Luật Dẫn Độ Của Việt Nam / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Luật Lưu Trữ Của Chế Độ Việt Nam Cộng Hòa / 2023

Luật lưu trữ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa

Bài dăng trên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, số 7/2007 (tháng 7/2007): Đây là tài liệu rất có ý nghĩa, rất quan trọng,  phục vụ nghiên cứu Lịch sử Lưu trữ Việt Nam.

LUẬT LƯU TRỮ

CỦA CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA

Phạm Thị Huệ – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV(*)

Để góp phần bổ sung tư liệu cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về công tác lưu trữ thời kỳ Việt Nam Cộng hòa và làm tài liệu tham khảo khi soạn thảo Luật Lưu trữ hiện nay, chúng tôi xin giới thiệu một văn bản quy phạm pháp luật cao nhất về lưu trữ dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đó là Luật số 020/73 “Về văn khố tại Việt Nam”.

           Văn bản Luật này do Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu ký ban hành ngày 26 tháng 12 năm 1973, được đánh máy trên 3 trang giấy, khổ A4. Luật gồm có 4 chương điều 14:

Chương I gồm 4 điều, quy định về Tài nguyên Văn khố.

Chương II gồm 3 điều, quy định về Tổ chức và điều hành đối với Văn khố Quốc gia.

Chương III gồm 4 điều, quy định về hình phạt đối với những vi phạm pháp luật về Văn khố Quốc gia.

Chương IV gồm 3 điều, ghi các điều khoản phụ tạp, quy định về khai thác sử dụng tài liệu Văn khố.

Tại Chương I, quy định Tài nguyên Văn khố, văn bản Luật ghi:

“ Điều 1. – Được coi là Tài nguyên Văn khố Quốc gia và thuộc quyền sở hữu của Quốc gia tất cả các văn kiện, tài liệu lịch sử hoặc hành chánh do các cơ quan công quyền và các công lập sở sản xuất hay nhận được như thủ bản, ấn phẩm, bản đánh máy, bản in ronéo, bản chụp ảnh và vi ảnh, bản thâu trên phim ảnh, trên đĩa hát, trên băng ghi âm, trên băng đục lỗ, bản kỷ yếu v.v…

Điều 2. – Các cơ quan công quyền và công lập sở trong và ngoài nước có bổn phận gìn giữ nguyên văn các văn kiện, tài liệu cùng hồ sơ về hành chánh và chuyên môn của cơ quan để chuyển giao cho các cơ quan Văn khố sau một thời gian được ấn định tổng quát là hai mươi (20) năm, ngoại trừ những văn kiện và tài liệu mà cơ quan phải lưu giữ lâu hơn vì lý do chuyên môn, an ninh quốc gia hoặc đời tư cá nhân. Việc hủy bỏ từng phần hay toàn bộ những văn kiện, tài liệu và hồ sơ chỉ được thi hành sau khi có sự thỏa hiệp của cơ quan phụ trách Văn khố Quốc gia và theo những điều kiện được ấn định bằng Sắc lệnh, ngoại trừ những trường hợp có chỉ thị hủy bỏ cấp thời những văn kiện tài liệu và hồ sơ vì lý do an ninh quốc gia.

Điều 3. – Trước khi hủy bỏ một cơ quan công quyền hay một công lập sở, giới hữu trách có bổn phận bắt buộc cơ quan đó chuyển cho cơ quan Văn khố Quốc gia tất cả những tài nguyên Văn khố Quốc gia.

Điều 4. – Văn khố Quốc gia có tính cách bất khả di nhượng và bất khả thời tiêu”.

Tại Chương II, quy định về Tổ chức và điều hành đối với Văn khố Quốc gia, văn bản Luật ghi:

“ Điều 5. – Cơ quan phụ trách Văn khố Quốc gia có nhiệm vụ:

1.     Tổ chức và quản trị Văn khố Trung ương;

2.     Tổ chức và kiểm soát các cơ quan Văn khố địa phương;

3.     Sưu tầm và quy hoàn các tài liệu văn kiện thất thoát.

Chi tiết áp dụng điều này được ấn định bằng Sắc lệnh.

