Luật Dẫn Độ Ở Việt Nam / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Trốn Truy Nã Ở Nước Ngoài, Nếu Bắt Được Dẫn Độ Về Việt Nam Ra Sao?

Các Trường Hợp Từ Chối Dẫn Độ Cho Nước Ngoài

Dẫn Độ Là Gì? Từ Vụ Việc Biểu Tình Tại Hongkong Có Liên Quan Gì Tới Việc Dẫn Độ

Lãnh Đạo Đài Loan Lên Tiếng Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong

10 Nghìn Người Đài Loan Biểu Tình Ủng Hộ Hồng Kông Chống Luật Dẫn Độ

Lo Sợ Luật Dẫn Độ Ở Hồng Kông, Người Bán Sách Chỉ Trích Lãnh Đạo Trung Quốc Trốn Sang Đài Loan

Theo số liệu của Bộ Công an, tính đến tháng 5-2019, Việt Nam có hơn 1.200 người phạm tội bỏ trốn ra nước ngoài, trong đó có 235 người đã bị Interpol ra lệnh truy nã đỏ, nhiều nghi can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Gần đây nhất, cựu thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa bị khởi tố về hành vi vi phạm quy định về quản lý tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí. Trước đó, sau khi bị cách chức, bà Thoa đã ra nước ngoài.

Theo nguồn tin Tuổi Trẻ Online, khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố, bà Thoa không có mặt tại Việt Nam.

Hiện cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định truy nã bị can, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với bà Thoa, chờ bắt được sẽ xử lý theo quy định.

Còn nhiều bất cập trong việc dẫn độ

Về vấn đề trên, luật sư Diệp Năng Bình, Đoàn luật sư chúng tôi cho biết hiện còn nhiều bất cập trong việc áp dụng luật hiện hành của Việt Nam với việc dẫn độ tội phạm bỏ trốn ra nước ngoài.

“Các trường hợp như Vũ Đình Duy, Trịnh Xuân Thanh hay vụ Vũ “nhôm” trốn hụt và thậm chí là cả giám đốc Nhật Cường Mobile cũng đã biến mất, hay gần đây nhất là cựu thứ trưởng Bộ Công thương… khiến dư luận không thể không lo ngại về tình trạng người phạm tội bỏ trốn ra nước ngoài.

Hầu hết những người phạm tội trốn ra nước ngoài là người có nhiều tiền do tham ô, tham nhũng, hối lộ, lừa đảo và sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền lớn để cả gia đình chạy ra nước ngoài bằng đường hàng không”, luật sư Bình nói.

Điều 124 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2022 cho đến nay cũng đã xuất hiện những lỗ hổng, gây khó khăn cho công tác ngăn chặn tạm hoãn xuất cảnh.

Khoản 1 điều 109 BLTTHS năm 2022 quy định chỉ có người bị buộc tội mới có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, trong khi đó tại điểm đ khoản 1 điều 4 giải thích: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” mà không có “người bị tố giác”, “kiến nghị khởi tố”, do vậy các quy định về đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn là chưa thống nhất.

Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không quá thời hạn xác minh nguồn tin tội phạm theo quy định khoản 3 điều 124 BLTTHS năm 2022 thì mặc nhiên người đó được xuất cảnh sang nước ngoài, trong khi cơ quan giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố vẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp điều tra để chứng minh tội phạm và khi đã đủ chứng cứ chứng minh tội phạm thì người phạm tội đã bỏ trốn sang nước ngoài.

Việc này gây khó khăn, tốn kém cho việc điều tra, truy tố, xét xử…, nhất là hiện nay việc thực hiện tương trợ tư pháp hình sự về dẫn độ, ủy thác tư pháp… còn nhiều bất cập.

Cần ban hành luật chuyên biệt về dẫn độ

Luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn luật sư Hà Nội, cho rằng hiện nay quy định về dẫn độ tội phạm bỏ trốn ra nước ngoài đang gặp nhiều khó khăn.

Luật tương trợ tư pháp 2007 đã dành riêng một chương để quy định về dẫn độ với nhiều quy định chi tiết.

