú về địa hình, địa thế, về lịch sử của con người Sông Đà, về những con người đầy trí dũng, xứng đáng là nghệ sĩ tài ba trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh.

Đoạn trích này có hai nhân vật: con sông Đà và người lái đò trên sông này. Cả hai nhân vật đều có mối quan hệ mật thiết với nhau.

1. Sông Đà

Dưới ngòi bút của Nguyền Tuân, sông Đà không vô tri vô giác mà có tính cách, có tâm trạng và hoạt động. Nhà văn lưu ý hai đặc điểm chính của con sông là hung bạo và trữ tình. Trước tiên là tính hung bạo thể hiện ra ở cái diện mạo bên ngoài của con sông. Đó là những thúc đá, những cảnh đá bờ sông dựng đứng vách thành, dài hàng cây số nước xô đá, dá xô sóng, sóng xô gió, những hút nước ghê rợn, nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Để thể hiện sinh động và cụ thể tính cách này, đã sử dụng những cách ví von độc đáo, miêu tả gây cảm giác mạnh mẽ, đập vào giác quan người đọc. Đặc biệt trong đoạn miêu tả quãng Tà Mường Vát, nhà văn vận dụng cả tri thức của điện ảnh.

Để nêu bật thêm cái đáng sợ của Sông Đà, Nguyễn Tuân đã đặc tả con thác hung bạo như chặn đánh tiêu diệt người lái đò. Con sông ở đoạn này chẳng khác chi bầý thủy quái khống lồ vừa hung hăng vừa xảo quyệt, khi ẩn nấp mai phục, khi lừa miếng đánh du kích, khi quay vòng đánh quật trở lại theo lối vu hồi, khi khiêu khích, thách thức, chế nhạo, khi hò la gầm thét “như tiếng một ngàn con trâu mộng dang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa”. Thành công của nhà văn ở đây là trí tưởng tượng tạo hình rất phong phú căn cứ ở sự thật được quan sát kĩ lưỡng, chính xác và sử dụng ngôn từ rất điêu luyện.

Bên cạnh tính hung bạo, Sông Đà lại mang tính cách trữ tình đầy chất thơ, thân thiết với con người. Tác giả hình dung con sông này như một người đàn bà kiều diễm “tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mùi khói núi Mèo dốt nương xuân…”.

Nguyễn Tuân say sưa nhìn ngắm Sông Đà từ nhiều thời điểm, nhiều không gian khác nhau và phát hiện được màu sắc của nó một cách tinh tế. Mùa xuân, dòng sông “xanh ngọc bích”, mùa thu, nước sông “lừ lừ chín đỏ”.

Trong mắt nhà văn, Sông Đà chẳng khác gì một “cố nhân” khi xa thì gợi thương gợi nhớ. Con sông có chất thơ Đường cổ điển, có chất thơ hồn nhiên mơ mộng như “?nộí nỗi niềm cổ tícli”, có chất thơ tình tứ của Tản Đà gửi “người tình nhân chưa qụen biết”. Cảnh ven sông lặng lờ, tịnh không một bóng người hoang vắng nhưng đầy thi vị được Nguyễn Tuân thể hiện bằng một ngòi bút đằm thắm dịu dàng.

2. Người lái đò Sông Đà

Trên bức tranh Sông Đà, Nguyễn Tuân còn khắc họa sinh động hình tượng người lái đò như một người lao động đầy trí dũng có cốt cách như một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh. Đây cũng là một nhân vật chính luận của nhà văn – những con người tài hoa nghệ sĩ. Khái niệm tài hoa nghệ sĩ ở đây khá rộng: đó là những con người đã đạt tới trình độ nghệ thuật tinh vi điêu luyện trong nghề nghiệp của mình chứ không chỉ là những người làm nghệ thuật theo kiểu hiểu thông thường. Trong bài này người lái đò nghệ sĩ. Lái đò mà đạt đến một trình độ nghệ thuật cao cường đầy tài hoa; Nhà văn gọi là tay lái ra hoa.

Người lái đò Sông Đà ở đây đã nắm dược cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà. Bởi vậy, ông hoàn toàn làm chủ dược nó. Ông nắm chắc được từng luồng lạch, từng ngọn thác, từng nơi dựng vách đá, từng luồng lành luồng dữ… Nói chung, ông nắm rất vững quy luật biến đổi “tính tình phức tạp” – của con Sông Đà.

Để khắc họa sâu đậm tài nghệ củâ người lái đò, Nguyễn Tuân đã đặc tả cuộc chiến đâu giữa ông, một con người đầy trí dũng, với con thác dữ. ông vượt thác như là một viên tướng ngày xưa lao vào một trận đồ bát quái đã bày bố sẵn với rất nhiều cạm bẫy được giăng ra, hết vòng này đến vòng khác, mỗi vòng đều có những “viên tướng đá” nham hiểm và quái ác đang chực chờ để tiêu diệt đối phương. Nhằm áp đảo tinh thần “kẻ địch”, đám quân thác đá còn diễu võ dương oai, nổi trống nổi chiêng, hò la dữ dội… Đoạn văn “Còn xa lắm mới đến cái thác dưới… Họ nghĩ thế lúc ngừng chèo” là đoạn văn vô cùng sinh dộng, giàu tình tiết dựng cảnh, đầy giá trị tạo hình, đầy kịch tính trong lối thuật kế, đặc biệt là mạch văn ở đây dồn dập chẳng khác gì dòng chảy của con sông.

Khi đã chinh phục dược thác dữ của con sông cũng chả thấy ai bàn thêm một lài nào về cuộc chiến thắng vừa qua, nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi.

Vì sao?

Bởi vì những cuộc “chiến đấu” như thế đã diễn ra thường ngày trên dòng Sông Đà.

Gợi ý trả lời các câu hỏi hướng dẫn học bài

Câu 1

Sông Đà, tập bút kí đặc sắc trong đó có Người lái dò Sông Đà là thành quả nghệ thuật có được từ chuyến đi gian khố và hào hứng của nhà văn Nguyễn Tuân đển miền Tây Bấc rộng lớn. Ông đã không quản ngại khó khăn, cực khổ đã lặn lội dọc ngang trên vùng đất hiểm trở và thơ mộng ấy để “đi tìm cái thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tắt cả những con người ngày nay đang nhiệt tỉnh gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thèm sáng sủa tươi vui và vững bền”.

Đọc áng văn đẹp này với chất liệu thực tế ngồn ngộn đầy sinh động, chân thực, cụ thể đủ thấy nhà văn đã quan sát rất công phu và tìm hiểu kĩ càng khi viết về Sông Đà và người lái đò Sông Đà.

Câu 2 và 3

Nguyễn Tuân đã phát hiện ra hai đặc điểm chính của Sông Đà là hung bạo và trữ tình. Nghĩa là Sông Đà hùng vĩ vừa dữ tợn, hiểm ác, gây hại cho mọi người nhưng cũng vừa thơ mộng, thân thiết với con người.