Điều 6. – Chánh quyền Trung ương và chánh quyền địa phương có nhiệm vụ giúp đỡ một cách hữu hiệu việc thiết lập và tổ chức các cơ quan Văn khố Quốc gia.

Điều 7. – Cơ quan phụ trách Văn khố Quốc gia được quyền tiếp nhận viện trợ, dữ tặng hay di tặng của các cơ quan, đoàn thể, hiệp hội hay tư nhân.

Thủ tục tiếp nhận viện trợ, dữ tặng hay di tặng sẽ được ấn định bằng Sắc lệnh”.

Tại chương III, quy định về hình phạt, văn bản Luật ghi:

“ Điều 8. – Những vi phạm Điều 2, Điều 3 Luật này, những hành vi hủy hoại hay chiếm đoạt các tài liệu Văn khố Quốc gia sẽ bị trừng phạt theo Luật lệ hiện hành.

Điều 9. -  Sẽ bị phạt giam từ một (1) tháng đến hai (2) năm và phạt bạc từ năm mươi ngàn đồng (50.000$) đến năm trăm ngàn đồng (500.000$) hoặc một trong hai hình phạt những người nào mua, bán, trao đổi, di nhượng các tài liệu được liệt vào thành phần tài nguyên Văn khố Quốc gia.

Điều 10. – Sẽ bị phạt giam từ một (1) tháng đến đến năm (5) năm và phạt bạc từ năm mươi ngàn đồng (50.000$) đến một triệu đồng (1.000.000$) những người phạm hay toan phạm xuất cảng khỏi Việt Nam các tài liệu Văn khố Quốc gia.

Điều 11. – Ngoài các hình phạt nói ở Điều 8,9 và 10, Tòa án còn truyền lệnh quy hoàn các tài liệu đối tượng các vụ vi phạm hay toan phạm để chuyển vào Văn khố Quốc gia”.

Tại chương IV, quy định các điều khoản phụ tạp, văn bản Luật ghi:

“ Điều 12. – Các công dân, cơ quan và đoàn thể công hay tư đều được quyền tham khảo miễn phí tất cả những thành phần tài nguyên Văn khố Quốc gia, ngoại các văn kiện “MẬT”. Việc giải mật các tài liệu, văn kiện này sẽ được ấn định bằng Sắc lệnh.

Điều 13. – Các giám thủ hay quản thủ Văn khố phụ trách một kho Văn khố Quốc gia được quyền cấp phát có trả tiền cho công chúng những bản sao, bản trích lục và ảnh sao y như chánh bản các tài liệu Văn khố luật định sau khi đã đối chiếu với bản chánh.

Điều 14. – Các điều khoản trái với luật này đều bãi bỏ. Luật này được đăng vào Công báo  Hồ sơ 7567 – Phông Phủ Tổng thống đệ II Cộng hòa – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II

Hiệp Ước Dẫn Độ Việt / 2023

Nhiều người dân trong nước muốn chính phủ công khai về hiệp ước dẫn độ với Bắc Kinh được ký kết cách đây 4 năm và bày tỏ lo ngại rằng Việt Nam có thể trở thành “miền đất hứa” cho tội phạm Trung Quốc.

Quốc hội Trung Quốc hôm 26/8 phê chuẩn hiệp ước gồm 22 điều khoản và theo Xinhua (Tân Hoa Xã), hiệp định này được hai nước bắt đầu bàn thảo từ năm 2013 và ký kết năm 2015.

Cũng như nhiều người Việt Nam bày tỏ trên mạng xã hội, nhà báo Võ Văn Tạo và luật sư Lê Đình Việt nói với VOA rằng họ ngạc nhiên khi biết thông tin về hiệp định được ký kết với Trung Quốc.

“Chúng tôi rất ngạc nhiên bởi thông tin đó không đến với người Việt Nam bằng những cơ quan chính thức của nhà nước Việt Nam mà chỉ là những tin lan truyền qua hệ thống mạng rằng phía Trung Quốc công bố việc Quốc vụ viện Trung Quốc đã thông qua hiệp định dẫn độ đó,” nhà báo Võ Văn Tạo nói từ Nha Trang. “Là những người Việt Nam, chúng tôi không hề được biết mà chỉ biết gián tiếp qua thông tin trên mạng.”