Tuy nhiên, trong luật này, nội dung dẫn độ lại quá mờ nhạt và trên thực tế, nhiều quy định của luật chưa phù hợp với các điều ước quốc tế đa phương và song phương có quy định về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên; chưa phù hợp với thông lệ pháp lý quốc tế cũng như thực tiễn xử lý các vụ việc dẫn độ của Việt Nam.

Nhiều trường hợp chưa được quy định trong luật dẫn đến việc cơ quan có thẩm quyền khó khăn, lúng túng trong xử lý.

Ngoài ra, một số tội danh trong Bộ luật hình sự Việt Nam lại không có trong quy định pháp luật hình sự một số nước trên thế giới, do vậy việc chúng ta yêu cầu dẫn độ đối với tội phạm là rất khó khăn đối với những nước được yêu cầu mà không có thiện chí.

Theo luật sư Cường, luật tương trợ tư pháp 2007 không còn đáp ứng được yêu cầu về phòng chống tội phạm và dẫn độ trong bối cảnh hội nhập diễn biến phức tạp.

Luật sư Cường cho rằng thực tiễn về tình hình dẫn độ tội phạm trong thời gian qua đặt ra yêu cầu phải cụ thể hóa quy định về dẫn độ, cụ thể là phải có khung pháp lý và quy định rõ ràng về dẫn độ.

“Để ngăn chặn tình trạng tội phạm bỏ trốn ra nước ngoài và tạo thuận lợi trong việc dẫn độ, cần nghiên cứu ban hành đạo luật chuyên biệt về dẫn độ v ới điều kiện phải bảo đảm các yêu cầu về chính trị, ngoại giao, pháp luật”.

Hiện nay, việc dẫn độ được quy định tại chương 4 Luật tương trợ tư pháp 2007. Theo đó, dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.

Các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài dẫn độ cho Việt Nam người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.

Yêu cầu dẫn độ được gửi thông qua đường ngoại giao. Văn bản yêu cầu dẫn độ phải kèm theo các tài liệu mô tả chi tiết về người bị yêu cầu dẫn độ, bao gồm các thông tin để xác định đặc điểm nhận dạng, quốc tịch và nơi cư trú của người đó…

Văn phòng Interpol Việt Nam là một thành phần của Interpol quốc tế sẽ có văn bản thông báo về việc truy nã quốc tế này để truy tìm đối tượng ở các nước.

Dẫn Độ Tội Phạm Được Pháp Luật Việt Nam Quy Định Như Thế Nào?

Luật Dẫn Độ Hồng Kông : Trung Quốc Lên Án Châu Âu Can Thiệp Nội Bộ

Một Năm Chống Dự Luật Dẫn Độ: Lãnh Đạo Hồng Kông Đe Dọa Không Chấp Nhận “hỗn Loạn”

Tại Sao Hồng Kông Phản Đối Luật Dẫn Độ?

Giới Nhà Giàu Hồng Kông Chuyển Tài Sản Ra Nước Ngoài Vì Dự Luật Dẫn Độ

Dẫn Độ Tội Phạm Được Pháp Luật Việt Nam Quy Định Như Thế Nào?

Trốn Truy Nã Ở Nước Ngoài, Nếu Bắt Được Dẫn Độ Về Việt Nam Ra Sao?

Các Trường Hợp Từ Chối Dẫn Độ Cho Nước Ngoài

Dẫn Độ Là Gì? Từ Vụ Việc Biểu Tình Tại Hongkong Có Liên Quan Gì Tới Việc Dẫn Độ

Lãnh Đạo Đài Loan Lên Tiếng Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong

10 Nghìn Người Đài Loan Biểu Tình Ủng Hộ Hồng Kông Chống Luật Dẫn Độ

Dẫn độ tội phạm là một trong những chế định cổ điển của luật quốc tế và nó luôn đụng chạm tới chủ quyền của quốc gia. Vì thế, mỗi quốc gia đề có quy định cụ thể về dẫn độ tội phạm và Việt nam cũng vậy.