Lúc hung bạo, sông Đà như kẻ thù số một của con người với những vách đá dựng đứng cao vút, những hút nước ghê rợn, những thác nước dữ dội, chờ sẵn để nhấn chìm mọi con thuyền. Những thác nước đó luôn rông lên, lồng lộn tuôn phá, gầm gào…

Miêu tả những nét hung bạo ấy của Sông Đà, Nguyễn Tuân đã dùng lối so sánh độc đáo (nó rống lèn như tiếng một hgàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre…), cách cấu trúc câu trùng điệp (nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…) và phép nhân hóa xác hợp (mặt nước hò la vang dậy… ùa vào bẻ gẫy cán chèo, “sóng nước”, “sát nách” mà đá trái mà thúc gối vào bụng vào hông thuyền, cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè…

Lúc trữ tình, Sông Đà lại dịu dàng, thơ mộng, gắn bó thân thiết với con người như một “cố nhân”, nếu phải chia xa thì dạt dào nhớ nhung lưu luyến.

Miêu tả những nét trữ tình đó của Sông Đà, Nguyễn Tuân có cách liên tưởng bất ngờ (con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai…), dùng những hình ảnh dịu dàng trong sáng đầy thi vị (màu nắng tháng ba Đường thi, con hươu, tiếng còi sương, tiếng cá dập nước…). Ngoài ra nhà văn còn viết những- câu văn như thơ về mặt ý tưởng và thanh điệu. Nhà văn lại dùng chen càu thơ Tản Đà rất gợi tả dòng sông thân thiết của nhà thơ.

Câu 4

Trong tác phẩm, người lái đò Sông Đà được thể hiện như một người lao động đồng thời như một nghệ sĩ. ông bình tĩnh, ung dung đôi đầu với sự hung bạo và nham hiểm của ghềnh thác Sông Đà. Như một viên tướng già xung trận, người lái đò rất mực oai phong, tỉnh táo, tìm hiểu, nắm chắc đối phương ứng phó linh hoạt để giành phần thắng lợi.

Cái chết ngỡ như đã kề bên thế mà vượt thác xong, người nghệ sĩ tài hoa ấy đã “ung dung đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, bàn tán về cá anh vũ và dường như quên ngay cuộc chiến dấu với thác ghềnh ban nãy”. Một chi tiết cần lưu ý nữa là hàng ngày, người lái đò vẫn buộc bu gà vào đuôi thuyền để nghe tiếng gáy cho “đỡ nhớ nương ruộng bản mường mình”.

Như thế, người lái đò ở đây vừa có tư thế vị anh hùng vừa có phong cách của một nghệ sĩ tài hoa tài tử.

Với sức tưởng tượng sáng tạo của Nguyễn Tuân, đoạn tả cuộc chiến đấu ác liệt giữa người lái đò và thác dữ đã hiện lên trước mắt người đọc như một trường đoạn phim sôi động, hấp dẫn và đầy kịch tính.

Thác dữ như thể kẻ tử thù, như thể những con vật hung ác được nhà văn thể hiện sinh động bằng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa phong phú: rống lèn như tiếng ngàn con trâu mộng, rung tít lên như tuyếc bin thủy điện; Như thể quân liều mạng, dòng thác hùm beo đang hồng hộc thế mạnh.

Trong khi đó, người lái đò như thể một viên tướng giả xông vào một trận đồ bát quái với muôn vàn cạm bẫy nham hiểm và quái ác. Đó không chỉ là một con người trí dũng tài nghệ tuyệt vời chinh phục được thác dữ của con sông mà còn là một nghệ sĩ tài hoa tài tử, một người lái đò đã đạt đến trình độ cao cường trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh mà tác giả gọi là “tay lái ra hoa”.

Câu 5

Học sinh có thế chọn và phân tích một số câu văn thể hiện rõ nhất nét tài hoa về bút pháp trong cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân.

Ví dụ đoạn viết về vẻ trữ tình của Sông Đà với những câu văn mềm mại, êm ả trải dài với những hình ảnh của áng tóc ẩn hiện trong mây, cái áng tóc trữ tình (…) ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Hay Sông Đà như một cố nhân trong nỗi niềm du khách. Như cái miếng sáng loé lên trong trò chiếu gương con trẻ, như một bờ tiền sử, như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa. Những cách so sánh đặc sắc, biến hoá, không trùng lặp ấy khiến người đọc phải sửng sốt trước vẻ đẹp trữ tình của một dòng sông và nhất là vẻ đẹp ngôn ngữ của Nguyễn Tuân.

Mai Thu

tuyf but nguwoi lai do soong dda vawn ban

bài văn người lái đò sông đà

người lái dò

người lái đò sông Đà

văn bản nguoi lái dò sông đà

văn bản người lái đò sông đà

đọc nguoi lai do song da

Người Lái Đò Sông Đà ( Trích) Nguyễn Tuân

3 Bài Văn Phân Tích Tác Phẩm Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Tóm Tắt Tác Phẩm Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Người Lái Đò Sông Đà

Một Số Kinh Nghịêm Dạy Văn Bản Nhật Dụng Lớp 7 Và Lớp 9

Giáo Án Ngữ Văn 12 Tiết 47, 48: Người Lái Đò Sông Đà ( Trích) Nguyễn Tuân

Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà Định Hướng Phát Triển Năng Lực 2022

Đọc Hiểu Văn Bản: Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

5 Trang Gõ Captcha Kiếm Tiền Online Uy Tín Nhất 2022

Chuyển Đổi Âm Thanh (Trực Tuyến Miễn Phí) — Convertio

Chuyển Đổi Font (Trực Tuyến Miễn Phí) — Convertio

A. Mục tiêu bài học: Giúp HS:

– Nhận rõ và yêu quý hơn vẻ đẹp của TN đất nước và CN lao động Việt Nam.

– Cảm phục, mến yêu tài năng sáng tạo của Nguyễn Tuân, người nghệ sĩ uyên bác, tài hoa đã dùng văn chương để khám phá và ca ngợi vẻ đẹp của nhân dân và Tổ quốc.

B. Cách thức tiến hành:

C. Phương tiện thực hiện:

– SGK, SGV, thiết kế bài dạy.

D. Tiến trình dạy học:

1. Ổn định tổ chức:

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Bài mới: Lời dẫn của GV: Có một nhà văn từng quan niệm: Văn chương trước hết phải là phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật. Và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo. Nhà văn ấy chính là Nguyễn Tuân. Tiết học hôm nay chúng ta sẽ được tiếp xúc với tác giả này qua tùy bút Người lái đò sông Đà.

Hoạt động của GV:

Hoạt động của HS:

Nội dung cần đạt

*Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

* GV tổ chức cho HS nhớ lại và trình bày những nét cơ bản về tác giả NT (đã được học ở CTNV 11)

* Gọi 1 HS đọc phần TD.