LS Lê Đình Việt, người hành nghề luật trong hơn 10 năm qua ở Hà Nội, cũng cho biết ông rất ngạc nhiên về thông tin này qua báo chí nước ngoài.

Việc quốc hội Trung Quốc thông qua hiệp ước dẫn độ với Việt Nam sẽ làm nó có hiệu lực. Không rõ quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn hiệp ước này chưa.

Theo tìm hiểu của VOA, truyền thông Việt Nam chưa có ghi nhận nào về việc Trung Quốc phê chuẩn Hiệp ước dẫn độ với Việt Nam, và cũng không thông tin về việc hai nước bàn thảo cũng như ký kết hiệp ước này trong những năm qua.

Trong mấy tháng gần đây, hàng trăm người Trung Quốc phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam đã được trao trả lại Trung Quốc mà không bị xét xử.

Bốn trăm người Trung Quốc tổ chức đường dây đánh bạc được cho là lớn nhất từ trước tới nay ở Việt Nam qua mạng internet ở Hải Phòng, được trao trả cho Trung Quốc qua cửa khẩu Lạng Sơn chỉ hơn 1 tháng sau khi Trung Quốc thông báo về việc phê chuẩn hiệp ước dẫn độ với Việt Nam.

Trước đó, hàng chục người Trung Quốc điều hành sàn chứng khoán giả hoặc phạm tội giết người Việt Nam đều được dẫn độ về Trung Quốc mà không qua xét xử ở Việt Nam.

“Bản thân tôi và rất nhiều công dân khác không hài lòng khi hành vi phạm tội xảy ra ở Việt Nam làm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh và an toàn khu vực ở Việt Nam, nhưng lại được giao cho Trung Quốc để giải quyết ở Trung Quốc. Điều đó không đảm bảo sự khách quan và tính công bằng,” LS Lê Đình Việt của công ty luật Minh Tín nói và cho biết rằng theo luật của Việt Nam, các hành vi phạm tội xảy ra ở Việt Nam phải được xét xử ở Việt Nam.

‘Thiên đường’ cho tội phạm Trung Quốc?

Nhà báo Võ Văn Tạo, người từng có 10 năm tham gia hội thẩm nhân dân ở Nha Trang, nói rằng theo hiểu biết của ông thì hiệp định dẫn độ là để trả nghi can phạm tội ở Trung Quốc chạy trốn sang Việt Nam, chứ không phải người Trung Quốc phạm tội ở Việt Nam về nước họ.

Các vụ việc trao trả tội phạm Trung Quốc gây tranh cãi trong công chúng gần đây được Bộ Công an Việt Nam giải thích là chuyên án của Bộ, và rằng Bộ đã ký thỏa thuận về hợp tác trong công tác phòng chống tội phạm với Trung Quốc.

“Dư luận Việt Nam đang bất bình về hiệp ước này,” ông Lê Quang Huy, một người sinh sống ở TP HCM viết trên Facebook cá nhân. “Bất bình vì sự thiếu vắng của tính minh bạch và tính công khai của việc ký kết. Bất bình vì nó mang lại nhiều bất lợi cho Việt Nam.”

LS Lê Đình Việt cũng nói rằng, như nhiều công dân khác, ông “muốn biết rõ hiệp ước dẫn độ nội dung của nó như thế nào, quy định về trường hợp nào thì dẫn độ, trao trả cho phía Trung Quốc và trường hợp nào phải được giải quyết ở Việt Nam.”

Tội phạm Trung Quốc ở Việt Nam đã gia tăng trong những năm gần đây trong nhiều lĩnh vực, theo quan sát của LS Lê Đình Việt. Ông cho biết đặc biệt trong năm 2019, số lượng các vụ việc phạm tội của người Trung Quốc tăng rất nhiều và với quy mô lớn.

Tuần trước Bộ Công an thông báo đã phá vỡ đường dây sản xuất ma túy “cực lớn” của người Trung Quốc ở Kon Tum và Bình Định, trong đó 4 người dính líu tới đường dây này chỉ bị xử phạt hành chính.

