Khoa Luật Văn Lang / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Có Một Nhà Nước Văn Lang…

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Sự Tích Hồ Gươm – Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Đề Kiểm Tra Chất Lượng Học Kỳ I Năm Học 2022
  • Soạn Bài: Sông Núi Nước Nam – Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Truyện Cổ Tích Sọ Dừa
  • Ý Nghĩa Của Truyện Cổ Tích Sọ Dừa
  • .

    Trong lịch sử dựng nước, thời kỳ các vua Hùng với Nhà nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của Việt Nam được hình thành với những đặc trưng của hình thái nhà nước nguyên thủy, đã để lại dấu ấn về nền văn hóa đặc sắc cho dân tộc.

    Người dân viếng Đền thờ Hùng Vương ở tỉnh Phú Thọ. Ảnh: T.THÚY

    Theo Đại Việt sử ký toàn thư của sử gia Ngô Sĩ Liên viết ở thế kỷ 15, Lạc Long Quân (theo truyền thuyết là cháu 5 đời của Thần Nông) cùng vợ là Âu Cơ (con gái Đế Lai) sinh được 100 người con trai; 50 người theo cha về bờ Biển Đông, 50 người theo mẹ về núi và suy tôn người con cả lên làm vua lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Bạch Hạc – Phú Thọ.

    * Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

    Nhà nước Văn Lang được hình thành vào khoảng năm 2879 TCN và kết thúc vào năm 258 TCN, có lãnh thổ phía đông giáp Nam Hải (tức Biển Đông), Tây tới Ba Thục, Bắc tới hồ Động Đình, Nam tới nước Hồ Tôn Tinh (còn gọi là nước Hồ Tôn, sau này là Chiêm Thành); lãnh thổ chia thành 15 bộ, còn gọi là quận. Còn dựa trên các di tích văn hóa đồ đồng đã được phát hiện, cho thấy lãnh thổ nước Văn Lang bao gồm khu vực Bắc bộ và 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay, có thể kéo dài tới Quảng Trị.

    Nhiều tư liệu trước đây cho rằng cư dân Văn Lang không có chữ viết, vì thế rất thịnh hành các huyền tích, thần thoại truyền miệng, ghi nhớ sự việc bằng cách thắt nút dây. Tuy nhiên, những phát hiện về chữ viết tượng hình (khoa đẩu văn) trên di chỉ khảo cổ Đông Sơn đã khiến các nhà khoa học đặt ra giả thuyết đây là chữ viết trong thời đại Hùng Vương, người Việt cổ đã có chữ viết riêng trước khi nhà Hán, mà cụ thể là Thái thú Sĩ Nhiếp đưa chữ Hán vào nước ta vào năm 186, bắt buộc người dân nước ta phải sử dụng.

    Có thể nói, Nhà nước Văn Lang là dạng nhà nước sơ khai, không thể xếp vào dạng nào trong 5 hình thái nhà nước của lịch sử phát triển thế giới; sự phân hóa xã hội và phân chia giai cấp chưa rõ rệt, nhưng chắc chắn đã hình thành sự phân tầng. Quyền lực của giai cấp thống trị chưa thấy xuất hiện ở thời đại này, thể hiện qua việc phong tục thuần hậu, mộc mạc, “vua tôi cùng đi cày, cha con tắm chung sông không chia giới hạn, không phân biệt uy quyền, thứ bậc” (Lịch triều hiến chương loại chí).

    Trong hội thảo về văn hóa Hùng Vương năm 2011, có học giả Trung Quốc cho rằng Hùng Vương là người… Trung Quốc, bởi người Việt không có họ Hùng. Đây là lập luận “cưỡng từ đoạt lý”. Theo các nhà ngôn ngữ học, “Hùng” xuất phát từ “Kun” của người Mường, từ “Khun” trong tiếng Môn – Khmer và tiếng Thái, nhằm để chỉ tù trưởng hoặc thủ lĩnh. Vua Hùng hay Hùng Vương là từ chỉ chức danh của người tù trưởng bộ lạc Văn Lang – bộ lạc lớn mạnh nhất trong tất cả các bộ lạc định cư vùng Bắc bộ và Bắc Trung bộ thời bấy giờ, cơ sở tiền đề hình thành Nhà nước Văn Lang. Cách biến âm này có thể thấy ở tên gọi của vùng đất Mê Linh vốn có từ gốc là Mling – tên của một loài chim được tôn là vật tổ (totem) của bộ lạc.

    Dưới Hùng Vương có các lạc hầu, lạc tướng. Nước Văn Lang có 15 bộ (trước là 15 bộ lạc), tổ chức hành chính dưới bộ là các công xã nông thôn (gọi là kẻ, chiềng, chạ) mà đứng đầu là bố chính. Tuy nhiên, nhà vua không áp đặt quản lý ở các đơn vị hành chính cơ sở mà do dân suy cử những người, dòng họ có thế lực, có uy tín. Như vậy, so với chế độ công xã nguyên thủy, với xã hội của các thị tộc trước đó, Nhà nước Văn Lang đã đưa toàn bộ các bộ lạc Việt cổ bước sang một thời đại mới, phù hợp với tiến trình phát triển của thế giới.

    Về 18 đời vua Hùng kéo dài trong 2.622 năm, nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần cho rằng 18 vua Hùng không phải là 18 người cụ thể, mà là 18 chi (nhánh/ngành); mỗi chi có nhiều vị vua thay phiên nhau trị vì và dùng chung vương hiệu. Thậm chí con số 18 có thể chỉ nên hiểu là con số tượng trưng ước lệ, vì 18 là bội số của 9 – vốn là con số thiêng trong văn hóa người Việt.

    * Những thành tựu rực rỡ

    Thời đại Văn Lang có sự phát triển mạnh về nông nghiệp. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, cư dân Văn Lang đã biết trồng lúa nước, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, gọi là ruộng Lạc; biết khắc phục thiên nhiên (truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh), sử dụng dụng cụ nông nghiệp (cày, cuốc, mai, thuổng) và dùng sức trâu bò thay sức người, nhờ vậy người dân có cuộc sống vật chất và tinh thần khá phong phú. Với nguồn lương thực chính là thóc gạo (gạo nếp và gạo tẻ), dân Văn Lang đã biết lấy ống tre thổi cơm (cơm lam), làm bánh (sự tích bánh chưng, bánh giầy); ngoài ra còn có khoai, sắn, thực phẩm có các loại cá, gia súc, gia cầm, rau củ. Đặc biệt, thời này người dân đã biết làm mắm và nước mắm, cũng biết lấy gạo làm rượu, men rượu được chế biến từ lá, vỏ, rễ một số loại cây, giống như rượu cần ngày nay.

    Dâng lễ vật, hương hoa ở đền thờ Hùng Vương phường Bình Đa, TP.Biên Hòa.

    Cư dân Văn Lang có tập quán ở nhà sàn, nhuộm răng đen, ăn trầu (sự tích trầu cau), xăm mình. Theo Lĩnh Nam chích quái, dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá thường bị giao long (thuồng luồng) làm hại nên tâu lại với Hùng Vương. Hùng Vương bảo dân ta ở núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét dị cho nên mới xâm hại. Bèn dạy dân lấy mực xăm hình thủy quái trên người, tránh được nạn giao long cắn hại. Tục xăm mình của người Việt cổ bắt đầu từ đây.

    Ban đầu, người dân Văn Lang lấy vỏ cây làm áo mặc, phụ nữ mặc áo váy, nam giới đóng khố; biết dệt cỏ ống làm chiếu nằm, sau đó biết sáng chế dụng cụ xe sợi bằng đất nung – tiền đề của việc dệt vải. Cả nam lẫn nữ đều thích dùng đồ trang sức. Người dân cũng biết gác cây làm nhà để tránh thú dữ, giống nhà sàn hiện nay. Tín ngưỡng phổ biến của cư dân Văn Lang là sùng bái tự nhiên, thờ thần Mặt Trời (ngôi sao nhiều cánh ở giữa mặt trống đồng là tượng trưng cho thần Mặt Trời), thần Sông, thần Núi… Người Việt cũng có tín ngưỡng phồn thực thể hiện niềm tin của con người trong nguyện cầu được sinh sôi nảy nở, phát triển giống nòi, ước mong sản xuất phồn thịnh, mùa màng được bội thu, nhưng không thờ sinh thực khí. Ngoài ra, người Việt cổ còn có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng kính các vị anh hùng, người có công với làng nước (thờ Thánh Gióng, thần Tản Viên…), mà đỉnh cao là tục thờ cúng Hùng Vương. Ngày giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10-3 âm lịch là ngày lễ truyền thống của Việt Nam được giữ gìn, kế thừa đến tận ngày nay.