?. Cho biết thể loại và xuất xứ tác phẩm?

?. Người lái đò sông Đà được sáng tác trong hoàn cảnh nào?

?. Thiên tùy bút đã kế thừa những nét riêng biệt, đặc sắc nào trong phong cách nghệ thuật của NT về đề tài, nguồn cảm hứng, thể loại và n/ ngữ?

?. Từ điều vừa mổ xẻ, thử phát biểu cảm hứng chủ đạo của tác phẩm?

* Tái hiện kiến thức và trình bày.

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* Nêu thể loại và xuất xứ.

* Trình bày hoàn cảnh sáng tác.

* Nêu nét đặc sắc trong phong cách.

* Suy nghĩ trả lời.

* Phát biểu cảm hứng chủ đạo.

I/ Tìm hiểu chung:

– Tác giả NT: (Xem lại phần TD bài Chữ người tử tù, SGK Ngữ văn 11, tập I, tr 107).

– Tác phẩm Người lái đò sông Đà:

+ Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960).

+ Thành quả thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi.

+ Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của NT: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm ra những chữ nghĩa xác đáng nhất.

+ Cho thấy diện mạo của một NT mới mẻ, khao khát được hòa nhịp với đất nước và cuộc đời (không giống với NT trước CM, con người chỉ muốn xê dịch cho khuây cảm giác “thiếu quê hương”)

+ Cảm hứng chủ đạo: Nhiệt tình ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi nhân dân của một nhà văn mà trái tim đang tràn đầy niềm hứng khởi khi thấy nay mình đã có đất nước, mình đã không còn “thiếu quê hương”.

*Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc – hiểu văn bản

* Hướng dẫn HS tìm hiểu hình tượng con sông Đà hung bạo:

* Gọi HS đọc các đoạn văn ở trang 186,187.

+ Để diễn tả chính xác và sinh động những gì NT quan sát thấy về sự hung bạo của dòng sông, tác giả đã thêm vào rất nhiều nét tài hoa vốn có nào? Thử nêu vài dẫn chứng minh họa?

?. Nguyễn Tuân còn cho ta thấy, bên cạnh và cả bên trong sự hung bạo ấy, hình ảnh con sông vẫn nổi bật lên như một biểu tượng cho điều gì?

?. Nếu phải cho một lời nhận xét ngắn gọn về khả năng sử dụng ngôn từ của NT, em sẽ nói thế nào?

* GV chuyển ý.

* Hướng dẫn HS tìm hiểu hình tượng con sông Đà trữ tình:

* Gọi 1 HS đọc các đoạn văn ở trang 190, 191.

?. Chứng minh rằng những đoạn văn viết về vẻ trữ tình của sông Đà cũng là kết quả của những công phu tìm tòi khó nhọc của một người nhất quyết không bao giờ chịu bằng lòng với những tri thức hời hợt?

* GV chốt lại.

* Chuyển ý

* Hướng dẫn HS tìm hiểu hình tượng người lái đò trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo:

* Gọi HS đọc đoạn miêu tả 1 quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà.

Gợi ý:

+ Thoạt nhìn, em có nhận xét gì về tính chất của cuộc chiến?

+ Kết quả ra sao?

+ Nguyễn Tuân cho thấy nguyên nhân làm nên chiến thắng của con người có hề bí ẩn không? Đó chính là điều gì?

?. Hãy cắt nghĩa vì sao, trong con mắt của NT, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta?

? Thử phát hiện nét độc đáo trong cách khắc hoạ nhân vật ông lái đò?

* Hướng dẫn HS vận dụng phép so sánh Người lái đò sông Đà với tp Chữ người tử tù viết trước CM ở phương diện khắc họa con người.

? Có thể xem NLĐSĐ như một khúc hùng ca, ca ngợi điều gì?

* 1-2 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* Phát biểu cảm nhận

* Nêu nhận xét.

* Lắng nghe.

* Lắng nghe.

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

+ Vào mùa xuân: nước sông Đà có sắc xanh – xanh ngọc bích.

+ Mỗi độ thu về: lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa.

* Lắng nghe.

* Lắng nghe.

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* Phát biểu cảm nhận.

* Nêu kết quả.

* Nêu nguyên nhân

* Cắt nghĩa theo cách cảm nhận của bản thân.

* Lắng nghe và ghi vở.

* Phát hiện và trả lời.

II/ Đọc – hiểu văn bản:

1. Hình tượng con sông Đà hung bạo:

– Quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ:

+ Trong phạm vi 1 lòng sông hẹp, như chiếc yết hầu bị đá bờ sông chẹt cứng.

+ Trong khung cảnh mênh mông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa.

+ Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu.

+ Những trùng vi thạch trận sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái.

+ Âm thanh luôn thay đổi: oán trách nỉ non à khiêu khích, chế nhạo à rống lên.

– Mượn ở các ngành, các bộ môn trong và ngoài nghệ thuật để làm nên hàng loạt so sánh liên tưởng, tưởng tượng kì lạ, bất ngờ.

+ Hình dung một cảnh tượng rất đỗi hoang sơ bằng cách liên tưởng đến hình ảnh của chốn thị thành, có hè phố, có khung cửa sổ trên “cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.

+ Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát:

nước thở và kêu như cửa cống cái

bị sặc.

ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.

+ Lấy hình ảnh “ô tô sang số nhấn ga” trên “quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực” để ví von với cách chèo thuyền

+ Tưởng tượng về cú lia ngược của chiếc máy quay từ đáy cái hút nướcà cảm thấy có một cái thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày.

+ Dùng lửa để tả nước.

Biểu tượng về sức mạnh dữ dội và

vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước.

Bậc kì tài trong lĩnh vực sử dụng

ngôn từ (sự phá cách mà ngoại trừ các tay bút thực sự tài hoa, không ai làm nổi)

2. Hình tượng con sông Đà trữ tình:

– Viết những câu văn mang dáng dấp mềm mại, yên ả, trải dài như chính dòng nước: con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình,…

– Dụng công tạo ra một không khí mơ màng, khiến người đọc có cảm giác như được lạc vào một thế giới kì ảo.

+ Con sông giống như một cố nhân lâu ngày gặp lại.

+ Nắng cũng “giòn tan” và cứ hoe hoe vàng mãi cái sắc Đường thi “yên hoa tam nguyệt”

+ Mũi thuyền lặng lẽ trôi trên dòng nước lững lờ như thương như nhớ.

+ Con hươu thơ ngộ trên áng cỏ sương như biết cất lên câu hỏi không lời.

+ Bờ sông hoang dại và hồn nhiên như một bờ tiền sử, phảng phất nỗi niềm cổ tích.

Sự tài hoa đã đem lại cho áng văn

những trang tuyệt bút.