Trong tuần này, truyền thông trong nước cũng đăng tải thông tin về việc bắt giữ các nhóm người Trung Quốc vi phạm pháp luật Việt Nam khi có hành vi sản xuất phim đồi trụy và quan hệ tình dục với trẻ em ở Đà Nẵng, cho vay nặng lãi thông qua ứng dụng điện thoại ở TP HCM, và gắn thiết bị ‘lạ’ trộm thông tin hàng trăm thẻ ATM nhằm chiếm đoạt tài sản ở Nghệ An.

Nhà báo Võ Văn Tạo cho biết với việc mở cửa cho nhiều người Trung Quốc vào làm ăn và sinh sống ở Việt Nam, nhiều người dân trong nước lo ngại rằng Việt Nam sẽ là “thiên đường và miền đất hứa” cho tội phạm Trung Quốc vì khi họ “gây tội ác ở Việt Nam và không bị trừng phạt và xét xử ở Việt Nam. “Đấy là sơ hở để những kẻ có tiền án tiền sự ở Trung Quốc chạy sang Việt Nam để tiếp tục gây tội ác ở Việt Nam.”

Theo LS Lê Đình Việt, hiệp ước dẫn độ Việt-Trung sẽ thu hút nhiều người Trung Quốc sang Việt Nam phạm tội.

Nhiều người dùng Facebook trong những ngày qua cũng cho rằng “Việt Nam sẽ là thiên đường cho tội phạm Trung Quốc” sau vụ xử phạt hành chính và việc Trung Quốc đưa hiệp ước dẫn độ với Việt Nam vào thực thi.

“Tôi hy vọng nhà nước Việt Nam sớm nhận ra điều này để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời trong hệ thống luật pháp cũng như thực thi luật pháp để hạn chế tình trạng phạm tội người Trung Quốc gây tội ác ngày càng nhiều ở Việt Nam,” nhà báo Võ Văn Tạo nói.

Có Thể Dẫn Độ Tội Phạm Tham Nhũng Từ Canada Về Việt Nam? / 2023

Photo courtesy of zing

Ngày 16 tháng 9 Bộ công an Việt Nam phát lệnh truy nã toàn thế giới đối với ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, về những cáo buộc tham nhũng. Sau đó báo chí Việt Nam có đăng tải ý kiến của một viên chức ngành công an đề cập tới chuyện dẫn độ ông Thanh từ hai quốc gia mà người ta nghĩ rằng ông Thanh đang ở đó, là Canada và Đức.

Luật sư Vũ Đức Khanh: Dẫn độ hiểu theo thông lệ quốc tế là hành động của một chính quyền một nước sở tại, nơi mà phạm nhân, hoặc nghi phạm của một nước khác đang trốn chạy. Chính quyền sẽ bắt giao nộp lại cho chính quyền của cái nơi mà phạm nhân đó rời khỏi đất nước của họ theo yêu cầu của chính phủ đó. Chẳng hạn như ở Việt Nam có một người bị truy nã, hay bị án của tòa rồi chạy sang một nước khác, chẳng hạn như Canada. Chính phủ Việt Nam có thể yêu cầu chính phủ Canada dẫn độ người đó về Việt Nam. Nhưng theo thông lệ quốc tế thì nếu muốn dẫn độ được thì hai quốc gai đó phải có hiệp ước song phương với nhau, hoặc một nhóm nước có hiệp ước đa phương để mà dẫn độ.

Kính Hòa: Theo dõi vụ án tham nhũng Trịnh Xuân Thanh ở Việt Nam thì các quan chức Việt Nam có nói rằng mặc dù Việt Nam và Canada không có hiệp ước dẫn độ, nhưng vẫn có thể bắt được người tội phạm trốn qua Canada được. Ông thấy thế nào?

Luật sư Vũ Đức Khanh: Nếu tôi nhớ không lầm thì ông Thiếu tướng Trần Thế Quân, Phó cục trưởng Cục pháp chế của Bộ công an nói vấn đề này cho báo chí Việt Nam. Ông khẳng định là chuyện dẫn độ từ Canada về Việt Nam là một chuyện vô cùng khó khăn.  Nhưng ông ấy có nói rằng có thể làm được theo một thông lệ ngoại giao với cái nguyên tắc có đi có lại giữa các quốc gia với nhau. Tôi nghĩ rằng ông ấy đúng 99% nhưng sai 1% là ông ấy ảo tưởng cái chuyện nguyên tắc ngoại giao có đi có lại.