    Một thành tựu lớn khác là người dân biết sử dụng đồ đồng. Tư liệu khảo cổ cho thấy giai đoạn cực thịnh của nền văn hóa Đông Sơn là trong thời đại Hùng Vương. Khu vực phía Bắc nước ta vốn có nhiều mỏ kim loại như: vàng, bạc, chì, sắt, đồng. Một số mỏ nông và lộ thiên, dễ khai thác thủ công, là điều kiện phù hợp để phát triển một nền văn hóa đồ đồng rực rỡ mà đỉnh cao là trống đồng cùng các loại thạp, thố với tỷ lệ hợp kim nguyên liệu lý tưởng và hoa văn sắc sảo miêu tả chân thật sinh hoạt của con người thời kỳ này như lễ “khánh thành” trống đồng, lễ chiêu hồn, đám tang, lễ cầu mùa, giã gạo, đánh trống, bơi chải…

     Trống đồng Đông Sơn hiện đã tìm thấy được ở nhiều nơi, là bằng chứng khắc họa tiêu biểu cho nền văn hóa thời đại Hùng Vương. Trên mặt trống chạm khắc những hình người thổi kèn, diễn tấu các loại chuông nhạc, lục lạc, khèn, trống đồng, vũ công đầu đội mũ lông chim trĩ, chim công (một loài chim tiêu biểu của vùng nhiệt đới) hoặc đeo mặt nạ.

    Sự có mặt của trống đồng Đông Sơn ở một số nước trong khu vực như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia cũng như phát hiện về những lưỡi qua đồng thời Chiến quốc (Trung Quốc) ở nhiều di tích văn hóa Đông Sơn; đồng thời ghi chép trong Thông giám cương mục là năm Mậu Thân thứ 5 đời Đường Nghiêu (năm 2353 TCN), Hùng Vương sai sứ sang tặng vua Nghiêu con rùa thần dài hơn 3 thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau; vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy lịch; năm 1110 TCN Hùng Vương cũng sai sứ qua Trung Quốc, tặng Thành Vương nhà Chu chim trĩ trắng, cho thấy nền móng ngoại giao giữa Nhà nước Văn Lang với các triều đại phong kiến phương Bắc cùng sự giao thương, trao đổi hàng hóa giữa cư dân Văn Lang với các quốc gia quanh vùng.

    Thanh Thúy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Thanh Hóa Cổng Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa
  • Tài Liệu Tuyên Truyền Giổ Tổ Hùng Vương 2022
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Sơn Tinh – Thủy Tinh
  • Cảm Nhận Về Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh
  • “Rằm Tháng Giêng” Và Quá Trình Tiếp Biến Văn Hóa
  • Văn Phòng Luật Sư Đăng Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • # 1 Dịch Vụ Luật Sư Bào Chữa Hình Sự
  • Các Quy Định Về Công Việc Của Luật Sư Bên Nguyên Đơn Và Bị Đơn
  • Áp Dụng Pháp Luật Về Trách Nhiệm Dân Sự: Đòi Bồi Hoàn Tiền Thuê Luật Sư, Được Không?
  • The Devils Advocate Vietsub (1997)
  • Giám Đốc Văn Phòng Ciss Giải Đáp Về Di Trú – Bảo Lãnh
  • WELCOME TO DANG KHOA LAW FIRM

    Dang Khoa Law Firm led by Master of Law Nguyen Dang Khoa – a member of Hanoi Bar Association – was founded in July 2002. Our objectives are: to build a pstigious law firm with professional working styles, sastifying both domestic and international clients’ need in legal services.

    Well-staffed with specialized, skilled, experienced and professionally righteous lawyers and law experts well-trained in either domestic or overseas ptigious law universities…

    Detailt…  

    Services

    Investment Consultation ()

    Consultants from Dang Khoa Law Firm provides professional analysis and estimate to help businesses and investors to make right decisions on investment, thus they can choose and set up the most suitable and effective type of investment in accordance with Vietnam’s law.

    Support online

    Search

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Sư Của Dân Oan: Bà Bùi Kim Thành Bị Bắt
  • Bùi Kim Thành Là Ai? Có Nhiệm Vụ Gì?
  • Luật Sư Ngô Anh Tuấn Và Những Luận Điệu Bóp Méo Bản Chất Vụ Án Trước Phiên Tòa
  • Luật Sư Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Luật Sư – Luatviet Advocates & Solicitors
  • Soạn Văn 11 Bài: Xin Lập Khoa Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Mùa Xuân Của Tôi
  • Soạn Bài Mùa Xuân Của Tôi
  • Soạn Bài Mùa Xuân Của Tôi (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Mùa Xuân Của Tôi Của Vũ Bằng
  • Soạn Bài Mùa Xuân Của Tôi (Vũ Bằng)
  • VnDoc xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu Soạn văn 11 bài: Xin lập khoa luật, với nội dung bài soạn rất ngắn gọn và chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh lớp 11 học tốt hơn môn Ngữ văn. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo.

    1. Soạn văn: Xin lập khoa luật (siêu ngắn) mẫu 1

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu … quốc dân giết): Nêu trách nhiệm, vị trí của luật pháp đối với xã hội

    – Phần 2 (tiếp … chất phác): Mối quan hệ của luật pháp với Nho giáo, văn chương

    – Phần 3 (còn lại): Mối quan hệ luật pháp với đạo đức

    1.1. Câu 1 (trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Theo Nguyễn Trường Tộ nội dung của Luật bao gồm: kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia

    Theo Nguyễn Trường Tộ luật bao gồm: “kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia, trong đó tam cường ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”

    – Đất nước muốn tồn tại cần có kỉ cương, nhà nước muốn cai trị được dân phải có uy quyền nhưng phải có chính lệnh

    – Ông giới thiệu việc thực hành luật ở các nước phương Tây

    – Tác giả đề cao luật, đề cao những người hiểu biết về luật và có khả năng dùng luật để điều khiển công việc quốc gia

    1.2. Câu 2 (trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Theo Nguyễn Trường Tộ, kỉ cương, uy quyền, chính lệnh để duy trì sự tồn tại của đất nước

    – Tác giả khẳng định: ” Bất luận quay hay dân mọi người đều phải học luật nước”

    – Luật đã bao trùm lên tất cả, nếu không có luật sẽ không thể duy trì được kỉ cương phép nước

    – Quan hay dân đều phải hiểu và làm theo luật, chân lý này đúng và đúng đến bây giờ.

    1.3. Câu 3 (Trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nho học không có truyền thống tôn trọng luật pháp.

    + Biết rằng đạo làm người không gì bằng trung hiếu, không cần thiết bằng lễ nghĩa

    + Sách Nho chỉ nói trên giấy suông, không làm cũng không ai phạt, có làm cũng không được thưởng

    + Nên xưa nay dù học nhiều chẳng mấy ai sửa đổi được tâm tính, sửa được lỗi lầm

    – Tác giả chỉ ra rằng: xưa nay, vua chúa nắm quyền thống trị cứu nước đều nhờ hiểu luật, còn sách vở khác chỉ ra phụ thuộc

    + Nếu trong nước không có luật dù có một nghìn quyển sách cũng không thể trị dân được

    1.4. Câu 4 (Trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Quan niệm của tác giả về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật:

    + Dù lời văn đề cao pháp luật, luật pháp và đạo đức gắn bó chặt chẽ với nhau

    + Tác giả khẳng định: “Nếu bảo luật chỉ tố cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi, thế là không biết rằng trái luật là tội, giữ đúng luật là đức”

    + Nếu tận dụng lẽ công bằng trong luật là có đạo đức, trọn vẹn đạo làm người.