Tạo dựng nên cả một không gian

trữ tình đủ sức khiến người đọc say đắm, ngất ngây.

3. Hình tượng người lái đò trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo:

– Tính chất cuộc chiến: không cân sức

+ Sông Đà: sóng nước hò reo quyết vật ngửa mình thuyền; thạch trận với đủ 3 lớp trùng vi vây bủa, được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và nham hiểm à dữ dội, hiểm độc với sức mạnh được nâng lên hàng thần thánh.

+ Con người: nhỏ bé, không hề có phép màu, vũ khí trong tay chỉ là chiếc cán chèo trên một con đò đơn độc hết chỗ lùi.

– Kết quả: Thác dữ đã không chặn bắt được con thuyền; con người chiến thắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên.

+ Con người cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hết lớp này đến lớp kia của trùng vi thạch trận; đè sấn được sóng gió, nắm chặt cái bờm sóng mà thuần phục sự hung hãn của dòng sông.

+ Những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉu, thất vọng qua bộ mặt xanh lè.

– Nguyên nhân làm nên chiến thắng: sự ngoan cường, dũng cảm, tài trí, chí quyết tâm và nhất là kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh.

* Nhận xét:

+ Thiên nhiên: vàng; con người lao động: vàng mười à trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả, con người đẹp hơn tất cả và quý giá hơn tất cả.

+ Con người được ví với khối vàng mười quý giá lại chỉ là những ông lái, nhà đò nghèo khổ, làm lụng âm thầm, giản dị, vô danh.

+ Những con người vô danh đó đã nhờ lao động, nhờ cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên mà trở nên lớn lao, kì vĩ, hiện lên như đại diện của Con Người.

Nét độc đáo trong cách khắc hoạ:

Tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ.

Tạo tình huống đầy thử thách để

nhân vật bộc lộ phẩm chất.

Sử dụng ngôn ngữ miêu tả đầy cá

tính, giàu chất tạo hình.

Khúc hùng ca ca ngợi con người,

ca ngợi ý chí của con người, ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi trước sức mạnh tựa thánh thần của dòng sông hung dữ. Đó chính là những yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc và của những người lao động nói chung.

*Hoạt động 3: Hướng dẫn HS tổng kết bài học

?. Người lái đò sông Đà ngợi ca điều gì?

?. Qua tác phẩm, em có thể rút ra được điều gì về tác giả Nguyễn Tuân?

*Hoạt động 4: Hướng dẫn HS

luyện tập

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

* Lắng nghe GV hướng dẫn; luyện tập

III/ Tổng kết:

– Tác phẩm: Ngợi ca vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng, vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc

– Tác giả Nguyễn Tuân:

+ Tình yêu đất nước say đắm, thiết tha.

+ Lao động nghệ thuật nghiêm túc, cần cù, công phu.

+ Tài hoa, uyên bác trong việc dùng chữ nghĩa.

IV/ Luyện tập:

– Làm câu 5 phần Hướng dẫn học bài ở lớp

– Làm bài tập 1,2 phần Luyện tập ở nhà

4. Củng cố – Dặn dò: Soạn bài “Chữa lỗi lập luân trong văn nghị luận”

5. Rút kinh nghiệm – Bổ sung

Giáo Án Ngữ Văn 12: Người Lái Đò Sông Đà

5 Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Soạn Người Lái Đò Sông Đà Hay Và Dễ Hiểu Nhất

Hướng Dẫn Học Sinh Cách Làm Văn Lớp 8 Hay Để Đạt Điểm Cao

Nghị Luận Về Đức Tính Trung Thực

Người Lái Đò Sông Đà

Tóm Tắt Tác Phẩm Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

3 Bài Văn Phân Tích Tác Phẩm Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân

Người Lái Đò Sông Đà ( Trích) Nguyễn Tuân

Người Lái Đò Sông Đà (Trích)

Soạn Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Hãy đăng ký kênh Youtube HOC247 TV để theo dõi Video mới

2.1. Tìm hiểu chung

a. Tác giả Nguyễn Tuân

Sinh ngày: 10-07-1910.

Quê quán: Hà Nội.

Là con của một gia đình công chức.

Thời niên thiếu ông được đi nhiều nơi, tham gia chống người Pháp, từng làm thư kí nhà máy đèn.

Năm 1930, ông bắt đầu viết văn làm báo. Năm 1937, ông chuyên tâm viết văn.

Những tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời, Những chuyến đi,…

b. Tác phẩm Người lái đò sông Đà

Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tùy bút sông Đà (1960).

Tác phẩm là thành quả của nhà văn trong chuyến ông đi tới Tây Bắc tìm kiếm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây bắc đặc biệt là chất vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn con người lao động chiến đấu trên miền sông núi Tây Bắc hùng vĩ và thơ mộng.

Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn sau cách mạng tháng Tám.

2.2. Đọc – hiểu văn bản

a. Vị trí đoạn trích

Phần giữa của tác phẩm Người lái đò Sông Đà.

Tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám 1945.

b. Bố cục đoạn trích: chia làm hai phần

Phần một: khắc nổi tính cách “hung bạo” của con sông Đà và ngợi ca phẩm chất trí dũng, tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò.

Phẩn hai: miêu tả vẻ đẹp trữ tình của sông Đà, qua đó thể hiện lòng yêu thiên nhiên đất nước của nhà văn.

c. Hình tượng “nhân vật” sông Đà

Khái quát hình tượng sông Đà

Nhân vật sông Đà = tâm hồn nhà văn + sông Đà

Sông Đà mang hai tính cách hung bạo và trữ tình.

Hình tượng con sông Đà hùng vĩ và hung bạo

Con sông Đà hùng vĩ đến dữ dội

“Cảnh bờ sông dựng vách thành” chẹt lấy dòng sông hẹp.

Con sông dữ dội, đá bờ sông “dựng vách thành” và “lúc đúng ngọ mới có mặt trời” diễn tả được độ cao và cái lạnh lẽo, âm u của những khúc sông có đá dựng thành vách.

Cái xoáy nước: nhà văn dùng một thứ văn “cheo leo” “trên cái mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạt đàn”.

Con sông Đà hung bạo

Con sông Đà như một loài thuỷ quái khổng lồ khôn ngoan, nham hiểm, hung ác, sẵn sàng chặn đánh, tiêu diệt con người: Đầy mưu mô: khi ẩn nấp mai phục, đánh du kích, khi quay vòng trở lại, khi xông vào đánh tới tấp,…

Nhà văn quan sát thật tinh xác và phát huy sức mạnh điêu khắc của ngôn từ nghệ thuật mà truyền sự sống cho những hòn đá vô hồn trên sông.

Bằng so sánh và nhân hóa con sông càng ghê gớm và độc ác với “cái hút nước” lúc thở, lúc kêu, lúc sặc, ặc ặc lên.