Hiện nay, Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh riêng vấn đề dẫn độ tội phạm. Tuy nhiên, khái niệm dẫn độ đã được đề cập tại một số từ điển pháp luật, khoa học và văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ nhất về khái niệm dẫn độ tội phạm được quy định tại một số văn bản pháp luật:

Trong văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, khái niệm dẫn độ lần đầu tiên được quy định trong Điều 2 khoản 7 Luật Quốc tịch Việt Nam, theo đó “Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh thổ của nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người đó”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp Việt Nam năm 2007 thì ” Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình”.

Thứ hai quy định cụ thể của dẫn độ tội phạm tại pháp luật Việt Nam

Căn cứ pháp lý của dẫn độ tội phạm:

(i) Pháp luật trong nước: Luật tương trợ tư pháp Việt Nam năm 2007, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022,…

(ii) Các điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp như: Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Lào, Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Cam-pu-chia, Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Liên bang Nga,…

(iii) Các điều ước đa phương về chống các loại tội phạm Quốc tế như: Điều 16 Công ước Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên Quốc gia,…

Một số quy định cụ thể về dẫn độ tội phạm:

(i) Trong Bộ luật tố tụng hình sự 2022: nói về dẫn độ trong hợp tác quốc tế Bộ luật Tố tụng hình sự 2022 quy định tại các điều 498, 499, 500, 501, 503.

Cụ thể như điều 498 quy định: “Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có trách nhiệm xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ”

Quy định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế và các nguyên tắc đẫn độ mà các quốc gia trên thế giới đang áp dụng, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc dẫn độ tội phạm.

(ii) Trong luật tương trợ tư pháp Việt Nam 2007 quy định rõ về hồ sơ,văn bản yêu cầu dẫn độ, những tài liệu kèm theo, việc tiếp nhận yêu cầu dẫn độ, xem xét và xử lý yêu cầu dẫn độ, quyết định dẫn độ,…

(iii) Trong Công ước Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức quyên Quốc gia, quy định về dẫn độ cụ thể nhất tại điều 16 của công ước này, theo đó:

17. Các Quốc gia thành viên sẽ cố gắng ký kết các hiệp định hoặc thoả thuận song phương hoặc đa phương để thực hiện hoặc tăng cường mức độ hiệu quả của việc dẫn độ”.

Mặc dù, Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh riêng về vấn đề dẫn độ nhưng cũng đã có những quy định cụ thể lại các văn bản pháp luật, các hiệp ước hoặc các văn bản pháp lý khoa học.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Luật Dẫn Độ Hồng Kông : Trung Quốc Lên Án Châu Âu Can Thiệp Nội Bộ

Một Năm Chống Dự Luật Dẫn Độ: Lãnh Đạo Hồng Kông Đe Dọa Không Chấp Nhận “hỗn Loạn”

Tại Sao Hồng Kông Phản Đối Luật Dẫn Độ?

Giới Nhà Giàu Hồng Kông Chuyển Tài Sản Ra Nước Ngoài Vì Dự Luật Dẫn Độ

Nguyên Nhân Người Hong Kong Rầm Rộ Biểu Tình Chống Dự Luật Dẫn Độ

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Đại Hàn Dân Quốc 2003

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc

Bộ Công An Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ

Tại Sao Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông Lại Kích Hoạt Biểu Tình?

Dự Luật Dẫn Độ Của Hong Kong Là Gì?

Hiệp định về dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại hàn Dân quốc có hiệu lực từ ngày 19 tháng 4 năm 2005./.

HIỆP ĐỊNH

VỀ DẪN ĐỘ GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ ĐẠI HÀN DÂN QUỐC

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc (sau đây gọi là “các Bên”)

Với mong muốn nâng cao hiệu quả hợp tác trong việc phòng, chống tội phạm và thúc đẩy quan hệ trong lĩnh vực dẫn độ giữa hai nước thông qua việc ký kết một hiệp định về dẫn độ người phạm tội.