    1.5. Câu 5 (Trang 73 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Tác giả đưa ra quan niệm đạo luật của đạo Nho: “Từ tam cường ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”

    + Tam cương ngũ thường là luật bao trùm xã hội và gia đình dưới chế độ phong kiến, đó là trụ cột giữ kỉ cương của chế độ phong kiến

    + Tác giả phê pháp đạo Nho ở tính chất vô tích sự, nói suông không có tác dụng

    + Vì vậy cần có luật và luật phải gắn với thực tiễn hành động của con người, là làm theo luật

    – Tác giả trích dẫn lời nói của Khổng Tử bởi chính Khổng Tử cũng nhận ra hạn chế của giáo lý, đạo đức Nho giáo

    ⇒ Đây chính là biện pháp lập luận “gậy ông đập lưng ông” để tác động trực tiếp lên tâm lý của người nghe

    2. Soạn văn: Xin lập khoa luật (siêu ngắn) mẫu 2

    2.1. Câu 1 (trang 73 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1)

    Theo Nguyễn Trường Tộ, nội dung của luật bao gồm: kỉ cương, uy quyền, chính lệnh (chính sách và luật pháp) của quốc gia.

    Nguyễn Trường Tộ khẳng định: “Bất cứ một hình phạt nào trong nước đều không vượt ra ngoài luật” và ông dẫn chứng giới thiệu: “Ở các nước phương Tây, phàm những ai đã nhập nhập ngạch bộ Hình xử đoán các vụ kiện tụng thì chỉ có thăng trật chứ không bao giờ bị phiếm truất. Dù vua, triều đình cũng không giáng chứng họ được một bậc”. Từ việc dẫn này có thể thấy tác giả đề cao luật, đề cao những người hiểu biết luật và có khả năng dùng luật để điều khiển công việc quốc gia.

    2.2. Câu 2 (trang 73 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1)

    Theo Nguyễn Trường Tộ, kỉ cương, uy quyền, chính kệnh để duy trì sự tồn tại của đất nước. Vì vậy, tác giả khẳng định: “Bất luận quan hay dân mọi người đều phải học luật nước”. Luật đã giao thì làm sao giữ được kỉ cương phép nước. Từ quan cho đến thứ dân đều phải hiểu và làm theo luật.

    2.3. Câu 3 (trang 73 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1)

    Theo tác giả, Nho học không có truyền thống tôn trọng luật pháp. Bởi: “Biết rằng đạo làm người không gì bằng trung hiếu, không gì cần thiết bằng lễ nghĩa. Nhưng các sách Nho chỉ nói suông trên giấy, không làm cũng chẳng bị ai phạt, có làm cũng chẳng được ai thưởng. Bởi vậy xưa nay học đã nhiều mà mấy ai đổi được tâm tính, sửa được lỗi lầm?”. Hơn nữa, “Từ xưa đến nay các vua chúa nắm quyền thống trị cứu nước giúp đời đều nhờ hiểu luật, còn các sách cũng chỉ là phụ thuộc. Nếu trong nước không có luật thì dù có vạn quyển sách cũng không thể trị dân được”.

    2.4. Câu 4 (trang 73 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1)

    Dù lời văn của tác giả tỏ ra đề cao luật pháp, nhưng theo ông, luật pháp và đạo đức gắn bó chặt chẽ với nhau. Theo tác giả, luật còn là đạo đức, đạo làm người “trái luật là có tội, giữ đúng luật là đạo đức” và “có đạo đức nào lớn hơn chí công vô tư” (Quan hệ giữa đạo đức và luật pháp là ở chỗ thống nhất giữa đúng luật và đạo đức. Công bằng, luật pháp là đạo đức. Đạo đức lớn nhất là chí công vô tư. Trái luật cũng đồng nghĩa với trái đạo đức).

    2.5. Câu 5 (trang 73 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1)

    Để tăng thêm sức thuyết phục với nhà vua, Nguyễn Trường Tộ đưa ra quan niệm luật của đạo Nho: “Từ tam cương ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”. Pháp luật phải gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người. Tác giả lấy ngay lời của Khổng Tử “Ta chưa hề thấy ai nhận được lỗi mình mà biết tự trách phạt”. Chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc”. Đây chính là biện pháp lập luận “gậy ông đập lưng ông”. Như vậy, theo tác giả:

    – Đạo Nho là một thứ luật phong kiến nội dung: không gì lớn bằng trung hiếu, không gì cần thiết bằng lễ nghĩa.

    – Nho học không có truyền thống tôn trọng luật pháp vì chỉ nói suông trên giấy, làm tốt chẳng ai khen, làm dở chẳng ai chê. Đến Khổng Tử cũng công nhận điều này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư Của Lí Bạch
  • Xa Ngắm Thác Núi Lư
  • Soạn Văn Bài: Xa Ngắm Thác Núi Lư
  • Soạn Bài Vội Vàng Siêu Ngắn
  • Trước Kỳ Thi Thpt Quốc Gia 2022, Đại Học Văn Lang Công Bố Tuyển Thêm Ngành Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Viên Văn Lang Gặp Và Giao Lưu Cùng Những Luật Sư Hàng Đầu Việt Nam
  • Khóa Luận Luật Kinh Tế
  • Sinh Viên Ngành Luật Kinh Tế Bảo Vệ Thành Công Khóa Luận Tốt Nghiệp
  • Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật Kinh Tế
  • Ngành Luật Học Ra Làm Gì?
  • 130 học sinh, sinh viên được vinh danh là những điển hình xuất sắc trong các hoạt động học tập, phong trào; là tấm gương về đạo đức, lối sống, tinh thần đoàn kết, nhân ái, dũng cảm, trung thực, yêu đất nước, quê hương…

    Tin tức giáo dục đặc biệt đáng quan tâm trên báo in Thanh Niên ngày mai 26.12.2020 nêu những lý do một số trường đại học tư thục trong kỳ tuyển sinh 2022 vẫn tăng chỉ tiêu phương thức điểm thi tốt nghiệp THPT.

    Cũng để kiểm tra kiến thức môn vật lý nhưng Trường THPT Nguyễn Du (Q.10, chúng tôi chọn bài tập vận dụng từ việc trang trí đèn led cho đêm Giáng sinh.

    Theo phương án tuyển sinh 2022, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật chúng tôi dự kiến mở thêm 2 ngành gồm luật và truyền thông.

    Sẽ xử phạt nghiêm các đơn vị hoạt động giáo dục không phép và kiên quyết ngưng hoạt động nếu không đảm bảo điều kiện an toàn. Nghiêm cấm tuyệt đối tổ chức dạy thêm trong các cơ sở dịch vụ giữ trẻ ngoài giờ.

    Trước làn sóng phản đối của dư luận khi tổ chức Hội khỏe Phù Đổng dưới trời mưa, rét, Phòng GD-ĐT H.Phú Lộc (Thừa Thiên-Huế) đã hoãn thi hai môn còn lại.

    Số giáo viên tại các trường công ở Nhật Bản bị kỷ luật vì có hành vi sai trái về tình dục trong tài khóa 2022, kết thúc vào ngày 31.3.2020 là 273 người, gần bằng con số kỷ lục 282 của tài khóa 2022.

    Năm 2022 là năm thứ 4 Báo Thanh Niên tổ chức và phát sóng chương trình Bí quyết ôn thi THPT quốc gia đạt điểm cao tại chúng tôi kênh YouTube Thanh Niên và Facebook.com/thanhnien.

    Ngay khi đang học học kỳ 1, Nguyễn Minh Hòa – học sinh lớp 12.1, Trường Phổ thông liên cấp Albert Einstein (AES), thuộc Hệ thống Trường Quốc tế Canada (CISS), đã được 5 trường ĐH có tiếng trên thế giới mời học.

    Với mức độ lan tỏa thông tin qua nhiều kênh của Báo Thanh Niên, chương trình trực tuyến được đánh giá là kênh tuyển sinh hiệu quả nhất từ chính các trường đại học, cao đẳng sau nhiều năm gắn bó.