Đá sông Đà như tên lính thủy hung tợn, trông ngỗ ngáo, nhăn nhúm…với những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, sẵn sàng giao chiến.

Tiếng sóng thác là tiếng thét của thiên nhiên bừng bừng phấn khích mạnh mẽ và man dại “nó rống lên … da cháy bùng bùng”.

Sông Đà “thành ra diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một” sẵn sàng cướp đi mạng sống con người, có tâm địa ác độc như dì ghẻ.

Nguyễn Tuân đã nhân cách hóa con sông, như một sinh thể dữ dằn, gào thét với các âm thanh ghê sợ: oán trách, van xin, khiêu khích, chế nhạo, rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn…

Tính cách trữ tình của nhân vật sông Đà

Liên tưởng bất ngờ kì thú. Dòng sông như mái tóc của người đàn bà kiều diễm.

Con sông được nhìn qua mây mùa xuân, nắng mùa thu để rồi cảm nhận sắc nước thai đổi theo mùa: xuân xanh ngọc bích, thu thì lừ lừ chín đỏ…

Hình ảnh dịu dàng trong sáng, gợi cảm đầy chất thơ.

d. Hình tượng người lái đò sông Đà

Người lái đò trí dũng – người anh hùng

Đây là cuộc chiến không cân sức: Sông Đà dữ dội và hiểm độc: trùng trùng lớp lớp dàn trận bủa vây; hợp sức nhiều thế lực: sóng, nước, đá, gió,…

Con người: bé nhỏ, vũ khí chỉ là chiếc cán chèo trên con đò đơn độc.

Kết quả trận chiến: con người chiến thắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên. Con người cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hết lớp này đến lớp kia của trùng vi thạch trận; đè sấn được sóng gió, nắm chặt cái bờm sóng mà thuần phục sự hung hãn của dòng sông.

Những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉu, thất vọng qua bộ mặt xanh lè.

Ngòi bút Nguyễn Tuân như một máy quay phim ghi lại những trường đoạn hồi hộp, gay cấn, căng thẳng của cuộc chiến giữa con người và thiên nhiên này.

Người lái đò – con người tài hoa nghệ sĩ

Xử lí tình huống nguy hiểm một cách tài hoa chính xác, thông minh, táo bạo và tài tử đến kì diệu. Ông lái đò “cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ”.

Ông nhớ mặt bọn đá tướng, quân đá nên táo bạo “rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến lên”.

Ông rất tài tình và rất nghệ thuật khi lèo lái con thuyền.

Sau khi vượt thác ông lai ung dung “đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, bàn tán về cá anh vũ”. Chẳng ai thèm bàn thêm một lời nào về cuộc chiến đấu.

e. Nghệ thuật

Lối ví von độc đáo, bất ngờ, chính xác.

Chi tiết chân thực và hóm hỉnh.

Cách viết phóng túng, ngôn ngữ điêu luyện.

Sự hiểu biết khoa học cặn kẽ, sức tưởng tượng phong phú, cảm xúc sâu lắng. Đặc biệt là lòng yêu thương và tự hào về con người và đất nước.

Bài tập minh họa

Phân tích hình tượng ông lái đò trong đoạn trích Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Gợi ý làm bài:

a. Mở bài

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và hình tượng ông lái đò.

b. Thân bài

Ông lái đò – một nghệ sĩ tài hoa

Ông lái đò có tính cách phóng khoáng, thích đối mặt với thử thách, mạo hiểm, gian nguy.

Ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá như một nghệ sĩ điêu luyện, cao cường.

Cuộc băng ghềnh, vượt thác ngoạn mục đã khẳng định vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một “tay lái ra hoa”: Vòng vây thứ nhất, sông Đà bày ra nhiều cạm bẫy. Ông lái đò bị sóng thác đánh miếng đòn độc hiểm. Nhưng bằng tinh thần dũng cảm, ông đã tỉnh táo chỉ huy sáu mái chèo, chiến thắng trùng vi thạch trận đầy nguy hiểm.

Vòng vây thứ hai, sông Đà đã thay đổi chiến thuật. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, xác định đúng cửa sinh và chiến thắng thằng đá tướng đứng chiến ở cửa giữa.

Vòng vây thứ ba, sông Đà tiếp tục thay đổi chiến thuật, bên phải bên trái đều là cửa tử. Ông lái đò phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hoi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được.Thế là hết thác.

Ông cũng là một người lao động bình thường

Ông lái đò sinh ra bên bờ sông Đà và gắn bó với nghề sông nước như bao người lái đò khác nơi thượng nguồn sông Đà khuất nẻo.

Đời sống tâm hồn giản dị: không nói nhiều về chiến công; dù đi đâu cũng luôn nhớ về nương ruộng, bản mường.

Nghệ thuật thể hiện

Ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, hài hoa, kết hợp kể với tả nhuần nhuyễn và đặc sắc, nghệ thuật khắc họa nhân vật độc đáo, sáng tạo.

Bút pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, liên tưởng độc đáo, thú vị; vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật góp phần miêu tả cuộc chiến hào hùng và khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật.

c. Kết bài

Qua cảm nhận hình tượng ông lái đò, có thể thấy, ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa trên sông nước, đồng thời, cũng là một người lao động giản dị bình thường. Vẻ đẹp của ông lái đò tiêu biểu cho vẻ đẹp của người dân lao động vùng Tây Bắc tổ quốc.

Phân tích hình ảnh sông Đà, con sông Tây Bắc hung bạo mà trữ tình.

Gợi ý làm bài:

a. Mở bài

Giới thiệu khái quát vài nét về tác giả, tác phẩm và hình tượng con sông Đà.

b. Thân bài

Sông đà “hung bạo”

Cái hung bạo của sông Đà không chỉ ở những con thác, mà còn ở quang cảnh hùng vĩ với vẻ huyền bí, hoang sơ của dòng sông chảy giữa điệp trùng rừng núi Tây Bắc. Cảnh đá bờ sông dựng vách thành, chỉ khi nào đến giữa trưa, mặt trời rọi đúng đỉnh đầu, chỗ ấy mới có ánh nắng.

Có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hấu.

Ấn tượng về độ cao và thẳng của vách đá bờ sông và dòng chảy nhỏ hẹp càng được tô đậm thêm qua một chi tiết tiêu biểu và lối liên tưởng bất ngờ, thiên nhiên hoang sơ gần với đời sống hiện đại của con người: Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hề một cái ngõ mà… ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào từ cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

Vách thành dựng đứng gợi lên sự hiểm trở, hùng vĩ, lòng sông hẹp lại gián tiếp gợi được sức chảy ghê gớm, dữ dằn của thác lũ.

Tính chất hung bạo còn thể hiện qua cái dữ dằn của ghềnh sông với sự hợp sức của gió, của sóng và của đá.

