Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường

Ba Giờ Với Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường

Gs.ts Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường

Thủ Tục Di Trú Cho Nạn Nhân Cuả Sự Bạo Hành ( Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

Lý Do Truc Xuất Người Đang Xin Nhập Cảnh Hoa Kỳ (Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

4 Diện Bị Cấm Nhập Cảnh Mỹ Từ 24 Tháng 6 Năm 2022 (Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

Nức tiếng tranh khôi đoạt giáp với 2 bằng Tiến sĩ Quốc gia ở tuổi 22 (1932), Giáo sư – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909 -1997) là hình ảnh mẫu mực của người trí thức Việt Nam về lòng tự trọng và bảo toàn danh dự.

Danh dự của người trí thức

Trở lại thủ đô ánh sáng với kinh đô Ba-lê (Paris) một thuở, báo chí Pháp vẫn không ngớt lời tụng ca Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là “thiên tài sinh nhầm thế kỷ”. Khi đó, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã 80 tuổi (1989). Được gặp gỡ nhiều bạn trẻ, thấy ai cũng thao thức về quê hương, đất nước, ông vui mừng và an tâm.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường.

Một số học trò bên Pháp thấy ông đến già vẫn sống đạm bạc, đã ngỏ lời mời thầy ở lại nhưng ông từ chối: “Tôi là người trí thức Việt Nam, tôi có lòng tự trọng của mình. Tôi không thể vì miếng cơm, manh áo mà bỏ đất nước nghèo mà ra đi”.

Lòng tự trọng của người trí thức

Năm 1989 nhân dịp thọ 80 tuổi, cụ Nguyễn Mạnh Tường sang Paris theo lời mời của bạn bè Việt Nam và Pháp đi du lịch sang thăm lại nước Pháp …

Hồi ký của luật sư Nguyễn Mạnh Tường viết về thời gian này:

“Các bạn bè Việt – Pháp ở đây đã dành cho tôi một sự tiếp đón thật xúc động. Sau sáu mươi năm xa cách, tôi mới được thấy lại đất nước mà tôi đã được sống và học tập trong nhiều năm, đồng thời nhận được sự tiếp đón tế nhị và ân cần chăm chút của những trái tim vàng. Cái ước nguyện ôm ấp từ nhiều năm nay bây giờ mới được thực hiện. Thế là mãn nguyện”.

Ông đã thực hiện một cuộc phỏng vấn trên vô tuyến truyền hình ở hệ thống TF1 và hai buổi diễn thuyết, một ở Clermont l’Hérault ở gần Montpellier.

“Sự kiện bất ngờ, không thể biết trước đã cuốn hút tôi và làm tôi xáo trộn cả đầu óc là các cuộc nổi dậy của quần chúng trong các nước Đông Âu. Nhiều nhà báo đã đến hỏi ý kiến của tôi về hậu quả của nó có thể xảy ra ở Việt Nam”.

Sau những ngày bên Pháp trở về, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã kể lại tại Câu lạc bộ Thời sự – Khoa học (53 Nguyễn Du – Hà Nội) cho những nhà trí thức và những học trò trong suốt 2 giờ đồng hồ về chuyến đi này.

Ông bà luật sư Nguyễn Mạnh Tường và học trò.

Trong đó có cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên tờ Le Monde – một tờ nhật báo lớn ra buổi chiều ở Paris. Nhà báo tập trung vào vấn đề chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và gắn với tình hình Việt Nam.

“Ngài thấy thế nào về cuộc khủng hoảng ở Đông Âu?”, phóng viên tờ Le Monde hỏi.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường trả lời: “Tôi là một luật sư, quen bào chữa, chứ không phải một công tố viên, quen lên án. Hơn nữa, ngụ ngôn Pháp có câu: Cú đá của con lừa (le coup de pied de l’âne) để nói về những kẻ hèn hạ thừa cơ người khác gặp khó khăn mà lợi dụng. Các ông đừng ép tôi làm con lừa ngu ngốc ấy”.

Tại phiên toà xét xử ông cố vấn Vĩnh Thụy

Chiều ngày 21/8/2009, bà Vũ Bảo Tuyên con gái của cụ Vũ Đình Hòe – Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Lâm thời tháng 8 năm 1945, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp (từ tháng 3 năm 1946 đến năm 1960 khi Bộ Tư pháp giải thể) dẫn tôi đến nơi hai cụ đang cư trú thuộc phường Linh Trung, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Bậc công huân của đất nước vịn ghế bước ra, phong thái quắc thước, mái tóc bạc phơ phơ rung rung theo, thần thái tinh anh.

Tôi tới xin cụ kể cho một số kỷ niệm với chúng tôi Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh (1909 -2009) người trí thức nổi danh trong nền giáo dục hai nước Việt-Pháp từ những năm ba mươi của thế kỷ XX. Là hàng cháu chắt, tôi giữ mãi ấn tượng về nụ cười hiền, tiếng nói vang và ấm của cụ Vũ Đình Hòe trong suốt câu chuyện.

– Có lần cụ từng kể, luật sư Nguyễn Mạnh Tường từng bào chữa cho ông Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ tại Tòa án Quân sự. Sự việc này cụ thể ra sao ạ?

– Ông Vĩnh Thụy được Chính phủ, được Cụ Hồ giao công tác tham gia đoàn đi sang Trung Quốc để gặp Trung ương Đảng Quốc Dân Trung Hoa – Tưởng Giới Thạch. Nửa đường ông Vĩnh Thụy lợi dụng cơ hội tìm cách đi Hồng Kông, nửa đường không về nước, từ đấy liên hệ với phái viên của Pháp. Dần dà ông ấy chịu để Pháp lôi kéo đi ngược với đường lối đánh Pháp của dân ta, Chính phủ ta và Cụ Hồ.

Việc đưa ông Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy ra xét xử trước Tòa án, Chính phủ ta phải cân nhắc nhiều. Tôi lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Tư pháp nên cũng được họp trong phiên Chính phủ họp bàn về xử vụ ông Vĩnh Thụy đào nhiệm. Chính phủ quyết định giao cho Tòa án xét xử theo đúng pháp luật, phải làm đàng hoàng đầy đủ thủ tục, có luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt.

Mấy tháng sau, Toà án quân khu III được thành lập do ông Lê Văn Chất làm Chánh án, ông Bùi Lâm làm Công cáo uỷ viên, một Hội thẩm chính trị là đại biểu quân đội, một Hội thẩm chuyên môn là ông Trần Đình Trúc – Thẩm phán do Giám đốc Tư pháp khu III phái sang. Hai luật sư cùng bênh vực cho bị cáo Vĩnh Thụy là ông Đỗ Xuân Sảng và ông Nguyễn Mạnh Tường.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (bên phải) cùng anh vợ – dược sĩ Tống Lịch Cường.

Bản cáo trạng buộc tội ông Vĩnh Thuỵ rất đanh thép. Sau khi đã thực thi đủ thủ tục pháp lý và bàn luận kỹ càng, Hội đồng xét xử đã ra phán quyết vắng mặt bị cáo: Tử hình đối với Nguyễn Vĩnh Thuỵ về tội phản quốc.

“Bằng cách dốc toàn lực vào nghiên cứu, vào việc thực hiện những ý tưởng của mình, tôi đã hoàn toàn thỏa mãn về cuộc đời, vì mọi ước mơ của tôi đều đã thành đạt. Tôi mơ làm Giáo sư văn chương Tây thì tôi đã là Giáo sư. Tôi mơ trở thành Luật sư cãi những vụ nổi tiếng, tôi đã là Luật sư.

Tôi mơ một cuộc sống thật gần gũi người dân, nghề giáo và trạng sư đã giúp tôi cảm thông và sống được những nỗi niềm của người dân bình dị. Tôi mong được nhiều người thương thì đâu đâu cũng gặp tình cảm thân thương.

Việc tôi sang đây chứng tỏ hùng hồn tình cảm và sự giúp đỡ to lớn của các bạn trí thức dành cho tôi” – (GS Nguyễn Mạnh Tường).

KIỀU MAI SƠN

(Kiến thức gia đình số 37)

Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Thuyết Trình Về Luật Pháp Với Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Xét Nghiệm Adn Sẽ Xác Định Minh Béo Phạm Tội Hay Không

Minh Béo Có Thể Sẽ Khẳng Định Vô Tội Tại Tòa

Văn Phòng Luật Sư Trần Gia Minh

Tham Quan Little Saigon Ở Cabramatta

Gs.ts Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường

Thủ Tục Di Trú Cho Nạn Nhân Cuả Sự Bạo Hành ( Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

Lý Do Truc Xuất Người Đang Xin Nhập Cảnh Hoa Kỳ (Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

4 Diện Bị Cấm Nhập Cảnh Mỹ Từ 24 Tháng 6 Năm 2022 (Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

Mỹ Quy Định Chính Thức Về Gánh Nặng Xã Hội

Những Trường Hợp Trục Xuất Người Đang Xin Nhập Cảnh Mỹ

GS.TS Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một trong những người trí thức Việt Nam thông minh siêu việt gắn với nhiều huyền thoại, một nhà sư phạm mẫu mực giàu tài năng. Ông sinh ngày 16/9/1909 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Năm 22 tuổi, là học sinh Việt Nam (lúc đó còn thân phận thuộc địa) du học trên nước Pháp, Nguyễn Mạnh Tường đã lập nên kỷ lục làm chấn động học đường nước Pháp: trong một năm lấy luôn hai bằng Tiến sĩ Quốc gia Văn khoa và Luật khoa. Năm 1989, khi ông sang thăm nước Pháp, ngài Hiệu trưởng Trường Đại học Paris VII danh tiếng giới thiệu về Nguyễn Mạnh Tường trước đông đảo Hội đồng sư phạm và sinh viên toàn trường: “Đã 60 năm qua, trên đất nước Pháp này, chưa có một sinh viên Pháp hay sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục của Giáo sư kính mến: hai bằng Tiến sĩ nhà nước ở tuổi 22”.

GS.TS Luật sư Nguyễn Mạnh Tường từ trần ngày 13/6/1997, để lại bao nỗi tiếc thương cho gia đình, đồng nghiệp và học trò. Tổng Bí thư Đỗ Mười đến viếng ông và ghi vào sổ tang: “Vô cùng thương tiếc Giáo sư – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức yêu nước đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam.

Đi theo kháng chiến cũng rất vất vả và ông Nguyễn Mạnh Tường làm được việc quý hóa đó là luật sư tích cực đi cãi cho người nghèo. Ở Tòa án, các vụ hình sự thường có luật sư giúp đỡ. Cãi trước tòa án quân sự, thứ nhất là những vụ về chính trị, thứ hai là những vụ phá rối là điều bắt buộc. Người Pháp thì vẫn cứ muốn lôi kéo ông Nguyễn Mạnh Tường về thành. Kéo không được thì họ làm trở ngại công việc của ông.

Tôi không được đọc báo cáo của ông Vĩnh Thụy, chỉ có nghe nói chuyện lại lõm bõm thôi. Nửa đường ông Vĩnh Thụy lợi dụng cơ hội tìm cách đi Hồng Kông, nửa đường không về nước, từ đấy liên hệ với phái viên của Pháp. Dần già ông ấy chịu để để Pháp lôi kéo đi ngược với đường lối đánh Pháp của dân ta, Chính phủ ta và Cụ Hồ.

Việc đưa ông Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy ra xét xử trước Tòa án, Chính phủ ta phải cân nhắc nhiều. Tôi lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Tư pháp nên cũng được họp trong phiên Chính phủ họp bàn về xử vụ ông Vĩnh Thụy đào nhiệm. Đó là vào hồi năm 1950 – 1951.Cụ Hồ không muốn truy tố. Cụ tin là nếu mà mình khéo quan hệ thì vẫn có thể đưa ông ấy về lại với chính nghĩa được. Nhưng anh em khác thưa với Cụ Hồ là phong trào cách mạng trong nước yêu cầu phải truy tố. Bởi vì ông ấy là người của Chính phủ, làm Cố vấn tối cao, được cử đi làm công tác ngoại giao mà ông ấy lại đào nhiệm không quay về báo cáo với Chính phủ, với Hồ Chủ tịch, tự ý đi Hồng Kông… Để hợp thủ tục dân chủ, Hồ Chủ tịch đề nghị giơ tay biểu quyết. Tất cả thành viên Chính phủ đều giơ tay lên, trừ cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Cụ nói đồng ý là ông Vĩnh Thụy phạm tội nặng đối với Tổ quốc, nhưng cụ không nỡ giơ tay biểu quyết. Mọi người nhớ xưa cụ đã một thời giữ chức Thượng thư trong triều đình Bảo Đại. Cuối cùng Chính phủ quyết định giao cho Tòa án xét xử theo đúng pháp luật, phải làm đàng hoàng đầy đủ thủ tục, có luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt.

Mấy tháng sau, Toà án quân khu III được thành lập do ông Lê Văn Chất làm Chánh án, ông Bùi Lâm làm Công cáo uỷ viên, một Hội thẩm chính trị là đại biểu quân đội, một Hội thẩm chuyên môn là ông Trần Đình Trúc – Thẩm phán do Giám đốc Tư pháp khu III phái sang. Hai luật sư cùng bênh vực cho bị cáo Vĩnh Thụy là ông Đỗ Xuân Sảng và ông Nguyễn Mạnh Tường.

– Có lẽ vẫn còn trong các Trung tâm lưu trữ Quốc gia của Trung ương Đảng. Xử xong anh em có báo cáo lên Chính phủ và Bộ Tư pháp. Tôi chỉ biết đến thế thôi. Nội dung lời biện hộ của ông Nguyễn Mạnh Tường rất tiếc là tôi không được trực tiếp nghe và cũng không được đọc bản án.

Câu chuyện tạm thời bị gián đoạn vì căn bệnh giãn phế nang kinh niên trong cơ thể cụ. Cụ Vũ Đình Hòe là hậu duệ trực hệ của cụ Nghè làng Tự Tháp, Tiến sĩ Vũ Tông Phan triều Nguyễn, một danh sĩ ưu dân ái quốc, người đã cùng cụ Nguyễn Siêu và các danh sĩ Bắc Hà dựng lên quần thể kiến trúc quanh hồ Hoàn Kiếm với Đài Nghiên – Tháp Bút – Cầu Thê Húc – Đền Ngọc Sơn. Vào thành phố Hồ Chí Minh từ mấy năm nay để đảm bảo sức khỏe, cụ tiếp tục hoàn thành công trình nghiên cứu đang dang dở: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh. Sống ở đô thị phương Nam từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” nhưng cụ vẫn không nguôi nhớ về Hà Nội – Thăng Long ngàn năm văn hiến, nơi cụ đã sinh ra và thừa kế lớp sĩ phu yêu nước.

Cụ Xuân Tăng – Vũ Bội Hoàn, thân sinh ông Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe, là chủ bản điện đền Ngọc Sơn đã mười năm, từ năm 1936, thấy Cụ Hồ đến, cụ mừng quá chạy ra đón. Hồ Chủ tịch thân mật: “Thưa, cụ năm nay thọ bao nhiêu tuổi?”. Thưa cụ Chủ tịch, tôi tuổi Mậu Dần (1878). Thế là cụ hơn tôi hẳn một giáp. Xin rước cụ ngồi trước – Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp từ. Mặt nước Hồ Gươm xanh trong như thấu tận đáy. Ánh nắng lấp lóa làm tỏa rạng thêm khuôn mặt các cố lão ba mươi sáu phố phường. “Các cụ cao niên mà còn giảng thiện cho con cháu là quý lắm. Tôi xin được góp thêm một ý kiến: Xin các cụ giảng thêm cho điều thiện lớn nhất là yêu nước, yêu dân chủ”.

Như con tằm rút ruột nhả tơ, đi trọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đến nay tuổi đời đã ngót một thế kỷ, cụ Vũ Đình Hòe vẫn không nguôi nhớ bạn đồng nghiệp trong ngành giáo dục và luật học. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, cụ Nguyễn Mạnh Tường dạy trường Bưởi (nay là trường Trung học Quốc gia Chu Văn An) thì cụ Vũ Đình Hòe dạy trường tư thục Gia Long và tư thục Thăng Long. Khi cụ Vũ Đình Hòe tốt nghiệp khoa Luật khóa 2 của cũng là giai đoạn cụ Nguyễn Mạnh Tường mở Văn phòng Luật sư tại 77 Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo – Hà Nội). Tháng 10 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe và luật sư Nguyễn Mạnh Tường lại cùng đứng chung bục giảng tại Ban Văn khoa trường Đại học Đông Dương.

Cuối cùng cụ Vũ Đình Hòe hỏi tôi:

– Không biết bà Tường cao tuổi lắm rồi đấy nhỉ. Bà có được khỏe không?

– Thưa, cụ bà Nguyễn Mạnh Tường hai năm về trước bị ngã gãy chân và hoại tử chân. Bà Nguyễn Dung Nghi và ông con trưởng Nguyễn Tường Hưng, hai anh em cùng nhau chăm sóc, nay cụ bà đã khỏi nhưng chỉ đi lại được trong nhà thôi ạ.

– Dạ thưa, cụ bà vẫn ở 34 Tăng Bạt Hổ – quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.

– Tăng Bạt Hổ, vẫn cái nhà có vườn? Đấy là nhà của gia đình. Bà ấy là con cụ Tống Nguyên Lễ, tên bà là Tống Lệ Dung, cùng ở trong tổ Phụ nữ nội trợ trí thức của Trung ương Hội Phụ nữ. Bà xã nhà tôi lại là Tổ trưởng tổ ấy thành ra cũng đi lại khá thân. Nhưng mà có một dạo ít đi lại thăm nhau, bây giờ tôi nghĩ lại cũng cứ ân hận.

Vừa lúc đó, bà Vũ Bảo Tuyên bước đến sau lưng tôi. Tôi nhìn đồng hồ, đã được bà “đặc cách” cho hầu chuyện cụ tới 30 phút. Tôi vội đứng dậy xin phép cụ ra về…

Đúng 17h30, chiều 23/8/2009, tôi chạm cửa tư gia GS Trần Văn Giàu tại đường Lý Thường Kiệt – phường 15 – quận 11- thành phố Hồ Chí Minh. Người cháu của cụ ra mở cửa và dẫn tôi lên lầu.