    Không bắt buộc phải dạy môn học ở tất cả các tuần, không bắt buộc phải chia đều số tiết/tuần; đổi mới theo hướng dạy học tích hợp, tự chọn với đội ngũ giáo viên hiện có…

    Tin tức giáo dục đặc biệt đáng quan tâm trên báo in Thanh Niên ngày mai 25.12.2020 thông tin những thay đổi đáng lưu ý trong dạy học thời gian tới, chẳng hạn không còn học theo thời khóa biểu hằng tuần như hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Luật Và Ngành Luật Kinh Tế
  • Khoa Pháp Luật Kinh Tế (Đại Học Luật Hà Nội): Dấu Son 40 Năm Xây Dựng Và Phát Triển
  • Gd Hn: Luật Khoa Học Công Nghệ Luat Khcn 2000 Doc
  • Luật Khoa Học Và Công Nghệ 2000
  • Phương Án Tuyển Sinh 2022 Chính Thức Của Các Khoa/trường Thành Viên Đh Quốc Gia Hn
  • Bìa Luận Văn Khoa Luật Đại Học Cần Thơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Án Tuyển Sinh Của Khoa Luật (Đhqg Hà Nội)
  • Tuyển Sinh 2022 Khoa Luật
  • Tuyển Sinh Khoa Luật
  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật (Chi Tiết)
  • Mẫu Bìa Luận Văn Đại Học Cần Thơ Khoa Luat, Bia Luan Van Khoa Luat, Bìa Luận Văn Khoa Luật Đại Học Cần Thơ, Khóa Luận Đại Học Luật, Bình Luận Khoa Học Luạt Đất Đai, Bình Luận Khoa Học Luật, Khóa Luận Tốt Nghiệp Luật, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự, Khóa Luận Tốt Nghiệp Luật Đất Đai, Bình Luận Khoa Học Luật Dân Sự, Khóa Luận Luật Kinh Tế, Khoá Luận Về Luật Môi Trường, Khoá Luận Ngành Luật, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự 2022 Đỗ Văn Đại Pdf, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự 2022, Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật Tội Đầu Cơ, Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật Dân Sự, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự 2022 Pdf, Điều 147 Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự , Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự Nhật Bản , Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Hình Sự, Khoá Luận Luật Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường, Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật, Khóa Luận Tốt Nghiệp Luật Hình Sự, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2022 Pdf, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự 2022 Nguyễn Văn Cừ, Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật Kinh Tế, Khóa Luận Tốt Nghiệp Chuyên Ngành Luật, Binh Luan Khoa Hoc Bo Luat To Tung Dan Su 2013, Bình Luận Khoa Học Luật Cạnh Tranh, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, Binh Luan Khoa Hoc Bo Luat To Tung Dan Su 2022, Bình Luận Khoa Học Những Điểm Mới Của Bộ Luật Dân Sự Năm 2022, Quy Định Về Trình Bày Khóa Luận Tốt Nghiệp Cử Nhân Luật, Bình Luận Khoa Học Luật Tố Tụng Hành Chính, Bình Luận Khoa Học Luật Tố Tụng Hành Chính 2022, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Hành Chính 2022, Kế Hoạch Thực Tập Của Sinh Viên Cuối Khóa Của Khoa Luật, Bìa Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Kinh Doanh Quốc Tế, Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Nghiên Cứu Chiết Xuất Và Bào Chê Viên Giảo Cổ Lam (khoá Luận Tốt Nghiệp Dược Sĩ Khoá 2002 – 2007, Mẫu Slide Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Kế Toán, Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Khách Sạn Du Lịch, Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Nông Học, Bìa Khóa Luận Khoa Khách Sạn Du Lịch, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Khoa Luật Đhqghn, Powerpoint Bảo Vệ Luận Văn Thạc Sệ Khóa Luận Tốt Nghiệp Của Sinh Viên Giáo Dục Tiểu Học, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Khoa Học, Khóa Luận Tốt Nghiệp Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Khóa Luận Tốt Nghiệp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Hóa, Khóa Luận Tốt Nghiệp Cao Cấp Lý Luận Chính Trị, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2 Luật Doanh Nghiệp, Kết Luận Của Khóa Luận Tốt Nghiệp, Iểu Luận Luật Kinh Tế 2 Luật Doanh Nghiệp, Khóa Luận Y Khoa, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Học Luật Hà Nội, Chủ Đề Bài Xin Lập Khoa Luật, Tóm Tắt Xin Lập Khoa Luật, Đề Thi Khoa Luật, Xin Lập Khoa Luật, Khoa Kinh Tế Luật, Nội Dung Bài Xin Lập Khoa Luật, Mẫu Báo Cáo Thực Tập Khoa Luật, Mssv Khoa Luật Đại Học Mở, Mẫu Bìa Khóa Luận Đẹp, Mẫu Bìa Khóa Luận Ueh, Khóa Luận, Lời Cảm ơn Khoá Luận, Bài Khóa Luận Mẫu, Khóa Luận Báo Chí, Khóa Luận Cho Vay Mua Nhà, Khóa Luận Cho Vay Mua ô Tô, Mẫu Bìa Khóa Luận, Mẫu Bài Khóa Luận, Tóm Tắt Khoá Luận Mầm Non, Luận án Khoa Học, Bìa Khóa Luận, Khóa Luận Ftu, Khóa Luận Đề Tài, Bìa Khóa Luận Ueh, Luan Van Y Khoa, Mẫu Khóa Luận Ftu, Khóa Luận Rau, Khóa Luận Sở Hữu Trí Tuệ, Mục Lục Khóa Luận, Lý Luận Khoa Học Là Gì, Mẫu Tóm Tắt Khóa Luận, Khóa Luận Mẫu, In Khóa Luận, Khóa Luận Về Ma Túy, Khóa Luận Về Lò Than, Khóa Luận Về Lễ Hội, Đề Tài Khoá Luận Thú Y, Dàn Bài Khóa Luận, Bài Luận Khoa Học, Luận án Về Khoa Học, Khoá Luận Văn, Khoá Luận Và Đồ án,

    Mẫu Bìa Luận Văn Đại Học Cần Thơ Khoa Luat, Bia Luan Van Khoa Luat, Bìa Luận Văn Khoa Luật Đại Học Cần Thơ, Khóa Luận Đại Học Luật, Bình Luận Khoa Học Luạt Đất Đai, Bình Luận Khoa Học Luật, Khóa Luận Tốt Nghiệp Luật, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự, Khóa Luận Tốt Nghiệp Luật Đất Đai, Bình Luận Khoa Học Luật Dân Sự, Khóa Luận Luật Kinh Tế, Khoá Luận Về Luật Môi Trường, Khoá Luận Ngành Luật, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự 2022 Đỗ Văn Đại Pdf, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự 2022, Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật Tội Đầu Cơ, Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật Dân Sự, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự 2022 Pdf, Điều 147 Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự , Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự Nhật Bản , Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Hình Sự, Khoá Luận Luật Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường, Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật, Khóa Luận Tốt Nghiệp Luật Hình Sự, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2022 Pdf, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự 2022 Nguyễn Văn Cừ, Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật Kinh Tế, Khóa Luận Tốt Nghiệp Chuyên Ngành Luật, Binh Luan Khoa Hoc Bo Luat To Tung Dan Su 2013, Bình Luận Khoa Học Luật Cạnh Tranh, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, Binh Luan Khoa Hoc Bo Luat To Tung Dan Su 2022, Bình Luận Khoa Học Những Điểm Mới Của Bộ Luật Dân Sự Năm 2022, Quy Định Về Trình Bày Khóa Luận Tốt Nghiệp Cử Nhân Luật, Bình Luận Khoa Học Luật Tố Tụng Hành Chính, Bình Luận Khoa Học Luật Tố Tụng Hành Chính 2022, Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Hành Chính 2022, Kế Hoạch Thực Tập Của Sinh Viên Cuối Khóa Của Khoa Luật, Bìa Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Kinh Doanh Quốc Tế, Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Nghiên Cứu Chiết Xuất Và Bào Chê Viên Giảo Cổ Lam (khoá Luận Tốt Nghiệp Dược Sĩ Khoá 2002 – 2007, Mẫu Slide Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Kế Toán, Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Khách Sạn Du Lịch, Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa Nông Học, Bìa Khóa Luận Khoa Khách Sạn Du Lịch, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Khoa Luật Đhqghn, Powerpoint Bảo Vệ Luận Văn Thạc Sệ Khóa Luận Tốt Nghiệp Của Sinh Viên Giáo Dục Tiểu Học, Tiểu Luận Phương Pháp Luận Khoa Học, Khóa Luận Tốt Nghiệp Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Tuyển Thẳng Khoa Luật
  • Luật Hấp Dẫn : Thành Công Hay Tai Họa ?
  • Những Tỉ Phú Hành Động Theo Luật Hấp Dẫn
  • Giới Thiệu Sách Luật Hấp Dẫn Trong Tôi
  • Cách Nâng Cấp Nhaccuatui Vip Với “x
  • Văn Mẫu: Xin Lập Khoa Luật (Nguyễn Trường Tộ)

