Quan Điểm Của Đảng Về Kết Hợp Quốc Phòng, An Ninh Với Kinh Tế, Kinh Tế Với Quốc Phòng, An Ninh

Sự Cần Thiết Phải Kết Hợp Giữa Phát Triển Kinh Tế

Đề Tài Sự Cần Thiết Của Việc Kết Hợp Phát Triển Kinh Tế

Cách Để Luôn Có Những Quyết Định Chính Xác

Lí Thuyết Quyết Định (Decision Theory) Trong Lựa Chọn Công Suất Là Gì?

Kinh Dịch Là Gì? Học Kinh Dịch Như Thế Nào? Bắt Đầu Từ Đâu?

Thứ năm, 16 Tháng 3 2022 12:27

(LLCT) – Kinh tế và quốc phòng, an ninh (QPAN) là 2 lĩnh vực hoạt động cơ bản trong quá trình thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từng mặt hoạt động kinh tế, QPAN có đặc điểm, yêu cầu riêng và tuân theo các quy luật vận động riêng, nhưng chúng có quan hệ biện chứng, hữu cơ trong một thể thống nhất, gắn kết chặt chẽ với nhau, cái này là điều kiện tồn tại và phát triển của cái kia. Tuy vậy, không phải cứ có kinh tế mạnh là có QPAN mạnh, hoặc cứ có QPAN mạnh thì có kinh tế mạnh, mà phải trên cơ sở kết hợp một cách hợp lý, hài hòa, hiệu quả giữa kinh tế với QPAN, sao cho các hoạt động kinh tế gắn kết hữu cơ với các hoạt động QPAN và ngược lại.

1. Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh là một quy luật tất yếu

Dựng nước đi đôi với giữ nước là vấn đề có tính quy luật chung của mọi quốc gia, mọi chế độ xã hội Việt Nam, ý thức kết hợp kinh tế với QPAN, QPAN với kinh tế đã sớm được hình thành.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phổ biến giữa kinh tế, QPAN có mối quan hệ biện chứng, giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kinh tế với an ninh, kinh tế với quốc phòng và ngược lại, đó là mối quan hệ tác động qua lại, gắn bó hữu cơ với nhau. Trong mối quan hệ đó, kinh tế luôn giữ vai trò quyết định, là nhiệm vụ trung tâm, có tác động trực tiếp đến hoạt động QPAN; tạo cơ sở để củng cố QPAN.

Nhưng QPAN không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà cũng có tác động trở lại đối với kinh tế. Mặt tích cực là QPAN tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, là điều kiện để đảm bảo cho quá trình xây dựng phát triển kinh tế. Nhưng ngay trong hoạt động QPAN cũng hàm chứa yếu tố kinh tế là sự chi phí lớn về kinh tế, nếu không tính toán kỹ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển kinh tế. Vì vậy khi đầu tư cho QPAN cần phải bảo đảm hiệu quả kinh tế, không cản trở hoặc hạn chế đến mức thấp nhất sự ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế. Hoạt động QPAN cũng cần phải lưu ý tính lưỡng dụng, có khả năng phục vụ phát triển kinh tế, đời sống dân sinh.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ QPAN trong thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kích thích kinh tế phát triển. Đầu tư cho QPAN, một mặt, đặt ra cho nền kinh tế phải sản xuất, hoặc thông qua quan hệ kinh tế đối ngoại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nó; mặt khác, sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế.

Thực tiễn lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới chỉ ra rằng, dù là nước lớn hay nước nhỏ, kinh tế phát triển hay chưa phát triển, dù chế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều quan tâm thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố QPAN. Các nước đều chú ý xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực từ nền kinh tế cho hoạt động QPAN.

Tuy nhiên, các nước khác nhau, với chế độ chính trị – xã hội khác nhau, điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì sự kết hợp cũng có sự khác nhau về mục đích, nội dung, phương thức và kết quả. Ngay trong một nước, trong mỗi giai đoạn phát triển, sự kết hợp cũng khác nhau.

Lịch sử dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn liền với những cuộc chiến tranh giành và giữ độc lập. Đứng trước nguy cơ thường xuyên có thể bị xâm lược, các triều đại phong kiến Việt Nam (đặc biệt từ thế kỷ X-XV) muốn tồn tại, đều phải dựa vào nhân dân, thực hiện chính sách gắn kinh tế với QPAN (có thể nói là quốc sách), với những bài học quý báu đó là chính sách “ngụ binh ư nông”(Nguyễn Trãi) nhằm “khoan thư sức dân”, “nước lấy dân làm gốc”.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954) Đảng ta đề ra chủ trương: kháng chiến, kiến quốc; vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp; xây dựng làng kháng chiến.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền. Ở miền Bắc, để bảo vệ chế độ XHCN và xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam đánh giặc, với chủ trương: Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế. Ở miền Nam, quân và dân ta kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa chân phương tại chỗ vững mạnh. Đây chính là một điều kiện cơ bản bảo đảm cho cách mạng nước ta đi đến thắng lợi.

Thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội (từ 1975 đến nay) kết hợp QPAN với kinh tế là một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN và được triển khai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn.

Từ năm 1986 đến nay, với tư duy mới về kinh tế và QPAN, việc kết hợp chặt chẽ QPAN với kinh tế trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, bộ, ban, ngành có bước chuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhiều ngành, lĩnh vực và các công trình trọng điểm quốc gia đã kết hợp hiệu quả QPAN với kinh tế như: ngành đóng tàu; bưu chính viễn thông; giao thông vận tải; hoạt động đối ngoại; đường dây 500KW; đường Hồ Chí Minh; đường Đông Trường Sơn;…

2. Quan điểm của Đảng và luật pháp về kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế

Kết hợp QPAN với kinh tế là quan điểm nhất quán, một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh phải toàn diện, cơ bản lâu dài ngay từ trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; trên từng địa bàn lãnh thổ, trong đó có sự quan tâm đặc biệt đến các vùng, địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.

Đại hội XII nhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với QPAN và QPAN với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và QPAN tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược…”.

Kết hợp kinh tế với QPAN được xem xét một cách toàn diện, cơ bản lâu dài trong mối liên hệ với các yếu tố khác như văn hóa, xã hội, đối ngoại, tín ngưỡng, tôn giáo,… để bảo đảm không cản trở hoặc gây thiệt hại đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Việc kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN trên các địa bàn lãnh thổ khác nhau cũng có nội dung, phương thức kết hợp cụ thể khác nhau, phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của từng địa bàn lãnh thổ, đồng thời bảo đảm tính liên kết vùng, trong đó cần chú trọng những vùng, địa bàn chiến lược trọng yếu về QPAN như vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Thứ hai, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá trình kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân.

Đại hội XII nhấn mạnh: “… Kết hợp chặt chẽ QPAN và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về QPAN. Xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân…”.

Trong việc kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN, phải coi trọng phát huy nội lực, tự lực, tự cường, phát huy truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước cho quá trình kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường sức mạnh QPAN. Đồng thời, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập, tận dụng tốt các nguồn ngoại lực cho phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường củng cố QPAN.

Lòng dân là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; là lòng tin của nhân dân vào các chủ trương, chính sách, thể chế chính trị… của Đảng và Nhà nước. Các chính sách đúng đắn sẽ quy tụ được lòng dân, phát huy được sức mạnh của toàn dân trong giữ vững nền độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Hiện nay, xây dựng “thế trận lòng dân”để đáp ứng yêu cầu tăng cường sức mạnh QPAN, bảo vệ Tổ quốc chính là quá trình xây dựng nhân tố chính trị – tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho nhân dân có ý thức tự giác về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi công dân trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh phải vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, vừa nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Mọi thành quả đạt được của quá trình phát triển kinh tế – xã hội là nhằm ngày càng đáp ứng tốt nhất cho sự tăng trưởng kinh tế và tăng cường củng cố QPAN, cũng như nâng cao được đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đồng thời, mọi hoạt động QPAN là nhằm tạo ra và gìn giữ được môi trường hòa bình, ổn định để đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo vệ sự phát triển kinh tế, bảo vệ cuộc sống của dân cư và tạo ra cơ sở chính trị tinh thần của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc.

Trong việc kết hợp đòi hỏi có sự liên kết, chuyển hóa chặt chẽ, hiệu quả, bảo đảm tính lưỡng dụng trong các hoạt động kinh tế và hoạt động QPAN, các hoạt động kinh tế có thể chuyển hóa sang phục vụ QPAN và ngược lại, các hoạt động QPAN có thể chuyển sang phục vụ kinh tế và dân sinh, từ đó tiết kiệm chi phí, phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế và bảo đảm QPAN. Đồng thời, qua đó, tạo điều kiện nâng cao hơn nữa đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.

Đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của Hiến pháp tại Điều 68 về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN, Quốc hội thể chế hóa nhiều văn bản luật, pháp lệnh, nghị quyết trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là các luật: Luật Đất đai (2003), Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật An ninh quốc gia (2004), Luật Quốc phòng (2005), Luật Dân quân tự vệ (2009), Luật Công an nhân dân (2014); Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam (2014); các pháp lệnh như: Pháp lệnh Động viên công nghiệp (2003), Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng (2008), Pháp lệnh Cảnh sát môi trường (2014)…; các luật về lĩnh vực kinh tế như Luật Quy hoạch đô thị (2009), Luật Xây dựng (2014), Luật Doanh nghiệp (2014), Luật Đầu tư (2014), Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Pháp lệnh Quản lý thị trường (2016)…

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cụ thể hóa, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; đồng thời ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN như Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một điều của Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14-3-2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21-5-2014 của Chính phủ Quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên biển, Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21-11-2014 của Chính phủ về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền (thay thế Nghị định số 32/2005/NĐ-CP ngày 14-3-2005 của Chính phủ), Quyết định số 13/2012/QĐ-TTg ngày 23-02-2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế kết hợp kinh tế – xã hội với quốc phòng trong khu vực phòng thủ.v.v.