Tôi kiên nhẫn chờ đợi để mong cụ có thể kể thêm một điều gì đó. Một khoảng lặng bao trùm. Tôi nhìn quanh phòng, bàn thờ cụ bà Trần Văn Giàu hư ảo trong ánh chiều tà. Vậy là cụ bà hưởng phúc nhẹ bước rời cõi trần ở tuổi 95 đã được bốn năm, theo quan niệm của người xưa “bà đi trước ông”. Hai cụ cùng sinh năm 1911, là năm diễn ra Cách mạng Tân Hợi – Trung Hoa, cũng là khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Bến cảng Nhà Rồng để sang nước Pháp tìm phương cứu nước sau những con đường các bậc Văn thân, Sĩ phu yêu nước từ thời Cần vương, Đông du, Duy tân đã đi mà chưa biết khi nào tới được bến đậu.

Năm 1928, sau khi tốt nghiệp Trường trung học Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, Trần Văn Giàu được gia đình cho sang Pháp du học tại Đại học Toulouse. Trước khi đi, gia đình muốn buộc chân “con tuấn mã” bằng cách chọn cô Đỗ Thị Đạo là ái nữ của gia đình điền chủ Đỗ Tường Ninh giàu nhất nhì đất Lục tỉnh Nam Kỳ, về làm vợ. Chàng hiền tế hứa với nhạc phụ đi học chuyến này nhất định sẽ lấy hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa rồi mới chịu về nước.

Một năm sau, từ thành phố Toulouse sinh viên Trần Văn Giàu lên Paris tham dự cuộc biểu tình trước Phủ Tổng thống đòi xóa an tử hình cho 13 thủ lĩnh Quốc dân Đảng bị Pháp bắt trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Cảnh sát liền tống giam anh vào nhà tù Loa Roquillis và sau đó Chính phủ Pháp trục xuất về nước.

Thất hứa, chàng rể không biết ăn nói ra sao với gia đình bên vợ. Ngày bố vợ gặp con rể trước song sắt nhà tù, cụ Đỗ Tường Ninh ôm chầm lấy Trần Văn Giàu nghẹn ngào nước mắt: “Anh về như thế này quả không hổ danh là rể gia đình Đỗ Tường”. Người dân Lục tỉnh ngày ấy, không ai xa lạ những bậc nam nhi quân tử dòng họ Đỗ Tường đã lần lượt ngã xuống vì giữ gìn từng tấc đất của giang sơn xã tắc không để rơi vào tay “bọn bạch quỷ”. Cố Đỗ Tường Kiên có 3 người con trai ở trong nghĩa quân Thủ khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân) chống Pháp. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, cả ba người đều bị thực dân Pháp bắt. Con trai cả Đỗ Tường Phong bị án chém. Con trai thứ hai Đỗ Tường Định bị bắt đem về bản quán xử bắn. Con trai thứ ba là Đỗ Tường Soạn, giặc cắt gót chân để mất khả năng hoạt động. Cụ Đỗ Tường soạn là thân sinh điền chủ Đỗ Tường Ninh mà cụ bà Trần Văn Giàu – Đỗ Thị Đạo gọi bằng ông nội.

Suy nghĩ của tôi bị cắt đứt khi cụ Sáu Giàu kêu người cháu rót rượu. Là hàng cháu chắt, được cụ đồng ý tiếp đã là diễm phúc, tôi nhớ lời dạy đến với người trên phải cung kính, khi ngồi cũng cần chú ý không được ngồi ngang hàng, phải kéo ghế lùi lại phía sau; nay cụ lại cho hầu rượu, tôi không dám, mà xin phép dùng nước trà, lấy lý do còn phải lái xe về. Người cháu của cụ phụ thêm: ” Cậu này học Đại học Sư phạm ra, nên mẫu mực như thầy giáo, cậu không uống rượu“. Cụ tỏ vẻ không vui. Bác nháy tôi: ” Cậu uống chút rượu cho ông vui lòng“. Vậy là rượu nho tím được rót ra. Cụ Sáu Giàu nâng ly kêu tôi chạm. Cụ nói: ” Tôi yếu lắm rồi. Chắc không ra Hà Nội được“. Dứt lời, cụ tiếp tục nâng ly, kêu tôi: ” Uống đi “. Xong cụ đặt ngay xuống làm bác muốn chụp cảnh cụ uống rượu mà không kịp…

15 phút gặp gỡ đã trôi qua thật là nhanh, tôi xin phép cụ đứng lên ra về. Nắm tay tôi, cụ Sáu Giàu dặn dò:

Kẻ hầu chuyện là tôi xin mượn bút ghi lại khoảnh khắc gặp gỡ với với con người nghĩa khí kẻ sĩ Gia Định: GS.NGND.AHLĐ Trần Văn Giàu. Chỉ vài giờ sau đó, cũng chính tại ngôi biệt thự ẩn trong hẻm này, Đảng ủy – HĐND – UBND – UBMTTQ thành phố Hồ Chí Minh sẽ tới trao tặng cụ Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng.

Tôi viết những dòng cuối cùng này tại con lộ nối dài từ Chợ Lớn tới Sài Gòn đúng vào ngày 25 tháng Tám năm 1945 cách nay 64 năm, khi đó dòng người như nước đổ về giành chính quyền tại Sài Gòn – Gia Định dưới sự chỉ huy của Chủ tịch Uỷ ban Giải phóng Lâm thời Trần Văn Giàu cùng các nhà lãnh đạo như Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch… Tôi rời thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội trong niềm hân hoan đã thỏa nguyện đến không ngờ. Ly rượu mà GS.NGND.AHLĐ Trần Văn Giàu cho tôi có vinh dự được hầu đó là dành cho gia đình người đồng nghiệp năm xưa và phải chăng cụ mong muốn thay lời chúc cho Lễ kỷ niệm bách tuế chúng tôi Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được thành công tốt đẹp! Thật không ngờ, người đồng hành không quen biết ngồi ghế bên cạnh trên chuyến đi cùng với tôi ra Thủ đô mang ra một tờ tạp chí có in hình cụ Sáu Giàu ngồi cùng người bạn đồng niên, đồng nghiệp, đồng Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Kính mong hai cụ mạnh khỏe, song toàn đại thọ trăm năm, song hành cùng con cháu trong Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội…

Tháng 6 năm 1949 Đảng đoàn Đảng Xã hội Liên khu III được thành lập. Đồng chí Đặng Châu Tuệ làm Bí thư Đảng đoàn. Tôi (Phí Văn Bái) lúc đó mang bí danh Phan Kỳ Đức là Trưởng ban Tuyên huấn Liên khu ủy Liên khu III và đồng chí Nguyễn Văn Năng – Giám đốc Sở Lao động Liên khu III làm Uỷ viên Đảng đoàn. Vừa được thành lập nên Đảng đoàn Đảng Xã hội Liên khu III cần mở rộng tuyên truyền ảnh hưởng trong quần chúng trí thức, đặc biệt là trí thức tại hai tỉnh Nam Định và Thái Bình.

Cái tên Nguyễn Mạnh Tường “Ông Nghè” Tây học với hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa năm 23 tuổi, một kỷ lục cổ lai hãn hữu, lịch sử giáo dục nước Pháp chưa từng có. Sau Cách mạng tháng Tám 1945 với chính sách cầu hiền của Hồ Chủ tịch, ông đã được chính Người giao nhiệm vụ chuẩn bị đề án cho phái đoàn Chính phủ về quan hệ ngoại giao Việt – Pháp tại Hội nghị trù bị Đà Lạt và sau đó được cử làm thành viên chính thức của phái đoàn tại Hội nghị lịch sử này. Ai từng đọc cuốn hồi kí “Một vài kí vãng về hội nghị Đà Lạt” của Hoàng Xuân Hãn (1908 – 1996) đều ấn tượng trước những phát biểu lập luận về vấn đề Nam Bộ của Nguyễn Mạnh Tường: “Nam Bộ là một phần gắn chặt vào đất đai quốc gia chúng tôi… Đó là thịt của thịt chúng tôi, là máu của chúng tôi” (Le Nam Bộ fairt partie intégrante de notre sol chúng tôi est la chair de notre chair, le sang de notre sang).

Trong khi tôi chỉ mới đỗ tốt nghiệp Tiểu học Pháp Việt (Certificat d’études Primaires)… Nhiệm vụ vận động Tiến sĩ – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường vào Đảng Xã hội Việt Nam thật quá khó khăn đối với tôi.

Tôi thổ lộ những băn khoăn của mình với Bí thư Đảng đoàn. Đồng chí Đặng Châu Tuệ liền kéo tôi sang phòng bên cạnh giới thiệu với anh Bùi Lâm – công tố viên Toàn án Nhân dân Liên khu III đồng thời phụ trách lãnh đạo nghành kiểm sát và toà án lúc đó.

Anh em vẫn gọi Bùi Lâm là vị Bao Công đứng đầu toà án quân sự đặc biệt trấn áp và trừng trị bọn phản cách mạng. Anh là người nghiêm khắc, chính trực trong công việc nhưng sống rất chan hoà, tình cảm, hồn nhiên và dí dỏm hay bông đùa. Đứng trước anh Bùi Lâm và được sự khích lệ của anh sau khi trò chuyện thân tình, tôi mạnh dạn:

– ” Thưa anh, Chủ tịch tỉnh Thái Bình cậu Giang Đức Tuệ là bạn trước cùng làm báo Tin Mới với tôi ạ“. Phí Văn Bái trả lời.

Khi đến Thái Bình, anh Giang Đức Tuệ – Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh cùng Chủ tịch Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính huyện Thái Ninh là anh Vũ Nhượng và tôi đến phố huyện Thái Ninh nơi luật sư Nguyễn Mạnh Tường và gia đình đang tản cư. Trước đó, anh Giang Đức Tuệ đã gửi giấy báo xuống xin hẹn gặp trước nên ba người chúng tôi vừa tới nơi đã thấy “ông Nghè” đứng đợi sẵn ở cổng để đón khách vào nhà.

Anh Giang Đức Tuệ tự giới thiệu về chúng tôi. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường với nụ cười thân thiết khẽ nở trên môi đáp lại. Lúc này tôi thầm cảm ơn sự chu đáo của anh Bùi Lâm: Muốn tuyên truyền vận động những nhà trí thức vào Đảng, trước hết phải tôn trọng trí thức. Nên anh Bùi Lâm yêu cầu đích danh Chủ tịch tỉnh đến cùng chứ không phải chỉ đánh một cái giấy thông báo hay cử một anh lính văn phòng đi theo.

Sau này tôi vẫn thường gặp Luật sư Nguyễn Mạnh Tường mỗi lần sinh hoạt chi bộ Đảng Xã hội tại TAND thành phố Hà Nội khi đó tôi làm Hội thẩm nhân dân có năm kiêm Bí thư chi bộ.

60 năm đã trôi qua kể từ cuộc gặp đầu tiên để tuyên truyền, vận động Luật sư Nguyễn Mạnh Tường vào Đảng Xã hội tại Thái Bình. Tôi nhớ mãi kỷ niệm sâu sắc về một người trí thức yêu nước đã đi theo cách mạng và cùng tham gia sinh hoạt Đảng Xã hội cho đến ngày Đảng Xã hội hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình và tuyên bố tự giải tán…

Chiểu nhu cầu công tác vận động tư bản, địa chủ, trí thức

1: Thành lập Đảng đoàn Đảng Xã hội Liên khu III gồm có 3 đồng chí: Đặng Châu Tuệ, Phan Kỳ Đức, Nguyễn Văn Năng.

2: Chỉ định đồng chí Đặng Châu Tuệ làm Bí thư Đảng đoàn.

3: Đồng chí Mười – TVUV phụ trách Dân vận; Tuệ, Đức, Năng chịu trách nhiệm thi hành quyết nghị này.

Ban Thường Vụ Liên khu uỷ III chứng nhận và giới thiệu với các Tỉnh, Thành uỷ đồng chí Phan Kỳ Đức là Đảng đoàn Xã hội Liên khu 3 được uỷ đi liên lạc với các Tỉnh, Thành uỷ về công tác Đảng Xã hội.

Yêu cầu các đồng chí giúp đỡ đồng chí này trong mọi trường hợp cần thiết để tiến hành công tác của đoàn thể.

Chú ý: Giấy này có giá trị đến hết năm 1949.

Có một học sinh từ ban Tú tài, rời thành phố Huế bị Pháp tạm chiếm năm 1949 để ra vùng kháng chiến, đi dạy học trường Trung học Kháng chiến Nguyễn Chí Diểu – Lâm Mộng Quang ở Thừa Thiên, rồi được đi học trường Dự bị Đại học mở tại Liên khu IV. Hơn nửa thế kỷ sau, cậu học trò đó đã trở thành một nhà lý luận phê bình, nhà giáo có tên tuổi: chúng tôi Trần Thanh Đạm – nguyên Hiệu trưởng trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh. Theo lời hẹn, tôi đến gặp ông tại nhà riêng (khu tập thể trên đường Chu Văn An, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh). Với một giọng xứ Huế nhẹ nhàng, nụ cười hiền hậu, ông dành thời gian trả lời cho tôi một số câu hỏi về chúng tôi Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thầy (16/9/1909 – 16/9/2009).

PV: Thưa GS Trần Thanh Đạm, được biết ông là một trong những sinh viên trường Dự bị Đại học khóa đầu tiên, xin ông kể lại một số kỷ niệm về chúng tôi Luật sư Nguyễn Mạnh Tường.

Trường Dự bị Đại học giám đốc là thầy Đặng Thai Mai, phó giám đốc là thầy Trần Văn Giàu, hồi bấy giờ mở 2 cơ sở. Cơ sở Nghệ An đóng ở huyện Thanh Chương, do giáo sư Đặng Thai Mai phụ trách, có các giáo sư nổi tiếng là Nguyễn Thúc Hào dạy Toán, Cao Xuân Huy dạy Triết… Cơ sở Thanh Hóa đóng ở huyện Thiệu Hóa, do giáo sư Trần Văn Giàu phụ trách, có các thầy Nguyễn Mạnh Tường dạy Văn học phương Tây, thầy Trương Tửu dạy Văn học Việt Nam, thầy Nguyễn Đức Chính dạy Địa lý, sau có thầy Đào Duy Anh dạy Lịch sử, thầy Nguyễn Lương Ngọc dạy Văn… Bên tự nhiên có các thầy Phó Đức Tố là Cử nhân Khoa học, thầy Hồ Đắc Liên kỹ sư địa chất dạy Vật lý. Một thầy nữa rất quan trọng là thầy Đặng Xuân Thiều, dạy chính trị. Thầy Nguyễn Lương Ngọc vừa làm Giám đốc Sở Giáo dục Liên khu IV vừa đi dạy học, thầy Hải Triều làm Giám đốc Sở Tuyên truyền Liên khu IV, thầy Nguyễn Danh Hoàn lúc bấy giờ là Khu ủy viên Liên khu III, cũng đều có đến dạy chính trị, về đường lối cách mạng và kháng chiến.

Trường Dự bị Đại học từ 1952 – 1954, hai khóa, có thể nói như một bông hoa, như một hạt giống rất là đẹp của giáo dục kháng chiến. Phải nói rằng đó là công ơn của Bác Hồ, sáng kiến của Bác Hồ. Bác Hồ giao cho thầy Đặng Thai Mai, thầy Trần Văn Giàu tổ chức ra lớp học này.

TTĐ: Phải dạy theo chủ nghĩa Mác – Lênin, phải dạy theo Lý luận mới, quan điểm mới. Mà hồi bấy giờ nhiều cái rất mà mới mẻ. Dạy theo sách vở cũ, đem những Việt Nam văn học sử yếu của cụ Dương Quản Hàm vào thì học trò không chịu học (cười). Tại vì học trò cho đấy là sản phẩm của thời thực dân phong kiến. Cho nên các thầy phải nghĩ ra nội dung và hình thức mới để dạy học. Bây giờ tôi nghĩ lại thì các ông thầy hồi bấy giờ đứng trước các vấn đề nan giải chứ không phải dễ đâu (cười). Tuy nhiên các thầy cố gắng giải quyết được. Hồi bấy giờ nói chung là trò cũng như thầy, trong văn học rất quan tâm đến vấn đề lập trường. Thầy mà dạy sai lập trường, trò phản đối ngay lập tức, cho nên các thầy cũng lo.

Đấy nói chuyện thời học văn học như thế, cả thầy cả trò cùng mò mẫm tìm tòi cái mới. Nếu các em bây giờ học Văn học Việt Nam được rộng rãi thì thời ấy cả thầy, cả trò đều đi tìm một cách nhìn mới đối với Văn học Việt Nam, muốn từ bỏ những cái cũ. Ngày nay mình cũng thương các thầy trong buổi đầu tìm đường, nhận đường gặp phải khó khăn như vậy. Càng thương thì càng phục.

TTĐ : Đến cuối năm 1952 thì chủ trương của Bộ Giáo dục là thống nhất hai cơ sở trường Dự bị Đại học ở Nghệ An và Thanh Hóa làm một. Sinh viên Nghệ An phải hành quân ra phía Bắc nhập với Thanh Hóa ở Cầu Kè, bên cạnh sông Chu, thuộc huyện Thiệu Hóa. Đầu năm 1953 tôi mới được học với thầy Nguyễn Mạnh Tường…

Hồi dạy chúng tôi ở Thiệu Hóa – Thanh Hóa thỉnh thoảng thầy nói: “Tôi thật là một cái quái thai. Các anh nghĩ có phải quái thai không?”. Học trò ngơ ngác. Thầy bảo: “Ai như tôi, 22 tuổi mà đậu một lúc 2 bằng Tiến sĩ, như thế không phải quái thai là gì”. Thầy tự hào và cứ nói thẳng ra như thế. Học trò thì bảo: “Thầy kiêu ngạo một cách hồn nhiên, thật thà – Notre Professeur est orgueilleux d’une manière innocente, sincère “. (cười).