    --- Bài mới hơn ---

  • Xin Lập Khoa Luật (Nguyễn Trường Tộ)
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Thêm Xin Lập Khoa Luật ( Trích: Tế Cấp Bát Điều ) Nguyễn Trường Tộ
  • Tóm Tắt Xin Lập Khoa Luật
  • Tóm Tắt Xin Lập Khoa Luật Hay, Ngắn Nhất (2 Mẫu).
  • Đọc Hiểu Xin Lập Khoa Luật
  • Phân tích tác phẩm Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ

    Nguyễn Trường Tộ đặt vấn đề phải lập khoa luật

    Cách vào đề của Nguyễn Trường Tộ là trực tiếp, trực diện cốt để nêu bật tầm quan trọng của luật trong cuộc sống, vai trò của luật đối với bất kì ai – dù là người đó làm quan hay là dân thường: “Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nước và những luật mới bổ sung thêm từ thời Gia Long đến nay”. Theo Nguyễn Trường Tộ, luật bao gồm kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia : đất nước muốn tồn tại phải có kỉ cương, nhà nước muốn cai trị dân phải có uy quyền, thông qua các chính sách và pháp luật (chính lệch). Điều đó chứng tỏ luật bao trùm lên tất cả mọi lĩnh của đời sống xã hội cũng như cuộc sống của con người.

    Do bản điều trần này, viết đệ trình lên vua Tự đức phải thuyết phục nhà vua cho mở khoa luật nên ông đã khéo léo làm một việc so sánh, đối chiếu giữa việc hành pháp ở các nước phương Tây văn minh với việc thực thi đạo tam cương ngũ thường, việc hành chính của sáu bộ ở nước ta thời đó. Theo Nguyễn Trường Tộ tam cương ngũ thường là xương sống của chế độ phong kiến, là đạo lớn nhất bao trùm mọi quan hệ xã hội và gia đình, mọi cách ứng xử giữa con người với nhau; lục bộ (sáu bộ) là cơ quan quyền lực trung ương của nhà nước phong kiến. Vì trong luật có đủ cả đạo tam cương ngũ thường, cả việc hành chính của sáu bộ cho nên nhà vua không có lí do gì mà lại không cho thành lập khoa luật để dạy luật cho người Việt Nam.

    Vả lại, việc hành pháp lại tránh cho các quan thi hành luật pháp “không bị một bó buộc nào cả”; lúc cho nhà vua “không dự vào những việc ngũ hình để tỏ đạo nhân ái”.

    Việc đặt vấn đề trực tiếp, rõ ràng như thế làm người đọc (vua Tự Đức) hiểu ngay mục đích vấn đề mà người viết nêu ra trong bản điều trần, bước đầu đã được thuyết phục bởi lí lẽ cũng như thực tế mà người viết viện dẫn.

    Nguyễn Trường Tộ phê phán Nho học truyền thống không có tác dụng bằng luật pháp

    Việc phê phán Nho học, nho gia được triển khai ở mấy điểm như sau:

    Thứ nhất, Nguyễn Trường Tộ thừa nhận “đạo làm người không gì lớn bằng trung hiếu, không gì cần thiết bằng lễ nghĩa”. Nhưng điều đáng nói ở đây là, ông khẳng định như vậy để mà phủ định nó: đạo ấy muốn trở thành hiện thực phải có luật không thì chỉ là nói suông, “không làm cũng chẳng bị ai phạt, có làm cũng chẳng được ai thưởng”; các nhà nho học nhiều nhưng” mấy ai đổi được tâm tính, sửa được lỗi lầm?”

    Để thuyết phục nhà vua, Nguyễn Trường Tộ dẫn lời của chính Khổng Tử – ông tổ của Nho học – để chứng minh cho sự phê phán của mình là đúng: “Ta chưa hề thấy ai nhận được lỗi mình mà biết tự trách phạt”. Đúng là Nho học truyền thống không có tác dụng như luật. Vì vậy, xã hội đã đến lúc cần phải có luật pháp để “cứu nước giúp đời”.

    Thứ hai, Nguyễn Trường Tộ cho rằng vua chúa thống trị là nhờ hiểu luật chứ đâu chỉ vì xem các sách vở của nho gia xưa để lại. Theo ông, họ không “phụ thuộc” vào sách vở; các vua chúa chỉ tham khảo thôi chứ dùng để trị dân sao được. Bởi vì, sách vở chỉ là các ” sự tích chính sự thời xưa của cổ nhân”, “những bài luận hay ho của người xưa”, “những áng văn chương trau chuốt của chư tử”, “những tiểu thuyết dã sử của những người hiếu sự”, … Tóm lại, sách vở nho gia ” chỉ làm rối trí thêm chẳng được tích sự gì”!

    Một lần nữa, ông lại dẫn lời Khổng Tử để làm sáng tỏ quan điểm của mình vừa nêu: “chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc”. Mà muốn làm việc phải có luật. Về vấn đề này, ông nêu lên tình trạng đáng buồn của phần đông các “con dân” nơi cửa Khổng sân Trình thời đó : suốt đời học chữ thánh hiền nhưng cư sử “còn tệ hơn những người quê mùa chất phác”.

    Cách lập luật của Nguyễn Trường Tộ tỏ ra rất sắc sảo, chặt chẽ; luận điểm rõ ràng, luận chứng và luận cứ có sức thuyết phục, có tính chiến đấu cao, bộc lộ tâm huyết của một nhà trí thức thiết tha với công cuộc đổi mới đất nước ở nửa sau thế kỉ XIX.

    Nguyễn Trường Tộ khẳng định sự thống nhất giữa đạo đức và luật pháp

    Để chốt lại vấn đề đặt ra, sau khi lập luận rằng luật pháp có vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sự, tổ chức xã hội, rằng Nho học đã tỏ ra không có tác dụng bằng luật, Nguyễn Trường Tộ nâng thành vấn đề quan hệ giữa đạo đức và pháp luật để giả định phản bác quan niệm “luật chỉ tốt cho cai trị chứ không có đạo đức”. Theo ông, luật đâu chỉ là chính trị, đâu “chỉ tốt cho việc cai trị”, mà luật còn là ” đức”, là cái đức “chí công vô tư”, là “đức trời”, là”mở đạo làm người”. Ông phản bác để mà khẳng định: “nếu tận dụng cái lẽ công bằng ở trong luật thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức”; “trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức trời”.

    Nếu có đọc bản điều trần này thì đến đây, chắc Tự Đức sẽ an lòng, không lo việc lập khoa luật sẽ trái với “đức trời”, với “đạo làm người” mà hàng nghìn năm bao đời vua đã cố công duy trì để thống trị xã hội phong kiến Việt Nam.

    Tiếc rằng vua Tự Đức, triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ không chấp nhận. Bản điều trần số 27 cũng như các bản điều trần khác của Nguyễn Trường Tộ đều bị xếp lại.

    Xin lập khoa luật là một trong những rất nhiều điều đề nghị của Nguyễn Trường Tộ để canh tân đất nước – để đưa xã hội Việt Nam vào luật pháp, đưa con người sống trong luật pháp nhằm góp phần làm cho Việt Nam thoát khỏi lạc hậu và hiểm họa mất nước. Bản điều trần số 27 biểu hiện tấm lòng yêu nước của một trí thức theo đạo Thiên Chúa đi trước thời đại, tiếp cận tư tưởng nhà nước pháp quyền, khát khao muốn đi đất nước đi lên theo hướng hiện đại, tiên tiến như các nước phương Tây khi đó. Tư tưởng pháp trị mà Nguyễn Trường Tộ trình bày trong bản điều trần vừa có ý nghĩa tiến bộ về luật pháp, vừa có ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi cho người dân thời đó. Cho đến nay, đều này vẫn còn nguyên giá trị.