Đối với từng địa bàn chiến lược, thực hiện các chủ trương của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định với những định hướng dài hạn và giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo đảm QPAN; các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với đặc điểm vùng, miền, dân cư; trong đó có sự quan tâm đầu tư các nguồn lực cho vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ví dụ Quyết định số 925/2012/QĐ-TTg, ngày 29/6/2009 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam-Campuchia đến năm 2022 và tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định Số 276/QĐ-TTg, ngày 18-02-2014 về việc Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 12-KL/TW ngày 24-10-2011 của BCT về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020; Quyết định Số 1194/QĐ-TTg, ngày 22-7-2014 phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng Tây Nguyên đến năm 2030; Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12-3-2013 phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2022…

Nhiều quy định về bảo đảm quốc phòng và an ninh trong một số luật chưa được hướng dẫn thi hành như: Luật Hàng hải Việt Nam (Khoản 2 Điều 5); Luật Điện lực (Khoản 1 Điều 4); Luật Đường sắt (Khoản 1 Điều 4); Luật Đê điều (Khoản 1 Điều 5); Luật Bảo vệ và phát triển rừng (Khoản 1 Điều 9); Luật Xây dựng (Khoản 1 Điều 4); Luật Doanh nghiệp (Khoản 7 Điều 9); Luật Thủy sản (Khoản 3 Điều 4);… Các quy định về kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm QPAN trong Luật Quốc phòng (Khoản 3, Điều 5; Điều 11) và Luật An ninh quốc gia (Khoản 3 Điều 5; Khoản 3, 4 Điều 14 và Khoản 2 Điều 16) chưa cụ thể và chưa được hướng dẫn thực hiện đầy đủ, thống nhất và đồng bộ (nguyên tắc, yêu cầu, phạm vi, nội dung, phương thức kết hợp, chủ thể kết hợp, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể…).

Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế, đó là: Nhận thức về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPANcòn chưa đầy đủ và còn thiếu sự thống nhất; có lúc, có nơi còn có biểu hiện chủ quan, phiến diện. Chưa có một văn bản QPPL quy định cụ thể về các vấn đề chung như: phạm vi, nguyên tắc, nội dung, phương thức kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN.Đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia xây dựng chính sách, pháp luật còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, nhất là kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế và QPAN. Việc phân cấp trong thẩm tra, thẩm định cũng như việc bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền giữa Trung ương và địa phương trong kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN chưa được quy định rõ ràng, minh bạch.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh

Một là, cần thống nhất nhận thức quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN một cách đầy đủ, toàn diện và khoa học, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết, đánh giá thực tiễn. Qua đó cần làm rõ các vấn đề như: phạm vi, nguyên tắc, nội dung, phương thức, chủ thể, trách nhiệm pháp lý… kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN làm cơ sở cho việc thể chế hóa đầy đủ quy định trên trong hệ thống pháp luật. Đồng thời, đẩy mạnh công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN trong các cơ quan, tổ chức và nhân dân.

Hai là, nâng cao trình độ và năng lực thể chế hóa quy định của Hiến pháp về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN.

Ba là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Hoàn thiện cơ chế kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Xác định đúng đắn vị trí, vai trò nội dung quản lý nhà nước về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Xây dựng cơ chế quản lý thích hợp về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế.

Năm là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Có cơ chế thu hút các hiệp hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các chuyên gia giỏi tham gia vào việc nghiên cứu, đánh giá nhu cầu, hoạch định chính sách pháp luật về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN.

Sáu là, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về kết hợp QPAN với kinh tế, kinh tế với QPAN. Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật những vi phạm trong quy hoạch, kế hoạch, dự án, công trình xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế và các lợi ích QPAN.

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2016

1. ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011); ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tr.149, 150.

2. Bộ Chính trị: Nghị quyết số 08-NQ/TW về Chiến lược an ninh quốc gia trong tình hình mới,1999.

3. Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 25-10-2013, về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

4. Bộ Chính trị: Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày

10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

5. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2022.

6. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022.

7. Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Nghị quyết số 1059/NQ-UBTVQH13 ngày 9-11-2015 vềkết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh.Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013. GS, TS Trần Ngọc Đường, “Thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội – Thực trạng và giải pháp”.

Ths Vũ Hồng Lưu

Vụ Quốc phòng và An ninh,

Văn phòng Quốc hội

Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quốc Phòng, An Ninh, Bảo Vệ Tổ Quốc Hiện Nay

Quan Hệ Giữa Kinh Tế Và Quốc Phòng

#5 Cách Tăng Chiều Cao Ở Tuổi 18 Hiệu Quả Nhất

Em….quá 18, Có Quá Muộn Để Cải Thiện Chiều Cao?

#6 Cách Tăng Chiều Cao Ở Tuổi 17 Nhanh Chóng Cho Nam&nữ

Ngành Kinh Tế Quốc Tế Là Gì? Ngành Kinh Tế Quốc Tế Ra Trường Làm Gì

Ngành Kinh Tế Quốc Tế Là Gì? Học Ngành Kinh Tế Quốc Tế Ở Đâu?

Tuyển Sinh Trường Đại Học Luật Hà Nội

Trường Đại Học Luật Hà Nội

Sách Luật Kinh Tế Chuyên Khảo (Đại Học Luật Hà Nội)

Việt Nam Đang Rất “khát” Nhân Lực Ngành Luật Kinh Tế

Cập nhật: 17/12/2019

Ngành Kinh tế quốc tế hiện đang là một trong những ngành học “hot” ở nước ta. Nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành này là luôn cần thiết, vì vậy, cơ hội việc làm của sinh viên ngành Kinh tế quốc tế cũng rộng mở.

1. Tìm hiểu ngành Kinh tế quốc tế

Kinh tế quốc tế (tiếng Anh là International Economics) là một bộ môn khoa học, một chuyên ngành của kinh tế học nghiên cứu sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia. Đây là một lĩnh vực năng động và mang tính toàn cầu thuộc nhóm ngành kinh doanh, cung cấp những kiến thức chung về quản trị kinh doanh, về chiến thuật, chiến lược kinh doanh xuyên quốc gia.

Theo học ngành này, sinh viên còn được học các kiến thức về luật quốc tế và môi trường Kinh tế quốc tế, quản trị nguồn nhân lực quốc tế, hoạt động hậu cần Kinh tế quốc tế và xuất – nhập khẩu, nghiên cứu thị trường, xây dựng chương trình truyền thông và hệ thống phân phối quốc tế, kỹ năng giao tiếp và đàm phán quốc tế, cùng nghiệp vụ về thanh toán quốc tế, bảo hiểm ngoại thương, cách thức xâm nhập thị trường nước ngoài…

2. Chương trình đào tạo ngành Kinh tế quốc tế

Theo Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội

3. Các khối thi vào ngành Kinh tế quốc tế

– Mã ngành: 7310106

– Các tổ hợp môn xét tuyển vào ngành Kinh tế quốc tế:

4. Điểm chuẩn ngành Kinh tế quốc tế

Các bạn có thể tham khảo mức điểm chuẩn của các trường đại học đào tạo ngành Kinh tế quốc tế những năm gần đây. Trong năm 2022, mức điểm chuẩn của ngành này từ 21 – 27 điểm tùy theo các tổ hợp môn xét theo kết quả thi THPT Quốc gia hoặc xét theo học bạ.

5. Các trường đào tạo ngành Kinh tế quốc tế

– Khu vực miền Bắc: – Khu vực miền Nam:

6. Cơ hội việc làm ngành Kinh tế quốc tế

Hiện nay, ngành Kinh tế quốc tế thiếu nhân lực trầm trọng do yêu cầu kỹ năng khi tuyển dụng của ngành này khá cao. Vì vậy, cơ hội việc làm ngành Kinh tế quốc tế rất rộng mở với nhiều lựa chọn hấp dẫn. Học ngành Kinh tế quốc tế bạn được trang bị các kiến thức và kỹ năng chuyên môn, khi ra trường bạn dễ dàng xin được việc làm tại các vị trí sau:

Nhân viên kinh doanh cước tàu biển, hàng không;

Nhân viên xuất nhập khẩu;

Chuyên gia hoạch định tài chính quốc tế;

Chuyên gia nghiên cứu thị trường;

Chuyên gia marketing quốc tế;

Chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng;

Chuyên gia tư vấn đầu tư quốc tế;

Chuyên gia xúc tiến thương mại;

Nhà tư vấn quản trị kinh doanh quốc tế;

Chuyên gia nghiên cứu và giảng dạy về kinh tế quốc tế.

Với những vị trí việc làm trên, bạn có thể làm việc tại:

Các công ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực kinh tế quốc tế;

Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có đào tạo về quản trị kinh doanh và kinh tế quốc tế;

Bộ Công thương, các Sở Công thương, Sở Kế hoạch và đầu tư, cơ quan xúc tiến thương mại;

Các viện và trung tâm nghiên cứu kinh tế;

Các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu, các công ty vận tải quốc tế;

Bộ phận thanh toán quốc tế trong các ngân hàng thương mại và các công ty đa quốc gia…

7. Mức lương của ngành Kinh tế quốc tế

Đối với sinh viên ngành Kinh tế quốc tế mới ra trường và ít kinh nghiệm làm việc tại các doanh nghiệp thì mức lương cơ bản từ 5 – 7 triệu đồng/ tháng. Ngoài ra, tùy vào vị trí công việc, năng lực và kinh nghiệm làm việc trong ngành Kinh tế đầu tư thì mức lương từ 7 – 10 triệu đồng/ tháng hoặc có thể cao hơn con số này rất nhiều.

8. Những tố chất phù hợp với ngành Kinh tế quốc tế

Để theo học ngành Kinh tế quốc tế, bạn cần phải có những tố chất sau:

Nhạy bén, tháo vát, có trách nhiệm cao với công việc;

Kiên trì, nhẫn nại và chịu được áp lực công việc;

Tự tin, năng động, giao tiếp tốt, có khả năng đàm phán thuyết phục;

Khả năng ngoại ngữ tốt;

Sáng tạo, quyết đoán;

Khả năng thu thập và xử lí thông tin;

Có khả năng làm việc độc lập dưới áp lực về thời gian và khối lượng công việc.

Hy vọng với những thông tin có trong bài viết đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về ngành Kinh tế quốc tế và giúp các bạn tìm ra được ngành học phù hợp với sở thích và năng lực của bản thân.

Tuyển Sinh Trường Đại Học Kinh Tế

Trường Đại Học Kinh Tế

Đăng Ký Kết Hôn Ở Mỹ Hay Ở Việt Nam?

Hôn Nhân Đồng Tính Tại Hoa Kỳ Và Những Gợi Mở Cho Việt Nam

Có Được Kết Hôn Đồng Giới Ở Việt Nam Không?

Kết Hợp Kinh Tế Với Quốc Phòng, An Ninh Trên Hướng Biển Theo Nghị Quyết 36

Quán Triệt Nghị Quyết Số 36 Của Bộ Chính Trị Về Đẩy Mạnh Ứng Dụng, Phát Triển Cntt

Kết Quả Sau 05 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 36

Nghị Quyết 66 Của Hđnd Tỉnh Kon Tum

Đắk Lắk: Nghị Quyết Thông Qua Đồ Án Điều Chỉnh Quy Hoạch Chung Xây Dựng Thành Phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk Đến Năm 2025.

Nq 36 Chiến Lược Kinh Tế Biển

Phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh là một trong những quan điểm quan trọng của Nghị quyết 36-NQ/TW về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng.

Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và trên cơ sở đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 09-02-2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022, Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII) đã ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 36).