Dạy Văn học phương Tây, thầy Tường ở một cái thế khó là đậu rất cao, biết rất nhiều, học rất giỏi nhưng dạy thì toàn những học trò nhà quê, Văn học phương Tây vừa xa lạ vừa cao siêu lắm. Mà đầu óc thầy Tường rất uyên bác những văn học Hy Lạp – La Mã, sành sỏi cả chữ La tinh, chữ Hy Lạp, còn văn học Pháp thì thầy là chuyên gia rồi.

Không phải ngẫu nhiên 22 tuổi ông đậu 2 bằng Tiến sĩ đâu.Thầy Nguyễn Mạnh Tường hồi bấy giờ là người viết văn Pháp rất hay. Có người đọc Luận án của thầy Tường phải thốt lên: Luận án của Nguyễn Mạnh Tường là một công trình văn chương tươi đẹp. Thầy viết văn Pháp hay hơn người Pháp (cười).

Khi dạy Văn học phương Tây thầy nói tiếng Việt không được thạo lắm nhưng mà thầy rất cố gắng. Có nhiều cái thầy dạy rất có ích với tôi sau này. Ví dụ thầy có nói một chút về văn học Hy Lạp – La Mã cổ, xa xôi lắm nhưng đại khái tôi cũng được biết đó là cái gì… Thầy Tường dạy, tuy rằng thầy nói những điều học trò không thấu được hết vì đầu óc của ông bác học lắm. Nhưng mà cái Phác đồ Văn học phương Tây ông gợi ra, nhất là phác đồ đầu tiên từ văn học Hy Lạp – La Mã mà sang Văn học Trung đại, đến thời kỳ Phục Hưng châu Âu rồi thời kỳ Cổ điển… Về sau này người ta không dạy nữa vì nhiều quá không dạy nổi.

Hồi bấy giờ học trò cũng ghê gớm lắm. Tuy là học như thế nhưng thầy và trò đua. Thầy trò cùng đi khám phá cả chứ…

TTĐ: Nói chung là ấn tượng và kỷ niệm của tôi về thầy Nguyễn Mạnh Tường trong kháng chiến và về sau rất là tốt đẹp. Đầu tiên phải nói thầy Nguyễn Mạnh Tường là người có tấm lòng rất yêu nước. Thứ hai, ông là người đạo đức cá nhân rất trong sạch, giản dị, cần kiệm. Cái khó khăn chính vì thầy được đào tạo trong trường Pháp quá kỹ lưỡng, hoàn cảnh nước ta thời chiến tranh chưa phát huy hết được các khả năng và cống hiến của thầy.

Còn về sau này, từ 1954, khi thầy Tường về Hà Nội thì tôi không được học thầy nữa. Khi chúng tôi học Sư phạm Cao cấp, thầy Tường có dạy các bài giảng về Giáo dục học. Thật sự lúc bấy giờ cũng không có nhiều tài liệu lắm cho nên thầy tổng hợp những tài liệu của Pháp để dạy. Thầy dạy cũng có nhiều tư tưởng hay về giáo dục. Sau này có một thời kỳ thầy Nguyễn Mạnh Tường làm ở Nhà xuất bản Giáo dục, hoặc ở Viện Khoa học Giáo dục, có nhiều lần tôi tiếp xúc với thầy, thầy trò gặp nhau, đi sơ tán với nhau thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Thầy Nguyễn Mạnh Tường là người chịu thương chịu khó, rất giản dị, cần kiệm trong sinh hoạt, sống rất gương mẫu.

Cho đến ngày nay, nhớ đến giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, tôi thường nghĩ: chỉ riêng sự có mặt của thầy trong hàng ngũ các nhà trí thức đi kháng chiến cùng với Bác Hồ đã là một sự cổ vũ đối với tuổi trẻ chúng tôi ngày ấy. Vì đó là một minh chứng cho tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến của chúng ta, sự nghiệp của toàn thể nhân dân, của tất cả mọi người yêu nước. Trong những năm về sau, tôi nhận thấy những người như giáo sư Nguyễn Văn Huyên – Bộ trưởng Bộ Giáo dục, giáo sư Nguyễn Lương Ngọc – Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục đều rất kính trọng, mến mộ giáo sư Nguyễn Mạnh Tường. Theo gương các vị thầy đó, tôi rất kính mộ thầy Nguyễn Mạnh Tường. Giá thầy còn đến ngày nay…

PV: Có một sự kiện lúc bấy giờ là đang dạy nửa chừng thì Trung ương Đảng điều GS Nguyễn Mạnh Tường làm thành viên của đoàn Việt Nam đi tham gia Hội nghị Hòa bình châu Á, ở Bắc Kinh (Trung Quốc), sau đó Hội nghị Hòa bình thế giới ở Viên (Áo). Ông có được biết điều gì về chuyến đi này hay không?

TTĐ: Thầy Nguyễn Mạnh Tường đi chuyến đó như được tháo cũi sổ lồng. Khi về thì thầy rất là phấn khởi, thỏa mãn. Học trò bảo: Thầy trước kia là người hai bằng Tiến sĩ – Bidocteur, còn bây giờ thầy là đại biểu đi dự hai Hội nghị Hòa bình – En participation à deux Conférences de Paix.

Thầy về có quà cho chúng tôi, là mấy bài văn bằng tiếng Pháp. Một bài thầy được mời phát biểu tại Đài Phát thanh Leningrad viết bằng tiếng Pháp, và một bài thì tờ tạp chí Dân chủ mới (La Démocratie Nouvelle)ở Pháp đăng lên. Lúc bấy giờ học trò mới thật phục thầy. Thầy giảng bằng tiếng Việt có thể còn đôi chút vướng mắc, đến khi thầy đọc hai bài văn của thầy trong chuyến đi đó, học trò tán tụng: Văn thầy hay quá! Văn thầy vang như chuông! (cười).

Hồi bấy giờ tôi khoái cái ý đó. Ý đó của thầy Tường rất là sáng tạo. Ông xuất thần viết trong bài văn như thế. Bài văn này không biết chỗ anh Nguyễn Tường Hưng có giữ được không? Những bài văn thầy Tường viết có thể nói ít người biết để đánh giá được tại vì thầy viết bằng tiếng Pháp. Càng về sau này những người biết tiếng Pháp càng ít đi. Các tác phẩm của thầy nếu mất đi thì thật là đáng tiếc.

Ba Giờ Với Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường

Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường

Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Thuyết Trình Về Luật Pháp Với Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Xét Nghiệm Adn Sẽ Xác Định Minh Béo Phạm Tội Hay Không

Minh Béo Có Thể Sẽ Khẳng Định Vô Tội Tại Tòa

Ba Giờ Với Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường

Gs.ts Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường

Thủ Tục Di Trú Cho Nạn Nhân Cuả Sự Bạo Hành ( Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

Lý Do Truc Xuất Người Đang Xin Nhập Cảnh Hoa Kỳ (Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

4 Diện Bị Cấm Nhập Cảnh Mỹ Từ 24 Tháng 6 Năm 2022 (Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

Mỹ Quy Định Chính Thức Về Gánh Nặng Xã Hội

ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

SĨ KHÍ CỦA MỘT NGƯỜI TRÍ THỨC

( đặt tựa: Hoa Kẽm Gai )

***

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường

****

Ba giờ với Luật sư Nguyễn Mạnh Tường

Hòa Khánh (Quê mẹ)

22/11/2017

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1996), người Việt Nam duy nhất đậu hai bằng Tiến sĩ Luật khoa và Tiến sĩ Văn chương năm 23 tuổi ở Đại học Montpellier (Pháp). Ông tham gia kháng chiến chống Pháp đến khi hòa bình lập lại (1954) thì trở về Hà Nội và làm Giáo sư trường Đại học Văn khoa (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội). Ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, LS Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đã đọc một bài diễn văn phân tích sâu sắc những sai lầm trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng để tránh mắc lại sai lầm. Vì phát biểu này, LS Nguyễn Mạnh Tường đã bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống khó khăn thiếu thốn như một “kẻ bị khai trừ” (tên cuốn sách tự thuật của ông xuất bản năm 1992 tại Pháp). Ông mất năm 1996 tại Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi).

FB Loc Pham

Lâu nay, tôi cứ đinh ninh là Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã mất. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, tên tuổi của ông bặt đi. Có tin đồn là ông đã chết đâu đó ở một góc khuất tối tăm nào ở Hà nội.

Thế rồi, bỗng dưng tôi lại nghe là ông vẫn còn sống, hơn nữa, đang có mặt tại Paris: ông được phép sang Pháp ba tháng để thăm viếng một số bạn bè cũ của ông.

Được sự giới thiệu của một người quen, tôi và một anh bạn đã được Luật sư Nguyễn Mạnh Tường tiếp trọn cả buổi chiều ngày thứ hai 27.11.1989.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường năm nay đúng 80 tuổi. Dáng người tầm thước, lưng hơi gù, da dẻ nhăn nheo, nhưng sức khoẻ khá tốt, đi đứng vững vàng, đặc biệt trí tuệ còn rất minh mẫn. Suốt hơn ba tiếng đồng hồ chuyện trò, chúng tôi không hề bắt gặp ở ông một dấu hiệu nào của sự đãng trí vốn thường xuất hiện ở người cao niên. Ông nói năng lưu loát, đôi khi hùng hồn. Ông nhớ chính xác chi tiết những sự kiện cũ hoặc mới. Cách lý luận rành mạch.

Điều chúng tôi thích nhất ở ông là sự thành thật. Ở vào hoàn cảnh của ông, thành thật cũng có nghĩa là can đảm. Hơn ba chục năm bị đày đoạ, luôn luôn sống trong tâm trạng phập phồng chờ đón những thảm kịch thảm khốc nhất, ông không khiếp sợ đến nổi phải tự biến mình thành một con vẹt chỉ biết lải nhải lặp lại những câu nói đã thành khẩu hiệu của chế độ hoặc co rút lại trong câm lặng, từ khước đối thoại để tránh khỏi nguy cơ bị hớ hênh, bị chụp mũ,.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một người đầu tiên tôi gặp, từ chế độ cộng sản, vẫn giữ được cái sĩ khí của một người trí thức, “uy vũ bất năng khuất”. Ông không hề từ chối bất cứ câu hỏi nào của chúng tôi dù những câu hỏi đó bắt ông phải công khai bày tỏ thái độ với cái chế độ đã, đang, và có lẽ sẽ tiếp tục dập vùi ông.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trước năm 1945, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một trí thức xuất sắc nhất của Việt Nam với thành tích đến nay tại Việt Nam dường như chưa có ai theo kịp: 22 tuổi đậu hai bằng Tiến sĩ quốc gia tại Pháp, một bằng về luật và một bằng về văn chương. Về nước, ông hành nghề luật sư và dạy học. Ở cả hai lãnh vực, ông đều thành công và tạo được một uy tín to lớn.

Chúng tôi hỏi luật sư Nguyễn Mạnh Tường:

– Luật sư có thể cho biết luật sư đã tham gia phong trào Việt Minh và sau đó, tham gia kháng chiến như thế nào?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đáp:

– Thật ra tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Do đó tôi đã từng từ chối nhiều lời mời ra làm bộ trưởng của nhiều chính phủ. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền. Người trí thức chỉ nên đứng ở lãnh vực thuần lý chính trị (politique spéculative). Nghiên cứu, thúc đẩy các trào lưu.

Cách mạng tháng Tám làm tôi rất vui mừng. Tôi mong muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước trong hai lãnh vực sở trường của mình: luật học và nghiên cứu văn học.

Năm 1946, một hôm, ông Nguyễn Hữu Đang, người sau này tham gia Nhân văn Giai phẩm và bị cộng sản kết án 15 năm tù, đến văn phòng luật sư của tôi nói là Cụ Hồ mời tôi đến gặp Cụ có việc cần. Nguyễn Hữu Đang chở tôi đến cái chỗ sau này gọi là Phủ Chủ tịch. Ở đó Vũ Đình Huỳnh, Vụ trưởng Vụ Lễ tân, ra tiếp và đưa vào gặp Cụ Hồ. Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói: “Như Ngài đã biết, Chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới, giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn giùm cho một bản lập trường của Chính phủ (thèse gouvernemental) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị”. Tôi đáp: “Công việc này quan trọng quá, xin Cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi”.. Cụ Hồ nói: “Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi”. Cuối cùng tôi nhận lời, về nhà, đóng cửa văn phòng luật sư, vận dụng tất cả kiến thức về luật pháp quốc tế cũng như những điều khoản căn bản của tạm ước để soạn bản lập trường. Đến khi đem trình, được Cụ Hồ chấp thuận và do đó, buộc tôi phải tham dự Hội nghị Đà Lạt.

Chúng tôi hỏi:

– Luật sư giữ vai trò gì tại Hội nghị này?

– Tôi là Trưởng ban Văn hóa và là uỷ viên trong Ban Chính trị.

– Cuộc hội nghị thành công tốt đẹp?

– Vâng, về cuộc hôi nghị này, đã có nhiều người viết. Chỉ có một điều ít ai biết là, kết thúc cuộc hội nghị, hai bên đã tổ chức một bữa tiệc chung.. Trong bữa tiệc ấy, tên tuỳ viên của Thuỷ sư đô đốc Argenlieu đến cạnh tôi, nói là Thuỷ sư đô đốc muốn gặp tôi để nói chuyện. Tôi bảo là tôi không phải trưởng đoàn do đó không có tư cách gì để gặp gỡ Thuỷ sư đô đốc cả.. Tên tuỳ viên lại bảo đây là sự gặp gỡ thân mật có tính cách cá nhân thôi chứ không phải để bàn bạc điều gì quan trọng cả. Nghe thế, tôi đứng dậy, rời bàn tiệc ra ngoài hành lang gặp Argenlieu. Lúc ấy trong bàn tiệc ai cũng thấy cả. Và cuộc nói chuyện cũng rất vu vơ, thăm hỏi xã giao về công ăn việc làm thôi. Thế nhưng, về Hà Nội bỗng dưng lại có tin đồn là Nguyễn Mạnh Tường thông đồng với giặc, là Nguyễn Mạnh Tường bán nước…

Chúng tôi hỏi:

– Luật sư có biết tin đồn đó xuất phát từ đâu không?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười:

– Thì cũng phải có người phát thì nó mới động chứ. Tin đồn đó là cả một chiến dịch được tổ chức hẳn hoi. Anh Hoàng Xuân Hãn lúc ấy phải đến gặp hình như là Võ Nguyên Giáp thì phải, bảo Tường làm cái gì mà người ta lại tung tin đồn là nó bán nước, theo giặc ghê quá vậy. Nguy cho nó lắm. Mà nguy thật, chỉ cần một phát súng, một mũi dao là xong đời chứ gì. Từ khi anh Hãn can thiệp, tin đồn ấy mới lắng xuống rồi biến mất.

Chúng tôi hỏi:

– Có thể coi đó là nguyên nhân khiến cho về sau cộng sản bạc đãi luật sư chăng?

– Không phải. Cộng sản, những người tham dự hội nghị cùng với tôi, họ biết thực hư, đầu đuôi thế nào hết chứ. Đâu có phải vì tin đồn ấy mà người ta bạc đãi tôi. Đối với trí thức, nói chung cộng sản dùng thì dùng, nhưng bảo là họ có mến yêu không thì tôi… không dám nói là có.

Chúng tôi hướng câu chuyện vào vấn đề chúng tôi quan tâm nhất và có lẽ nhiều người cũng quan tâm đến nhất:

– Theo các tài liệu được phổ biến tại miền Nam trước đây cũng như ở ngoại quốc, Luật sư có tham gia vụ Nhân văn Giai phẩm vào những năm 56, 57?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đáp nhanh:

– Thật ra tôi không hề tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm. Mãi sau này khi người ta kết án nhóm Nhân văn Giai phẩm, tôi mới biết đó là một tổ chức chống đảng với những tên tuổi như Trần Dần, Trần Duy, Hoàng Cầm… gì đó.

– Thế nhưng Luật sư cũng có mấy bài viết cùng chung lập trường với họ.

– Vâng, tôi có cả thảy hai bài viết mà ông Hoàng Văn Chí có đăng lại trong quyển Trăm hoa đua nở trên đất Bắc ấy mà. Nguyên là, một hôm ông Nguyễn Hữu Đang và ông Trần Thiếu Bảo, chủ Nhà xuất bản Minh Đức đến gặp tôi để xin bài. Cả hai đều quen biết với tôi từ trước. Chuyện gặp ông Nguyễn Hữu Đang tôi có kể qua lúc nãy. Còn ông Trần Thiếu Bảo thì tôi gặp ở Thái Bình thời kháng chiến chống Pháp. Lúc ấy, ông Bảo cũng làm nhà xuất bản. Tôi có đưa cho ông ấy xuất bản quyển Một cuộc hành trình, quyển sách đầu tiên của tôi bằng tiếng Việt.

– Đó là một quyển hồi ký?

– Không. À mà cũng có thể gọi là nửa hồi ký, nửa nghị luận. Đại khái tôi kể chuyện cuộc đời mình, từ một người trí thức tham gia kháng chiến chống Pháp giành độc lập cho đất nước như thế nào…

– Xin trở lại vụ Nhân văn Giai phẩm…

– Vâng, thì cái bài đăng trên Giai phẩm mùa thu năm 1956 là thế. Còn bài viết về vụ cải cách ruộng đất thì là thế này: đó là bài tôi nói chuyện trong một cuộc hội nghị của Mặt trận Tổ quốc. Các anh cũng biết là vụ cải cách ruộng đất đã thất bại nặng nề đến nỗi ông Trường Chinh đã phải mất chức Tổng bí thư đảng cơ mà. Lúc đó có phong trào sửa sai ghê lắm. Trong cái cuộc vận động sửa sai như thế, ông Tố Hữu rồi ông Trường Chinh rồi ông Xuân Thuỷ đã lần lượt gọi tôi đến nhà riêng của các ông ấy để yêu cầu tôi, trong hội nghị của Mặt trận Tổ quốc, trình bày cho mọi người biết thế nào là dân chủ. Các ông ấy nói là sau sai lầm của cải cách ruộng đất, chúng ta phải cố làm sao cho chế độ xã hội chủ nghĩa trở thành một chế độ thực sự dân chủ. Nghe thế, tôi mừng quá nên nhận lời ngay. Thế rồi hội nghị được tổ chức. Tôi thuyết trình trọn cả ngày, ba giờ buổi sáng, ba giờ buổi chiều. Thuyết trình xong, người ta khen ghê lắm. Ông Trường Chinh, Ông Xuân Thuỷ, ông Dương Bạch Mai sau đó lại yêu cầu tôi viết lại bài nói chuyện đó để đưa mấy ông xem.