    Giới thiệu một vài nét về Nguyễn Trường Tộ và tác phẩm Xin lập khoa luật

    I. TÁC GIẢ

    – Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) là một tri thức yêu nước và theo đạo Thiên Chúa. Ông là người làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Trường Tộ sớm được tiếp xúc với tư tưởng phương Tây nên ông có nhiều tư tưởng tiến bộ, Ông đã dâng lên vua Tự Đức nhiều bản điều trần có giá trị, tập trung ở Tế cấp bát điều nhưng tiếc là không được chấp nhận.

    – Tế cấp bát điều là bản điều trần thứ 27 của Nguyễn Trường Tộ. Bản điều trần thể hiện tài năng và tư tưởng tiến bộ của ông. Trong bản điều trần ông chỉ ra tám việc cần làm gấp để canh tân đất nước, thể hiện suy nghĩ sắc sảo và tầm nhìn xa trông rộng của tác giả.

    – Đoạn Xin lập khoa luật đã đưa ra những lí do rất xác đáng về việc mở khoa luật để dạy cho người việt Nam. Với cái nhìn tiến bộ và đầy tinh thần trách nhiệm, Nguyễn Trường Tộ đã chỉ rõ vai trò của luật pháp đối với sự ổn định của xã hội. Và cuối cunghfg kẳng định việc lập khoa luật đê dạy luật phsp cho nhân dân là cần thiết và đúng đắn.

    II. TÁC PHẨM

    Trích từ bản điều trần số 27: “Tế cấp bát điều” bàn về sự cần thiết của luật pháp đối với xã hội nhằm mục đích thuyết phục triều đình cho mở khoa luật.

    – Đoạn 1, tác giả nêu ra các nội dung của luật để khẳng định khả năng bao quát của luật đối với xã hội. Sau đó, khẳng định vai trò của luật đối với việc trị dân của vua.

    + Luật bào gồm: “kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia, trong đó tam cương ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”. Có nghĩa là luật bao trùm cả vấn đề đạo đức và trách nhiệm. Cũng ở đây, tác giả chỉ ra tác dụng của luật: quan dùng luật để trị, dân theo luật mà giữ gìn”. Ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của luật đối với việc trị dân của vua. Tác giả đã đề cập đến vấn đề dân chủ trong việc thi hành luật pháp.

    + Tác giả đã vào đề theo cách trực tiếp. Cách vào đề đó giúp cho người đọc chủ động tiếp nhận những nội dung được trình bảy ở phần sau.

    + Trong chế độ phong kiến, vua là trên hết nhưng tác giả đã dùng những lí lẽ thuyết phục nhà vua tuân theo pháp luật, đó là “Vua cũng không được đoán phạt một người nào theo ý mình mà không có chũ kí của các quan trong bộ ấy. Làm thế là để cho dân chúng thấy rõ đạo công bằng. Vả lại vua không dự vào những việc ngũ hình để tỏ đạo nhân ái…”

    + Nguyễn Trường Tộ viết “Phàm những ai đã nhập ngạch bộ Hình xử đoán…được một bậc” là đúng. Bởi vì, điều đó sẽ khiến cho các vị quan thực hành luật pháp có thể xử án một cách vô tư, đảm bảo sịư công minh, công bằm của luật, “để giúp cho các vị này được thong dong trong việc chấp hành luật pháp không bị một bó buộc nào cả”.

    – Đoạn 2, tác giả khẳng định vai trò của luật.

    + Ông đã chỉ ra rằng, lí thuyết của sách Nho “chỉ là nói suông trên giấy”, đó là những lẽ phải nhưng tự nó không có đủ khả năng làm cho mọi người thay đổi tâm tính, tự giác sửa mình. Đưa ra những nhược điểm của việc trị dân bằng lí thuyết nhà Nho, tác giả không chỉ hướng đến mục đích phê phán sách Nho mà để khẳng định luật cần thiết đối với sự ổn định của xã hội. Nho gia giáo dục con người bằng đạo đức, bằng những tấm gương đạo đức của quá khứ nên nặng tính lí thuyết suông.

    + Cuối mỗi điều phê phán Nho giáo, Nguyễn Trường Tộ kết lại bằng lời của Khổng Tử khiến cho lí lẽ của ông càng thuyết phục người nghe, nhất là nhà Nho vốn rất bảo thủ. Luật có vai trò biến lí thuyết của sách Nho thành hiện thực.

    – Đoạn 3, Nguyễn Trường Tộ đã lí giải thấu đáo vai trò của luật, đồng thời giải quyết triệt để những nghi ngờ về khả năng của luật. Ông dùng lập luận để bác bỏ quan điểm “luật lệ chỉ tốt cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi”. Ông khẳng định “trái luật là tội, giữ đúng luật là đức”. Để khẳng định tác giả đã dùng các câu nghi vấn tu từ. Bằng lập luận rõ ràng, lí lẽ thấu đáo, Nguyễn Trường Tộ đã chỉ ra một cách thuyết phục sự cần thiết của việc dùng luật để trị dân. Từ đó khẳng định: lập khoa luật để dạy dân hiểu luật là việc làm cấp thiết.

    Với cái nhìn tiến bộ và đầy tinh thần trách nhiệm, Nguyễn Trường Tộ đã chỉ rõ vai trò của luật pháp đối với sự ổn định của xã hội. Tư tuởng ấy của ông dù được nói đến cách đây hàng trăm năm nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

    Nguồn: vietjack

    --- Bài cũ hơn ---

  • Qua Bài Xin Lập Khoa Luật (Trích Tế Cấp Bất Điếu) Của Nguyễn Trường Tộ, Anh (Chị) Có
  • Soạn Văn 7: Xa Ngắm Thác Núi Lư
  • Soạn Văn 7 Ngắn Nhất Bài: Xa Ngắm Thác Núi Lư
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Top 3 Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư Ngắn Nhất.
  • Soạn Văn Bài: Xin Lập Khoa Luật (Nguyễn Trường Tộ)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật Của Nguyễn Trường Tộ
  • Vingroup Và Giấc Mộng Chaebol (Luật Khoa)
  • Vingroup Tài Trợ 20 Tỷ Đồng Nghiên Cứu Covid
  • Nhận Vinmart Từ Vingroup, Masan Được, Mất Ra Sao?
  • Từ 2022, Nlđ Vẫn Được Hưởng Lương Nếu Không Chịu Làm Việc Khác Với Hđlđ Một Cách Đúng Luật
  • Đánh giá bài viết Soạn văn bài: Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ) Câu 1: – Theo Nguyễn Trường Tộ, luật bao gồm: “kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia, trong đó tam cương ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”. – Đất nước muốn tồn tại phải có kỉ cương, nhà nước muốn cai trị được dân phải có uy quyền …

    Câu 1:

    – Theo Nguyễn Trường Tộ, luật bao gồm: “kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia, trong đó tam cương ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đều đầy đủ”.

    – Đất nước muốn tồn tại phải có kỉ cương, nhà nước muốn cai trị được dân phải có uy quyền nhưng đồng thời phải có chính lệnh. “Bất cứ một hình phạt nào trong nước đều không vượt ra ngoài luật”.

    – Ông giới thiệu việc thực hành luật ở các nước phương Tây: “phàm những ai đã nhập ngạch bộ Hình xử đán các vụ kiện tụng thì chỉ có thăng trật chứ không bao giờ bị phiếm truất. Dù vua, triều đình cũng không giáng chức họ được một bậc…”

    Từ việc này có thể thấy tác giả rất đề cao luật, đề cao những người hiểu biết về luật và có khả năng dùng luật để điều khiển công việc quốc gia.

    Câu 2:

    – Theo Nguyễn Trường Tộ, kỉ cương, uy quyền, chính lệnh để duy trì sự tồn tại của đất nước. Vì vậy, tác giả khẳng định: “Bất luận quan hay dân mọi người đểu phải học luật nước”, “quan dùng luật để trị dân, dân theo luật mà giữ gìn”.