Quang cảnh Hội nghị trực tuyến “Cán bộ toàn quốc học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nội dung Hội nghị Trung ương 8, khóa XII của Đảng” tại điểm cầu Trung ương, ngày 23-11-2018

Nghị quyết 36 tiếp tục khẳng định giá trị cốt lõi đã xác định trong Nghị quyết 09-NQ/TW và có những bổ sung, phát triển mới với phương hướng chung là: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển nhanh, bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển”. Theo đó, Nghị quyết đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò, vị trí của biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu: phát triển nhanh, bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn, bảo vệ môi trường biển, chống biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Nhận thức về không gian biển cũng được mở rộng, không chỉ gồm biển, đảo mà còn cả các tỉnh ven biển. Nghị quyết nhấn mạnh đến phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển; bảo đảm hài hòa giữa các hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, giữa bảo tồn và phát triển,… phát huy tiềm năng, lợi thế của biển, tạo động lực phát triển kinh tế đất nước, v.v.

Về quốc phòng, an ninh, Nghị quyết xác định: tiếp tục ưu tiên hiện đại hoá một số quân chủng, binh chủng, lực lượng thực thi pháp luật trên biển, như: Hải quân, Cảnh sát biển, Không quân; nâng cao chất lượng, trình độ, năng lực của Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Dân quân tự vệ biển,… bảo đảm năng lực xử lý tốt các tình huống trên biển, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên các vùng biển. Không ngừng củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân khu vực biển, đảo. Nâng cao năng lực ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề về biển, đảo để chống phá. Kiên trì xây dựng, duy trì môi trường hoà bình, ổn định và trật tự pháp lý trên biển, tạo cơ sở cho việc khai thác và sử dụng biển an toàn, hiệu quả. Tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa các nguồn lực để nâng cao năng lực quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nghị quyết 36 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên hướng biển. Đây cũng là một trong số ít nghị quyết có tầm định hướng dài hạn (đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045). Cùng với định hướng về phát triển bền vững kinh tế biển, Nghị quyết nêu rõ phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang và các lực lượng thực thi pháp luật trên biển; tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên hướng biển. Điều đó cho thấy, quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta về phát triển kinh tế biển phải kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Để quán triệt và thực hiện tốt quan điểm đó, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Hai là, kết hợp phát triển bền vững kinh tế biển gắn với tăng cường bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đây là nội dung đặc biệt quan trọng, nhằm bảo đảm phát triển bền vững kinh tế biển trong mọi tình huống. Vì vậy, đối với các đơn vị hoạt động kinh tế biển phải có trách nhiệm cao trong việc tham gia giữ gìn an ninh trật tự, an toàn và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Quá trình thực hiện phải bảo đảm ở cả 03 cấp độ: (1) Chấp hành nghiêm pháp luật và các quy định hoạt động trên biển; (2) Xây dựng phương án, kế hoạch cụ thể trong việc phối hợp với lực lượng vũ trang và các lực lượng khác trên biển; (3) Tích cực, chủ động tham gia cùng lực lượng chức năng xử lý các tình huống về quốc phòng, an ninh trên biển. Đối với các lực lượng chấp pháp trên biển, không chỉ nắm chắc các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và quốc tế về biển, mà còn phải thể hiện rõ trách nhiệm trong quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn các lực lượng hoạt động trên biển chủ động, tích cực tham gia đấu tranh ngăn chặn các hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo và tham gia các hoạt động cứu nạn, cứu hộ, khắc phục hậu quả thiên tai, v.v.

Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, làm nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Sức mạnh trên biển là sức mạnh tổng hợp của đất nước, tập trung trước hết ở một số lực lượng hoạt động thường xuyên trên biển, đảo. Vì thế, cùng với xây dựng lực lượng vũ trang “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, cần đẩy mạnh thực hiện chủ trương của Đảng về hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Không quân, Cảnh sát biển,… để hoàn thành tốt chức năng làm nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và bảo đảm an ninh, an toàn biển, đảo. Trong đó, chú trọng công tác huấn luyện, đào tạo để nâng cao năng lực, hiệu quả thực thi pháp luật và khả năng bảo vệ chủ quyền, các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đất nước; nâng cao trình độ hoạt động cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư, người lao động và các hoạt động kinh tế trên các khu vực biển, đảo. Trong quá trình hoạt động, các lực lượng chấp pháp trên biển phải hiệp đồng chặt chẽ với nhau trong mọi tình huống; đồng thời, thường xuyên phối hợp với các lực lượng hoạt động kinh tế.

Bốn là, tập trung xây dựng, điều chỉnh thế trận quốc phòng, an ninh trên biển, đảo kết hợp với phát triển kinh tế – xã hội. Thế trận quốc phòng, an ninh trên biển được gắn chặt với thế trận quốc phòng, an ninh của cả nước – “bờ mạnh, đảo vững”. Vì thế, kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trên biển, đảo thực chất là hoạt động gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng vùng chiến lược quốc phòng với phát triển vùng kinh tế chiến lược, nhằm tạo ra và tăng cường thế bố trí chiến lược mới cả về kinh tế và quốc phòng trên các vùng biển, đảo theo ý đồ phòng thủ chiến lược. Trước mắt, cần mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm kinh tế ở các vùng biển và ven biển, làm hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế biển, ven biển trên các vùng, miền của cả nước. Tăng cường huy động các nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững kinh tế biển. Ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển các huyện đảo, xã đảo tiền tiêu, xa bờ; xã hội hóa đầu tư kết cấu hạ tầng biển, đảo, các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển. Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tập đoàn kinh tế biển đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là ở các vùng biển xa bờ và hoạt động viễn dương. Tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước trong các ngành kinh tế biển; tập trung nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh, làm tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng quốc phòng tại chỗ, trong các cơ sở kinh tế. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương dân sự hóa trên đảo có đủ điều kiện sinh sống gắn với tổ chức sản xuất và khai thác biển; có chính sách đặc biệt để khuyến khích nhân dân ra định cư ổn định và làm ăn dài ngày trên biển, đảo. Đẩy nhanh việc triển khai xây dựng các khu kinh tế – quốc phòng ở khu vực ven biển và một số vùng biển, đảo, góp phần tạo thêm động lực phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo đảm quốc phòng, an ninh, v.v.

Năm là, chủ động, tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển. Trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đảng, cần mở rộng, tăng cường quan hệ với các đối tác chiến lược; các nước có tiềm lực về biển, có chung lợi ích,… trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi. Phối hợp với các nước thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), thúc đẩy ký Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển; đồng thời, giải quyết, xử lý kịp thời các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tăng cường tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý, sử dụng, bảo tồn bền vững biển, đại dương. Phối hợp thực hiện tốt thỏa thuận tuần tra liên hợp, luyện tập trên biển nhằm tăng cường kinh nghiệm, nâng cao năng lực đối phó với các thách thức an ninh trên biển.

Nghị quyết 36 phản ánh những nhận thức mới, sâu sắc, toàn diện của Đảng ta về phát triển bền vững kinh tế biển. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh trên hướng biển là nội dung quan trọng, thiết thực đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đại tá, ThS. NGUYỄN MẠNH DŨNG

Tài Liệu Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 36 Về Phát Triển Bền Vững Kinh Tế Biển

Nghị Quyết 36: “cơ Hội Vàng” Cho Cntt Việt Nam Phát Triển

Phổ Biến, Quán Triệt Nghị Quyết 36 Của Bộ Chính Trị Về Đẩy Mạnh Ứng Dụng, Phát Triển Cntt Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Và Hội Nhập Quốc Tế

Hội Nghị Trực Tuyến Phổ Biến, Quán Triệt Nghị Quyết 36 Của Bộ Chính Trị

Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Bộ Chính Trị Về Người Việt Ở Nước Ngoài

Ngành Kinh Tế Quốc Tế Là Gì? Học Ngành Kinh Tế Quốc Tế Ở Đâu?

Tuyển Sinh Trường Đại Học Luật Hà Nội

Trường Đại Học Luật Hà Nội

Sách Luật Kinh Tế Chuyên Khảo (Đại Học Luật Hà Nội)

Việt Nam Đang Rất “khát” Nhân Lực Ngành Luật Kinh Tế

Giáo Trình Pháp Luật Kinh Tế

Ngành Kinh tế quốc tế là gì? Ngành Kinh tế quốc tế học những gì? Học ngành Kinh tế quốc tế ra trường làm gì? Học ngành Kinh tế quốc tế ở đâu?

Kinh tế quốc tế là gì? là một lĩnh vực năng động và mang tính toàn cầu thuộc nhóm ngành kinh doanh, cung cấp những kiến thức chung về quản trị kinh doanh, về chiến thuật, chiến lược kinh doanh xuyên quốc gia.

Nói một cách dễ hiểu, Kinh tế quốc tế là toàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa các quốc gia, nhằm thoả mãn các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế.

Cho đến những năm 90 của thế kỷ XX, lĩnh vực Kinh tế quốc tế có sự bùng nổ và lan rộng trên toàn cầu. Vì vậy, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành này là luôn cần thiết, cơ hội việc làm của sinh viên ngành Kinh tế quốc tế cũng rộng mở.

Ngành Kinh tế quốc tế học những gì?

Học ngành Kinh tế quốc tế, sinh viên sẽ được trang bị kiến thức nền tảng về kinh doanh, luật quốc tế và môi trường Kinh tế quốc tế, quản trị nguồn nhân lực quốc tế, hoạt động hậu cần Kinh tế quốc tế và xuất- nhập khẩu, nghiên cứu thị trường, xây dựng chương trình truyền thông và hệ thống phân phối quốc tế, kỹ năng giao tiếp và đàm phán quốc tế, cùng nghiệp vụ về thanh toán quốc tế, bảo hiểm ngoại thương, cách thức xâm nhập thị trường nước ngoài…

Khi chọn ngành Kinh tế quốc tế, sinh viên có cơ hội tiếp cận các môn học bổ ích và thú vị như: Kinh tế quốc tế, Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, Đầu tư quốc tế, Tài chính quốc tế, Rủi ro và bảo hiểm trong Kinh tế quốc tế….

Danh sách các trường đại học có đào tạo ngành kinh tế quốc tế tại Việt Nam hiện nay:

Đại học Ngoại thương Hà Nội

Đại học Kinh tế Luật – Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh

Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Đại học Kinh tế Tài chính TP. Hồ Chí Minh

Đại học Ngoại thương TP. Hồ Chí Minh

Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đại học Hà Nội

Đại học Kinh tế quốc dân

. . . . .

Email: [email protected]

Ngành Kinh Tế Quốc Tế Là Gì? Ngành Kinh Tế Quốc Tế Ra Trường Làm Gì

Tuyển Sinh Trường Đại Học Kinh Tế

Trường Đại Học Kinh Tế

Đăng Ký Kết Hôn Ở Mỹ Hay Ở Việt Nam?