– Thế, trong hội nghị, Luật sư chỉ nói miệng chứ không đọc bài viết đã soạn sẵn?

– Không, thì giờ đâu. Chính mấy ông ấy bảo thì tôi mới viết lại chứ. Tôi đánh máy bài viết thành hai bản, nộp hết cho mấy ông. Thế mà, không biết tại sao, bài viết đó lại lọt ra nước ngoài, bọn báo chí ngoại quốc làm ầm ĩ lên, thế mới chết chứ.

– Luật sư có nhớ chắc là không hề đưa bài viết ấy cho ai khác?

– Chắc chắn. Cả hai bản đánh máy tôi đều nộp hết cho ông Trường Chinh và ông Xuân Thuỷ. Tôi chỉ giữ lại bản nháp viết tay thôi..

– Thế thì Luật sư có thể đoán được là tại sao, từ nguồn nào, bài viết của Luật sư lại lọt ra nước ngoài được không?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười lắc đầu:

– Chịu thôi. Ở đời vẫn có những bí mật mật như thế đó, các anh ạ.

Trầm ngâm một lát, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể tiếp:

– Chính trong những đợt đi xuống điạ phương ấy tôi mới thấy rõ, thấy hết sự tàn bạo của nó.

Thấy cuộc nói chuyện đã khá thân mật, chúng tôi dè dặt nêu ra câu hỏi khác, một câu hỏi thú thật chúng tôi rất tò mò:

– Ba mươi lăm năm sống dưới chế độ cộng sản, Luật sư nhận xét gì về cái chế độ này?

Nhìn đồng hồ thấy đã hơn 6 giờ chiều. Mùa đông trời tối sớm. Chúng tôi cám ơn Luật sư Nguyễn Mạnh Tường để chấm dứt câu chuyện đã kéo dài hơn ba giờ liền. Và hỏi:

– Thưa Luật sư, chúng tôi ghi âm buổi nói chuyện hôm nay với mục đích giữ làm kỷ niệm. Tuy nhiên không biết Luật sư có đồng ý cho phép chúng tôi công bố những điều Luật sư phát biểu chăng?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười dễ dãi:

– Các anh cứ tự nhiên. Những điều tôi nói toàn là sự thật cả.

– Sắp về lại Việt Nam, Luật sư không sợ sao?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười to:

– Các anh nhớ là tôi đã 80 tuổi rồi. Tính theo tuổi ta là 81 đấy..

Chúng tôi ra về, lòng phơi phới vui. Vui vì được gặp một người lâu nay mình ngỡ đã chết. Vui hơn nữa, vì thấy Nguyễn Mạnh Tường, cái tên tuổi mình từng kính phục từ thuở bùng nổ vụ Nhân văn Giai phẩm ở miền Bắc, sau bao nhiêu đọa đày, vùi dập, vẫn giữ nguyên cái sĩ khí của một người trí thức uy vũ bất năng khuất. Ở Việt Nam giờ đây, còn được bao nhiêu người như thế nhỉ?./-

H.K

http://saigonecho.com/index.php/lich-su-vn/chien-tranh-vn/cac-nhan-vat/33481-ba-gio-voi-luat-su-nguyen-manh-tuong

Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường

Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Thuyết Trình Về Luật Pháp Với Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Xét Nghiệm Adn Sẽ Xác Định Minh Béo Phạm Tội Hay Không

Minh Béo Có Thể Sẽ Khẳng Định Vô Tội Tại Tòa

Văn Phòng Luật Sư Trần Gia Minh

Giáo Sư, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường: Chữ Tài Liền Với Chữ Tâm

Gs.ts Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường: Nhà Trí Thức Gắn Với Nhiều Huyền Thoại

Tránh Rắc Rối Luật Mới Về Di Trú Mỹ (Darren Nguyễn Ngọc Chương, Esq)

Diện Đầu Tư Di Dân Eb

Luật Sư Đỗ Phủ: Sẽ Cố Gắng Giúp Minh Béo Được Tại Ngoại Hầu Tra

Luật Sư Đỗ Phủ Bất Ngờ Việc Minh Béo Nhận 2 Tội Danh

Năm 1932, tại Pháp, Giáo sư, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã đậu: Tiến sĩ Luật với đề tài “Cá nhân trong xã hội cổ nước Nam – Tổng luận về Luật nhà Lê”, Tiến sĩ Văn chương với đề tài: “Giá trị bi kịch trong các kịch bản của Musset”, kèm theo luận án phụ “Nước Nam trong văn học Pháp của J.Boissière”. Sự kiện một người An Nam thuộc địa đậu lưỡng khoa Tiến sĩ khoa học đã gây chấn động dư luận Pháp đương thời; đồng thời làm rạng danh sự hiếu học và nền văn hiến Việt Nam…

Vị lưỡng khoa tiến sĩ trẻ nhất

Ngay sau khi Nguyễn Mạnh Tường đậu lưỡng khoa Tiến sĩ, dư luận Pháp – với cái nhìn miệt thị những người thuộc địa – không khỏi bàng hoàng. Mật thám Pháp ráo riết theo dõi, thu thập thông tin về vị tân Tiến sĩ.

Một trong những tờ báo lớn của Pháp, tờ Le Journal số ra ngày 17/7/1932, đăng bài của nhà báo lừng danh Clement Vautel, có viết: “Người An Nam 22 tuổi vừa giành được 2 bằng Tiến sĩ Luật và Văn chương chỉ cần có 5 năm mà anh ta đã đoạt được 2 văn bằng phương Tây bậc nhất. Ban giám khảo đã tặng những lời khen mà tôi không dám thêm gì vào vì tôi không đủ thẩm quyền…

Tôi tự hỏi có phải là một sai lầm khi chúng ta tạo điều kiện cho những người thâm nhập vào các bí mật của nền văn hoá chúng ta, những gã sau này trở về nước sẽ không còn tin vào tính ưu việt của người da trắng đang kèm cặp, cai trị các gã đó…”.

Các tờ báo lớn của nước Pháp đều tốn nhiều giấy mực về sự kiện này; nhiều tờ nhìn nhận khách quan, đánh giá đúng mực về vị tân khoa nhưng cũng có tờ coi thành công của Nguyễn Mạnh Tường là “một sai lầm của nước Pháp”. Dư luận “chính quốc” tỏ ra hậm hực bao nhiêu thì trong nước dư luận lại phấn chấn bấy nhiêu.

Tờ Hà Thành Ngọ Báo số ra ngày 3/8/1932 cho rằng: “Ông Nguyễn Mạnh Tường thật là một trang thiếu niên mà tài học lỗi lạc chẳng những đã làm vẻ vang cho nước nhà lại cả cho học giới nước Pháp nữa”.

Còn tờ Đuốc Nhà Nam số ra ngày 23/9/1932 đăng bài của Luật sư Trịnh Đình Thảo giới thiệu vị tân khoa: “Trước kia có một hạng người Pháp vẫn chê người Việt Nam mình đi học chữ Tây, bất quá như con két học nói… Đến giờ có người 22 tuổi như Nguyễn Mạnh Tường đậu hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa một lượt, cái vẻ vang ấy dẫu đến người Pháp cũng chưa có với cỡ tuổi như thế; thì nay có một hạng người Pháp khác, đại khái như Clément Vautel, la hoảng lên rằng: Thôi, thôi, đừng cho người Việt Nam đi học nữa, họ học hết rồi biết hết những cái khôn ngoan của mình, trở lại cách mạng mình và khinh thị mình”…

Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 trong một gia đình công chức ở ngoại thành Hà Nội (xã Cổ Nhuế, Từ Liêm). Thân phụ của Nguyễn Mạnh Tường là một công chức nhỏ, luôn chú ý rèn giũa việc học tập của con cái. Từ tấm bé, Nguyễn Mạnh Tường đã được cha cho học tiếng Pháp.

Với tư chất thông minh, hiếu học, Tường luôn luôn là một học sinh xuất sắc. Lên 10 tuổi, Tường thi đậu vào Trường tư thục Paul Bert, sau đó lại thi đỗ vào Trường Trung học công lập Albert Sarraut – còn gọi là “Trường Tây”, vốn chỉ dành cho Tây con và số ít con em các quan chức cấp cao người Việt.

Từ lớp sáu, Nguyễn Mạnh Tường đã hình thành thói quen “mọt sách” với ít nhất hai cuốn tiểu thuyết Tây mỗi tuần; văn chương, văn hoá phương Tây dần thấm vào cậu bé người Việt. Tuy vậy khi đó người Pháp không cho học sinh người Việt theo học ban A (văn chương cổ điển, với ngoại ngữ bắt buộc là Latinh và Hy Lạp), vốn được coi là những môn học dành cho giới quý tộc và tầng lớp trên, nên chỉ có con Tây mới đủ trí tuệ theo học!

Hết năm đệ tam, Nguyễn Mạnh Tường đậu luôn Tú tài, đạt điểm đi du học và sang Pháp thi đậu vào đại học. Với vốn kiến thức đã tích luỹ từ “hai cuốn sách mỗi tuần”, cộng với ý chí và nghị lực phi thường, nên chỉ sau hai năm, Nguyễn Mạnh Tường đã đậu được hai bằng Cử nhân luật và văn chương.

Nguyễn Mạnh Tường định học Thạc sĩ để được đi dạy văn hoá, văn chương phương Tây, song với quốc tịch “phi Gô-loa” thì không đủ điều kiện thi vào ngành học được cho là quý tộc này. Trong cái rủi có cái may, bên cạnh cái quy định sặc mùi thực dân đó vẫn có nhiều người tốt sẵn lòng giúp đỡ những tài năng.

Một vị giáo sư người Pháp gợi ý: quy chế chỉ không cho dân thuộc địa thi Thạc sĩ văn chương, còn Tiến sĩ thì không đề cập tới (có lẽ nhà cầm quyền cho rằng dân thuộc địa không thể đủ sức học ngành này, nói gì đến thi Tiến sĩ!). Như vậy thi Tiến sĩ văn chương thì không cần điều kiện quốc tịch. Nguyễn Mạnh Tường đã tận dụng kẽ hở này và thi đậu nghiên cứu sinh với số điểm mĩ mãn…

Sau hai năm, Nguyễn Mạnh Tường đã hoàn thành luận án Tiến sĩ Luật với đề tài “Cá nhân trong xã hội cổ nước Nam – Tổng luận về Luật nhà Lê” và hơn một tháng sau cũng bảo vệ xuất sắc Luận án Tiến sĩ quốc gia văn chương với hai đề tài, đề tài chính là “Giá trị bi kịch trong các kịch bản của Musset” và đề tài phụ “Nước Nam trong văn học Pháp của J.Boissière”.

Với thành tích ở độ tuổi 22 đoạt hai bằng Tiến sĩ trong hai tháng, Nguyễn Mạnh Tường trở thành một “hiện tượng” của giáo dục Pháp. Đặc biệt, Tiến sĩ văn chương là một học vị cực kì cao quý mà đương thời rất hiếm người Pháp giành được, lại càng hiếm với những trường hợp dưới tuổi 30.–PageBreak–

Đường khoa bảng thênh thênh, song đường đời thường khúc khuỷu quanh co, âu cũng là điều ứng với nhiều tài năng xuất chúng. Ngay sau khi “vinh quy bái tổ”, vị lưỡng khoa Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường được cả chính quyền thực dân lẫn chính quyền phong kiến bù nhìn nhiệt liệt chào đón.

Hai tuần sau khi về nước, Nguyễn Mạnh Tường nhận được giấy mời gặp của Grandjean – Giám đốc chính trị Phủ Toàn quyền. Grandjean chẳng úp mở, đề nghị Nguyễn Mạnh Tường nhận chức Thượng thư ở Triều đình Huế hoặc Tổng đốc ở Bắc bộ.

Trong sâu xa, với cốt cách văn hoá Việt của một trí thức lớn thấm đẫm văn hoá và tinh hoa Tây phương, Nguyễn Mạnh Tường nguyện đem kiến thức và tâm huyết ra phục vụ đồng bào, mà cụ thể là đi dạy học và đấu tranh bảo vệ công lí với vai trò luật sư.

Nhưng sau lời từ chối cộng tác với chính quyền thực dân, Nguyễn Mạnh Tường bị mật thám Pháp theo dõi ráo riết… Ông đành rời Việt Nam đi chu du hầu khắp châu Âu trong 3 năm tiếp tục học tập, nghiên cứu…

Năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường về nước và trở thành giáo sư Trường Trung học Bảo hộ, tức Trường Bưởi, nay là Trường Chu Văn An – Hà Nội, dạy văn chương Pháp… Các học trò Trường Bưởi năm xưa được học Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, nay hầu hết đã trên tuổi tám mươi.

Nhiều người còn nhớ mãi hình ảnh thầy Tường, sang trọng mà gần gũi, uyên bác mà dễ hiểu. Mỗi khi lên lớp, thầy Tường vận quần Tây, áo sơmi dài tay cổ thắt nơ, bên ngoài mặc áo gilê; khi giảng bài thầy có thói quen nhìn thẳng vào mắt các học trò, ngón tay cái bên trái ngoắc vào dây áo gilê cạnh sườn, đi từ đầu lớp đến cuối lớp.

Trước giờ học, thầy Tường chuẩn bị rất kĩ nhưng khi vào lớp, thầy không mang theo giáo án. Tất cả đã được thầy nung nấu kĩ trong đầu với vốn kiến thức uyên thâm tích luỹ qua nhiều năm…

Cùng dạy với Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường ở Trường Bưởi còn có các trí thức nổi tiếng như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Ngụỵ Như Kon Tum… Hầu hết học trò của Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường ở Trường Bưởi sau này đều thành danh, có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Năm 1946, Giáo sư – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được Hồ Chủ tịch cử tham gia phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Đà Lạt với phía Pháp. Cùng với các thành viên trong phái đoàn như Võ Nguyên Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu… Giáo sư – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã làm hết sức mình để cuộc hội nghị “găng mà không gãy”; song thực dân Pháp quyết tái xâm lược Việt Nam đã khiến hội nghị thất bại.

Ngày 11/5/1946, phiên họp cuối cùng đã diễn ra trong bầu không khí cực kì căng thẳng, và kết thúc bằng những tuyên bố “lưu danh thiên cổ”. Trong hồi kí “Một vài kí vãng về Hội nghị Đà Lạt” của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn xuất bản ở Paris năm 1971, ghi lại: “Luật sư Nguyễn Mạnh Tường có tuyên bố bằng tiếng Pháp, nguyên văn như sau: “Việt Nam là một trong lịch sử và trong mỗi trái tim của chúng tôi. Nam Bộ là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi…”.

Trong kháng chiến chống Pháp, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường cùng gia đình rời bỏ cuộc sống nhung lụa tham gia kháng chiến cho đến ngày toàn thắng. Bản thân ông và gia đình đã hiến hầu hết tài sản cho cách mạng, trong đó có những biệt thự, dinh thự lớn tại khu phố trung tâm Hà Nội… Sau khi về tiếp quản Thủ đô, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường làm công tác giảng dạy, nghiên cứu ở Đại học Sư phạm Hà Nội và Bộ Giáo dục.

Cuộc đời Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường trải nhiều thăng trầm, song nhìn lại, ông tự bạch: “Tôi hoàn toàn thoả mãn về cuộc đời, vì mọi ước mơ của tôi đều đã thành đạt. Tôi mơ làm giáo sư văn chương phương Tây thì tôi đã là giáo sư. Tôi mơ trở thành trạng sư cãi những vụ nổi tiếng, tôi đã là trạng sư. Tôi mơ một cuộc sống thật gần gũi với người dân, nghề giáo và trạng sư đã giúp tôi cảm thông và sống được những nỗi niềm của người dân bình dị”.

Năm 1989, khi giáo sư Nguyễn Mạnh Tường sang thăm nước Pháp, giữa lúc thế giới có những biến động lớn: bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô, Đông Âu tan rã… Một số người muốn lợi dụng danh tiếng của ông vào mục đích chống Việt Nam, nhưng họ đều bị khước từ.

Nhiều bạn bè, học trò muốn mời ông ở lại Pháp lâu dài, vì thấy ông về già phải sống đạm bạc, nhưng họ đã nhận được câu trả lời: “Tôi là người trí thức Việt Nam, tôi có lòng tự trọng của mình. Tôi không thể bỏ đất nước nghèo mà ra đi”.

Trái tim của nhà trí thức lớn Nguyễn Mạnh Tường luôn tâm huyết với cuộc đời, với con người và đất nước đã ngừng đập vào ngày 13/6/1997. Đến viếng Giáo sư, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười ghi vào sổ tang: “Giáo sư – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức yêu nước đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục của Việt Nam”

Trần Duy Hiển

Giai Thoại Về Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Có Một Giai Thoại Về Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Trong Vụ Xử Án Thời Kỳ Cải Cách Ruộng Đất Năm 1957, Thật Hư Ra

Nguyễn Mạnh Tường Vị Luật Sư Huyền Thoại (Phần Ii) (Kiều Mai Sơn)

Dịch Vụ Luật Sư Của Công Ty Luật Minh Khuê

Đại Luật Sư Tranh Tài (Htv2)

Mở Quán Cà Phê, Cửa Hàng Nhỏ Có Phải Đăng Ký Kinh Doanh Không?