Luật của Canada rất rõ ràng về vấn đề này là chỉ có thể dẫn độ nếu quốc gia yêu cầu dẫn độ có hiệp ước dẫn độ song phương với nhau. Ngoài ra không có chuyện dẫn độ.

Kính Hòa: Đặt giả thiết là ông Trịnh Xuân Thanh trốn qua Canada rồi ở lại, nếu Hà nội người ta biết được, người ta yêu cầu Canada bắt giao thì Canada sẽ không bắt theo luật dẫn độ mà trục xuất?

Luật sư Vũ Đức Khanh: Nếu ông Trịnh Xuân Thanh  không có qui chế nhập cảnh đúng theo luật Canada, thì coi như ông vi phạm luật Canada, thì trong trường hợp đó không cần chính phủ Việt Nam yêu cầu gì hết, chính phủ Canada cũng phải truy tố ông ấy vì vi phạm luật di trú, và sau đó vì ông mang quốc tịch Việt Nam,  Canada sẽ liên hệ tới Tòa Đại sứ của Việt Nam tại Ottawa để yêu cầu trục xuất, giao ông Trịnh Xuân Thanh trở về Việt Nam.

Nếu ông Thanh tới Canada với visa là nhà kinh doanh hay đầu tư, thì ông ấy không bị gì hết (trong thời hạn visa).

Trong trường hợp ông ấy không vi phạm gì hết mà chính phủ Việt Nam tống đạt lệnh truy nã cho cảnh sát Hoàng gia Canada thì cảnh sát sẽ phải xem là có nên bắt giữ hay không, dựa theo hồ sơ tội phạm của ông ấy. Nhưng đây là lĩnh vực khác.

Kính Hòa: Tức là nếu chính phủ Canada nhận thông báo từ Hà nội rằng ông Thanh là tội phạm thì họ phải điều tra, mặc dù giữa Canada và Việt Nam không có hiệp ước dẫn độ?

Luật sư Vũ Đức Khanh: Lực lượng cảnh sát Hoàng gia Canada sẽ phải tiếp nhận cái đó và mở cuộc điều tra, nhưng mà nếu như có một tống đạt thông qua Interpol và chính phủ Việt Nam xác nhận với Canada là ông Thanh đang ở Canada, và yêu cầu là bắt, thì lúc đó chính phủ Canada bắt buộc phải làm điều đó, vì đây là vấn đề an ninh, dựa trên những bằng chứng mà Việt nam cung cấp.

Nhưng điều đó không có nghĩa là ông Thanh sẽ bị bắt. Ông ấy bị bắt hay là được trả tự do, hay tại ngoại, nếu chính phủ Canada không thấy có đủ bằng chứng để mà bắt. Nếu ông ấy là một nhân vật nguy hiểm cho an ninh của Canada thì có lý do để mà bắt. Cho nên tôi thấy dù có tống đạt của chính phủ Việt Nam đi nữa, thì chuyện bắt ông ấy là chuyện hy hữu đối với tôi.

Luật sư Vũ Đức Khanh: Chuyện đó rất khó. Lấy trường hợp của Trung quốc. Hiện giờ có rất nhiều quan chức của Trung quốc trốn ở Canada. Chính phủ Trung Quốc làm áp lực rất mạnh với Canada để ký hiệp định dẫn độ. Đã 16 năm chính phủ Canada luôn từ chối ký hiệp định dẫn độ với Trung quốc.

Ông Lai là một trường hợp rất nổi tiếng ở Canada. Ông ấy bị trục xuất trở về Trung quốc năm 2011, và chịu án chung thân ở đó. Nhưng điều đó không có nghĩa là ông Lai bị dẫn độ, mà ông bị trục xuất khỏi Canada vì vi phạm luật di trú của Canada.

21 tháng chín vừa qua, ông Thủ tướng Lý Khắc Cường có đến Canada và có yêu cầu hai nước đàm phán một hiệp ước dẫn độ, nhưng cho tới giờ phút này thì Canada vẫn nói là hai bên vẫn tiếp tục bàn thảo chứ chưa dùng tới chữ đàm phán.