Hôn Nhân Đồng Tính Tại Hoa Kỳ Và Những Gợi Mở Cho Việt Nam

Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội, Quốc Phòng An Ninh Giai Đoạn 2022

Tăng Cường Phối Hợp Trong Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Giữ Gìn Trật Tự, An Toàn Xã Hội

Luật An Ninh Quốc Gia Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Đặc Điểm Thơ Năm Chữ

Cách Làm Thơ Thất Ngôn Bát Cú. Các Lỗi Thông Thường Trong Thơ Đường Luật

Thể Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú

Thực hiện Thông báo số 46/HĐND ngày 30 tháng 11 năm 2022 của HĐND phường Hòa Cường Bắc về việc chuẩn bị nội dung trình kỳ họp thứ 15 HĐND phường khóa XI, UBND phường báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh giai đoạn  2016-2020 trên địa bàn phường, cụ thể như sau

ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

Trong giữa nhiệm kỳ qua, mặc dù gặp không ít khó khăn, thách thức do tác động của tình hình trong nước và thành phố có nhiều biến động, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân phường Hòa Cường Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Nổi bật là tình hình chính trị ổn định, nội bộ đoàn kết, nhân dân đồng thuận. Kinh tế phát triển; văn hoá – xã hội có nhiều tiến bộ: triển khai chương trình thành phố “4 an”, an sinh xã hội được bảo đảm, công tác giảm nghèo thực hiện tốt và bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thực hiện Chỉ thị 43 của Thành uỷ Đà Nẵng, công tác quản lý trật tự đô thị, vỉa hè có những bước tiến bộ đáng kể. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại như: Công tác trật tự vỉa hè tuy đã được triển khai có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung việc lấn chiếm sử dụng vỉa hè tại các đường nhỏ vẫn còn xảy ra, ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị, công tác vệ sinh môi trường, công tác phòng cháy chữa cháy vẫn còn nhiều bất cập, nhiều khu dân cư không đảm bảo công tác cứu nạn, cứu hộ khi có sự cố xảy ra, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được ổn định nhưng còn tiềm ẩn những khó khăn và phức tạp, nhất là tệ nạn ma túy có chiều hướng gia tăng.

KINH TẾ

Là phường có địa bàn rộng nhất của quận Hải Châu, nên trong cơ cấu kinh tế của phường giai đoạn 2022-2021 được định hướng phát triển “Thương mại – Dịch vụ – Sản xuất tiểu thủ công nghiệp” trong đó chú trọng phát triển thương mại và dịch vụ với sự phát triển của dịch vụ tài chính, dịch vụ du lịch, sự phát triển của hệ thống hơn 20 khách sạn, trên 130 nhà hàng, cơ sở ăn uống. Bên cạnh đó, các tuyến phố như Núi Thành, Phan Đăng Lưu, Tiểu La, Lê Thanh Nghị, 30/4, Nguyễn Hữu Thọ… với sự phát triển của hệ thống các hộ kinh doanh cá thể lớn góp phần vào sự phát triển kinh tế, cũng như tạo cảnh quan đô thị trên địa bàn phường ngày một hiện đại, văn minh. Ngoài ra, nhiều hoạt động dịch vụ truyền thống như ẩm thực, thời trang… được phát huy và đem lại doanh thu cho người dân. Tiểu thủ công nghiệp đa số có quy mô vừa và nhỏ nhưng cũng phát huy hiệu quả trong góp phần ổn định kinh tế xã hội của địa phương.

Phường đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế trên địa bàn phường yên tâm phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống. Năm 2022, UBND phường đã tiến hành tổ chức khai trương đoạn đường chuyên doanh ẩm thực văn minh thương mại Lê Thanh Nghị. Cho đến nay, các hộ kinh doanh ẩm thực trên đoạn đường này đã thực hiện tốt nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước năm sau tăng hơn năm trước trung bình 20%/năm. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm của địa phương nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách phường.

Trong giai đoạn từ năm 2022 – 2022, UBND phường đã tập trung chỉ đạo công tác thu ngân sách, trong đó chú trọng công tác tuyên truyền phổ biến các chính sách về thuế trên địa bàn phường, công tác quản lý, điều hành thu chi ngân sách đáp ứng được yêu cầu hoạt động của phường, tiết kiệm và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, nên kết quả đạt được cụ thể như sau:

                                                                                          Đơn vị tính : đồng

Năm

Tổng thu ngân sách

Tổng chi ngân sách

Tuyết đối

Tương đối (% kế hoạch quận giao)

2016

17.861.579.204

139,7%

15.781.668.026

2017

20.552.436.099

126,3%

18.483.310.925

2018

21,559,035,203

114,9%

19,348,076,578

2019

23,311,020,000

107%

22,673,000,000

2020

13.489.000.000

71,7%

19.283.000.000

(Báo cáo số liệu thu – chi ngân sách từ năm 2022-2020)

Tổng thu ngân sách từ năm 2022-2020 bình quân tăng 25,14% so với dự toán quận giao, với số thu tăng 4.508.203.735 đồng, chi ngân sách tăng 32,5% với số tăng là 4.407.461.395 đồng.

Phường thực hiện tốt công khai thu, chi ngân sách, nhất là các khoản thu trong dân theo quy định của pháp luật; triển khai thực hiện có hiệu quả đề án khoán chi hành chính tại cơ quan phường; các loại quỹ huy động trong dân đều đạt và vượt kế hoạch giao. Chi ngân sách đúng quy định, bảo đảm phục vụ các hoạt động của địa phương.

III. XÂY DỰNG CƠ BẢN, QUẢN LÝ ĐÔ THỊ, VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

Công tác quản lý đô thị, vệ sinh môi trường luôn được UBND phường quan tâm, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả. UBND phường chỉ đạo các tổ dân phố tiếp tục thực hiện tuyến đường “An toàn – Trật tự – Văn minh”, triển khai văn hoá văn minh đô thị theo tinh thần của chỉ thị 43 của thành uỷ Đà Nẵng, chương trình “Thành phố 4 an” từng bước đảm bảo trật tự đô thị tại các tuyến đường chính, các hộ buôn bán gây ảnh hưởng đến giao thông các kiệt hẻm, cùng các trường học thực hiện “Cổng trường bình yên”, quản lý một số lô đất trống, nâng cao hoạt động của Tổ trật tự đô thị, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa cây xanh, trong đó có việc làm các hàng rào và trồng hoa tại các gốc cây xanh, tổ chức kẻ vạch ở tuyến đường và các kiệt hẻm, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trật tự đô thị, trật tự vỉa hè, trật tự xây dựng.

Thực hiện đề án 3 có của thành phố,  công tác đảm bảo vệ sinh môi trường là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc thực hiện văn hoá, văn minh đô thị,  trong những năm qua UBND phường đã phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể và các trường học thường xuyên tổ chức phát động ra quân tổng dọn vệ sinh trên địa bàn nhân “Ngày Chủ nhật xanh – sạch – đẹp”, ngày “Môi trường thế giới” qua đó đã vận động nhân dân hào hứng tham gia bảo vệ môi trường, làm đẹp nơi cư trú, góp phần tạo nét mỹ quan trên các tuyến đường này.

Xử phạt về trật tự đô thị, môi trường và xây dựng:

Năm 2022: xử phạt 109 trường hợp, với số tiền: 108.950.000 đồng

Năm 2022: xử phạt 156 trường hợp, với số tiền 117.300.000 đồng

Năm 2022: xử phạt 37 trường hợp, với số tiền 29.250.000 đồng

Năm 2022: xử phạt 21 trường hợp, với số tiền 12.000.000 đồng

Năm 2022: xử phạt 127 trường hợp, với số tiền 106.250.000 đồng

Thực hiện Nghị quyết 03 của Quận ủy về “Đảm bảo trật tự đô thị – môi trường” giai đoạn 2022-2017 và đề án quản lý trật tự vỉa hè giai đoạn 2022-2020. UBND phường đã có kế hoạch cụ thể phối hợp với đội kiểm tra quy tắc đô thị quận và công an phường ra quân kiểm tra xử lý trên các tuyến đường trên địa bàn phường và tập trung tại các chợ (Chợ Hòa Cường và chợ Nguyễn Tri Phương), các trường học, bảo đảm trật tự. Tổ chức ra quân, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm hoặc tái vi phạm trong xây dựng sửa chữa nhà ở, lấn chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh buôn bán trái phép.  Phối hợp với các lực lượng trong công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trật tự xây dựng theo Nghị định số 139/NĐ-CP của Chính phủ và đảm bảo trật tự an toàn cho các đoàn khách du lịch đến tham quan, dự các sự kiện chính trị cuả thành phố trên địa bàn, do đó công tác quản lý trong lĩnh vực xây dựng và đô thị có những chuyển biến tích cực.

UBND phường đã phối hợp cùng UBMTTQVN phường ban hành Kế hoạch liên tịch số 02/KHLT-UBND-UBMT ngày 15 tháng 03 năm 2022 của UBND, UBMTTQVN phường Hòa Cường Bắc về việc triển khai thực hiện Đề án đường thoát hiểm. Mục đích chính là để nâng cao nhận thức, ý thức tự giác của các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định về đảm bảo trật tự đô thị và phòng chống cháy nổ v..v. trên địa bàn phường. Đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý tình trạng nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Đã tổ chức lực lượng tháo dỡ các vật dụng, làm thông thoáng 37 đường thoát hiểm trên địa bàn phường.      

Trong thời gian qua bộ mặt của phường cũng đã khởi sắc, ngoài việc thành phố, quận đầu tư, nâng cấp các tuyến đường lớn, một số công trình có quy mô đầu tư hiện đại, đẹp thì địa phương cũng đã thực hiện hơn 38 công trình với tổng kinh phí trên 897 triệu đồng.