Nguyễn Mạnh Tường Vị Luật Sư Huyền Thoại (Phần Ii) (Kiều Mai Sơn)

Giai Thoại Về Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Có Một Giai Thoại Về Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Trong Vụ Xử Án Thời Kỳ Cải Cách Ruộng Đất Năm 1957, Thật Hư Ra

Giáo Sư, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường: Chữ Tài Liền Với Chữ Tâm

Gs.ts Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường: Nhà Trí Thức Gắn Với Nhiều Huyền Thoại

Tránh Rắc Rối Luật Mới Về Di Trú Mỹ (Darren Nguyễn Ngọc Chương, Esq)

Diện Đầu Tư Di Dân Eb

3-VỤ XỬ QUẢN DƯỠNG DƯỚI CHÍNH THỂ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ.

Sau khi dự Hội nghị Đà Lạt về, GS Nguyễn Mạnh Tường quay trở về nghề luật sư, nhưng lần này do Chính phủ cử ra để bào chữa cho bị cáo. Hồi ký của GS Nguyễn Mạnh Tường viết: ” Hồi đó ông Bùi Lâm có đến bảo tôi là Chính phủ yêu cầu luật sư bào chữa cho những vụ xét xử hiện nay và nay mai rất là quan trọng, cần phải những luật sư có tên tuổi “.

Tôi nói: ” Tôi là giáo sư, là luật sư, nếu Chính phủ muốn giao cho tôi nhiệm vụ luật sư, tôi xin sẵn sàng”.

Luật sư ở trong nước thì có nhiều nhưng những người được bà con biết tên tuổi như Bùi Tường Chiểu, Trần Văn Chương, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Anh, Đỗ Xuân Sảng… thì còn ít. Lúc đó luật sư Trần Văn Chương đang trong nhà lao, còn các vị khác như luật sư Hồ Đắc Điềm, Phan Anh, Phan Mỹ… thì bận nhiều việc hành chính trong chính quyền mới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vụ án luật sư Nguyễn Mạnh Tường được mời bào chữa lần này là vụ Quản Dưỡng.

Ông Nguyễn Xiển nhớ lại: “Bấy giờ bên cạnh ông (Nguyễn Xuân Chữ), tôi (Nguyễn Xiển) nhìn thấy có mặt một số người tôi không quen. Chưa nói chuyện được bao nhiêu thì đoàn người biểu tình có vũ trang kéo đến bao vây Phủ Khâm sai, sau này mới được gọi là Bắc Bộ Phủ. Cái cảnh nhân dân bao vây và vượt vượt qua hàng rào sắt xông vào tòa nhà đó thì máy ảnh đã ghi vào lịch sử. Còn chuyện gì xảy ra ở bên trong, có lẽ tôi là một người hiếm hoi có may mắn tình cờ được chứng kiến.

Thật tình sáng hôm ấy tôi cũng bị bất ngờ như Nguyễn Xuân Chữ. Nhiều người bạn của ông Chữ tháo chạy ra cổng sau. Tôi ở lại vì không nỡ bỏ mặc một mình ông ấy. Lúc đó đội bảo vệ Phủ Khâm sai đã dàn quân, tì súng vào bao lơn trước cửa chính dẫn vào phòng khách. Có cả lính núp ở dưới nhà hầm chĩa súng ra bên ngoài. Tôi khuyên ông Chữ ra lệnh cho đội bảo vệ rút lui vì nghĩ rằng một tiếng súng nổ có thể gây tai họa. Sau này tôi mới được biết anh em đội bảo vệ đã được cách mạng vận động từ đêm trước nên đã sẵn sàng nộp súng cho Việt Minh. Ông Chữ có lẽ quá bàng hoàng trước tình thế đột ngột diễn ra nên cứ đờ ra không biết làm gì. Tôi phải dẫn ông ra gặp đại biểu của quần chúng. Ông Chữ ra đối diện với đoàn biểu tình nhưng không nói được một lời nào. Quần chúng ùa vào chiếm Bắc Bộ Phủ…

Tôi đi ra tìm xe đạp về nhà, trong lòng rất phấn khởi trước khí thế cách mạng của nhân dân, vui mừng một phần vì đã quyết định theo tình cảm tự nhiên của mình, ngả về phía quần chúng, không chần chừ ngay trong giây phút vừa qua, giây phút mà sau này được coi là lịch sử” (Theo Hồi ký của cụ Nguyễn Xiển, Tạp chí Xưa & Nay số 78 – tháng 8-2000).

Nhưng ở Hà Đông, Trần Văn Dưỡng, người gốc Quảng Yên, trước làm lính khố đỏ cho thực dân Pháp, thường gọi là Quản Dưỡng đã ra lệnh cho lính Bảo an binh bắn vào đoàn người biểu tình làm 70 người chết.

Vụ án được xét xử tại Hà Đông. Đây là vụ án lớn đầu tiên kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập. Chánh án phiên toà là luật sư Phan Mỹ (em ruột luật sư Phan Anh thời điểm đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng).

Hồi ký của LS Nguyễn Mạnh Tường cho biết: “Khi ô-tô tôi (Nguyễn Mạnh Tường) vào đến Hà Đông, vào trong phòng đợi, hai bên quần chúng đều đeo khăn tang, toàn là gia đình người bị nạn. Khi bào chữa cho Quản Dưỡng, mỗi lời tôi nói lên là kèm theo tiếng khóc của một bà vợ hay một người con”. Với những bằng chứng rõ ràng, với những lập luận đanh thép của LS Nguyễn Mạnh Tưởng, phiên tòa đã xử Quản Dưỡng mức án tử hình. Đây cũng là kết cục xứng đáng cho một kẻ suốt đời làm tay sai cho thực dân, đến phút cuối cùng của sự sụp đổ chế độ áp bức do ngoại bang dựng lên, đã ngoan cố cho lính dưới quyền tàn sát dân lành.

Sau này luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn tham gia bào chữa nhiều vụ án khác tại các Toà án Quân sự, Toà án Nhân dân, Toà án trong Cải cách Ruộng đất theo yêu cầu của Nhà nước.

4 – XỬ ÁN TẠI LÀNG SÊU (HÀ ĐÔNG).

Đã sắp bước sang tuổi 80, nhưng nhà giáo Nguyễn Lâm (sinh năm 1932), quê xã Viên Nội, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây cũ, từng là giáo viên cấp 3 tại thị xã Bắc Kạn, rồi trường Trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An – Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu, vẫn lưu giữ trong ký ức của ông những kỷ niệm đẹp về một vùng quê và một con người – người trí thức huyền thoại – luật sư Nguyễn Mạnh Tường.

Thôn Trinh Tiết, xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông cũ, là một làng quê trù phú, thanh bình, đứng soi mình bên dòng sông Đáy thơ mộng vớitên nôm rất hóm: làng Sêu. Làng Sêu có chợ Sêu ở giữa làng, mỗi tháng họp sáu phiên, mồng một, mồng sáu, mười một, mười sáu, hăm mốt, hăm sáu. Làng nằm trên dải bậc thềm phù sa cổ, nhiều truyền thuyết.

Làng Sêu đẹp và thơ mộng với những ngôi đình, chùa cổ kính khắc dấu ấn thời gian lên từng mạch gỗ. Đường làng lát vỉa, sạch sẽ sau mỗi cơn mưa. Những ngõ xóm hẹp ẩn hiện những ngôi nhà nhỏ sau lớp rào râm bụt hoặc chuối được cắt tỉa vồng lên thành những cái cổng xinh xắn. Đẹp nhất vẫn là dòng sông Đáy chảy lững lờ bên làng. Bãi dâu xanh ngát trải dài ven sông… Có chợ, có trường, có đường, có bến sông. Buổi chiều về, những cánh buồm đủ kiểu no gió đưa những con thuyền lướt trên sông nước khi ẩn, khi hiện trong màn sương buông xuống mờ đục.

Trong kháng chiến chống Pháp, Sêu là một trong những thị trấn sầm uất của Liên khu III. Cuộc sống thanh bình, thơ mộng khi đó vẫn diễn ra bất chấp chiến tranh đang đến gần. Cách xa Hà Nội khoảng 50 cây số, Sêu là điểm dừng chân xuôi ngược trên đường lên Việt Bắc hoặc vào khu Tư… Nhiều nhân vật có tên tuổi trong kháng chiến đã qua đây.

Cũng nơi đây, dưới mái đình làng, trường Trung học Nguyễn Huệ trong kháng chiến đã ra đời theo phương pháp giáo dục Hoàng Xuân Hãn. Trường làng Sêu hồi đó hay tổ chức xử án, có luật sư Nguyễn Mạnh Tường nổi tiếng, bào chữa cho các bị cáo rất hùng biện, hấp dẫn quần chúng. Các phiên toà được diễn ra vào ban đêm, ngoài giờ học nên đã lôi cuốn nhiều bà con và các em học sinh tới dự không chỉ vì tò mò hay giải trí mà muốn nghe tài biện hộ của luật sư

Nhà giáo Nguyễn Lâm ghi nhớ mãi phiên toà của toà án Quân sự đặc biệt Liên khu III được mở để xét xử bị can là vợ của một lãnh tụ Quốc dân đảng ở Vĩnh Yên. Phiên tòa hồi đó đã được tổ chức trong ánh đèn măng-sông. Chánh án là luật sư Lê Văn Chất.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường khoác chiếc áo thụng đen, tay áo rộng đã vung vẫy đôi tay “biểu diễn” những lời bào chữa dành cho thân chủ của mình:

– “Đối với nhân thân người phụ nữ này, tôi cho rằng đó là một người phụ nữ có nhan sắc, nói năng lưu loát và sắc sảo, đã có một đời chồng là thợ may, sau này làm vợ của một tên tướng Quốc dân đảng, bà ta còn đảm nhiệm việc cung cấp lương thực cho đội quân của chồng. Tuy là người có tội vì phục vụ cho bọn Việt gian phản động, với mức án dự kiến là tử hình, nhưng xét về khía cạnh nào đó, bà ta là một người có tài mà không dễ gì một phụ nữ có thể đảm đương được”.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tườngcho là người thợ may làm sao xứng đáng làm chồng của người vợ này. Vì vậy bà ta đã có đời chồng thứ hai là tướng của Quốc dân đảng. Lấy chồng thì phải theo chồng kể cả phải đảm nhiệm là người tổ chức hậu cần cung cấp lương thực cho đội quân của chồng là điều có thể hiểu được.

Chánh án Lê Văn Chất, viện dẫn ở Pháp đã có trường hợp một phụ nữ bị án tử hình, ông còn nêu tên tuổi của người đó. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường liền đáp một cách nhanh nhẹn:

– “Thưa ông Chánh án, làm sao chúng ta lại bắt chước thực dân Pháp, chính thể của chúng ta là chế độ Dân chủ Cộng hoà. Ngoài ra chúng ta còn đang chiến đấu chống lại thực dân Pháp để bảo vệ nền dân chủ còn non trẻ. Vì vậy tôi đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng án tử hình cho người phụ nữ này”.

Sau thời gian nghị án một cách chóng vánh, phiên toà được kết thúc với mức án tuyên không phải là án tử hình và tính mạng của người phụ nữ này đã được bảo toàn nhờ tài năng của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường.

Dịch Vụ Luật Sư Của Công Ty Luật Minh Khuê

Đại Luật Sư Tranh Tài (Htv2)

Mở Quán Cà Phê, Cửa Hàng Nhỏ Có Phải Đăng Ký Kinh Doanh Không?

Luật Sư Đại Diện Bố Mẹ Mai Phương Lên Tiếng Về Việc Bị Bảo Mẫu Của Bé Lavie Kiện

Dịch Vụ Luật Sư Tư Vấn Đất Đai Toàn Quốc Miễn Phí

Giai Thoại Về Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Có Một Giai Thoại Về Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Trong Vụ Xử Án Thời Kỳ Cải Cách Ruộng Đất Năm 1957, Thật Hư Ra

Giáo Sư, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường: Chữ Tài Liền Với Chữ Tâm

Gs.ts Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường: Nhà Trí Thức Gắn Với Nhiều Huyền Thoại

Tránh Rắc Rối Luật Mới Về Di Trú Mỹ (Darren Nguyễn Ngọc Chương, Esq)

Diện Đầu Tư Di Dân Eb

Luật Sư Đỗ Phủ: Sẽ Cố Gắng Giúp Minh Béo Được Tại Ngoại Hầu Tra

1 Giai Thoại Về Luật sư Nguyễn Mạnh Tường Có một giai thoại về Luật sư Nguyễn Mạnh Tường trong vụ xử án thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất năm 1957, thật hư ra sao, xin chịu, nhưng lan truyền rộng khắp xứ Bắc Kỳ. Chuyện kể như sau: Một viên đại úy, bạn thân của luật sư Nguyễn Mạnh Tường, 9 năm kháng chiến xa nhà, về phép, nửa đêm về đến nhà, thấy ngay cảnh nóng giữa mẹ ông và người đàn ông trên giường trước bàn thờ bố ông, không giữ được bình tĩnh, ông đòm một phát, người đàn ông trần như nhộng chầu ông vải. Trở về đơn vị, ông đầu thú vụ giết người. Không ngờ, người bị giết chính là đội trưởng đội Cải Cách Ruộng Đất, thời bấy giờ Nhất Đội, Nhì Trời. Dám dùng súng quân đội giết hại cán bộ Cải Cách đang làm nhiệm vụ là điều không thể chấp nhận được. Viên sĩ quan bị tước quân tịch và đưa ra xét xử. Án này rất nặng, khả năng từ chung thân đến tử hình. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường nhận bào chữa cho anh bạn, thụ lý hồ sơ, ông dặn nhỏ, cứ thế, cứ thế.. Xét về mọi khía cạnh, nhiều thành tích, thân nhân tốt, tòa tuyên án chung thân thay cho tử hình. Chánh án, dõng dạc hỏi: – Bị cáo có điều gì cần nói không? Viên đại uý, đứng trước vành móng ngựa, nói thật to: – Thưa chánh án, trước khi vào tù tôi xin Địt Mẹ Chánh Án Một Phát. Cả phòng xử án, cười ồ, lộn xộn. Mặt đỏ như mặt trời, chánh án, đứng

2 bật dậy, cầm ngay chiếc ghế đang ngồi, liệng xuống vào người viên đại úy. Luật sư Tường đứng lên, dõng dạc, nói: – Chánh án chỉ nghe người ta xin địt mẹ ông mà còn không giữ được bình tĩnh, chiếc ghế là vật duy nhất ông có, ông đã xử dụng tấn công đối phương. Vậy bị cáo là người sau 9 năm xa cách mẹ già, nay tận mắt nhìn thấy đội trưởng đội cải cách địt mẹ mình thật. Cũng như chánh án, bị cáo không giữ được bình tĩnh, khẩu súng là vật duy nhất có trong tay, bị cáo đã không giữ được bình tĩnh, đã xảy ra sự đáng tiếc. Đây là vụ án ngộ sát, không phải vụ án cố ý giết người như tuyên cáo. Đề nghị huỷ bản án. Vụ án được đưa về Hà nội xử phúc thẩm, viên đại uý, nghe đâu, (hơi nồi chõ,) phải tù 5 năm. Người luật sư giỏi có thể giúp những nạn nhân những chuyện như không thể trở thành có thể. Vụ án giết chồng (NDVinh thêm vào: vụ Phan Thị Vàng Anh), giá như có những luật sư giỏi như cụ Tường chắc bản án đã khác Original Message From: Hoa Do Sent: July 18, :00 PM Subject: Fw: Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường xác dịnh không tham gia Việt Minh Than chuyen. NTH Sent: Monday, July 18, :54 PM Subject: Fwd: Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường xác dịnh không tham gia Việt Minh Ông chỉ nhận là nhà trí thức yêu nưóc, yêu dân chủ, không Việt minh Ông đả đảo cải cách ruộng đất. Nguyễn Mạnh Tường ( ) – Bài 1: Giai đoạn trước 1954

3 Luật sư Nguyễn Mạnh Tường và bìa quyển “Un excommunié (Kẻ bị khai trừ)” xuất bản tại Paris năm DR Thụy Khuê “Tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền”. Nguyễn Mạnh Tường. Ngày 30/10/1956, Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết 6 tiếng trước Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà Nội (3 giờ buổi sáng, 3 giờ buổi chiều) về những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Trường Chinh, Xuân Thủy và Dương Bạch Mai yêu cầu ông viết lại nội dung cuộc nói chuyện ứng khẩu thành văn bản. Ông viết lại với tựa đề: “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”, đánh máy làm hai bản, trao cho Trường Chinh và Xuân Thủy, chỉ giữ lại bản nháp viết tay. Bài chính luận sâu sắc, chủ đích phân tích những sai lầm của chế độ, từ cải cách ruộng đất ở thôn quê, sang cải tạo tư sản, quản lý mậu dịch ở thị thành, chỉ ra nguồn cội của sai lầm: vì chế độ chính trị không dân chủ. Và trình bày phương pháp sửa chữa: thực hiện những nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền, trong một chế độ dân chủ. Bài tham luận được gửi sang Rangoon (thủ đô Miến Điện) rồi đến Pháp (theo Hoàng Văn Chí). Vậy Trường Chinh và Xuân Thuỷ, ai là người chuyển băn bản của Nguyễn Mạnh Tường ra ngoại quốc, và để làm gì? Để cho quốc tế biết tình hình miền Bắc Việt Nam hay để buộc tội tác giả? Nguyễn Mạnh Tường bị kiểm điểm rồi bị đuổi khỏi đại học, sống trong hơn 30 năm sa mạc. 40 năm sau, ông viết tiểu thuyết Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm) về ba chính sách nòng cốt trong thời kỳ xây dựng chế độ Cộng sản ở