Hung bạo hơn nữa là những cái hút nước khủng khiếp: trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bêtông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu

Sông Đà còn hung bạo ở những thác nước. Nhiều thác nước như bày sẵn thế trận, sẵn sàng chặn đánh, tiêu diệt người lái đò, lái mảng, đặc biệt đối với những ai xuôi dòng, ở những nơi này, sông Đà được mô tả như có cả một bầy thủy quái vừa hung hăng, bạo ngược, vừa nham hiểm, xảo quyệt. .

Sông Đà “trữ tình”

Để khắc họa tính trữ tình, dịu dàng của dòng sông, trước hết, Nguyễn Tuân miêu tả sông Đà một cách bao quát bằng một câu văn đầy hình ảnh và nhịp điệu: Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, dầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.

Có thể coi đây là một bức tranh tổng thể về sông Đà, lúc đầu chảy ngoằn ngoèo giữa điệp trùng núi đá và dại ngàn Tây Bắc; nhưng khi về dần đến miền trung du, Đà giang chảy êm ả thẳng dòng.

Tác giả ngắm nhìn sông Đà ở nhiều thời gian, nhiều không gian khác nhau. Với tình cảm trìu mến thiết tha, nhà văn đã phát hiện được một cách tinh tế màu sắc của dòng sông biến đổi theo từng mùa. Xuân về, Đà giang xanhngọc bích, tức là màu xanh rất đẹp: vừa trong xanh lại vừa óng ánh, chứ không xanh như màu xanh canh hến.

Khi thu sang, nước sông Đà chuyển thành màu lừ lừ chín đỏ…

Tác giả dành những đoạn văn hay nhất tả cảnh vật ven sông Dà. Để tôn thêm tính trữ tình của dòng sông, nhà văn sử dụng nhiều hình ảnh trong sáng gợi cảm và đầy chất thơ.

c. Kết bài

Khái quát lại tính chất hung bạo, trữ tình của sông Đà.

4. Soạn bài Người lái đò sông Đà

Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân kể về người lái đò, một người nghệ sĩ tài hoa trên sông nước nhưng đồng thời cũng là một người lao động giản dị bình thường. Để cảm nhận được sự hấp dẫn cũng như nắm được nội dung của tác phẩm, các em có thể tham khảo bài soạn Người lái đò sông Đà.

5. Một số bài văn mẫu về Người lái đò sông Đà

[vanmau]

— Mod Ngữ văn 12 HỌC247

Một Số Kinh Nghịêm Dạy Văn Bản Nhật Dụng Lớp 7 Và Lớp 9

Bài Giảng Môn Học Ngữ Văn Lớp 7

Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Nghị Luận

Đặc Điểm Của Văn Bản Nghị Luận

Khái Niệm Về Văn Nghị Luận

Giáo Án Môn Ngữ Văn 12 Tiết 46, 47: Đọc Văn Người Lái Đò Sông Đà ( Trích)

Giáo Án Người Lái Đò Sông Đà

Giáo Án Bài Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Đọc Hiểu “người Lái Đò Sông Đà”

Luyện Tập Đọc Hiểu Người Lái Đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

–Nguyễn Tuân

I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:

– Nhận rõ và yêu quý hơn vẻ đẹp của TN đất nước và CN lao động Việt Nam.

– Cảm phục, mến yêu tài năng sáng tạo của Nguyễn Tuân, người nghệ sĩ uyên bác, tài hoa đã dùng văn chương để khám phá và ca ngợi vẻ đẹp của nhân dân và Tổ quốc.

II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:

– SGK, SGV, thiết kế bài dạy.

2.HS: – SGK , SBT , đọc và soạn bài trước khi đến lớp. Chuẩn bị tư liệu về NT và sông Đà .