VĂN HOÁ, XÃ HỘI

Văn hóa – Thể thao

Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao đóng một vai trò trung tâm trong việc xây dựng nếp sống văn hóa – văn minh đô thị, văn hóa chính là gốc để xây dựng một xã hội tiến bộ, nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa – thể thao, lĩnh vực văn hóa thể thao được đẩy mạnh, từ công tác tuyên truyền vận động đến các nhiều hoạt động sôi nổi, cụ thể từ cơ quan UBND phường đến các khu dân cư và được duy trì thường xuyên và luôn được chú trọng đầu tư xây dựng, tập luyện chương trình để tham gia hội thi, hội diễn các cấp và tổ chức công diễn phục vụ nhân dân trong các dịp dễ tết, kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị của đất nước, của địa phương. Nổi bật nhất trong lĩnh vực văn hóa đó chính là không khí phấn đầu xây dựng gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa trong khu dân cư, mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình đều có ý thức xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị, xứng đáng với danh hiệu gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa trong năm. Một số kết quả như sau: Trang trí cổ động trực quan chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, ngày Thành lập Công an nhân dân,  ngày Quốc Khánh 2/9 và chào mừng Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng; bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2022-2021; tham gia lễ hội đình làng Hải Châu năm 2022-2020  đạt nhiều kết quả cao.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “xây dựng nếp sống văn hóa văn minh đô thị”, phong trào xây dựng “đoạn đường an toàn văn minh”, “Tổ dân phố không rác” được triển khai nhân rộng trên toàn địa bàn phường góp phần làm chuyển biến tích cực trong quá trình xây dựng các mô hình theo chủ trương của quận và thành phố. Bình quân hằng năm có 92% hộ gia đình đạt danh hiệu Văn hóa, trên 85% tổ dân phố đạt danh hiệu Văn hóa. Việc xây dựng “Gia đình văn hóa”,“Tổ dân phố văn hóa” tiếp tục đạt được một số kết quả thiết thực, có tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống của các tầng lớp nhân dân địa phương.

Về Giáo dục

Phong trào thi đua trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo được phát triển mạnh mẽ, triển khai một cách toàn diện và được tổ chức chặt chẽ tiêu biểu là các phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”…đã đưa chất lượng giáo dục của các trường ngày càng được nâng cao toàn diện. thực hiện cuộc vận động “Dân chủ – kỷ cương – tình thương – trách nhiệm” do ngành giáo dục phát động, các trường học trên địa bàn phường luôn đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường nề nếp, kỷ cương kỷ luật trong nhà trường. Chú trọng đến tình trạng học sinh bỏ học và học lực yếu, tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém, quan tâm bồi dưỡng học sinh giỏi, nên trong năm học số lượng học sinh giỏi được duy trì và hạn chế học sinh yếu kém. Các trường trên địa bàn phường tiếp tục duy trì đạt chuẩn quốc gia và tiếp tục được đề nghị danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp thành phố, quận.

Trong giai đoạn từ năm 2022-2020 , tại trường mầm non Hoa Ban, tiểu học Núi Thành, tiểu học Phan Đăng Lưu, THCS Tây Sơn không có học sinh bỏ học, tỷ lệ ra lớp đạt 100%. Trường THCS Tây Sơn có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp luôn đạt trên 99%. Đội tuyển học sinh giỏi của trường luôn nằm ở vị trí dẫn đầu của Quận Hải Châu.

Các trường tiểu học có 100% học sinh lớp 5 được công nhận hoàn thành chương trình bậc tiểu học, nhiều học sinh đạt kết quả xuất sắc tại các kỳ thi, hội thi do thành phố tổ chức… công tác quan tâm, giúp đỡ học sinh nghèo luôn được chú trọng, tổ chức tiếp sức đến trường cho các em học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trở thành học sinh giỏi xuất sắc.

Trường Mầm non Hoa Ban luôn chú trọng đến nhiều biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ thông qua các chuyên đề giáo dục an toàn giao thông, kỹ năng sống, phát triển thể chất, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ tài nguyên môi trường… 

Về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, triển khai Đề án 281 về triển khai thí điểm về mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Công đồng học tập”, cộng đồng học tập cấp tổ dân phố. Đảng ủy, Ủy ban mặt trận và các hội đoàn thể Hội phụ nữ, khuyến học, chữ thập đỏ, từ thiện đã vận động các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm trên địa bàn phường tổ chức “tiếp sức đến trường” tặng cho các em hộ thoát nghèo, khó khăn trên địa bàn phường.

Công tác Lao động – Thương binh – Xã hội

Công tác Giảm nghèo

Công tác chăm lo cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khó khăn luôn được cả hệ thống chính trị phường chú trọng, được sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của nhân dân và cán bộ trong phường bằng các hoạt động như giải quyết cho vay vốn ngân hàng, hỗ trợ các phương tiện sinh kế, vốn làm ăn, xây dựng và sửa chữa nhà ở, hỗ trợ các cháu trong học tập, cấp thẻ BHYT cho người nghèo. Từ những hoạt động thiết thực đó góp phần cho địa phương giảm hộ nghèo từ 326 hộ xuống đến cuối năm 2022 còn 139 hộ nghèo, năm 2022 phường không còn hộ nghèo theo chuẩn cũ, năm 2022 hỗ trợ thoát nghèo cho 52 hộ nghèo theo chuẩn mới, hoàn thành tốt Nghị quyết Đảng uỷ và nhiệm vụ trọng tâm quận giao cho  phường.

Cuộc vận động “Vì người nghèo” được các tầng lớp nhân dân tham gia  hưởng ứng tích cực qua đó hỗ trợ xây dựng 24 nhà, sửa chữa 53 nhà, hỗ trợ sinh kế 57 hộ, học bổng cho 436 lượt con em hộ nghèo, hỗ trợ ốm đau, khó khăn đột xuất cho 527 lượt hộ… với tổng số tiền trên 2,6 tỷ đồng. 

Công tác giảm nghèo và an sinh xã hội, chính sách bảo trợ xã hội đối với người nghèo, người cao tuổi và trẻ em dưới 6 tuổi được quan tâm đúng mức, các hội đoàn thể có nhiều đóng góp, trong đó UBND phường phối hợp Hội Người cao tuổi tổ chức tốt công tác mừng thọ theo quy định, thăm đau viếng tử, vận động hàng trăm triệu đồng vào quỹ chăm sóc Người cao tuổi, vận động Quỹ “Vì người nghèo” đạt kết quả cao.

Tinh thần Chỉ thị 24/CT-TU ngày 10 tháng 8 năm 2009 của Ban thường vụ Thành ủy luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy phường đề ra về “Công tác giảm nghèo, giúp đỡ học sinh bỏ học và thiếu niên hư vi phạm pháp luật trên địa bàn phường giai đoạn”, UBND phường phối hợp với UBMT và các hội đoàn thể phường có kế hoạch giúp đỡ các hộ nghèo, tạo việc làm có thu nhập ổn định cuộc sống, không để học sinh bỏ học vì  hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Y tế, Dân số, Gia đình, Trẻ em

Trạm y tế tham mưu cho UBND phường trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, y tế cộng đồng, vệ sinh phòng bệnh được đẩy mạnh, quản lý các bệnh xã hội, thực hiện chương trình y tế quốc gia, tiêm chủng mở rộng, chăm sóc bà mẹ mang thai tốt; công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình thực hiện đạt chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Từ 2022 đến nay trạm đã lập hồ sơ theo dõi chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và định kỳ mỗi năm khám tầm soát 2 lần.

Duy trì hoạt động của đội ngũ Cộng tác viên dân số và chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại khu dân cư. Phối hợp đội Y tế dự phòng thực hiện tốt công tác phun thuốc phòng chống dịch bệnh Covid-19 đồng thời chỉ đạo Tổ trưởng các tổ dân phố tuyên truyền vận động nhân dân duy trì ra quân dọn vệ sinh, vào các sáng chủ nhật hằng tuần để đảm bảo vệ sinh môi trường không để phát sinh ổ dịch SXH cũng như làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Tổ chức xét nghiệm cộng đồng trên diện rộng để kịp thời phát hiện và kiểm soát đại dịch Covid-19.

QUỐC PHÒNG – AN NINH

Tổ chức thực hiện nghiêm túc việc tuần tra theo quyết định 8394 của Ủy ban nhân dân thành phố phòng chống trộm cắp, đảm bảo ANTT. Qua đó, nhắc nhở nhân dân trong việc trông coi tài sản, các trường hợp ngủ quên không đóng cửa, ngăn chặn kịp thời các vụ mâu thẫn gia đình, các nhóm thanh niên tụ tập khuya dễ gây mất ANTT.

Tiếp tục thực hiện tốt chương trình “Thành phố 4 An”. Công an phường thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp với tổ trưởng tổ dân phố, lực lượng nòng cốt tại cơ sở trong việc theo dõi, quản lý nhân hộ khẩu; quản lý địa bàn, quản lý đối tượng gắn với việc thực hiện Chỉ thị số: 21-CT/TU ngày 30/10/2012 của Thành ủy Đà Nẵng. Lồng ghép tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh, tố giác tội phạm và nâng cao ý thức tự bảo quản tài sản của mình.

XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN, CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Năm 2022, Hội đồng nhân dân được bầu với 29 đại biểu theo đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, HĐND, các ban HĐND và các đại biểu HĐND phường đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch giám sát của từng năm, nội dung giám sát có trọng tâm, trọng điểm gắn với thực tế hoạt động tại UBND phường. Công tác tiếp công dân của thường trực, các ban của HĐND và đại biểu HĐND được thực hiện thường xuyên. Sự phối hợp giữa thường trực HĐND, UBND, UBMTTQVN phường với các Ban, Tổ đại biểu, Đại biểu HĐND phường được chú trọng thực hiện góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND phường. Đến nay HĐND phường tổ chức 14 kỳ họp, thường trực HĐND phường thường xuyên tổ chức các cuộc giám sát chuyên đề, bao gồm các vấn đề kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng tại địa phương. Tổ chức các buổi tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả sau các kỳ họp của HĐND phường, tại các buổi tiếp xúc, các vị đại biểu đã ghi nhận, tiếp thu, giải trình các ý kiến, kiến nghị của cử tri, đồng thời phản ánh các kiến nghị lên cấp có thẩm quyền giải quyết kịp thời cho nhân dân.

Thực hiện tốt công tác xây dựng, ban hành, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn phường. Từng bước nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý đến cơ sở cho người dân. Lồng ghép các cuộc họp của Tổ dân phố để tổ chức tuyên truyền Luật giao thông đường bộ, đưa tiêu chí vi phạm Luật giao thông đường bộ vào bình xét “Gia đình văn hóa” cuối năm. Tuyên truyền về các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa văn minh đô thị bằng hình thức phát tờ rơi đến từng hộ gia đình.

Xác định công tác cải cách hành chính là một nhiệm vụ trọng tâm nên được phường chú trọng, quán triệt trong toàn thể cán bộ, công chức 100% hưởng ứng tham gia đăng ký cam kết thực hiện thực hiện Chỉ thị 29/CT-TU của Ban thường vụ Thành ủy với nội dung “5 xây – 3 chống”, Chỉ thị 03 của Chủ tịch UBND thành phố và cam kết thực hiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị tại thành phố Đà Nẵng. Tiếp tục mô hình khai tử tận nhà khi gia đình có người thân qua đời, thực hiện đề án trao giấy khai sinh, thẻ BHYT, hộ khẩu tại gia đình trẻ em trên địa bàn phường theo chủ trương của UBND thành phố khi gia đình có thành viên mới ra đời. Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về dịch vụ công trực tuyến đến toàn dân, UBND phường đã triển khai thực hiện xây dựng “phường điện tử” đạt chuẩn mức độ 1, tổ chức tuyên truyền qua trang thông tin điện tử của phường chúng tôi qua hình thức phát tờ rơi, tuyên truyền tại Hội nghị giao ban tổ dân phố, khu dân cư. Cho đến nay, chưa có đơn thư tố cáo, khiếu nại cán bộ công chức thuộc Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả về tiếp nhận giải quyết công việc ở phường. Thực hiện nghiêm nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan; phổ biến và niêm yết công khai quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính tại trụ sở để nhân dân biết và giám sát các hoạt động của chính quyền.