4 miền Bắc: Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, và Thanh lọc trí thức. Ông gửi bản thảo sang Paris. Đây là một trong 7 tác phẩm được hoàn tất trong giai đoạn cuối đời, tất cả viết bằng tiếng Pháp, về hơn 60 năm ông sống dưới chế độ cộng sản. Ngoại trừ cuốn Un excommunié (Kẻ bị khai trừ), được Quê Mẹ in năm 1992 tại Paris, các tác phẩm khác, chưa in. Tại Paris trong bốn tháng (4/1989-1/1990), ông trả lời nhiều cuộc phỏng vấn, được ghi âm, viết lại, in trên báo, và riêng chúng tôi cũng có dịp gặp ông, nhờ đó, nhiều vấn đề được sáng tỏ hơn. Ngày 27/7/2003, bác sĩ nha khoa Nguyễn Văn Lung ( ) (em ruột bà Hoàng Xuân Hãn) người tích cực hoạt động cho tổ chức Francophonie (Khối Pháp ngữ) gửi đến chúng tôi một tập tài liệu quan trọng về giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, với lời ghi: “Tôi xin gửi tới chị một số tài liệu về anh Tường để chị sẽ làm hương hồn anh trở lại với chúng ta”. Và ông Lung đề nghị cùng chúng tôi làm một chương trình về luật sư Nguyễn Mạnh Tường trên đài RFI, dưới dạng phỏng vấn, bởi ông biết rõ con người và đã được đọc nhiều tác phẩm chưa in của Nguyễn Mạnh Tường. Đang chuẩn bị, thì ông được thư của bà Nguyễn Mạnh Tường ngỏ ý lo ngại, ông đành phải hoãn cuộc phỏng vấn, đợi khi nào thuận tiện hơn. Tuy nhiên ông căn dặn chúng tôi có toàn quyền sử dụng tập tài liệu này trong khuôn khổ văn hoá. Cũng xin nói thêm, Nguyễn Văn Lung và Joël Fouilloux, là hai người có giấy ủy quyền của Nguyễn Mạnh Tường về việc in các tác phẩm của ông ở ngoại quốc. Chúng tôi đang chờ đợi một dịp thuận tiện để công bố những tư liệu này, thì ông Nguyễn Văn Lung đột ngột qua đời tại Paris ngày 8/10/2009. Trong tập tài liệu này, ngoài hình ảnh, thư từ viết bằng tiếng Pháp, trao đổi giữa Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Văn Lung cùng một số người Pháp, về vấn đề Francophonie, về việc in sách của luật sư tại Pháp, còn có bản chụp hai cuốn Contruction de l’orient- Appntissage de la Méditerranée (Xây dựng Đông phương- Kinh nghiệm Địa Trung Hải) và Le voyage et le sentiment (Du hành và cảm xúc), kịch. Ngoài ra, có một bản đánh máy, kê khai gần đủ các tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường, phần lớn chưa in, và nhất là bản thảo (đánh máy) cuốn Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm) do Nguyễn Mạnh Tường sửa lỗi. Qua những tư liệu này, chúng tôi thử dựng lại chân dung Nguyễn Mạnh Tường, chủ yếu, dẫn trích từ các tác phẩm và từ lời nói của ông trong các buổi gặp gỡ, trả lời phỏng vấn Phạm Trần, Hoà Khánh, ở Paris, và giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, học trò ông ở Hà Nội. Phần thứ hai, chúng tôi sẽ giới thiệu tác phẩm Une voix dans la nuit, cho tới nay, là cuốn sách duy nhất do một trí thức tự do viết về những bi kịch đau thương còn khép kín. Như tất cả các tác phẩm khác của Nguyễn Mạnh Tường, Une voix dans la nuit, có bút pháp mạnh mẽ, đầy hấp lực và hình ảnh, mỉa mai và châm biếm,

5 chặt chẽ trong lập luận pháp lý, là sự đồng quy của văn chương và luật pháp trong một ngòi bút nhà văn. Tập tài liệu của nha sĩ Nguyễn Văn Lung trao cho chúng tôi năm 2003, với những bút tích quý giá này, sẽ được gửi về Viện bảo tàng văn học hoặc lịch sử, khi điều kiện cho phép. Ở trong nước, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh (16/9/ /9/2009), Nguyễn Mạnh Tường được thần tượng hoá trở lại, với những mỹ từ “thông minh siêu việt” “lưỡng khoa tiến sĩ” “kỷ lục chấn động học đường nước Pháp”, “nhà sư phạm lỗi lạc”… Những điều đó ít nhiều có thật, tiếc rằng còn một sự thật đáng nói hơn là cuộc đời và tác phẩm của ông, hiện vẫn bị chôn vùi trong bóng tối.

Nguyễn Mạnh Tường Vị Luật Sư Huyền Thoại (Phần Ii) (Kiều Mai Sơn)

Dịch Vụ Luật Sư Của Công Ty Luật Minh Khuê

Đại Luật Sư Tranh Tài (Htv2)

Mở Quán Cà Phê, Cửa Hàng Nhỏ Có Phải Đăng Ký Kinh Doanh Không?

Luật Sư Đại Diện Bố Mẹ Mai Phương Lên Tiếng Về Việc Bị Bảo Mẫu Của Bé Lavie Kiện

Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Thuyết Trình Về Luật Pháp Với Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường

Ba Giờ Với Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường

Gs.ts Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường

Thủ Tục Di Trú Cho Nạn Nhân Cuả Sự Bạo Hành ( Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

Lý Do Truc Xuất Người Đang Xin Nhập Cảnh Hoa Kỳ (Ls. Nguyễn Ngọc Chương)

Cuộc nói chuyện về luật pháp giữa Luật sư Nguyễn Mạnh Tường và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được luật sư ghi lại trong hồi ký bằng tiếng Pháp và một học trò của ông là Nguyễn Bá Bảo – nguyên Đại sứ Việt Nam tại Austraylia & Newdelan dịch ra tiếng Việt. Nhân kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2020), Báo Pháp luật Việt Nam xin giới thiệu một phần nội dung cuộc trò chuyện này.

***

Bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tặng Luật sư Nguyễn Mạnh Tường – Tư liệu gia đình

Anh hùng giữa đời thường

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi Luật sư Nguyễn Mạnh Tường: Đại hội đã gây cho ông cảm tưởng gì? Ông trả lời:

“Thưa Chủ tịch, một cảm tưởng mà tôi buộc phải coi là cực kỳ đặc biệt. Làm sao tôi có thể tưởng tượng cây Người có thể sản sinh ra những bông hoa tuyệt mỹ như vậy? Làm sao con người bằng xương, bằng thịt có thể đạt tới đỉnh cao như vậy của chủ nghĩa anh hùng và lòng cao thượng?”.

Ông nhớ đến thời thơ ấu đã say sưa đọc trong sách lịch sử những chiến thắng của các anh hùng dân tộc ta đã giành được trong sự nghiệp chống xâm lược ngoại bang. Lớn lên, học lịch sử Hy Lạp cổ đại, ông rất chú ý tới tên những anh hùng được ca tụng: Marathon và Salamine…

Những người anh hùng tưởng như chỉ có trong huyền thoại thời xưa thì nay đã xuất hiện xung quanh ông. Đó là nữ anh hùng Nguyễn Thị Chiên, anh hùng Trần Đại Nghĩa, anh hùng Ngô Gia Khảm, anh hùng La Văn Cầu, anh hùng Nguyễn Quốc Trị… Ông chú ý nghe chiến công của họ với bao niềm cảm phục.

“Hồ Chủ tịch nghe tôi nói, con mắt mơ màng phóng ra đằng xa, rồi Người nhìn thẳng vào tôi với khóe nhìn lóng lánh niềm vui và tay vuốt bộ râu cằm.

Người hỏi tôi một câu:

– Con đường mà chú đã trải qua để đi tới kết luận như hiện nay quả là khó khăn và tôi ca ngợi sự thành thật của chú. Con đường đi tới một chân lý càng khó thì khi đi tới chân lý đó, người ta càng tin tưởng. Đối với những người anh hùng mà chú ngưỡng mộ và là người đã thổi vào tâm trí chú niềm tin vào chiến thắng cuối cùng, chú có thấy gì đặc biệt ở họ?

– Thưa Chủ tịch, đó là nguồn gốc nông thôn của họ. Từ trước cuộc kháng chiến này, tôi sống ở chốn thị thành. Giờ tôi thấy xấu hổ thừa nhận rằng tôi chẳng biết tí gì về vùng nông thôn và về người nông dân. Chút hiểu biết về nông thôn và nông dân tôi từng thu nhận được chỉ là sách vở và méo mó.

Chính ở chiến khu, hành nghề luật sư và đi khắp các tỉnh miền Bắc, miền Trung, tôi đã được sống trong môi trường nông thôn, được tiếp xúc với người nông dân và được hiểu họ. Thời gian đó bù đắp lại những chỗ hổng, sửa chữa những sai lầm và thành kiến của tôi. Nó đưa lại cho bản thân tôi một hình ảnh trực diện, đầy đủ và đúng đắn về dân tộc mà tôi tự hào là thành viên thuộc dân tộc đó.

Mới gần đây thôi, hình ảnh nhân dân mà các tình huống trong cuộc sống đặt ra trước mắt tôi đã bị cắt xén, gây tổn thương, què quặt. Tầm nhìn của giai cấp tiểu tư sản hạn chế con mắt tôi. Tôi không thấy rõ sức mạnh vô biên của quần chúng nhân dân.

Bây giờ cái nhìn của tôi về Tổ quốc và những người con của Tổ quốc đã được hoàn toàn thiết lập lại trong thực tế đầy đủ của nó. Một sự cân đối đã được hình thành trong tâm trí tôi, đem lại cho tôi những thú vui mới mà tôi chưa hề biết tới và đó là những cảm xúc vô giá.

Nhưng thưa Chủ tịch, tôi phải thú nhận với Chủ tịch rằng những người nông dân này mà tôi quý mến rất đức độ và bỏ qua những thiếu sót, tôi không thể tưởng tượng sao họ có thể nâng cao khả năng đến mức thực hiện được những chiến công như chúng ta đã biết. Vậy mà những hiện tượng phi thường đó đã diễn ra và tôi hoàn toàn ngạc nhiên.

Tôi xin gửi đến Chủ tịch và Đảng của Người lòng tôn kính đã có khả năng nhóm lên ngọn lửa yêu nước của nông dân mà cả nước đang chờ mong những kết quả kỳ diệu”.

Hồ Chủ tịch nói:

– Tôi sung sướng được nghe ý kiến của chú. Bây giờ, theo chú nên hướng chính sách của ta như thế nào?

– Đó là một vấn đề cực kỳ tế nhị, tôi sẽ chỉ dám đề cập đến vấn đề đó, nếu được Chủ tịch cho được hoàn toàn tự do tin tưởng.

Về nội dung, tôi có nhiều ý kiến theo hướng của Chủ tịch, nhưng có những điểm quan trọng tôi cầu mong Người có những quan điểm mới. Chúng ta cùng một điểm xuất phát: Quần chúng lao động bao gồm nông dân, công nhân, trí thức, cấu thành hầu hết dân số nước ta. Tất cả mọi chính sách không tính đến sự thật quá rõ ràng đó, chắc chắn sẽ thất bại ngay từ đầu.

Lợi ích của nhân dân lao động phải là mối quan tâm thường xuyên của chúng ta. Mà họ không đòi hỏi cái không hề có, họ chỉ mong muốn được thỏa mãn ở mức tối thiểu những nhu cầu của một con người văn minh, nhu cầu về cơ thể, về trái tim, về khối óc và tất nhiên nhờ lao động chân tay hay trí óc của họ. Họ chỉ chờ đợi ở công quyền được phép sống một cuộc sống của con người.

Việc làm để họ có thể cuộc sống của con người, phải được đề cập tới trên hai phương diện. Việc làm đó phải là việc làm tự do, không cưỡng bức. Chỉ có việc làm tự do mới đem lại hiệu quả cho người lao động và xã hội. Ngoài ra, người ta lao động không phải để chơi, mà phải có lợi. Lợi đó là quyền được hưởng thụ thành quả lao động của mình.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909 – 1997) – Tư liệu gia đình

Theo Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, trong lĩnh vực công cộng, cơ chế Nhà nước phải tôn trọng những nguyên tắc khác để bảo đảm việc thực thi tốt chức năng của Nhà nước. Một trong số đó là tôn trọng luật pháp. Ông phân tích:

“Một sự lẫn lộn tai hại đang diễn ra giữa quyền lực và quyền. Tất cả các cơ quan từ cấp phường xã đến cấp trung ương đều tưởng mình có quyền làm tất cả, nhất là xâm phạm quyền tự do của công dân và có quyền sử dụng những khoản tiền khổng lồ của công quỹ.

Tôi không nói những vi phạm luật pháp khác mà tính chất phạm pháp rất rõ nét. Ở đó, những sự phản kháng là vô tội không được chú ý nghe như trong các trường hợp ranh giới giữa quyền lực và quyền không rõ ràng. Vì vậy, nguyên tắc chung cần phải công bố là tất cả mọi người, kể cả những người có một chút quyền lực, đều phải tuân theo luật pháp. Đó là ý nguyện của nhân dân và là công cụ giữ gìn trật tự công cộng.

Nguyên tắc đó bao giờ cũng phải kèm theo hậu quả tất yếu của nó là: Tất cả mọi vi phạm pháp luật phải dẫn tới trách nhiệm không chỉ chính trị (khai trừ khỏi Đảng), hành chính (cắt chức, hạ chức, cho về hưu), mà còn cả hình sự (tịch thu, tiền phạt, án tù).

Phải quyết định trách nhiệm bao giờ cũng là cá nhân, vì trách nhiệm tập thể là vô nghĩa. Mọi quyết định đều mang một chữ ký, người ký tên chính là người sẽ phải đưa ra xét xử. Để kết tội những người chịu trách nhiệm và áp dụng luật hình sự đối với họ, nhất thiết cơ chế quan tòa phải được toàn quyền tự do và độc lập đối với cấp trên trong hệ thống quan tòa và Đảng.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường và đồng nghiệp tham dự Hội nghị Luật gia Dân chủ Quốc tế (1956) – Tư liệu gia đình

“Suốt buổi thuyết trình của tôi, Người không tỏ một sự phản ứng nào, hoặc tán thành, hoặc không tán thành. Có lẽ Người muốn cân nhắc sự suy xét, chọn lọc cái hay và cái dở, giữ một thái độ trung lập và khách quan. Đó là một thái độ cẩn thận và kín đáo, để phân tích tốt hơn nội dung những lời tôi nói, để thấu hiểu ý nghĩa đã diễn tả rõ ràng và cả những ẩn ý trong từng câu, từng chữ.

Trước mặt tôi là một nhân vật quan trọng hiểu rõ giá trị một cử chỉ, một ý định, trên cương vị một lãnh tụ, chịu trách nhiệm về số phận cả một dân tộc. Vì vậy, Người không thể tự cho phép mình, qua một giọng nói nào, một nét mặt nào, một động thái nào của con mắt hoặc bàn tay, biểu thị một dấu hiệu vội vã, nhẹ dạ, tự phát, thiếu suy nghĩ, không tự kiềm chế được và bật ra từ bề sâu tình cảm.

Nhân vật đó giữ được tự chủ một cách tuyệt vời và có một bản lĩnh hoàn hảo!”.

Xét Nghiệm Adn Sẽ Xác Định Minh Béo Phạm Tội Hay Không

Minh Béo Có Thể Sẽ Khẳng Định Vô Tội Tại Tòa

Văn Phòng Luật Sư Trần Gia Minh

Tham Quan Little Saigon Ở Cabramatta

Luật Sư Gốc Việt Bị Bắn Chết Ở Bankstown, Hung Thủ Vẫn Đang Bị Cảnh Sát Truy Lùng

Gs.ts Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường: Nhà Trí Thức Gắn Với Nhiều Huyền Thoại

Tránh Rắc Rối Luật Mới Về Di Trú Mỹ (Darren Nguyễn Ngọc Chương, Esq)

Diện Đầu Tư Di Dân Eb

Luật Sư Đỗ Phủ: Sẽ Cố Gắng Giúp Minh Béo Được Tại Ngoại Hầu Tra

Luật Sư Đỗ Phủ Bất Ngờ Việc Minh Béo Nhận 2 Tội Danh

Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Đất Đai Online Miễn Phí Qua Tổng Đài

Từ trái qua phải: Cụ Nguyễn Mạnh Tường (thứ 2), cụ Phan Tư Nghĩa (đứng), cụ Phí Văn Bái (thứ 6).

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia Đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị Đà Lạt nhằm ngăn chặn âm mưu tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp. Với tầm kiến thức rộng lớn, ông tham gia vào các Đoàn đại biểu của Chính phủ kháng chiến dự Hội nghị Bảo vệ Hòa bình ở Bắc Kinh (Trung Quốc – 1952), Đại hội Hòa bình Thế giới ở Vienna (Áo – 1953), rồi làm Trưởng đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Luật gia Dân chủ Thế giới ở Bruxelles (Bỉ – 1955). Lập luận và trí thức uyên thâm của Nguyễn Mạnh Tường đã góp phần làm cho thế giới biết đến một Việt kháng chiến, kiên cường và trí tuệ…

Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường đã tham gia giảng dạy tại Trường Bưởi (nay là Trường trung học Quốc gia Chu Văn An) cùng với các đồng nghiệp là những trí thức tài danh thời bấy giờ như Nguyễn Xiển, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Xuân Hãn… Ông còn tham gia đào tạo trí thức phục vụ kháng chiến tại Trường dự bị đại học Liên khu IV tại Thanh Hóa, Phó giám đốc (nay là Phó hiệu trưởng) Trường đại học Sư phạm Văn khoa (nay là Trường ĐHSP Hà Nội) khi miền Bắc mới giải phóng.

GS.TS Luật sư Nguyễn Mạnh Tường từ trần ngày 13/6/1997, để lại bao nỗi tiếc thương cho gia đình, đồng nghiệp và học trò. Tổng Bí thư Đỗ Mười đến viếng ông và ghi vào sổ tang: “Vô cùng thương tiếc Giáo sư – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức yêu nước đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam”.

Chuyện về Luật sư Nguyễn Mạnh Tường tại phiên toà xét xử Cố vấn Vĩnh Thuỵ

Chiều ngày 21/8/2009, bà Vũ Bảo Tuyên con gái của cụ Vũ Đình Hòe nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục trong Chính phủ Lâm thời tháng 8/1945, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp (từ tháng 3/1946 đến năm 1960 khi Bộ Tư pháp giải thể) dẫn tôi đến nơi hai cụ đang cư trú thuộc phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP HCM. Tôi giữ mãi ấn tượng về nụ cười hiền, tiếng nói vang và ấm của cụ Vũ Đình Hòe trong suốt câu chuyện:

Cụ Vũ Đình Hoè, chiều ngày 21/8/2009.