    – Ông chủ trương như vậy vì luật đã bao trùm lên tất cả. Nếu đất nước không có các bộ luật thì làm sao giữ được kỉ cương phép nước. Từ quan cho đến thứ dân đều phải hiểu và làm theo luật. Xưa đã đúng, nay càng thấy đúng và thấm thía hơn.

    Câu 3:

    Theo tác giả, Nho học không có truyền thống tôn trọng luật pháp. Bởi: “Biết rằng đạo làm người không gì bằng trung hiếu, không gì cần thiết bằng lễ nghĩa. Nhưng các sách Nho chỉ nói suông trên giấy, không làm cũng chẳng bị ai phạt, có làm cũng chẳng được ai thưởng. Bởi vật xưa nay học đã nhiều mà mấy ai đổi được tâm tính, sửa được lỗi lầm?”. Hơn thế nữa, “từ xưa đến nay các vua chúa năm quyền thống trị cứu nước giúp đời đều nhờ hiểu luật, còn các sách vở khác cũng chỉ là phụ thuộc. Nếu trong nước không có luật thì dù có vạn quyển sách cũng không thể trị dân được”.

    Câu 4: Quan niệm của tác giả về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật:

    Dù lời văn đề cao pháp luật, nhưng theo ông, luật pháp và đạo đức gắn bó chặt chẽ với nhau. Tác giả khẳng định: “Nếu bảo luật chỉ tố cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi, thế là không biết rằng trái luật là tội, giữ đúng luật là đức. Nếu tận dụng cái lẽ công bằng trong luật mà xử thì mọi quyền, mọi pháp trong luật đều là đạo đức. Có cái đức nào lớn hơn chí công vô tư không? …” Theo Nguyễn Trường tộ, cái đức của pháp luật ấy chính là lẽ công bằng. Chí công vô tư chính là cái gốc của đức trong luật.

    Câu 5:

    Để tăng thêm sức thuyết phục với nhà vua, Nguyễn Trường Tộ đưa ra quan niệm luật của đạo Nho: “Từ tam cương ngũ thường cho đến việc hành chính của sáu bộ đểu đầy đủ”. Tác giả phê phán đạo Nho ở tính chất vô tích sự, chỉ nói suông không có tác dụng, “không làm cũng chẳng ai bị phạt, có làm cũng chẳng được ai thưởng”. Vì vậy, pháp luật phải gắn liền với thực tiễn hành động của con người. Đó là làm theo pháp luật. Tác giả lấy ngay lời của Khổng Tử: “Ta chưa hề thấy ai nhận được lỗi mình mà biết tự trách phạt”, “Chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc”. Đây chính là biện pháp lập luận “gậy ông đập lưng ông”. Tác giả đưa ra dẫn chứng “Thử xem có những nhà nho suốt đời đọc sách đáng lẽ cử chỉ của họ phải làm khuôn thước cho đời, vậy mà tại sao có nhiều người cuộc đời của họ và ứng xử của họ còn tệ hơn những người quê mùa chất phác.”

    Lời lẽ ấy như đặt ra câu hỏi: Vì sao lại có tình trạng như vậy? Chỉ có thể trả lời là do họ không được học luật. Vì vậy mới cần có luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật (Nguyễn Trường Tộ)
  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật Ngắn Gọn Nhất
  • Tuyển Sinh Khoa Luật
  • Tuyển Sinh 2022 Khoa Luật
  • Sinh Viên Văn Lang Gặp Và Giao Lưu Cùng Những Luật Sư Hàng Đầu Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Khóa Luận Luật Kinh Tế
  • Sinh Viên Ngành Luật Kinh Tế Bảo Vệ Thành Công Khóa Luận Tốt Nghiệp
  • Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật Kinh Tế
  • Ngành Luật Học Ra Làm Gì?
  • Ngành Luật Kinh Tế Ra Trường Làm Gì?
  • (P.TS&TT – Văn Lang , 16/9/2019 ) Ngày 19/09/2019, Trường Đại học Văn Lang tổ chức thành công Tọa đàm “Vài khía cạnh pháp lý về Kinh tế – Tài chính qua một số vụ đại án ở nước ta trong thời gian qua” tại Hội trường Trịnh Công Sơn (Cơ sở 3 – 69/68 Đặng Thùy Trâm, Phường 13, Quận Bình Thạnh).

    Tọa đàm có sự tham dự của chúng tôi Phan Trung Hoài – Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Trọng Tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) và LS. Trần Minh Hải – Giám đốc Công ty Luật BASICO. Hai tên tuổi nổi tiếng trong giới luật sư Việt Nam là những người trực tiếp chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức nghề với sinh viên Trường Đại học Văn Lang.

    TS. Nguyễn Cao Trí – Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Trường Đại học Văn Lang, PGS. TS. Nguyễn Văn Áng – Phó Hiệu trưởng, PGS. TS. Bùi Anh Thủy – Trưởng Khoa Luật, cùng cán bộ – giảng viên – nhân viên nhà trường và gần 1500 sinh viên đến từ các ngành Luật, Luật Kinh tế, Kinh doanh Thương mại, Quản trị Kinh doanh, Kế toán, Tài chính – Ngân hàng, Quản trị Khách sạn, Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành của Trường Đại học Văn Lang đã hào hứng tham gia sự kiện.

    Với đặc trưng đào tạo ứng dụng của Trường Đại học Văn Lang, chương trình đào tạo pháp luật lồng ghép các hoạt động thực hành, ứng dụng như học qua Phiên tòa giả định, Ngày hội pháp luật,… Thực hành phân tích các tình huống pháp luật giúp sinh viên học tập hứng thú hơn và nắm kiến thức vững vàng hơn. Tọa đàm “Vài khía cạnh pháp lý về Kinh tế – Tài chính qua một số vụ đại án ở nước ta trong thời gian qua” với sự tham gia dẫn dắt và chia sẻ của 2 chuyên gia đầu ngành cũng là một hoạt động như thế, giúp sinh viên Văn Lang nhận thức toàn diện và chuyên sâu hơn về khía cạnh pháp luật trong các vụ án kinh tế thời gian qua, tích lũy những bài học quý cho nghề nghiệp tương lai.

    Qua chia sẻ của LS. TS. Phan Trung Hoài và LS. Trần Minh Hải, sinh viên Văn Lang hiểu rõ hơn về tình hình kinh tế đất nước trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa những năm trở lại đây; hiểu cặn kẽ hơn hàng loạt vụ án kinh tế lớn với những tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, vi phạm quy đình về cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng, kinh doanh trái phép, cố ý làm trái quy định… Nhiều vụ án vẫn đang trong quá trình thụ lý hồ sơ, vướng mắc pháp lý, chưa thể định tội cho người gây ra sai phạm, nhưng khi sinh viên đặt câu hỏi, các diễn giả đã có giải đáp thỏa đáng, với mục đích chính là giúp sinh viên nhận ra tầm quan trọng của việc phải kiên định thực hiện hành trình công lý. Với vai trò của các luật sư và nhiều vị trí khác trong hoạt động tư pháp, hành pháp, mỗi vị trí đều có thể góp phần đấu tranh chống tham nhũng, xây dựng môi trường kinh doanh, sản xuất lành mạnh trong nền kinh tế thị trường..