Tổ chức kê khai và công khai về tài sản và thu nhập đối với các trường hợp cán bộ công chức thuộc diện phải kê khai và công khai về tài sản và thu nhập theo Nghị định 68/2011/NÐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ.

Chỉ đạo các Tổ dân phố tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 21-CT/TU ngày 30/10/2012 của Ban thường vụ Thành ủy về “Tập trung lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động của tổ dân phố,thôn trên địa bàn thành phố”. Triển khai đăng ký công dân điện tử đến các hộ dân đến nay hoàn thành 100%, áp dụng tiêu chuẩn ISO-2008 trong giải quyết thủ tục cải cách hành chính.Tổ chức Hội nghị Hướng dẫn và triển khai công tác nhân sự, Bầu cử Tổ trưởng, tổ phó TDP nhiệm kỳ 2022-2020, 2022-2022.

Điểm Mới Trong Bộ Luật Hình Sự Năm 2022 Về Các Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia

Tài Liệu Shhv Quý Iii/ 2022: Tuyên Truyền, Phổ Biến Luật An Ninh Mạng

Tổng Kết 15 Năm Công Tác Toàn Dân Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc

Nguyên Tắc Áp Dụng Biện Pháp Pháp Luật Bảo Vệ An Ninh, Trật Tự

Học Viện Chính Trị Công An Nhân Dân Đạt Giải Đặc Biệt Cuộc Thi Viết “Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng” Trong Công An Nhân Dân

Quan Hệ Giữa Kinh Tế Và Quốc Phòng

Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quốc Phòng, An Ninh, Bảo Vệ Tổ Quốc Hiện Nay

Quan Điểm Của Đảng Về Kết Hợp Quốc Phòng, An Ninh Với Kinh Tế, Kinh Tế Với Quốc Phòng, An Ninh

Sự Cần Thiết Phải Kết Hợp Giữa Phát Triển Kinh Tế

Đề Tài Sự Cần Thiết Của Việc Kết Hợp Phát Triển Kinh Tế

Cách Để Luôn Có Những Quyết Định Chính Xác

Kết hợp kinh tế với quốc phòng-an ninh (QP-AN) là vấn đề trọng yếu đối với tất cả các quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, do tác động của mặt trái kinh tế thị trường, nên việc kết hợp kinh tế với QP-AN ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập. Vì vậy, tìm ra các giải pháp đúng đắn, phù hợp nhằm giải quyết thấu đáo mối quan hệ này là vấn đề cấp thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Quan hệ giữa kinh tế và QP-AN là mối quan hệ cơ bản, được hình thành từ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, mối quan hệ này có vị trí đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh nước ta xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Vì vậy, giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế và QP-AN là đòi hỏi tất yếu khách quan trong suốt quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã hết sức coi trọng thực hiện tốt mối quan hệ này và đã thu được những kết quả quan trọng, tương đối toàn diện cả về nhận thức và tổ chức thực hiện.

Về mặt nhận thức, chúng ta đã nhận thức rõ những vấn đề cơ bản trên phương diện lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa kinh tế với QP-AN; khẳng định đó là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố, lĩnh vực trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thấy rõ bản chất của mối quan hệ này là hoạt động kết hợp hữu cơ giữa kinh tế và QP-AN trong một chỉnh thể thống nhất, được thể hiện trong giải quyết các mối quan hệ cụ thể: xây dựng phải luôn gắn chặt với bảo vệ; chủ động mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế phải bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia; phát triển kinh tế phải tạo cơ sở để tăng cường QP-AN của đất nước, tăng cường QP-AN phải tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH)… Về tổ chức thực hiện, đã làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành về kết hợp giữa kinh tế với QP-AN, được thể hiện bằng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước và vận dụng đúng đắn, sáng tạo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong tổ chức thực hiện sự kết hợp này. Trong quá trình thực hiện, đã có sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, nhất là giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cùng các bộ, ngành thuộc lĩnh vực kinh tế; đã tích cực hỗ trợ lẫn nhau, chủ động hiệp đồng, tạo sự gắn kết, đồng thuận giữa các cấp, các ngành, các địa phương và đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, sự kết hợp này được thực hiện trên từng vùng lãnh thổ, các lĩnh vực và ngành KT-XH; trong đó, đã chú trọng gắn chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên vùng biển, đảo; gắn xây dựng các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia, các khu kinh tế mở, khu chế xuất tập trung với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trên phạm vi cả nước. Chú trọng nâng cao hiệu quả các chương trình KT-XH ở vùng sâu, vùng xa trên cơ sở xây dựng các khu kinh tế-quốc phòng (KT-QP), quốc phòng-kinh tế do Bộ Quốc phòng chỉ đạo thực hiện làm nền tảng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế và QP-AN, quy chế bảo vệ các công trình quốc phòng, quân sự được xây dựng và từng bước hoàn thiện, đã tạo thuận lợi trong triển khai thực hiện kết hợp kinh tế với QP-AN của đất nước.

Bên cạnh kết quả đã đạt được, nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế với QP-AN ở một số vấn đề còn chưa rõ, chưa đúng và chưa đầy đủ, nhất là nhận thức về vai trò của các yếu tố lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp; về mối quan hệ giữa tự bảo vệ và được bảo vệ trong các ngành, lĩnh vực kinh tế với QP-AN; về vị trí, vai trò của QP-AN trong quan hệ với kinh tế… Trong đó, có không ít ý kiến chỉ nhấn mạnh về kinh tế, cho rằng kinh tế là lĩnh vực chủ đạo, quyết định tới QP-AN; QP-AN tuy quan trọng nhưng phụ thuộc vào kinh tế, chịu sự chi phối của kinh tế; từ đó, tuyệt đối hoá về kinh tế, đề cao lợi ích kinh tế, để lợi ích kinh tế lấn át lợi ích QP-AN; điều này đã ảnh hưởng không nhỏ trong giải quyết mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế với bảo vệ độc lập chủ quyền và an ninh quốc gia. Cùng với đó, việc tổ chức triển khai thực hiện mối quan hệ này ở một số ngành, lĩnh vực và địa phương còn chưa chủ động, thiếu tích cực và đồng bộ; cơ chế hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành thiếu chặt chẽ, vận hành còn lúng túng; nội dung, phương thức kết hợp chậm đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường. Sự phối hợp giữa phát triển kinh tế với bảo đảm QP-AN trong phê duyệt, ký kết các dự án đầu tư nước ngoài chưa có cơ chế rõ ràng, chặt chẽ, nên một số chương trình, dự án sau khi xây dựng xong đã ảnh hưởng không nhỏ đến thế trận QP-AN và lợi ích quốc gia.

Thời gian tới, nước ta tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới. Bên cạnh những thuận lợi, thực tế đang đặt ra cho chúng ta những thách thức mới đối với cả KT-XH và QP-AN; đó là, những thách thức của an ninh phi truyền thống, nguy cơ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá,…và QP-AN.

Tình hình đó đang đặt chúng ta trước nhiều vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết cả về lý luận và thực tiễn, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong đó, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế với QP-AN là nội dung rất quan trọng, đòi hỏi phải triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, vận hành cơ chế lãnh đạo, điều hành phù hợp và sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các địa phương; trước hết, cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau.

Một là, nâng cao nhận thức cho cán bộ các cấp, các ngành về mối quan hệ giữa kinh tế với QP-AN. Trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với QP-AN, QP-AN với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển KT-XH” 1. Đây là quan điểm thể hiện sự phát triển nhận thức của Đảng ta về quy luật: dựng nước đi đôi với giữ nước; đồng thời, cũng khẳng định: kết hợp kinh tế với QP-AN là sự nghiệp, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, sự kết hợp đó phải được quán triệt, thống nhất nhận thức và triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương, cơ sở. Trong điều kiện mới, cần thường xuyên quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết và các quan điểm của Đảng về kết hợp chặt chẽ phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN trong từng ngành, lĩnh vực, từng địa bàn và cả nước. Đồng thời, đẩy mạnh việc bồi dưỡng kiến thức toàn diện cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp cả về lý luận chính trị, năng lực quản lý kinh tế và kiến thức về QP-AN; trong đó, tập trung bồi dưỡng kiến thức về QP-AN và nâng cao ý thức quốc phòng cho cán bộ thuộc các thành phần kinh tế, từ đó thống nhất nhận thức, trách nhiệm trong thực hiện mối quan hệ kết hợp này. Trước mắt, cần chủ động xây dựng và đưa nội dung học tập về “mối quan hệ giữa kinh tế với QP-AN” vào các chương trình đào tạo, nhất là đào tạo tại chức cho cán bộ, đào tạo đại học, sau đại học, đào tạo nghề và giáo dục trong các trường phổ thông. Chú trọng việc biên soạn các tài liệu “phổ cập” về mối quan hệ giữa kinh tế với QP-AN, phát hành rộng rãi, kết hợp với cổ động, tuyên truyền và giáo dục thường thức trong các hoạt động của các tổ chức ở cơ sở, như: ở các chi bộ cơ sở, chi đoàn thanh niên và ở các tổ, đội sản xuất trong các doanh nghiệp…

Hai là, nâng cao hiệu quả vận hành cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và QP-AN. Nhà nước, cần thống nhất quy hoạch phát triển KT-XH gắn với củng cố QP-AN trên phạm vi cả nước và đặt nó trong tổng thể chung của Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020. Trong những năm tới, việc kết hợp kinh tế với QP-AN phải được thực hiện một cách toàn diện, nhưng cần tập trung có trọng điểm theo từng ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ, gắn với mục tiêu, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu, rộng. Vì thế, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và QP-AN cần tập trung chỉ đạo kết hợp trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố); các dự án trọng điểm quốc gia; các dự án, chương trình phát triển KT-XH vùng biên giới, biển, đảo; xây dựng các khu KT-QP, quốc phòng-kinh tế; xây dựng các căn cứ chiến lược, hậu phương chiến lược, các công trình quốc phòng; đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở trình độ cao; xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng. Trong các nội dung trên, cần coi trọng tính “lưỡng dụng” của các chương trình, dự án; đồng thời, khẳng định rõ chủ thể của mối quan hệ giữa kinh tế với QP-AN, QP-AN với kinh tế, trên cơ sở đó, xác định nội dung, phương thức kết hợp cho phù hợp. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tổ chức kiện toàn bộ máy chỉ đạo, điều hành và cơ quan chuyên trách của Chính phủ; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế và QP-AN của các cấp, các ngành; xây dựng quy trình, phương pháp quản lý để thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát theo đúng quy định của pháp luật.