Đã thỏa thuận như sau:

Theo quy định của Hiệp định này, mỗi Bên đồng ý dẫn độ cho Bên kia bất kỳ người nào đang có mặt trên lãnh thổ của nước mình mà Bên đó yêu cầu để tiến hành truy tố, xét xử hoặc thi hành án vì một tội có thể bị dẫn độ.

1. Người bị dẫn độ theo quy định của Hiệp định này là người có hành vi phạm tội có thể bị xử phạt tù với thời hạn từ một năm trở lên hoặc nặng hơn theo quy định pháp luật của cả hai Bên tại thời điểm yêu cầu dẫn độ.

3. Phù hợp với quy định của Điều này, việc xác định tội theo pháp luật của cả hai Bên được tiến hành như sau:

a) Không yêu cầu pháp luật của cả hai Bên quy định hành vi phạm tội đó phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh.

b) Tất cả các hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ phải được xem xét một cách toàn diện và không nhất thiết các yếu tố cấu thành của tội phạm đó theo pháp luật của các Bên phải giống như nhau.

5. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện bên ngoài lãnh thổ của Bên yêu cầu, thì việc dẫn độ người phạm tội sẽ được tiến hành khi pháp luật của Bên được yêu cầu cũng quy định hình phạt đối với tội phạm đó nếu thực hiện bên ngoài lãnh thổ của mình trong hoàn cảnh tương tự. Trường hợp pháp luật của Bên được yêu cầu không quy định như vậy, thì Bên được yêu cầu có thể tiến hành việc dẫn độ theo ý mình.

Điều 3. Bắt buộc từ chối dẫn độ

1. Việc dẫn độ sẽ không được thực hiện theo Hiệp định này, khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Khi Bên được yêu cầu xác định rằng tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm mang tính chất chính trị;

b) Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đã bị kết án hay được xử là vô tội trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu về chính tội phạm mà người đó bị yêu cầu dẫn độ;

d) Khi Bên được yêu cầu có căn cứ xác đáng để cho rằng yêu cầu dẫn độ được đưa ra nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trừng phạt người bị dẫn độ vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, giới tính, chính kiến hay làm người đó bị ảnh hưởng bởi các lý do trên.

2. Quy định tại khoản 1.a Điều này sẽ không áp dụng đối với các tội sau đây:

a) ước đoạt hoặc tước đoạt chưa thành tính mạng hoặc xâm phạm thân thể người đứng đầu nhà nước hay thành viên gia đình của người đó.

b) Tội phạm mà các Bên có nghĩa vụ thiết lập quyền truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc dẫn độ theo một thỏa thuận quốc tế đa phương mà cả hai Bên đều là thành viên.

Điều 4. Quyền tự quyết định từ chối dẫn độ

Việc dẫn độ theo Hiệp định này có thể bị từ chối khi có một trong các trường hợp sau đây:

1. Khi toàn bộ hoặc một phần tội phạm bị yêu cầu dẫn độ được cho là đã được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của Bên được yêu cầu theo pháp luật của Bên đó.

2. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đã được xử vô tội hoặc bị kết án tại một nước thứ ba về cùng tội đó, nếu bị kết án, thì hình phạt đã được thi hành đầy đủ hoặc không còn hiệu lực thi hành nữa.

3. Trong các trường hợp ngoại lệ, xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi ích của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu thấy rằng, việc dẫn độ sẽ không phù hợp với các nguyên tắc nhân đạo do hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu dẫn độ.

4. Khi tội mà yêu cầu dẫn độ đưa ra là một tội theo luật quân sự và không phải là tội quy định trong luật hình sự thông thường.

Điều 5. Hoãn và dẫn độ tạm thời

1. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt về tội phạm nhưng không phải là tội đang bị yêu cầu dẫn độ trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu, thì Bên được yêu cầu có thể hoãn việc dẫn độ người đó cho đến khi kết thúc quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự hay chấp hành xong toàn bộ hoặc một phần hình phạt đã tuyên. Bên được yêu cầu sẽ thông báo cho Bên yêu cầu về việc hoãn dẫn độ nói trên. Khi điều kiện hoãn dẫn độ không còn nữa thì Bên được yêu cầu phải thông báo ngay cho Bên yêu cầu và tiếp tục tiến hành việc dẫn độ nếu không có thông báo khác của Bên yêu cầu.