Kính Hòa: Canada và Việt Nam không có hiệp định dẫn độ. Lý do nào khiến hai quốc gia không có hiệp định dẫn độ? Khó khăn là từ phía Canada không muốn, hay Việt Nam không muốn?

Luật sư Vũ Đức Khanh: Việt nam cũng giống như Trung quốc thôi, có những quan chức của họ, đảng viên của họ tham nhũng lấy cắp tài sản quốc gia. Không phải phía Việt Nam hay Trung quốc không muốn có hiệp định dẫn độ, mà Canada, Hoa Kỳ hay Anh, Pháp, không muốn có một hiệp định dẫn độ với các quốc gia như Việt Nam hay Trung quốc vì họ nghĩ rằng có ba lý do:

Thứ hai là hệ thống pháp lý của những quốc gia như Việt Nam không thỏa mãn tiêu chuẩn pháp lý giống như Canada, Úc hay Anh, Mỹ,…

Thứ ba Canada không muốn dính đến những vấn đề mang tính nội bộ  của một quốc gia khác.

Kính Hòa: Xin cảm ơn ông.

Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Dẫn Độ Trong Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam / 2023

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGÔ HỮU PHƯỚC

DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Mã số: 62.38.01.04 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2012

2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. chúng tôi Võ Khánh Vinh 2. TS. Nguyễn Thị Phương Hoa

Phản biện 1: chúng tôi Nguyễn Ngọc Anh Phản biện 2: chúng tôi Hoàng Thị Minh Sơn Phản biện 3: TS. Võ Thị Kim Oanh

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số 02 Nguyễn Tất Thành, quận 4, TP. Hồ Chí Minh. Vào hồi……….giờ………ngày……….tháng………..năm 2009

Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia Thư viện Viện Nhà nước và pháp luật

3

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng nhiều thành tựu và cơ hội to lớn để phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế cũng phát sinh nhiều nguy cơ, thách thức lớn đối với các quốc gia như bất ổn chính trị, xung đột sắc tộc, tôn giáo, tệ nạn xã hội… trong đó có tình hình tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, đe dọa đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như hòa bình và an ninh quốc tế. Theo thống kê của INTERPOL, hàng năm trên thế giới xảy ra hơn 700 vụ khủng bố, làm trên 7.000 người chết và khoảng 12.000 người bị thương. Các loại tội phạm hình sự nguy hiểm như giết người, cướp tài sản, bắt cóc tống tiền, hoạt động băng nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng tăng tại hầu hết các nước trên thế giới. Các tội phạm ma túy xuyên quốc gia, tội phạm buôn bán người, nhất là phụ nữ, trẻ em đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tình hình hoạt động của các đường dây, tổ chức đưa người nhập cư bất hợp pháp trên thế giới tiếp tục gây ra nhiều vấn đề phức tạp đối với an ninh, trật tự của nhiều quốc gia. Các tội phạm kinh tế xuyên quốc gia ngày càng diễn biến phức tạp hơn cả về địa bàn hoạt động, cũng như tính chất và mức độ nghiêm trọng… Không ngoài xu thế chung của thế giới, sau khi gia nhập WTO và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi để phát triển đất nước, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức lớn đối với nền kinh tế, văn hóa, xã hội, chủ quyền và an ninh quốc gia trong đó có tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Theo báo cáo tổng quan về tình hình tội phạm ở Việt Nam của Tổng cục Cảnh sát cho thấy, mỗi năm ở nước ta xảy ra khoảng 82.555 vụ phạm tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trong đó có 57.415 vụ phạm tội về hình sự, 14.139 vụ phạm tội về kinh tế, 11.001 vụ phạm tội về ma túy… Trung bình mỗi ngày xảy ra khoảng 227 vụ, mỗi giờ xảy ra 9,5 vụ… Hiện nay, ở Việt Nam đã hình thành các đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em từ Việt Nam sang các nước trong khu vực, thậm chí đến các nước Châu Âu, Châu Phi. Ở Việt Nam đã xuất hiện một số băng nhóm tội phạm gốc Hoa cấu kết với các băng nhóm tội phạm trong nước để hoạt động phạm tội như bảo kê, cướp tài sản, giết người… Các hoạt động buôn lậu ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài diễn biến hết sức phức tạp, đã xuất hiện ngày càng nhiều đường dây buôn bán vận chuyển các chất ma túy xuyên quốc gia, chủ yếu là hê-rô-in, các loại ma túy tổng hợp, cần sa với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi. Bên cạnh đó, hàng năm có hàng triệu lượt người nước ngoài và kiều bào Việt Nam (trong tổng số hơn 04 triệu người đang định cư trên 103 quốc gia và vùng lãnh thổ) nhập cảnh vào Việt Nam để thăm thân nhân, đầu tư, kinh doanh, du lịch… Trong số đó có nhiều phần tử lợi dụng cơ hội đến Việt Nam để thực hiện tội phạm. Do vậy, tình hình người nước ngoài và người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi trốn vào Việt Nam và phạm tội ở Việt Nam rồi trốn ra nước ngoài trong thời gian qua có xu hướng gia tăng. Trước diễn biến tình hình tội phạm trong nước và thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường liên kết, hợp tác đồng bộ và toàn diện bằng tất cả các biện pháp chính trị, pháp luật, kinh tế, an ninh… từ bình diện khu vực, liên khu vực và toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,