Bốn là, coi trọng kết hợp phát triển kinh tế với củng cố QP-AN trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Đây là vấn đề mang tính chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh hiện nay, nước ta hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, tham gia đầy đủ hơn vào các thiết chế khu vực và toàn cầu. Điều đó đòi hỏi chúng ta vừa phải hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động, tích cực, vừa phải mở rộng hợp tác quốc tế trên lĩnh vực QP-AN và kết hợp các lĩnh vực đó với nhau trong suốt quá trình hội nhập. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả kết hợp kinh tế với QP-AN trong hoạt động kinh tế đối ngoại, thời gian tới cần hết sức chú ý trong đánh giá đối tác, đối tượng. Trong đánh giá phải thấy rõ đặc điểm của từng đối tác, đối tượng trên từng lĩnh vực và thời điểm; chúng vừa tồn tại đan xen, vừa có thể chuyển hoá cho nhau khi có điều kiện và thời cơ. Vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh trên từng lĩnh vực; giải quyết thành công mối quan hệ giữa mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, xây dựng và phát triển mạnh mẽ các tiềm lực quốc gia với tạo lập thế trận QP-AN, đẩy lùi mọi nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, giữ vững hoà bình, ổn định để phát triển. Trên cơ sở củng cố các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, cần xác định rõ vị trí, vai trò của từng lĩnh vực (kinh tế và QP-AN), từ đó xây dựng mục tiêu, yêu cầu kết hợp kinh tế với QP-AN trong hoạt động kinh tế đối ngoại cho phù hợp, nhằm khai thác, phát huy tối đa mọi nguồn lực từ bên ngoài để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN thời kỳ mới.

Trung tướng PGS, TS. TRẦN THÁI BÌNH Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự-BQP

1- ĐCSVN – Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng (Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng cấp cơ sở), Nxb CTQG, H. 4-2010, tr. 13.

#5 Cách Tăng Chiều Cao Ở Tuổi 18 Hiệu Quả Nhất

Em….quá 18, Có Quá Muộn Để Cải Thiện Chiều Cao?

#6 Cách Tăng Chiều Cao Ở Tuổi 17 Nhanh Chóng Cho Nam&nữ

Điều Cần Biết Để Trẻ Tăng Chiều Cao Cho Trẻ

Chiều Cao Của Ngôi Nhà 5 Tầng Trong Mét: Điều Gì Quyết Định Chiều Cao Của Khrushchev?

Review Ngành Kinh Tế Quốc Tế Của Tmu

Luật Bộ Luật Dân Sự Số 91/2015/qh13

Quốc Hội Thảo Luận Dự Án Luật Thương Mại (Sửa Đổi)

Tiếng Trung Chuyên Ngành Thương Mại

Hlu Đại Học Luật Trung Tâm

Trung Tâm Đào Tạo Ngắn Hạn

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng thu hẹp và thế giới dần trở nên “phẳng”, ngành Kinh tế quốc tế đang trở thành sự lựa chọn của nhiều bạn trẻ. Tuy nhiên cũng có không ít nghi ngại với chính ngành học này, nhiều người cho rằng việc học ngành Kinh tế quốc tế giống như việc đọc bách khoa toàn thư, cái gì cũng học nhưng thiếu chuyên sâu. Điều này dẫn đến các thắc mắc về triển vọng nghề nghiệp của ngành Kinh tế quốc tế.

Tiếng Anh: International Economics

Đại học

– Sinh viên tốt nghiệp ngành Kinh tế quốc tế, chuyên ngành Kinh tế quốc tế, đạt chuẩn về kiến thức giáo dục đại cương theo chuẩn chương trình đào tạo quốc gia ngành Kinh tế quốc tế.

– Có kiến thức đủ rộng về nền kinh tế và kiến thức cơ sở ngành Kinh tế quốc tế quốc tế tế bao gồm: Kinh tế học vi mô, Kinh tế học vĩ mô, Kinh tế phát triển, Kinh tế môi trường, Quản trị đa văn hóa, Kinh tế Đầu tư, Quản lý nhà nước về thương mại, Kinh tế thương mại,Kinh tế lao động, Kinh tế doanh nghiệp, Kinh doanh quốc tế, Thương mại điện tử căn bản.

– Có kiến thức bổ trợ và phát triển sang các ngành đào tạo khác của trường và các trường thuộc khối ngành Kinh tế-Quản lý- Kinh doanh;

4. Yêu cầu về kỹ năng

Sinh viên tốt nghiệp đạt chuẩn kỹ năng chung căn bản của ngành Kinh tế quốc tế và kỹ năng chuyên sâu của chuyên ngành Kinh tế quốc tế, bao gồm:

4.1. Kỹ năng cứng:

– Tham gia hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch và quản lý hoạt động kinh tế quốc tế của các cơ quan quản lý nhà nước

– Tham gia hoạch định chiến lược, chính sách, và quản lý hoạt động kinh tế quốc tế, xây dựng và triển khai các dự án của các tổ chức quốc tế

– Ngoài ra, có thể tham gia hoạch định chiến lược, chính sách, kế hoạch kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp

4.2.Kỹ năng mềm

– Kỹ năng làm việc theo nhóm (Team Work)

– Làm báo cáo, trình diễn và truyền thông quốc tế

– Kỹ năng về tin học

– Kỹ năng tiếng anh đạt chuẩn của trường theo Quyết định 979QĐ-ĐHTM ngày 15/11/2016 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại

5. Yêu cầu về thái độ, hành vi

Sinh viên tốt nghiệp phải đạt được các chuẩn về thái độ hành vi sau:

– Có ý thức công dân, chấp hành nghiêm mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước

– Có đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật lao động và tôn trọng nội qui của cơ quan, doanh nghiệp.

– Có ý thức cộng đồng và tác phong công nghiệp, trách nhiệm công dân, làm việc theo nhóm và làm việc độc lập.

– Có tinh thần cầu tiến, hợp tác và giúp đỡ đồng nghiệp.

6. Vị trí làm việc sau khi ra trường

Sinh viên tốt nghiệp và đạt chuẩn đầu ra ngành Kinh tế quốc tế, chuyên ngành Kinh tế quốc tế của Trường Đại học Thương mại có thể làm việc tại các bộ phận như sau:

6.1 Làm việc phù hợp và tốt ở các bộ phận sau:

– Bộ phận hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch và quản lý hoạt động kinh tế quốc tế của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp

– Bộ phận hoạch định chiến lược, chính sách, quản lý hoạt động kinh tế quốc tế và quản lý các dự án của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi lợi nhuận.

– Sinh viên tốt nghiệp chương trình có khả năng nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng khối kinh tế quốc tế và quản trị kinh doanh

– Làm việc tại các bộ phận quản lý các dự án của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi lợi nhuận.

– Các bộ phận nghiên cứu, giảng dạy kinh tế quốc tế, kinh doanh quốc tế ở các tổ chức kinh tế, tổ chức phi lợi nhuận, các viện nghiên cứu, các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.

7. Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi ra trường

Trên nền tảng các kiến thức và kỹ năng đã được trang bị, sinh viên sau khi tốt nghiệp có khả năng:

– Tự nghiên cứu, học tập, bổ sung các tri thức và kỹ năng còn thiếu nhằm đáp ứng với yêu cầu của vị trí và môi trường công tác cụ thể.

– Học chuyển đổi sang các ngành đào tạo khác của trường

– Sinh viên có khả năng tiếp tục học tập ở bậc cao hơn (Thạc sỹ, Tiến sỹ) ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế và Kinh doanh thương mại của các trường đại học trong và ngoài nước.

8. Mức lương sau khi ra trường

Đối với sinh viên ngành Kinh tế quốc tế mới ra trường và ít kinh nghiệm làm việc tại các doanh nghiệp thì mức lương cơ bản từ 5 – 7 triệu đồng/ tháng. Ngoài ra, tùy vào vị trí công việc, năng lực và kinh nghiệm làm việc trong ngành Kinh tế đầu tư thì mức lương từ 7 – 10 triệu đồng/ tháng hoặc có thể cao hơn con số này rất nhiều.

9. Những tố chất phù hợp với ngành Kinh tế quốc tế

Để theo học ngành Kinh tế quốc tế, bạn cần phải có những tố chất sau:

– Nhạy bén, tháo vát, có trách nhiệm cao với công việc;

– Kiên trì, nhẫn nại và chịu được áp lực công việc;

– Tự tin, năng động, giao tiếp tốt, có khả năng đàm phán thuyết phục;

– Khả năng ngoại ngữ tốt;

– Sáng tạo, quyết đoán;

– Khả năng thu thập và xử lí thông tin;

– Có khả năng làm việc độc lập dưới áp lực về thời gian và khối lượng công việc.

Cơ Hội Việc Làm Ngành Luật Thương Mại Và Luật Quốc Tế?

Trường Hợp Chuyển Rủi Ro Của Hàng Hóa Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Việc Chuyển Rủi Ro Về Mất Mát Hoặc Hư Hỏng Hàng Hoá Được Quy Định Như Thế Nào?

Tranh Chấp Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Chịu Sự Điều Chỉnh Của Luật Thương Mại Hay Luật Dân Sự?

Thời Điểm Chuyển Rủi Ro Trong Mua Bán Hàng Hoá

Giữ Vững An Ninh Quốc Gia Và Đảm Bảo An Ninh Kinh Tế Trong Tình Hình Mới

Đường Lối Của Đảng Về Bảo Vệ Môi Trường

Đưa Văn Bản Của Đảng Về Công Tác Dân Vận Thực Sự Đi Vào Cuộc Sống

Cần Tuyên Truyền, Phổ Biến Rộng Rãi Các Văn Bản Mới Của Đảng Về Công Tác Dân Vận

Ký Nháy Là Gì? Quy Định Về Ký Nháy? Trách Nhiệm Của Người Ký Nháy?

Cách Dùng Ký Nháy, Ký Chính Thức

Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng chủ trì hội nghị. Đồng chủ trì hội nghị có Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương.

Tham dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; đồng chí Đặng Thị Ngọc Thịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước; đồng chí Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Nguyễn Văn Nên, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; đồng chí Uông Chu Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội.