GIÁO ÁN GIẢNG DẠY Tiết 46- 47 Soạn ngày : 2.12.10 Tuần lễ thứ: 16. Lớp: 12. Môn: Đọc văn. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ ( Trích) --Nguyễn Tuân I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: 1.Kiến thức : Giúp HS: - Nhận rõ và yêu quý hơn vẻ đẹp của TN đất nước và CN lao động Việt Nam. - Cảm phục, mến yêu tài năng sáng tạo của Nguyễn Tuân, người nghệ sĩ uyên bác, tài hoa đã dùng văn chương để khám phá và ca ngợi vẻ đẹp của nhân dân và Tổ quốc. 2. Kĩ năng 3. Tư tưởng : II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH: 1.GV: - SGK, SGV, thiết kế bài dạy. 2.HS: - SGK , SBT , đọc và soạn bài trước khi đến lớp. Chuẩn bị tư liệu về NT và sông Đà . III.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 1. Ổn định tổ chức( 1 phút) 2. GV giới thiệu bài mới ( thuyết giảng) Lời vào bài: Có một nhà văn từng quan niệm: "Văn chương trước hết phải là phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật. Và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo." Nhà văn ấy chính là Nguyễn Tuân. Tiết học hôm nay chúng ta sẽ được tiếp xúc với tác giả này qua tùy bút Người lái đò sông Đà. 3.Tổ chức dạy học Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt Hoạt động 1 : Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm. Mục tiêu Hiểu biết những cơ bản về tác giả - tác phẩm Hiểu văn phong và ý nghĩa tác phẩm - đề tài và phong cách tác phẩm Tổ chức dạy học - Thao tác 1: Tìm hiểu chung về tác giả. + GV: Cho HS nhớ lại và trình bày những nét cơ bản về tác giả NT (đã được học ở CTNV 11) + HS: Tái hiện kiến thức và trình bày * Kết quả : - GV định hướng chung - HS ghi nhớ - Thao tác 2: Tìm hiểu chung về tác phẩm. + GV: Gọi 1 HS đọc phần Tiểu dẫn. Cho biết thể loại và xuất xứ tác phẩm? + HS đọc, cả lớp theo dõi + HS: Nêu thể loại và xuất xứ * Kết quả : - GV chốt ý chính - HS ghi nhận + GV: Trình bày hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm? + HS phát biểu *Kết luận : - GV định hướng chung + GV: Đề tài của tác phẩm là gì? + HS: Nêu đề tài của tác phẩm. * GV nhận xét và chốt ý + GV hỏi HS : Nguyễn Tuân sáng tác tác phẩm với cảm hứng như thế nào? Thiên tùy bút đã kế thừa những nét riêng biệt, đặc sắc nào trong phong cách nghệ thuật của ? + HS trả lời - Nêu cảm hứng sáng tác. Nêu nét đặc sắc trong phong cách * Gv định hướng - HS ghi nhận I. Tìm hiểu chung: 1. Tác giả: Xem lại phần Tiểu dẫn bài Chữ người tử tù, SGK Ngữ văn 11, tập I, tr 107. 2. Tác phẩm Người lái đò sông Đà: - Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960). - Hoàn cảnh sáng tác: trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi. - Đề tài: Chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và thứ "vàng mười" ở tâm hồn của những con người lao động. - Cảm hứng chủ đạo: khao khát được hòa nhịp với đất nước và cuộc đời (không giống với NT trước CM, con người chỉ muốn xê dịch cho khuây cảm giác "thiếu quê hương") - Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của NT: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm ra những chữ nghĩa xác đáng nhất. Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc - hiểu văn bản Mục tiêu Đọc và phân tích giá trị nội dung & nghệ thuật tác phẩm Hiểu được hình tượng con sông Đà có tính cách : hung bạo dữ, dằn và thơ mộng trữ tình Hiểu được chân dung người lái đò sông Đà có phẩm chất trí dũng và tài hoa trong nghệ thuật leo ghềnh vượt thác Hiểu được tài nghệ của NT Tổ chức dạy học : Bước 1: Đọc văn bản - GV hướng dẫn HS đọc và cùng HS đọc văn bản - giải thích từ khó Bước 2: Tìm hiểu văn bản - Thao tác 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu hình tượng con sông Đà hung bạo: + GV: Gọi HS đọc 2 đoạn văn : 1. "Cuộc sống của người lái đò ... hết thác" à Giọng nhanh mạnh, thể hiện không khí dữ dội của trận đánh giữa người lái đò và con sông Đà hung bạo. 2. "Tôi có bay ... dòng trên" à Giọng chậm rãi, nhẹ nhàng, làm toát lên vẻ dịu dàng, trữ tình của dòng sông. + GV: Có những hình tượng nào hiện lên trong 2 đoạn văn vừa đọc? Cảm nhận của em về những hình tượng đó? + HS: Con sông Đà hung bạo và trữ tình và người lái đò dũng cảm, tài trí. - GV: Gợi ý. + GV: Để diễn tả chính xác và sinh động những gì NT quan sát thấy về sự hung bạo của dòng sông, tác giả đã thêm vào rất nhiều nét tài hoa vốn có nào? Thử nêu vài dẫn chứng minh họa? @ GV lần lượt giảng và gợi mở cho HS + GV: Nguyễn Tuân đã miêu tả lòng sông nhỏ hẹp như thế nào? - HS xem sgk và lắng nghe ghi nhận bài + GV: Cảnh mênh mông của dòng sông hiện lên như thế nào? + HS cùng GV khám phá nhận xét chung + GV: Cái hút nước của lòng sông Đà được miêu tả như thế nào? + GV: Mặt nước sông được miêu tả ra sao? + HS phát biểu * GV giảng và bình + GV: Âm thanh của sóng thác được miêu tả như thế nào? + HS trả lời *Kết quả : - GV giảng - bình + GV: Những hòn đá trên sông được miêu tả ra sao? Chúng tạo nên điều gì? + GV: Những vòng bao vây của con sông được miêu tả như thế nào? + HS nêu cách hiểu * Kết quả : - GV Gợi dẫn vấn đề - giải thích - HS ghi nhận + GV: Nguyễn Tuân đã giúp cho người đọc hình dung cảnh trên sông với cảnh ở nơi nào? + GV: Tác giả đã miêu tả cái hút nước của dòng sông như thế nào? + GV: Cách chèo thuyền vượt qua những chỗ nguy hiểm của con sông được liên tưởng với hình ảnh gì? + GV: Tác giả còn vận dụng kiến thức về bộ môn nào khi tả cái hút nước của con sông? + GV: Nguyễn Tuân đã dùng lửa để tả cái dữ tợn của nước sông như thế nào? + GV: Nguyễn Tuân còn cho ta thấy, bên cạnh và cả bên trong sự hung bạo ấy, hình ảnh con sông vẫn nổi bật lên như một biểu tượng cho điều gì? + GV: Nếu phải cho một lời nhận xét ngắn gọn về khả năng sử dụng ngôn từ của NT, em sẽ nói thế nào? * Kết luận : - GV định hướng chung và giảng , bình thêm - HS ghi nhận Thao tác 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hình tượng con sông Đà trữ tình. + GV: Cách viết của nhà văn đã thay đổi thế nào khi chuyển sang biểu hiện sông Đà như một dòng chảy trữ tình? Dẫn chứng minh hoạ? (Câu 3, SGK) + HS: Tìm dẫn chứng và phát biểu. * Kết quả : - GV chốt lại. - HS ghi nhận 1.Màu nước trêm sông qua miêu tả của tác giả hiện lên như thế nào? 2.Con sông đối với tác giả có mối quan hệ như thế nào? 3.Ánh nắng trên sông được miêu tả thơ mộng như thế nào? 4. Cảnh bên bờ sông có không khí kì ảo như thế nào? 5. Cái im lặng đã được miêu tả đến mức độ như thế nào? 6.Hình ảnh đàn hươu ven sông được miêu tả thơ mộng và kì ảo như thế nào? 7 .Đàn cá dầm xanh đẹp như thế nào? 8. Con thuyền trôi lững lờ trên sông như có tâm trạng gì? * Kết quả : - GV Chốt lại và giảng - bình - HS lắng nghe - nhập tâm và ghi nhận - Thao tác 3: Hướng dẫn HS tìm hiểu hình tượng người lái đò trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo: 1.Thoạt nhìn, em có nhận xét gì về tính chất của cuộc chiến? 2.Đá trên sông đe doạ con người như thế nào? 3.Sóng nước và thác nước đã tấn công con thuyền như thế nào? 4.Con sông đã tạo nên bao nhiêu vòng vây để đe doạ con người, vòng vây của đá được bố trí như thế nào? 5.Nhận xét về thiên nhiên? 6.Thiên nhiên thì như vậy. Để chống chọi lại thì con người được trang bị những võ khí như thế nào? 7.Kết quả của trận thuỷ chiến ra sao? 8.Con người đã có những động tác thuần thục như thế nào để thu phục sự hung hãn của con sông? 9.Nguyễn Tuân cho thấy nguyên nhân làm nên chiến thắng của con người có hề bí ẩn không? Đó chính là điều gì? 10. Tác giả đã có cách nhìn như thế nào về con người? 