4 chống tội phạm. Trong đó, dẫn độ là biện pháp tất yếu khách quan và hiệu quả nhất để các quốc gia truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội ở quốc gia này nhưng đang lẩn trốn tại quốc gia khác. Tuy nhiên, về phương diện khoa học pháp lý, dẫn độ là vấn đề còn rất mới ở Việt Nam nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện. Mặt khác, hoạt động đàm phán, ký kết ĐƯQT về dẫn độ và thực tiễn dẫn độ ở Việt Nam từ trước đến nay cũng chưa được nghiên cứu và tổng kết. Do đó, việc áp dụng ĐƯQT có quy định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam thì tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn về dẫn độ là yêu cầu cấp thiết và có tính thời sự rất lớn trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ nhận thức và thực trạng nói trên, tác giả chọn đề tài: “DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM” làm Luận án Tiến sĩ Luật học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Dẫn độ là một hình thức hợp tác quốc tế được điều chỉnh đồng thời bởi pháp luật quốc tế (các ĐƯQT có quy định về dẫn độ và các ĐƯQT về quyền con người) và pháp luật quốc gia (Luật Dẫn độ, Luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp… ). Do vậy, từ trước đến nay trong lĩnh vực khoa học pháp lý ở Việt Nam và nước ngoài, vấn đề dẫn độ có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của Luật Quốc tế, Luật Hình sự quốc tế, Luật Quốc tế về quyền con người và dẫn độ cũng có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của pháp luật quốc gia, thuộc chuyên ngành khoa học pháp lý về hình sự, tố tụng hình sự và tương trợ tư pháp. Trên bình diện quốc tế, từ cuối thế kỷ thứ XIX đến nay, ở Châu Âu đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về độc lập về dẫn độ hoặc nghiên cứu về luật hình sự quốc tế, luật quốc tế về quyền con người có đề cập đến dẫn độ của các tác giả có uy tín lớn trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Tiêu biểu là các công trình đã được xuất bản thành giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí khoa học pháp lý của các tác giả như: Nhóm này bao gồm các công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được xuất bản thành giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí khoa học pháp lý của các tác giả như: Edmond Poullet, (1867), “Luật hình sự cổ của Duché Brabant”, Bruxelles, M.Hayer, Viện Hàn lâm Vương quốc Bỉ; Louis Renault (1879),”Nghiên cứu về dẫn độ giữa Pháp và Anh”,Nhà xuất bản A.Cotillon; André (1880),”Nghiên cứu về các điều kiện dẫn độ”, Nhà xuất bản L.Larose; Maurice Violet (1898),”Thủ tục dẫn độ, đặc biệt tại lãnh thổ nước tị nạn”, Nhà xuất bản Giard & Brière; Charles Soldan (1882),”Dẫn độ tội phạm chính trị”, Nhà xuất bản Thorin; Maulineau (1879),”Hậu quả pháp lý của dẫn độ”, Nhà xuất bản chúng tôi Blanc-Hardel; Paul Bernard (1890),”Lý luận và thực tiễn dẫn độ”, tái bản lần 2, Nhà xuất bản Duchemin; Viện Luật quốc tế (1923),”Tuyển tập các vụ việc của Tòa án”; Ivan Anthony Shearer (1971),”Dẫn độ trong luật quốc tế”, Nhà xuất bản Manchester University Press Dobbs Ferry, N.Y, Oceana Publications Kalfat (1987),”Áp dụng các ĐƯQT và pháp luật quốc gia trong dẫn độ bị động”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật hình sự, Đại học Paris 2; Ducel (André) (1988),”Nghiên cứu so sánh thực tiễn dẫn độ của Pháp với các nước Anh – Mỹ”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I; Henry (F.), Ép. Ringel (1988),”Tội phạm chính trị trong pháp luật về dẫn độ”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học AixMarseille; Ingeade (1988),”Chế độ pháp lý của dẫn độ trong khuôn khổ của Hội đồng Châu Âu”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I; Loued, Mohamed Naceur (1989),”Thủ tục dẫn độ bị