– Về Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, à hà. Ông là người trí thức cao cấp, được cấp học bổng của Chính phủ Pháp, học giỏi, đỗ 2 bằng Tiến sĩ Quốc gia nước Pháp về văn, về luật. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong kháng chiến tôi có tiếp xúc với ông rồi cũng có gặp nhau ở Mặt trận Tổ quốc.

Đi theo kháng chiến cũng rất vất vả và Luật sư Nguyễn Mạnh Tường làm được việc quý hóa đó là ông tích cực đi cãi cho người nghèo. Ở tòa án, các vụ hình sự thường có luật sư giúp đỡ. Cãi trước tòa án quân sự, thứ nhất là những vụ về chính trị, thứ hai là những vụ phá rối là điều bắt buộc. Người Pháp thì vẫn cứ muốn lôi kéo ông Nguyễn Mạnh Tường về thành. Kéo không được thì họ làm trở ngại công việc của ông.

– Có lần, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường từng bào chữa cho ông Cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ tại Tòa án Quân sự. Sự việc này cụ thể ra sao ạ?

– Ông Vĩnh Thụy được Chính phủ, được Cụ Hồ giao công tác tham gia đoàn đi sang Trung Quốc để gặp Trung ương Đảng Quốc dân Trung Hoa – Tưởng Giới Thạch. Lúc bấy giờ cách mạng Trung Quốc chưa thành công, hãy còn đánh nhau giữa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản. Đến năm 1949, Đảng Cộng sản mới đánh thắng được Tưởng Giới Thạch. Trước đó, Tưởng Giới Thạch có cộng tác đánh Nhật với Đảng Cộng sản, hai lần hợp tác mà rồi nó lại giở chứng ra, thế là lủng củng hai phe, rồi mâu thuẫn, rồi đánh nhau bằng quân sự.

Tôi không được đọc báo cáo của ông Vĩnh Thụy, chỉ có nghe nói chuyện lại lõm bõm thôi. Nửa đường ông Vĩnh Thụy lợi dụng cơ hội tìm cách đi Hồng Công, nửa đường không về nước, từ đấy liên hệ với phái viên của Pháp. Dần dà ông ấy chịu để Pháp lôi kéo đi ngược với đường lối đánh Pháp của nhân dân ta, Chính phủ ta và Cụ Hồ.

Việc đưa ông Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy ra xét xử trước Tòa án, Chính phủ ta phải cân nhắc nhiều. Tôi lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Tư pháp nên cũng được họp trong phiên Chính phủ họp bàn về xử vụ ông Vĩnh Thụy đào nhiệm. Đó là vào hồi năm 1950 – 1951. Cụ Hồ không muốn truy tố. Cụ tin là nếu mà mình khéo quan hệ thì vẫn có thể đưa ông ấy về lại với chính nghĩa được. Nhưng anh em khác thưa với Cụ Hồ là phong trào cách mạng trong nước yêu cầu phải truy tố. Bởi vì ông ấy là người của Chính phủ, làm Cố vấn tối cao, được cử đi làm công tác ngoại giao mà ông ấy lại đào nhiệm không quay về báo cáo với Chính phủ, với Hồ Chủ tịch, tự ý đi Hồng Công…

Để hợp thủ tục dân chủ, Hồ Chủ tịch đề nghị giơ tay biểu quyết. Tất cả thành viên Chính phủ đều giơ tay lên, trừ cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Cụ nói đồng ý là ông Vĩnh Thụy phạm tội nặng đối với Tổ quốc, nhưng cụ không nỡ giơ tay biểu quyết. Cuối cùng Chính phủ quyết định giao cho tòa án xét xử theo đúng pháp luật, phải làm đàng hoàng đầy đủ thủ tục, có luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt.

Mấy tháng sau, Tòa án Quân khu III được thành lập do ông Lê Văn Chất làm Chánh án, ông Bùi Lâm làm Công tố ủy viên, một Hội thẩm chính trị là đại biểu quân đội, một Hội thẩm chuyên môn là ông Trần Đình Trúc – Thẩm phán do Giám đốc Tư pháp Khu III phái sang. Hai luật sư cùng bênh vực cho bị cáo Vĩnh Thụy là ông Đỗ Xuân Sảng và ông Nguyễn Mạnh Tường.

Bản cáo trạng buộc tội ông Vĩnh Thụy rất đanh thép. Sau khi đã thực thi đủ thủ tục pháp lý và bàn luận kỹ càng, Hội đồng xét xử đã ra phán quyết vắng mặt bị cáo: Tử hình đối với Nguyễn Vĩnh Thụy về tội phản quốc.

– Thưa cụ, tư liệu về phiên tòa xét xử ông Vĩnh Thụy ngày nay liệu có còn không ạ?

– Có lẽ vẫn còn trong các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia của Trung ương Đảng. Xử xong anh em có báo cáo lên Chính phủ và Bộ Tư pháp. Tôi chỉ biết đến thế thôi. Nội dung lời biện hộ của ông Nguyễn Mạnh Tường rất tiếc là tôi không được trực tiếp nghe và cũng không được đọc bản án.

Câu chuyện tạm thời bị gián đoạn vì căn bệnh giãn phế nang kinh niên trong cơ thể cụ. Cụ Vũ Đình Hòe là hậu duệ trực hệ của cụ Nghè làng Tự Tháp, Tiến sĩ Vũ Tông Phan triều Nguyễn, một danh sĩ ưu dân ái quốc, người đã cùng cụ Nguyễn Siêu và các danh sĩ Bắc Hà dựng lên quần thể kiến trúc quanh hồ Hoàn Kiếm với Đài Nghiên – Tháp Bút – Cầu Thê Húc – Đền Ngọc Sơn. Vào thành phố Hồ Chí Minh từ mấy năm nay để đảm bảo sức khỏe, cụ tiếp tục hoàn thành công trình nghiên cứu đang dang dở: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh. Sống ở đô thị phương Nam từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” nhưng cụ vẫn luôn luôn nhớ về Hà Nội – Thăng Long ngàn năm văn hiến, nơi cụ đã sinh ra và thừa kế lớp sĩ phu yêu nước.

Như con tằm rút ruột nhả tơ, đi trọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đến nay tuổi đời đã ngót một thế kỷ, cụ Vũ Đình Hòe vẫn không nguôi nhớ bạn đồng nghiệp trong ngành giáo dục và luật học. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, cụ Nguyễn Mạnh Tường dạy Trường Bưởi (nay là Trường trung học Quốc gia Chu Văn An) thì cụ Vũ Đình Hòe dạy Trường Tư thục Gia Long và Tư thục Thăng Long. Khi cụ Vũ Đình Hòe tốt nghiệp Khoa Luật khóa 2 của Đại học Đông Dương cũng là giai đoạn cụ Nguyễn Mạnh Tường mở Văn phòng Luật sư tại 77 Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội). Tháng 10/1945, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe và Luật sư Nguyễn Mạnh Tường lại cùng đứng chung bục giảng tại Ban Văn khoa Trường đại học Đông Dương.

Cuối cùng cụ Vũ Đình Hòe hỏi tôi:

– Không biết bà Tường cao tuổi lắm rồi đấy nhỉ. Bà có được khỏe không?

– Thưa, cụ bà Nguyễn Mạnh Tường hai năm về trước bị ngã gãy chân, ông con trưởng Nguyễn Tường Hưng phải mời thầy đến bó thuốc lá, nay cụ bà đã khỏi nhưng vì tuổi cụ cao nên không đi ra ngoài được ạ.

– Ớ! Thế bây giờ bà ấy ở đâu?

– Dạ thưa, cụ bà vẫn ở 34 Tăng Bạt Hổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

– Tăng Bạt Hổ, vẫn cái nhà có vườn? Đấy là nhà của gia đình. Bà ấy là con cụ Tống Nguyên Lễ, tên bà là Tống Lệ Dung, cùng ở trong tổ Phụ nữ nội trợ trí thức của Trung ương Hội Phụ nữ. Bà xã nhà tôi lại là tổ trưởng tổ ấy thành ra cũng đi lại khá thân. Nhưng mà có một dạo ít đi lại thăm nhau, bây giờ tôi nghĩ lại cũng cứ ân hận.

Vừa lúc đó, bà Vũ Bảo Tuyên bước đến sau lưng tôi. Tôi nhìn đồng hồ, đã được bà “đặc cách” cho hầu chuyện cụ tới 30 phút. Tôi vội đứng dậy xin phép cụ ra về…

Kiều Mai Sơn

Giáo Sư, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường: Chữ Tài Liền Với Chữ Tâm

Giai Thoại Về Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Có Một Giai Thoại Về Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường Trong Vụ Xử Án Thời Kỳ Cải Cách Ruộng Đất Năm 1957, Thật Hư Ra

Nguyễn Mạnh Tường Vị Luật Sư Huyền Thoại (Phần Ii) (Kiều Mai Sơn)

Dịch Vụ Luật Sư Của Công Ty Luật Minh Khuê

Đại Luật Sư Tranh Tài (Htv2)

Tưởng Nhớ Luật Sư Nguyễn Tường Bá

Luật Sư Phân Tích ‘nghi Án’ Châu Việt Cường Hiếp Dâm

Ba Mẹ Con Vướng Vòng Lao Lý Vì Cái Đồng Hồ Nước: Không Có Hoạt Động Công Vụ?

Đà Nẵng Xem Xét Kỷ Luật Ông Nguyễn Bá Cảnh

Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Đề Nghị Xem Xét Thi Hành Kỷ Luật Ông Nguyễn Bá Cảnh

Đề Nghị Ban Bí Thư Kỷ Luật Ông Nguyễn Bá Cảnh Vì Vi Phạm Về Đạo Đức, Lối Sống

Tưởng nhớ Luật sư Nguyễn Tường Bá

May 15, 2022 cập nhật lần cuối May 15, 2022

Về người anh vừa ra đi Nguyễn Tường Cường

Cám ơn chị Phương và các cháu đã dành cho Cường cơ hội để nói đôi lời vĩnh biệt anh Bá.

Thưa quý vị, chúng tôi là Tường-Cường, em út của anh Bá, và trước khi ngỏ lời vĩnh biệt, xin cho tôi có đôi lời nói về cuộc đời của người anh chúng tôi. Anh Bá với chúng tôi, tuy cách xa tuổi tác, nhưng gần gũi như tri kỷ, một thời là đồng chí, và về cuối đời là bạn đồng hành, cùng ngao du tận hưởng phong cảnh, qua nhiều chuyến đi thăm miền quê nước Pháp.

Trước cảnh sinh ly tử biệt, trong nỗi đau buồn không nguôi, dù lý trí đang lu mờ bởi tiếc nuối, suy luận có chủ quan vì thươngnhớ, nhưng chúng tôi mạnh dạn nói về anh, dù cho lúc còn sống, anh không muốn nhắc tới, bởi vì anh là một người bình dị và khiêm nhường, coi sự nghiệp chỉ là trách nhiệm, còn công danh là phần thưởng chung của tập thể.

Trong suốt cuộc đời, anh đã có một cuộc sống phong phú, lúc nào cũng bận rộn dấn thân tranh đấu , bền bỉ trong hoạt động như một con tim không thể ngưng đập.

Hồi tưởng về quá khứ, lúc còn trẻ, do thông minh và chăm chỉ, anh tốt nghiệp một lúc luôn cả trường Quốc Gia Hành Chánh lẫn Luật Khoa Sài-Gòn, nhưng vì không muốn làm công chức, do có sẵn chí hướng dấn thân, anh hành nghề Luật Sư, không để kiếm tiền, mà là cơ hội, như cái áo khoác bên ngoài, hỗ trợ cho hàng ngũ Chủ Lực VNQDĐ.

Như con cá cần có nước, lý tưởng của anh chỉ có thể thực hiện qua hoạt động cách mạng, qua tinh thần “Truyền thống Nguyễn Thái Học và Nguyễn Tường Tam !”

Ngoài thời gian làm Luật Sư, sau hậu trường, anh không ngừng chỉnh đốn cơ sở nội bộ Đảng, tham gia liên kết với các đoàn thể, tổ chức thanh niên, sinh viên, quân nhân v.v… kết hợp hành động chống độc tài và tham nhũng…

Trong số đông đảo giới quen biết của anh: có vị là đồng môn ở trường Chu Văn An Hà-Nội thời xa xưa của thập niên 40, có người là đồng nghiệp trong Luật Sư Đoàn ở Sài-Gòn vào những thập niên 60 và 70, hay là chiến hữu, đồng chí trên nửa thế kỷ trong nhiều cương vị hay đoàn thể, và cũng có thể là một người bạn chiến đấu cho Nhân Quyền một thủa trên đất Mỹ gần đây.

Sẽ là một thiếu sót lớn nếu chỉ nói về công danh và sự nghiệp, mà không nhắc đến cá tính, tư cách của anh. Gần đây, trên Dạ Thảo Trang, Luật Sư Nguyễn Viết Đĩnh có viết về anh như sau: “Luật Sư Bá có phong thái an nhiên tự tại… Ông không dùng danh nghĩa luật sư làm cần câu cơm cho bản thân. Lúc nào ông cũng thảnh thơi, ung dung tự tại như một hiền sĩ chờ thời.”

Sở dĩ có được phong thái như vậy, bởi vì anh là người may mắn, hiếm hoi trên đời, đã hiểu về mình, và biết mình muốn gì: đó là anh đã có được lý tưởng và tình yêu.

Từ khi còn trẻ anh đã ôm ấp một lý tưởng về nước Việt-Nam tiến bộ, Dân Chủ và phồn vinh. Lý tưởng đến với anh, có lẽ nhờ sinh ra trong một gia đình có truyền thống dấn thân, cách mạng, cũng có thể anh thấm nhuần khi gần gũi và hấp thụ được tinh thần Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam, người chú của chúng tôi.

Lý tưởng, hiện diện như hơi thở và giòng máu luân lưu trong thân thể, đã giúp anh coi nhẹ địa vị và công danh, vượt qua thử thách của chính trường… là một niên trưởng, anh vẫn thường nhắc nhở chúng tôi về trách nhiệm và đóng góp vào công việc chung, về sự khác biệt giữa hai thái độ: chính trị là nhập thế nhất thời về chính quyền, chỉ có cách mạng là lý tưởng thăng hoa con người và làm tốt đẹp xã hội.

Nếu lý tưởng đưa tới anh do hấp thụ và nuôi dưỡng, tình yêu của anh là do may mắn của duyên số đã ban cho anh mối tình của chị Phương… Gần đây, khi đã già yếu, trong lúc trà dư tửu hậu, một người thân lên tiếng khen anh đã may mắn được vợ thương yêu, anh trịnh trọng giải thích thêm: “Tất nhiên sung sướng khi được vợ yêu… nhưng sung sướng hơn là được yêu vợ!” Câu nói của một ông già như anh, nghe như lời tỏ tình của Romeo dành cho Juliette.

Tình yêu và lý tưởng, hai điều anh muốn và đã có suốt cuộc đời. Và như người xưa đã phán: “Hãy biết mình, để hiểu về thần linh và vũ trụ.” Theo thiển ý, anh đã biết mình, có được hạnh phúc và một cuộc đời trọn vẹn…

Khi nghe tin xấu, chúng tôi không khỏi đau buồn, tiếc thương vì đã mất đi một tấm gương trong sáng và người anh tri kỷ, nhưng cũng an ủi phần nào khi được biết anh ra đi thanh thản và không luyến tiếc…

Xin vĩnh biệt, chúc anh ngàn năm an nghỉ nơi cõi hư vô.

Cầu mong chị Bá và các cháu có được sức khỏe an lành bước qua ngày tháng đau thương.

Xin cám ơn.

Nguyễn Tường Cường

(Ngọc-Cường )

Ba Triệu Đôla Của Ông Nguyễn Bắc Son Đi Đâu?

Văn Phòng Luật Sư Nguyễn Bá Đức

Bộ Luật Lao Động Năm 2012 Quy Định Về Thời Gian Của Hợp Đồng Thử Việc Như Thế Nào?

Quy Định Về Thời Gian Thử Việc Theo Bộ Luật Lao Động

Quy Định Về Kết Thúc Thời Gian Thử Việc Theo Bộ Luật Lao Động Năm 2012?

Ths, Luật Sư Nguyễn Mạnh Thuật

Ls. Ths Nguyễn Nhật Tuấn

Người Lao Động Không Đóng Bhxh Bắt Buộc Có Được Không?

Lựa Chọn Nghề Nghiệp Cho Luật Sư

Câu Lạc Bộ Luật Sư Thương Mại Quốc Tế Việt Nam Tổ Chức Hội Thảo Về Mô Hình Đối Tác Công

Chủ Tịch Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam Đỗ Ngọc Thịnh Tham Dự Phiên Xét Xử Vụ Án Đoàn Thị Hương

Luật sư: Ths, Luật sư NGUYỄN MẠNH THUẬT

Điện thoại: 024.35656858 – 024.22178898 – Hotline: 0902278899

Email: [email protected]

Số CMND/căn cước: N/a

Thẻ luật sư: 1489/LS

Chứng chỉ ngành nghề số: 0209/TPLS/CCHN

Tổ chức hành nghề: LUẬT SƯ ĐÔNG NAM Á

Xác thực thông tin:

Hãng luật uy tín chuyên về:

1. TƯ VẤN doanh nghiệp, đầu tư

2. Giải quyết TRANH CHẤP kinh doanh thương mại, thu nợ, sở hữu trí tuệ.

Công ty luật hợp danh Đông Nam Á (SEALAW) xin gửi lời chào trân trọng tới quí vị và kính chúc quí vị An khang – Thịnh vượng. Chúng tôi xin trân thành cảm ơn các cá nhân, tổ chức đã hợp tác trong thời gian qua.