11.Những con người quý giá ấy có xuất thân như thế nào? 12. Con người ấy nhờ lao động và đấu tranh chinh phục thiệ nhiên đã trở nên như thế nào? 13. Nét độc đáo trong cách khắc hoạ nhân vật ông lái đò? Kết luận : GV chốt ý chính và giảng - bình HS ghi nhận bài II. Đọc - hiểu văn bản: @ ĐỌC VĂN BẢN 1. Hình tượng con sông Đà hung bạo: - Quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ: + Có lúc miêu tả trong phạm vi một lòng sông hẹp, như chiếc yết hầu bị đá bờ sông chẹt cứng: "Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu" + Khi thì hiện ra trong khung cảnh mênh mông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa: "dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gió gùn ghè suốt năm" + Lúc lại là những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu: "Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông" + Khi thì là mặt thác với dòng nước như hùm beo lồng lộn: "Còn xa lắm mới đến cái thác nước. Nhưng đã thấy tiếng nươc réo gần mãi lại réo to mãi lên ... Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn" + Âm thanh của sóng thác luôn thay đổi: mới oán trách nỉ non đã chuyển sang khiêu khích, chế nhạo, rồi đột ngột rống lên. + Khi thì là những hòn đá sông lập lờ cạm bẫy: "Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả một chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm đã mai phục hết trong lòng sông" + Những trùng vi thạch trận sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái: ""Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền" - Mượn ở các ngành, các bộ môn trong và ngoài nghệ thuật để làm nên hàng loạt so sánh liên tưởng, tưởng tượng kì lạ, bất ngờ: + Hình dung một cảnh tượng hoang sơ bằng cách liên tưởng đến hình ảnh của chốn thị thành, có hè phố, có khung cửa sổ trên "cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện". + Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát: o "nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc". o "ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào". + Lấy hình ảnh "ô tô sang số nhấn ga" trên "quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực" để ví von với cách chèo thuyền + Tưởng tượng về cú lia ngược của chiếc máy quay từ đáy cái hút nước sông Đà, cảm thấy có "một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan". + Dùng lửa để tả nước: "Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu tre nứa nổ lửa, đang phá truông rừng lửa" Đó cũng là sự phá cách, minh chứng cho kì tài của Nguyễn Tuân trong lĩnh vực sử dụng ngôn từ . 2. Hình tượng con sông Đà trữ tình: - Viết những câu văn mang dáng dấp mềm mại, yên ả, trải dài như chính dòng nước: "Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình,, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hao ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân." - Dụng công tạo ra một không khí mơ màng, khiến người đọc có cảm giác như được lạc vào một thế giới kì ảo. + Quan sát nhiều lần để nhận thấy màu nước sông Đà biến đổi theo mùa: "Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa" + Con sông giống như "một cố nhân" lâu ngày gặp lại. + Nắng cũng "giòn tan" và cứ hoe hoe vàng mãi cái sắc Đường thi "yên hoa tam nguyệt" "Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng" + Bờ sông "hoang dại" và "hồn nhiên" như "một bờ tiền sử", phảng phất "nỗi niềm cổ tích". + Sự im lặng thì tịch mịch đến nỗi con người thèm được giật mình: "Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp - lê của một chuyến xe lửa đầu tiên" + "Con hươu thơ ngộ" trên áng cỏ sương như biết cất lên câu hỏi không lời: "Hươu vểnh tai nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: "Hỡi ông khách sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?" + Đàn cá dầm xanh: "quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi" + Con thuyền: lặng lẽ trôi trên dòng nước lững lờ như thương như nhớ như "một người tình nhân chưa quen biết". 3. Hình tượng người lái đò trong cuộc chiến đấu với con sông Đà: - Tính chất cuộc chiến: không cân sức + Sông Đà: o Đá trên sông như bầy thuỷ quái dàn trận đợi sẵn: "Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông" o Khi thuyền đến nơi: "Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi vật ngửa mình ra" à sóng nước hò reo quyết vật ngửa mình thuyền, sóng thác tung ra những miếng đòn hiểm quyết bóp chết người lái đò. + Thạch trận với đủ 3 lớp trùng vi vây bủa, được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và nham hiểm: "Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền" à Thiên nhiên lớn lao, dữ dội và hiểm độc với sức mạnh được nâng lên hàng thần thánh. + Con người: nhỏ bé, không có phép màu, vũ khí trong tay chỉ là chiếc cán chèo trên "một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận điạ sẵn" - Kết quả: Thác dữ đã không chặn bắt được con thuyền; con người chiến thắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên: + Đè sấn được sóng gió, nắm chặt cái bờm sóng mà thuần phục sự hung hãn của dòng sông: "Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh về cửa sinh" + Con người cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hết lớp này đến lớp kia của trùng vi thạch trận: "Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh cửa mở cánh khép." + Những thằng đá tướng: "đã tiu nghỉu qua bộ mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng cửa sinh mà nó trấn lấy". - Nguyên nhân làm nên chiến thắng: + Sự ngoan cường, dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua thử thách của cuộc sống + Tài trí, sự hiểu biết và nhất là kinh nghiệm nhiều năm gắn bó với nghề sông nước, lên thác xuống ghềnh. - Cảm hứng của tác giả: + Thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng, còn con người lao động Tây Bắc là vàng mười của đất nước à trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả, con người đẹp hơn tất cả và quý giá hơn tất cả. + Con người quý giá ấy lại chỉ là những ông lái, nhà đò nghèo khổ, làm lụng âm thầm, giản dị, vô danh. + Những con người vô danh đó đã nhờ lao động, nhờ đấu tranh chinh phục thiên nhiên mà trở nên lớn lao, kì vĩ, hiện lên như đại diện của con người. Hoạt động 3: Hướng dẫn HS tổng kết bài học Mục tiêu Khắc sâu kiến thức bài Hiểu về giá trị nghệ thuật và nội dung văn bản Cảm thụ được giá trị sâu sắc từ hình tượng dòng sông Đà ở nước ta và hình ảnh người lao động Tây bắc Hiểu được sự hùng vĩ của thiên nhiên và ý thức chinh ohục thiên nhiên của con người Tổ chức thực hiện + GV: Người lái đò sông Đà ngợi ca điều gì? - HS suy nghĩ và trả lời * kết quả : - GV chốt ý chính - HS ghi nhận - Thao tác 2: Hướmg dẫm học sinh nhận xét về nghệ thuật tác phẩm. + GV: Qua tác phẩm, em có thể rút ra được điều gì về tác giả Nguyễn Tuân? HS phát biểu * Kết luận : GV định hướng HS đọc ghi nhớ - SGK III. Tổng kết: 1. Nội dung Tác phẩm ngợi ca vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng, vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc 2. Nghệ thuật: Công phu lao động nghệ thuật khó nhọc, cùng sự tài hoa uyên bác của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân trong việc dùng chữ nghĩa để tái tạo những kì công của tạo hoá và những kì tích lao động của con người. 4. Củng cố :1p - HS cần nắm vững : - Hình tượng con sông Đà hùng vĩ được miêu tả như thế nào qua bút pháp tài hoa của tác giả? Hình tượng con sông Đà trữ tình được thể hiện qua những câu văn như thế nào? - Đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm? 5. Dặn dò :1p - Hoàn thiện 2 bài tập Luyện tập. - Soạn bài "Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận" &&&&&&&&&&&&&&&&

Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 12

Hướng Dẫn Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “người Lái Đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân)

Nội Dung Bài Người Lái Đò Sông Đà

Kiến Thức Cơ Bản Bài Người Lái Đò Sông Đà

Bài Giảng Bài Người Lái Đò Sông Đà