5 động trong pháp luật hiện đại của Pháp”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành tố tụng hình sự, Đại học Khoa học xã hội Toulouse; Zari (Anna), (1991),”Nguyên tắc đặc biệt trong dẫn độ nhìn từ góc độ quyền con người”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Paris I; André VITU (1992), “Ám sát chính trị trong luật quốc tế và dẫn độ”, Nhà xuất bản Gazette Palais; Adrien Masset và Anne Sophie Massa (2007), “Dẫn độ”, Tạp chí Khoa học về tội phạm, Đại học Liège, Vương quốc Bỉ; Ủy ban Châu Âu về vấn đề tội phạm (CDPC) và Ủy ban chuyên gia về thực thi các Công ước của Châu Âu trong lĩnh vực hình sự (2003),”Công ước Châu Âu về dẫn độ – Hướng dẫn và thủ tục”; Gilbert. G (1991),”Luật dẫn độ và vấn đề quyền con người”, Nhà xuất bản Martimes Nijhoff; Claudin DIB (2008),”Dẫn độ và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và các giải pháp khả dĩ tại Canada”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Québec, Montréal, Canada Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ XX đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ, về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, về hợp tác tương trợ tư pháp quốc tế nói chung và hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng đã được công bố trong các cuốn sách chuyên khảo, tham khảo hoặc đã được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành khoa học pháp lý tiêu biểu là công trình của các tác giả: Nguyễn Ngọc Anh (2000),”Hoạt động dẫn độ tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5; Dương Tuyết Miên (2006),”Vấn đề dẫn độ tội phạm “, Tạp chí TAND số 10 (5); Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công (2006), “Dẫn độ những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Đào Thị Hà (2006),”Vấn đề dẫn độ trong pháp luật Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thủy (2007),”Một số vấn đề về dẫn độ tội phạm”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Xuân Yêm (2000), “Dẫn độ tội phạm, tương trợ pháp lý về hình sự và chuyển giao phạm nhân quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Yêm (2000),”Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam”, Tạp chí TAND số 1 (1); Nguyễn Thị Mai Nga (2007),”Dẫn độ tội phạm và hoạt động tương trợ tư pháp của Viện Kiểm sát trong giải quyết các vụ án ma túy có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Anh Dũng (2007), Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Quốc Cường (2008),”Hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí TAND số 2 (1); Chử Văn Dũng (2008),”Hoạt động INTERPOL trong thực hiện tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân; Đại học Cảnh sát nhân dân (2009),”Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài của lực lượng cảnh sát nhân dân – Lý luận và thực tiễn”, đề tài nghiên cứu khoa cấp bộ, mã số: BX-2008-T4823; Nguyễn Giang Nam (2011),”Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm trong điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài”, luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân… Từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế về dẫn độ như đã đề cập ở trên chúng tôi thấy rằng, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài đã rất thành công trong việc nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật quốc gia cũng như thực tiễn ký kết, gia nhập, thực hiện ĐƯQT và pháp luật về dẫn độ của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Kết quả của các công trình nghiên cứu về dẫn độ trong nước và nước ngoài đã đóng góp rất to lớn trong việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện chế định dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về dẫn độ cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện như: Khái niệm, đặc