Hiện nay Sealaw có Đại diện tại các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…

Là tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý trong nhóm dẫn đầu tại Việt Nam, với bề dày kinh nghiệm hoạt động, SEALAW luôn chú trọng vào hoạt động đào tạo các luật sư và các cán bộ của mình để nâng cao trình độ, nâng cao chuẩn mực hành nghề và hiệu quả công việc với khách hàng. Nhân viên của SEALAW không chỉ có trình độ chuyên môn mà còn có kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực phụ trách.

1. Thạc sĩ, Luật sư Nguyễn Mạnh Thuật – Giám đốc Công ty, Chủ tịch SEALAW Group, Phó chủ tịch Hội đồng nghiệp vụ, Phó giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật và chính sách về HIV/AIDS – Hội luật gia Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành kiêm Phó tổng thư ký thường trực Hội bảo trợ tư pháp cho người nghèo Việt Nam. Nguyên đại biểu Hội đồng nhân dân. Trên 19 năm hành nghề luật sư tranh tụng và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, chuyên gia đào tạo kỹ năng cao cấp. Kinh nghiệm tại các vị trí quản lý cao cấp và hàng nghìn vụ/việc giải quyết thành công.

2. Thạc sĩ, Luật gia Lê Văn Trung – Trưởng Phòng nghiệp I, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, hơn 9 năm kinh nghiệm hoạt động liên tục trong lĩnh vực pháp luật và quản lý nợ, thu hồi nợ cho các công ty tài chính, ngân hàng, cá nhân, doanh nghiệp.

3. Thạc sỹ, Luật sư Võ Đình Đức – Trưởng Phòng nghiệp IV, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, có hơn 7 năm hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và tư vấn thu hồi nợ cho các công ty tài chính, ngân hàng. Kinh nghiệm, nhiệt huyết, hiệu quả là những yếu tố mà ông đã đem lại cho khách hàng.

4. Luật sư Lương Thị Thu – Phó giám đốc Công ty, Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, trên 15 năm hành nghề luật sư tư vấn và dịch vụ doanh nghiệp..

5. Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuyến – Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, Giảng viên chính, Phó trưởng khoa sau đại học – trường Đại học luật Hà nội. Kinh nghiệm trên 22 năm nghiên cứu giảng dạy, tư vấn pháp luật chuyên sâu về lĩnh vực Luật tài chính, Luật ngân hàng, Luật bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật thương mại, Luật dân sự và Luật Đầu tư.

6. Luật gia, Chuyên gia cao cấp sở hữu trí tuệ Nguyễn Khắc Khang – Tổng giám đốc MasterBrand, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, trên 8 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tư vấn đăng ký và giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và nhượng quyền thương mại (Franchise).

7. Luật gia, Chuyên gia cao cấp sở hữu trí tuệ Đỗ Văn Uân – Phó tổng giám đốc MasterBrand trên 8 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tư vấn đăng ký và giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, nhượng quyền thương mại (Franchise) và pháp luật về cạnh tranh.

8. Luật sư Nguyễn Thu Lan – Luật sư thuộc Liên đoàn luật sư Cộng hoà liên bang Đức, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, trên 30 năm nghiên cứu, giảng dạy và tư vấn pháp luật tại Cộng hoà liên bang Đức.

9. Luật sư Nguyễn Đình Phương – Phó Giám đốc Công ty, kỹ sư xây dựng, Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, Hội viên Hội kỹ sư Cộng Hoà Liên Bang Đức (VDI), gần 15 năm tu nghiệp và công tác CHLB Đức, nguyên cán bộ quản lý cao cấp – Tổng Công ty xây dựng Hà Nội. Kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực lập và quản lý dự án đầu tư bất động sản.

10. Luật sư Phạm Xuân Nga – Phó Giám đốc Công ty, Hội viên hội luật gia Việt Nam, Phó Giám đốc Công ty, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, trên 30 năm hoạt động trong lĩnh vực luật pháp, nguyên thượng tá, phó trưởng Phòng điều tra hình sự – Bộ quốc phòng.

11. Luật gia Mai Thế Hưng – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng nghiệp vụ, trên 30 năm kinh nghiệm xét xử, nguyên Trọng tài viên trọng tài kinh tế Nhà nước Thành phố Hà nội; nguyên Thẩm phán Toà án nhân dân Thành phố Hà nội.

12. Luật gia Lê Xuân Ái – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, trên 25 năm kinh nghiệm điều tra xét hỏi, nguyên sỹ quan cao cấp Công an Thành phố Hà nội.

13. Luật sư Trần Xuân Tiền – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ Viên Hội đồng nghiệp vụ, nguyên Kiểm sát viên, nguyên Chấp hành viên/trưởng Cơ quan thi hành án (Ninh Bình), trên 28 năm hoạt động trong lĩnh vực pháp luật.

14. Luật sư Nguyễn Thị Minh Hảo – Trưởng phòng hành chính tổ chức, Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ Viên Hội đồng nghiệp vụ, nguyên sỹ quan cao cấp Công an thành phố Hà nội, trên 35 năm kinh nghiệm điều tra xét hỏi.

16. Thạc sỹ, Luật gia Phạm Văn Thiệu – phóng viên, Trưởng phòng giao dịch II, Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, trên 12 năm kinh nghiệm Phóng viên điều tra. Kỹ năng chuyên sau trong hoạt động giải quyết tranh chấp truyên thông – thương hiệu.

17. Luật sư Trần Hồng Cường – Hội viên Hội Luật gia Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, có trên 12 năm kinh nghiệm tư vấn, thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực doanh nghiệp – đầu tư.

18. Luật sư Vũ Đình Thụ – Hội viên hội luật gia Việt Nam, 17 năm kinh nghiệm tư vấn luật và thực hiện dịch vụ pháp lý.

19. Luật sư Trịnh Quang Chiến – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ Viên Hội đồng nghiệp vụ, Trưởng ban tư vấn và trợ giúp pháp lý HIV/AIDS, 16 năm kinh nghiệm tư vấn luật và thực hiện dịch vụ pháp lý.

20. Luật sư Đường Ngọc Hân – Hội viên hội luật gia Việt Nam, có trên 10 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp.

21. Luật sư Chu Anh Tiến – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Trưởng ban đối ngoại, Đại diện SEALAW tại Australia (Úc), 16 năm kinh nghiệm tư vấn luật và thực hiện dịch vụ pháp lý.

22. Thạc sỹ, Luật sư Lương Danh Tùng – Hội viên hội luật gia Việt Nam, 16 kinh nghiệm tư vấn và cung cấp dịch vụ pháp lý xử lý tranh chấp đầu tư xây dựng.

23. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ Viên Hội đồng nghiệp vụ, 15 năm kinh nghiệm tư vấn luật và thực hiện dịch vụ pháp lý.

24. Luật sư Trần Thị Thúy Nga – Hội viên hội luật gia Việt Nam, 16 năm kinh nghiệm tư vấn luật và thực hiện dịch vụ pháp lý thuộc các lĩnh vực tài chính – bảo hiểm – ngân hàng

25. Luật sư Đỗ Xuân Thu – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ Viên Hội đồng nghiệp vụ, nguyên cán bộ điều tra Công an tỉnh Yên Bái, 20 năm kinh nghiệm điều tra xét hỏi, 10 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

26. Luật sư Đỗ Mạnh Thắng – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Uỷ Viên Hội đồng nghiệp vụ, nguyên sáng lập và giám đốc Công ty thiết bị phần cứng AT, 15 năm kinh nghiệm tư vấn luật và thực hiện dịch vụ pháp lý.

27. Luật sư Bùi Văn Mão – Hội viên hội luật gia Việt Nam, 10 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

28. Luật sư Bùi Văn Đức – Hội viên hội luật gia Việt Nam, nguyên Kiểm sát viên kiểm sát án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và thi hành án, 15 năm kinh nghiệm tư vấn luật và thực hiện dịch vụ pháp lý.

29. Luật sư Bùi Hoài Thanh – Hội viên hội luật gia Việt Nam, Trưởng phòng nghiên cứu và triển khai dự án hỗ trợ cộng đồng, 10 năm kinh nghiệm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế (HIV/AIDS, Mại dâm, Ma túy, Đồn giới, Lao động di cư, Trẻ em, Nạn nhân buôn bán người…).

30. Luật gia Nguyễn Thị Hoa – Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, có trên 14 năm kinh nghiệm tư vấn, thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực doanh nghiệp – đầu tư – tài chính.

31. Luật sư Trần Hồng Sơn – Hội viên hội luật gia Việt Nam, nguyên chấp hành viên cơ quan thi hành án Hà Nội, 18 năm kinh nghiệm tư vấn luật và thực hiện dịch vụ pháp lý.

32. Luật sư Nguyễn Văn Diên – Uỷ viên Hội đồng nghiệp vụ, nguyên điều tra viên và cán bộ quản lý cấp cao Công An tỉnh Hưng Yên, 25 năm kinh nghiệm tư vấn luật pháp luật.

33. Luật gia Nguyễn Quốc Huân – Hội viên hội luật gia Việt Nam, 5 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

34. Chuyên viên pháp lý Mai Chí Đức – 5 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

35. Chuyên viên pháp lý Trần Huyền Trang – 3 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

36. Chuyên viên pháp lý Nguyễn Văn Duy – 5 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

37. Chuyên viên pháp lý Nguyễn Quốc Hưng – 5 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

38. Chuyên viên pháp lý Vũ Văn Nhất – 7 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

39. Chuyên viên pháp lý Nguyễn Hoài Anh – 8 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ tư vấn và quản lý nhân sự doanh nghiệp.

40. Chuyên viên pháp lý Mai Thị Thùy Linh – 3 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ tư vấn doanh nghiệp – đầu tư.

41. Chuyên viên pháp lý Phạm Quang Hải – 5 năm kinh nghiệm thực hiện dịch vụ xử lý nợ và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.

42. Thạc sỹ kinh tế Nguyễn Thúy Hồng – Phó Chủ tịch SEALAW Group, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH tư vấn đầu tư và đại lý thuế TAC, giảng viên Trường ĐH kinh doanh công nghệ Hà nội. Trưởng Ban tư vấn thuế – tài chính SEALAW.

Cùng trên 20 cán bộ, chuyên gia khác.

Thế mạnh trong hoạt động của Sealaw gồm:

I. TƯ VẤN LUẬT & DỊCH VỤ DOANH NGHIỆP:

– Tư vấn Pháp luật theo vụ việc hoặc thường xuyên cho cá nhân, tổ chức;

– Cung cấp các giải pháp tối ưu trong: hoạt động, quản lý, điều hành doanh nghiệp;

– Soạn thảo, thẩm tra các loại: Hợp đồng, điều lệ, qui chế, nội qui, văn bản khác;

– Tư vấn tài chính: các chính sách về thuế, hoạt động xuất nhập khẩu, đại lý ký gửi hàng hoá, hoạt động ngoại thương.

– Tư vấn thành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể, phá sản(tăng vốn, thay đổi thành viên, ngành nghề, mã số, mã vạch…) cho doanh nghiệp.

– Tư vấn lập dự án đầu tư trong nước và nước ngoài…

– Soạn thảo, thẩm tra, công chứng, chứng thực, làm chứng: Hợp đồng, di chúc…

– Tư vấn chia tài sản trước/trong/sau thời kỳ hôn nhân, ly hôn…

– Trợ giúp giải quyết các tranh chấp: Nhà đất, tài sản, hôn nhân, lao động…

– Kế toán; Lập báo cáo quyết toán;

– Làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà(sổ đỏ); Lập dự án thuê đất; Vay vốn…

– Làm chứng trong các giao dịch, chuyển nhượng: nhà đất, chứng khoán, chia tài sản….

II. ĐẠI DIỆN SỞ HỮU TRÍ TUỆ:

– Tư vấn, đăng ký bảo hộ: nhãn hiệu(logo), kiểu dáng, giải pháp hữu ích, sáng chế, bản quyền(tác phẩm âm nhạc, văn học, điêu khắc……)

– Điều tra, xác minh thu thập chứng cứ nhằm giải quyết các yêu cầu xử lý vi/xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ. Ví dụ: hàng giả, hàng nhái….

– Luật sư bảo vệ, giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ tại cơ quan chức năng, tố tụng…

III. ĐẠI DIỆN TRUY THU NỢ – CHUYÊN NGHIỆP:

Là Công ty luật chuyên nghiệp và có uy tín hàng đầu trong lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp và xử lý tranh chấp nợ. Sealaw đã và đang giải quyết thành công cho hàng ngàn khách hàng, ví như: Bưu điện Hà Nội, Công ty LD khí hoá lỏng Thăng long, Công ty điện và điện tử TCL, Công ty thông tin và truyền số liệu VDC, Nhà cung cấp thép – Công ty TNHH Thanh Bình HTC, Công ty TNHH sơn Levis Vietnam, Công ty Cp cơ khí và xây lắp – Tổng cty Xây dựng Hà nội, Cty CP xây dựng và phát triển nhà SUNVN, Công ty TNHH TM&SX Hà Yến…

(xem danh sách đại diện khách hàng trên website chúng tôi ).

IV. ĐÀO TẠO, TẬP HUẤN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT:

Mở lớp tập huấn, đào tạo, phổ biến pháp luật, kinh nghiệm về các lĩnh vực:

– Hợp đồng dân sự, lao động, thương mại: nội dung, hình thức, ký kết, điểm cấm…

– Các lý do, sơ xuất thường hay dẫn đến tranh chấp hợp đồng.

– Các phương pháp ngăn chặn và giải quyết tranh chấp hợp đồng.

– Các bước, kinh nghiệm, thủ tục khởi kiện: Dân sự, thương mại, lao động, hành chính…

– Tập huấn nghiệp vụ xử lý và ngăn chặn nợ xấu.

– Tập huấn, phổ biến kiến thức phòng tránh và pháp luật về HIV/AIDS.

V. ĐIỀU TRA, XÁC MINH THU THẬP CHỨNG CỨ.

Hoạt động hợp pháp theo Luật tố tụng dân sự, phục vụ giải quyết các tranh chấp: Dân sự, kinh tế, thương mại, lao động, hành chính, đất đai, nhà ở, hôn nhân gia đình…

VI. BÀO CHỮA, BẢO VỆ QUYỀN LỢI ÍCH TRONG CÁC VỤ ÁN: hình sự, dân sự, kinh tế/thương mại, lao động, hành chính…

Đội ngũ Luật sư, chuyên viên của Công ty nhiều năm kinh nghiệm, năng động, nhiệt tình, uy tín, xác minh điều tra bổ sung ngoài hồ sơ đã cung cấp, không ngại xa, phức tạp hay đối tượng vụ án có ảnh hưởng xã hội.

VII. TRỢ GIÚP PHÁP LÝ MIỄN PHÍ cho các đối tượng: người nghèo, người chưa thành niên, đối tượng chính sách khác trong lĩnh vực:

– Tư vấn, cung cấp văn bản pháp luật;

– Bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp tại Toà án.

– Cung cấp miễn phí 3.000 mẫu văn bản trên website: www.luatsudongnma.com

– Tư vấn và trợ giúp pháp lý miễn phí trực tuyến(online).

Dự án phối hợp Cục Trợ Giúp Pháp Lý – Bộ Tư Pháp, Trung tâm tư vấn pháp luật và chính sách về y tế, HIV/AIDS – Hội luật gia Việt nam.

Với 19.000 vụ/việc đã thụ lý giải quyết(tính đến 30/09/2010), chúng tôi tin tưởng sẽ giúp giải toả các khó khăn, bức xúc và đem lại sự hài lòng cho quí vị khi sử dụng dịch vụ.

Rất hân hạnh được hợp tác với quí vị!

CÔNG TY LUẬT HỢP DANH ĐÔNG NAM Á

GIÁM ĐỐC

Luật sư NGUYỄN MẠNH THUẬT

Trụ sở chính:

SOUTHEAST ASIA LAW PARTNERSHIP COMPANY (SEALAW)

CÔNG TY LUẬT HỢP DANH ĐÔNG NAM Á (SEALAW)

(CHUYỂN ĐỔI TỪ VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐÔNG NAM Á)

Trụ sở: số 76 Cù Chính Lan, Thanh Xuân, Hà Nội

Điện thoại: 04.3. 5656858 – 04.22178898 – 0902278899

website: chúng tôi / chúng tôi / www.eurovietnam.org

www.dichvuthuno.com

E_mail: [email protected] / [email protected]

PHÒNG GIAO DỊCH II

Địa chỉ: Số 1 – Lô 1 – Ngõ 1 – phố Tây kết – HàNội

Điện thoại: 04.2912296 -0902288283

Trưởng phòng: Luật sư Nguyễn Tuấn Hùng

PHÒNG GIAO DỊCH III

Địa chỉ : Số 5, dãy B tập thể Cty CP cơ giới & xây dựng Thăng Long – Đông Ngạc – Từ Liêm – Hà Nội

Điện thoại: 098 3570268

Trưởng phòng: Luật sư – TS Lương Danh Tùng

ĐẠI DIỆN TẠI T.P HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ : 225/19 Nguyễn Đình Chiểu, phường 5, quận 3, TP HCM.

Luật gia: Nguyễn Khắc Khang

Hoặc:

Địa chỉ : 40 Lê Vĩnh Hòa, P.Phú Thọ Hòa, Q.Tân Phú, Tp.HCM

Tel: 08 2223 7476 / 0922822466

Luật sư: Nguyễn Văn Phú

Gian Lận Thi Cử Tại Hòa Bình: Có Thể Chuyển Sang Tội ‘nhận Hối Lộ’

Nhiều Điểm Nghi Vấn Trong Vụ Án Đánh Bạc Tại Tuyên Quang

Văn Phòng Luật Sư Lê Văn Tuấn & Cộng Sự

Luật Sư Trần Tuấn Anh: ‘không Nên So Sánh Mức Án Giữa Khá ‘bảnh’ Và Phan Sào Nam’

Công An Đề Nghị Đoàn Luật Sư Tp.đà Nẵng Đưa Ra Hình Thức Xử Lý Ông Nguyễn Hữu Linh