Cùng dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; Tổng Biên tập các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương; các đồng chí Bí thư, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương…

Phát biểu khai mạc hội nghị, Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh, công tác bảo vệ an ninh quốc gia (ANQG) là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Năm 1998, lần đầu tiên Đảng ta ban hành Nghị quyết về Chiến lược ANQG, lần đầu tiên Đảng ta hệ thống nhận diện những nguy cơ đe dọa ANQG và đề ra các chủ trương, giải pháp cơ bản chỉ đạo về bảo vệ ANQG. Qua tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết về Chiến lược ANQG cho thấy, dưới sự lãnh đạo thường xuyên, sát sao của Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, ANQG được giữ vững, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, giữ vững độc lập, tự chủ, đảm bảo toàn vẹn chủ quyền và lãnh thổ của đất nước. Ổn định chính trị và môi trường an ninh, an toàn đã trở thành một trong những lợi thế, nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, tạo lập vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tại hội nghị, Thượng tướng Bùi Văn Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an đã phổ biến, quán triệt nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 51 và trình bày tóm tắt dự thảo Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 12 của Bộ Chính trị.

Phát biểu kết luận hội nghị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền tập trung tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 51 trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực phụ trách; cần làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ tình hình, mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo và nêu cao trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để bảo vệ vững chắc ANQG, bảo đảm an ninh kinh tế.

Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng phát biểu kết luận hội nghị.

Cụ thể hóa nội dung Nghị quyết số 51, Chỉ thị số 12 thành các chương trình, kế hoạch, nghị quyết chuyên đề phù hợp với đặc điểm, tình hình cơ quan, đơn vị, địa bàn và tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả. Chủ động xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội gắn với công tác bảo đảm ANQG, chủ động ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống…

Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ ANQG, bảo vệ an ninh kinh tế; chịu trách nhiệm chính và trước hết xử lý vấn đề an ninh ở lĩnh vực, địa phương mình. Triển khai đồng bộ, quyết liệt các kế hoạch, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu và các loại tội phạm.

Toàn cảnh hội nghị.

Đồng chí Trần Quốc Vượng cũng lưu ý việc nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, cả hệ thống chính trị trong bảo vệ ANQG, bảo đảm an ninh kinh tế… Xây dựng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác bảo vệ ANQG, bảo vệ an ninh kinh tế đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Tập trung xây dựng lực lượng Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, phấn đấu xây dựng lực lượng CAND chuyên nghiệp, hiện đại, thực sự trong sạch, liêm chính, bố trí hợp lý trên các địa bàn…

Quan Điểm Của Đảng Về Kết Hợp Phát Triển Kinh Tế

Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưở

Ư Tưởng Quan Điểm Của Đảng Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị Nội Bộ Kinh Tế Văn Hóa Tư Tưởng

Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hoá Tư Tưởng

Các Kỳ Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam

Luật Kinh Tế Là Gì ? Tìm Hiểu Quy Định Về Luật Kinh Tế

Luật Kinh Tế Là Gì? Những Mà Bạn Cần Biết

Đại Học Quốc Tế Sài Gòn Tuyển Sinh Chuyên Ngành Luật Kinh Tế Quốc Tế

Những Lo Lắng Khi Chọn Ngành Luật Kinh Tế Tại Học Viện Ngân Hàng?

Học Luật Kinh Tế Của Học Viện Ngân Hàng Có Cạnh Tranh Được Với Các Trường Khác?

Điểm Chuẩn Học Viện Ngân Hàng Trong 3 Năm Qua Biến Động Ra Sao?

Luật kinh tế là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lí và hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa các doanh nghiệp với các cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế.

Luật kinh tế điều chỉnh hai nhóm quan hệ xã hội chủ yếu, đó là: quan hệ giữa cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế với các doanh nghiệp, phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lí hoạt động kinh doanh và quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau, phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, luật kinh tế còn điều chỉnh các quan hệ kinh tế nội bộ, tức là điều chỉnh các quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của một doanh nghiệp, một chủ thể kinh doanh. Chủ thể của luật kinh tế chính là các chủ thể kinh doanh và các cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế.

Luật kinh tế xuất hiện từ những năm đầu của thế kỉ XX ở các nước tư bản chủ nghĩa, khi một số nhà nước tư sản tăng cường sự can thiệp của mình vào lĩnh vực các quan hệ kinh tế. Sau Cách mạng tháng Mười Nga 1917, cùng với sự hình thành Nhà nước liên bang Cộng hoà xã hội Xô Viết và sau đó là hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, tuy ở mức độ khác nhau, ở các nước này luật kinh tế được thừa nhận như là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của mỗi nước.

Ở Việt Nam, luật kinh tế ra đời và được thừa nhận như ngành luật độc lập trong hệ thống các ngành luật Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ XX và đó là bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật kinh tế. Đến nay, luật kinh tế vẫn còn tồn tại và phát triển về nội dung cũng như hình thức.

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Khối A Gồm Những Môn Nào ? Có Những Ngành Nghề Gì ?

Khối A01 Gồm Những Môn Thi Nào? Ngành Nào?

Khối C03 Gồm Những Môn Gì, Gồm Những Ngành Nào 2022?

Khối A Gồm Những Ngành Nào? Môn Thi Gì & Trường Gì?

Luật Bao Gồm Những Chuyên Ngành Nào

Quy Định Của Luật An Ninh Mạng Phù Hợp Với Thông Lệ Quốc Tế

Bộ Công An Khẳng Định Dự Thảo Nghị Định Luật An Ninh Mạng Phù Hợp Với Thông Lệ Quốc Tế

Vấn Đề Quyền Con Người, Quyền Công Dân Được Quy Định Trong Luật An Ninh Mạng

Stt Câu Hỏi 1 2 Luật Công Nghệ Ra Đời Và Chính Thức Có Hiệu Lực Từ Ngày, Tháng, Năm Nào? Luật An Ninh Mạng Ra Đời Và Chính Thức Có Hiệu Lực

Việc Xây Dựng Luật An Ninh Mạng Là Hoàn Toàn Đúng Đắn Và Cần Thiết

Bối Cảnh Ra Đời Của Luật Thương Mại Năm 2005

(CAO) Chiều 3/11, tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10/2018, trả lời báo giới về dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật An ninh mạng đang được Bộ Công an lấy ý kiến rộng rãi, Thiếu tướng Lương Tam Quang, Chánh Văn phòng Bộ Công an cho biết, quy định về việc lưu trữ và đặt chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam trong Luật An ninh mạng phù hợp với thông lệ quốc tế.

Bốn vấn đề được Thiếu tướng Lương Tam Quang đưa ra để khẳng định điều này, đó là đã có 18 quốc gia trên thế giới có văn bản, luật quy định yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài phải lưu trữ dữ liệu quan trọng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia như Mỹ, Canada, Đức, Nga, Trung Quốc, Indonesia, Hy Lạp, Bulgaria, Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển, Thổ Nhĩ Kỳ…

Ngày 25/5/2018, quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân của Liên minh châu Âu chính thức có hiệu lực và cho phép công dân kiểm soát dữ liệu cá nhân của mình khi tham gia các diễn đàn xã hội theo hướng có thể tra cứu, thay đổi, xóa bỏ thông tin cá nhân của mình; các công ty cung cấp dịch vụ phải công khai với khách hàng việc dùng thông tin cá nhân, cam kết không chuyển dữ liệu cá nhân cho bên thứ 3 và nếu vi phạm thì mức phạt có thể lên đến 20 triệu euro hay 4% doanh số của toàn cầu.

Thứ hai, điều này phù hợp với khả năng của doanh nghiệp vì Google đã đặt khoảng 70 văn phòng đại diện, Facebook đặt khoảng 80 văn phòng đại diện tại các quốc gia trên thế giới. Tại khu vực Đông Nam Á, Google và Facebook đã đặt văn phòng đại diện tại Singapore, Indonesia và Malaysia.

Thứ ba, phù hợp với hệ thống pháp luật trong nước, trong đó các Luật Thương mại 2005, Luật Quản lý ngoại thương năm 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài là phải lập văn phòng đại diện tại Việt Nam, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ qua biên giới như Google và Facebook đang có hoạt động kinh doanh sinh lợi tại Việt Nam thuộc sự điều chỉnh của các văn bản này.

Trong dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi, Bộ Tài chính đề nghị doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài như Google và Facebook phải mở văn phòng đại diện chính thức tại Việt Nam.

“Bộ Công an là đơn vị chủ trì, đã đăng dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật An ninh mạng lên Cổng thông tin của Bộ Công an, đề nghị các cơ quan tổ chức và nhân dân tham gia đóng góp để chúng tôi tiếp thu, giải trình và sớm báo cáo với Chính phủ ban hành theo quy định”, Thiếu tướng Lương Tam Quang nói.

“Việc ban hành Luật An ninh mạng rất cần thiết, Quốc hội thông qua rồi, bây giờ chúng ta chỉ ban hành nghị định của Chính phủ để hướng dẫn thi hành chi tiết, có hiệu lực thi hành từ 1/1/2019. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ hôm nay Thủ tướng cũng đưa ra vấn đề bảo toàn an ninh mạng và an ninh truyền thông là cần thiết”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho hay.

Ông Mai Tiến Dũng cho rằng cùng với an ninh lương thực, an ninh trật tự an toàn xã hội, an ninh mạng nằm trong vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia, được nâng lên hàng đầu nhằm đảm bảo môi trường tốt để thu hút đầu tư và kinh doanh của các doanh nghiệp.

Vì vậy, việc xây dựng nghị định này là hết sức cẩn trọng, cân nhắc và Thủ tướng cũng đặt vấn đề, sẽ đưa ra thực hiện theo quy trình Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, từ đó đánh giá tác động, lấy ý kiến rộng rãi của người dân, doanh nghiệp.

“Vấn đề công bố, cung cấp, bảo mật và trách nhiệm đến đâu sau này tất cả được thể chế hoá, nghị định hóa cụ thể. Chúng ta quyết tâm sớm ban hành chi tiết thực hiện Luật An ninh mạng mà Quốc hội thông qua. Nói vậy để chúng ta yên tâm, đảm bảo chủ quyền an ninh quốc gia nhưng cũng tạo môi trường kinh doanh đầu tư thông thoáng để thu hút các doanh nghiệp đầu tư trong và ngoài nước”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.

Các Quy Định Ở Luật An Ninh Mạng Hoàn Toàn Phù Hợp Thông Lệ Quốc Tế

Quốc Hội Chính Thức Thông Qua Luật An Ninh Mạng

Quốc Hội Biểu Quyết Tán Thành Thông Qua Luật An Ninh Mạng

Hôm Nay 12/6, Quốc Hội Sẽ Biểu Quyết Thông Qua Luật An Ninh Mạng Và Luật Tố Cáo

Quốc Hội Biểu Quyết Thông Qua Luật An Ninh Mạng