2. Trong trường hợp việc hoãn việc hoãn dẫn độ nêu tại khoản 1 Điều 1 làm cản trở quá trình tố tụng hình sự do hết thời hiệu hoặc gây khó khăn nghiêm trọng cho việc tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự, thì theo đề nghị của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu căn cứ vào pháp luật nước mình có thể cho dẫn độ tạm thời theo yêu cầu.

3. Người bị dẫn độ tạm thời phải được trả lại ngay sau khi quá trình tố tụng hình sự đã kết thúc hoặc hết thời hạn yêu cầu dẫn độ tạm thời mà hai Bên đã thỏa thuận. Khi có yêu cầu, Bên được yêu cầu sẽ gia hạn thời hạn đã thỏa thuận trên nếu có lý do chính đáng cho việc gia hạn này.

1. Các Bên không có nghĩa vụ phải dẫn độ công dân của mình theo Hiệp định này.

2. Nếu việc dẫn độ bị từ chối chỉ trên cơ sở quốc tịch của người bị dẫn độ, thì theo đề nghị của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu sẽ đưa vụ án ra cơ quan có thẩm quyền để truy tố.

3. Quốc tịch được xác định vào thời điểm thực hiện tội phạm và vì tội đó mà có yêu cầu dẫn độ.

Điều 7. Thủ tục dẫn độ và tài liệu cần thiết

1. Yêu cầu dẫn độ phải bằng văn bản và được gửi thông quan đường ngoại giao.

2. Văn bản yêu cầu dẫn độ phải kèm theo:

a) Các tài liệu mô tả đặc điểm nhận dạng, và nếu có thể, giấy tờ về quốc tịch và nơi lưu trú của người bị yêu cầu dẫn độ;

b) Một văn bản nêu sự việc của vụ án;

c) Một văn bản nêu các luật quy định về các yếu tố cấu thành tội phạm và tội danh;

d) Một văn bản nêu các luật quy định về hình phạt đối với tội phạm đó;

a) Bản sao lệnh bắt hoặc giam giữ của thẩm phán hay người có thẩm quyền khác của Bên ký kết yêu cầu dẫn độ;

b) Thông tin xác nhận người bị dẫn độ là người được nêu trong lệnh bắt hay giam giữ;

c) Một văn bản về hành vi cấu thành tội phạm đó đưa ra căn cứ hợp lý để cho rằng người bị dẫn độ đã thực hiện tội bị yêu cầu dẫn độ.

a) Bản sao bản án kết tội do Tòa án của Bên yêu cầu dẫn độ tuyên;

b) Thông tin xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ là người đã bị kết án;

c) Một văn bản trình bày về hành vi cấu thành tội phạm mà người đó bị kết án.

5. Tất cả các tài liệu do Bên yêu cầu gửi theo quy định của Hiệp định này phải được chứng nhận và gửi kèm theo bản dịch ra tiếng của Bên được yêu cầu hoặc ra tiếng Anh.

6. Tài liệu được chứng nhận theo quy định của Hiệp định này là tài liệu có chữ ký hoặc xác nhận của thẩm phán hoặc quan chức có thẩm quyền của Bên yêu cầu và đóng dấu chính thức của cơ quan có thẩm quyền của Bên đó.

1. Nếu Bên được yêu cầu cho rằng thông tin đã cung cấp kèm theo yêu cầu dẫn độ không đầy đủ để tiến hành việc dẫn độ theo hiệp định này, thì có thể yêu cầu cung cấp các thông tin bổ sung trong thời hạn do Bên được yêu cầu ấn định.

2. Nếu người bị yêu cầu dẫn độ đang bị bắt giữ và các thông tin bổ sung đã cung cấp theo Hiệp định này không đầy đủ hoặc không nhận được trong thời hạn ấn định, thì người bị bắt giữ có thể được trả tự do. Việc trả tự do cho người bị yêu cầu dẫn độ nói trên không cản trở Bên yêu cầu đưa ra yêu cầu mới về dẫn độ người đó.