    Tọa đàm “Vài khía cạnh pháp lý về Kinh tế – Tài chính qua một số vụ đại án ở nước ta trong thời gian qua” là một trong những sự kiện khởi đầu năm học 2022 – 2022 của sinh viên Khoa Luật Trường Đại học Văn Lang. Chương trình đem đến hàm lượng kiến thức ngành bổ ích, đồng thời khơi lên nhiều đam mê, hứng thú trong sinh viên về con đường hành nghề luật; nhưng quý hơn cả là, với sự dẫn dắt của 2 luật sư đầu ngành, sinh viên Văn Lang hiểu rằng công lý không phải là sự chờ đợi mà là sự dấn thân và dũng cảm đấu tranh. Không chỉ khi trở thành luật sư, hành trình đấu tranh cho công lý mới bắt đầu. Sự công bằng trong xã hội bắt đầu từ những nơi như giảng đường đại học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trước Kỳ Thi Thpt Quốc Gia 2022, Đại Học Văn Lang Công Bố Tuyển Thêm Ngành Luật
  • Khoa Luật Và Ngành Luật Kinh Tế
  • Khoa Pháp Luật Kinh Tế (Đại Học Luật Hà Nội): Dấu Son 40 Năm Xây Dựng Và Phát Triển
  • Gd Hn: Luật Khoa Học Công Nghệ Luat Khcn 2000 Doc
  • Luật Khoa Học Và Công Nghệ 2000
  • Quy Định Về Hành Lang An Toàn Đường Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Thị Số 718/ttg Của Thủ Tướng Chính Phủ : Ct Tăng Cường Chỉ Đạo Thực Hiện Các Nghị Định Của Chính Phủ Nhằm Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Thực Hiện Nghị Định Số 100/2019/nđ
  • Tăng Mức Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Về Trật Tự An Toàn Giao Thông Đường Bộ
  • Tuyên Quang: Na Hang Thực Hiện Nghị Định 46/2016/nđ
  • Áp Dụng Nghị Định 46 Của Chính Phủ Về Xử Phạt Vi Phạm Giao Thông Đường Bộ
  • Ông Tô Hiếu Trung (Trà Vinh) hỏi: Đất thuộc hành lang an toàn công trình giao thông, trên bản đồ thửa đất có thể hiện tiếp giáp hương lộ, như vậy hành lang an toàn công trình giao thông có phải là hành lang an toàn đường bộ không?

    Về vấn đề này, Bộ Giao thông vận tải trả lời như sau:

    Điều 14 Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/2/2010 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ quy định phạm vi đất dành cho đường bộ như sau:

    “1. Phạm vi đất dành cho đường bộ gồm đất của đường bộ và đất hàng lang an toàn đường bộ.

    Phần đất bảo vệ, bảo trì đường bộ dùng để giữ vật tư sử dụng cho bảo trì, để di chuyển hoặc đặt các thiết bị thực hiện việc bảo trì, để chất bẩn từ mặt đường ra hai bên đường, chống xâm hại công trình đường bộ.

    Phần đất bảo vệ, bảo trì đường bộ có bề rộng theo cấp đường, được xác định từ mép ngoài cùng của nền đường bộ (chân mái đường đắp hoặc mép ngoài của rãnh dọc tại các vị trí không đào không đắp hoặc mép đỉnh mái đường đào) ra mỗi bên như sau:

    a) 3 mét đối với đường cao tốc, đường cấp I, đường cấp II;

    b) 2 mét đối với đường cấp III;

    c) 1 mét đối với đường từ cấp IV trở xuống”.

    Theo Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 100/2013/NĐ-CP ngày 3/9/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/2/2010, giới hạn hành lang an toàn đường bộ xác định theo quy hoạch đường bộ được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được quy định như sau:

    “1. Đối với đường ngoài đô thị: Căn cứ cấp kỹ thuật của đường theo quy hoạch, phạm vi hành lang an toàn đường bộ có bề rộng tính từ đất của đường bộ trở ra mỗi bên là:

    a) 17 mét đối với đường cấp I, cấp II;

    b) 13 mét đối với đường cấp III;

    c) 9 mét đối với đường cấp IV, cấp V;

    d) 4 mét đối với đường có cấp thấp hơn cấp V.

    2. Đối với đường đô thị, giới hạn hành lang an toàn đường bộ là chỉ giới đường đỏ theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.”

    Điều 39 Luật Giao thông đường bộ về thẩm quyền phân loại và điều chỉnh các hệ thống đường bộ quy định như sau:

    “a) Hệ thống quốc lộ do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định;

    b) Hệ thống đường tỉnh, đường đô thị do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi thoả thuận với Bộ Giao thông vận tải (đối với đường tỉnh) và thoả thuận với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng (đối với đường đô thị);

    c) Hệ thống đường huyện, đường xã do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định sau khi được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý;

    d) Hệ thống đường chuyên dùng do cơ quan, tổ chức, cá nhân có đường chuyên dùng quyết định sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đối với đường chuyên dùng đấu nối vào quốc lộ; ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với đường chuyên dùng đấu nối vào đường xã.”

    Về quản lý hành lang an toàn đường bộ, tại Quyết định số 994/QĐ-TTg ngày 19/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ đã giao UBND cấp tỉnh tổ chức tiếp nhận và phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ cắm mốc chỉ giới hành lang an toàn đường bộ, quản lý, bảo vệ phần hành lang an toàn đường bộ đã giải toả, bảo vệ mốc lộ giới và xử lý các hành vi vi phạm.

    Căn cứ các quy định nêu trên, việc xem xét ảnh hưởng của hành lang an toàn đường bộ đến thửa đất tiếp giáp hương lộ, đề nghị ông Tô Hiếu Trung có văn bản chi tiết gửi UBND huyện, UBND tỉnh để xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

    Theo chúng tôi

    Link gốc:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Thị 454/ttg Năm 1996 Thực Hiện Nghị Định 36/cp Về Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Giao Thông Đường Sắt Và Đường Thuỷ Nội Địa Do Thủ Tướng Chính Phủ Ban Hành
  • Nghị Định 36/cp Của Bộ Giao Thông Vận Tải Về Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Đường Bộ Và Trật Tự An Toàn Giao Thông Đô Thị
  • Lại Sắp Sửa Nghị Định Xử Phạt Vi Phạm An Toàn Giao Thông
  • Cần Tăng Cường Công Tác Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Thanh Thiếu Niên, Học Sinh
  • Nghị Định Số 71 Về Giao Thông
  • Muốn Theo Nghề Thầy Lang Cần Điều Kiện Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Hợp Nhất Luật Chứng Khoán
  • Điểm Mới Luật Tổ Chức Chính Phủ, Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương Sửa Đổi
  • Tải Full File Word Xịn Văn Bản Hợp Nhất Và Các Thông Tư Hướng Dẫn Về Thuế Gtgt
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 03/vbhn
  • Có Phải Làm Lại Cmnd, Thẻ Căn Cước Công Dân Sau Phẫu Thuật Thẩm Mỹ?
  • Hồ sơ, thủ tục để cấp chứng chỉ hành nghề bao gồm những gì?

    Luật sư trả lời

    Theo quy định tại điều 17 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 hợp nhất Luật khám, chữa bệnh năm 2009, các đối tượng xin cấp chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh bao gồm: Bác sỹ, y sỹ. Điều dưỡng viên. Hộ sinh viên. Kỹ thuật viên.

    5. Lương y.

    6. Người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.

    Điều 18 Luật khám chữa bệnh năm 2009 quy định các điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề như sau:

    1. Có một trong các văn bằng, giấy chứng nhận sau đây phù hợp với hình thức hành nghề khám bệnh, chữa bệnh:

    b) Giấy chứng nhận là lương y;

    c) Giấy chứng nhận là người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.

    2. Có văn bản xác nhận quá trình thực hành, trừ trường hợp là lương y, người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.

    3. Có giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.

    Như vậy, nếu bạn có bài thuốc gia truyền và đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 18 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009 sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.

    Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề bao gồm:

    – Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề;

    – Bản sao văn bằng hoặc giấy chứng nhận trình độ chuyên môn;

    – Văn bản xác nhận quá trình thực hành;

    – Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp;

    – Phiếu lý lịch tư pháp;

    – Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) nơi cư trú hoặc xác nhận của Thủ trưởng đơn vị nơi công tác.

    Bạn có thể nộp hồ sơ đến Bộ Y tế hoặc Sở Y tế nơi bạn cư trú. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế phải cấp chứng chỉ hành nghề cho bạnh; nếu không cấp chứng chỉ hành nghề thì phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Văn Bản Hợp Nhất Về Lĩnh Vực Thuế
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kiểm Toán Nhà Nước
  • Luật Kiểm Toán Nhà Nước Tiêu Chuẩn, Điều Kiện Đối Với Kiểm Toán Viên
  • Luật Sửa Đổi Bổ Sung Luật Kiểm Toán Nhà Nước
  • Luật Khiếu Nại, Tố Cáo 1998
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100