3. Trong trường hợp người đó được phóng thích khỏi nơi giam giữ theo khoản 2 Điều này thì Bên được yêu cầu sẽ thông báo cho Bên yêu cầu ngay khi có thể được.

1. Trong trường hợp khẩn cấp, một Bên có thể yêu cầu bắt khẩn cấp người để dẫn độ trước khi có yêu cầu dẫn độ. Yêu cầu bắt khẩn cấp có thể được các Bên gửi qua đường ngoại giao hoặc trực tiếp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc.

2. Yêu cầu bắt khẩn cấp phải được lập bằng văn bản và gồm các nội dung sau đây:

a) Mô tả về người bị bắt để dẫn độ, kể cả các thông tin về quốc tịch của người đó;

b) Nơi người bị bắt để dẫn độ đang có mặt, nếu biết được;

c) Bản tóm tắt sự việc của vụ án, và nếu có thể, cả thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm;

d) Mô tả các luật bị vi phạm;

e) Thông báo về lệnh bắt hay lệnh tạm giữ, hoặc bản án đối với người đó;

f) Khẳng định rõ sẽ gửi văn bản yêu cầu dẫn độ đối với người bị bắt để dẫn độ.

3. Sau khi nhận được yêu cầu bắt khẩn cấp, Bên được yêu cầu sẽ tiến hành các bước cần thiết để bảo đảm việc bắt giữ người bị yêu cầu và thông báo ngay kết quả cho Bên yêu cầu.

4. Người bị bắt giữ sẽ được trả tự do nếu Bên yêu cầu không đưa ra yêu cầu dẫn độ kèm theo các tài liệu nêu tại Điều 7 trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày bắt giữ với điều kiện là việc trả tự do này không cản trở quá trình tố tụng nếu sau đó lại nhận được yêu cầu dẫn độ.

Trong trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ thông báo cho Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền của Bên được yêu cầu là người đó chấp nhận việc dẫn độ thì Bên được yêu cầu sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để tiến hành việc dẫn độ trong phạm vi pháp luật của Bên đó cho phép.

Điều 11. Nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một người

1. Trong trường hợp nhận được yêu cầu dẫn độ từ hai hay nhiều quốc gia đối với cùng một người về cùng một tội phạm hay nhiều tội phạm khác nhau, thì Bên được yêu cầu sẽ quyết định dẫn dộ người đó cho một trong các quốc gia nói trên và thông báo quyết định của mình cho các quốc gia đó.

a) Quốc tịch và nơi thường trú của người bị yêu cầu dẫn độ;

b) Các yêu cầu có được lập theo đúng quy định của Hiệp định Dẫn độ hay không;

c) Thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm;

d) Lợi ích riêng của các quốc gia yêu cầu;

e) Mức độ nghiêm trọng của tội phạm;

f) Quốc tịch của người bị hại;

g) Khả năng dẫn độ tiếp theo giữa các quốc gia yêu cầu;

h) Ngày đưa ra yêu cầu dẫn độ.

Điều 12. Chuyển giao người bị dẫn độ

1. Ngay sau khi có quyết định về yêu cầu dẫn độ, Bên được yêu cầu thông báo quyết định đó cho Bên yêu cầu qua đường ngoại giao. Nếu từ chối dẫn độ thì phải cho biết lý do và nói rõ từ chối toàn bộ hay một phần yêu cầu dẫn độ.

2. Bên được yêu cầu sẽ chuyển giao người bị dẫn độ cho cơ quan có thẩm quyền của Bên yêu cầu tại một địa điểm trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu mà hai Bên chấp thuận.

3. Bên yêu cầu sẽ đưa người bị dẫn độ ra khỏi lãnh thổ của Bên được yêu cầu trong một thời hạn hợp lý do Bên được yêu cầu ấn định, nếu hết thời hạn trên mà người đó chưa được chuyển đi, thì Bên được yêu cầu có thể trả tự do cho người đó và có thể từ chối dẫn độ đối với tội phạm tương tự.

4. Nếu có tình huống phát sinh vượt quá khả năng kiểm soát của một Bên, cản trở Bên đó chuyển giao hay tiếp nhận người bị dẫn độ, thì phải thông báo cho Bên kia biết. Trong trường hợp đó, sẽ không áp dụng các quy định nêu tại khoản 3 Điều này. Hai Bên sẽ cùng nhau thỏa thuận để đưa ra thời hạn chuyển giao hoặc tiếp nhận người bị dẫn độ phù hợp với Điều này.

Nếu người bị dẫn độ trốn tránh việc truy cứu trách nhiệm hình sự và quay trở lại lãnh thổ của Bên được yêu cầu thì Bên yêu cầu có thể đưa ra yêu cầu dẫn độ lại người đó. Trong trường hợp này cần phải gửi kèm theo các tài liệu nêu tại Điều 7.

Điều 14. Chuyển giao tài sản

Phù hợp với phạm vi và các điều kiện mà hai Bên thỏa thuận và trên cơ sở tôn trọng quyền lợi của Bên thứ ba, tất cả các tài sản do phạm tội mà có hoặc cần để làm vật chứng được tìm thấy trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu, có thể sẽ được chuyển giao theo đề nghị của Bên yêu cầu việc dẫn độ được phép thực hiện.

1. Người bị dẫn độ theo Hiệp định này có thể không bị giam giữ, xét xử hay xử phạt trên lãnh thổ của Bên yêu cầu, trừ trường hợp đối với:

a) Tội mà theo đó việc dẫn độ đã được thực hiện hoặc tội tuy có tên gọi khác nhưng cùng dựa trên các sự việc mà theo đó việc dẫn độ đã được phép tiến hành với điều kiện tội đó là tội có thể bị dẫn độ hoặc một tội nhẹ hơn;

b) Tội phạm được thực hiện sau khi đã dẫn độ người đó;

c) Tội mà cơ quan có thẩm quyền của Bên được yêu cầu đồng ý với việc giam giữ, xét xử hay xử phạt người đó;

Theo quy định của điểm này:

i. Bên được yêu cầu có thể yêu cầu cung cấp tài liệu nêu tại Điều 7;

ii. Lời khai có gía trị pháp lý của người bị dẫn độ về tội đó sẽ được gửi cho Bên được yêu cầu, nếu có;

iii. Trong thời gian yêu cầu đang được xử lý, người bị dẫn độ có thể bị Bên yêu cầu giam giữ theo thời hạn mà Bên được yêu cầu cho phép.

2. Người bị dẫn độ theo Hiệp định này không thể bị dẫn độ cho quốc gia thứ ba về tội đã thực hiện trước khi người đó bị dẫn độ trừ trường hợp Bên được yêu cầu đồng ý.

3. Khoản 1 và khoản 2 của Điều này không cản trở việc giam giữ, xét xử hay xử phạt người bị dẫn độ hoặc dẫn độ người đó đến nước thứ ba nếu:

a) Người đó rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu sau khi dẫn độ và tự nguyện quay trở lại lãnh thổ đó;

b) Người đó không rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày người đó được tự do rời đi.

Điều 16. Thông báo kết quả

1. Trong phạm vi được pháp luật của mình cho phép, việc chuyển giao người bị dẫn độ cho một trong các Bên do nước thứ ba tiến hành có quá cảnh qua lãnh thổ của Bên kia sẽ được phép thực hiện khi có văn bản yêu cầu gửi qua đường ngoại giao hoặc gửi trực tiếp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc.

2. Trong trường hợp chuyển giao bằng đường hàng không và không hạ cánh trên lãnh thổ của Bên quá cảnh, thì không yêu cầu phải xin phép quá cảnh. Nếu tiến hành việc hạ cánh không dự định trước trên lãnh thổ của Bên quá cảnh, thì Bên đó có thể yêu cầu Bên kia gửi yêu cầu xin quá cảnh theo quy định tại khoản 1 Điều này.

1. Bên được yêu cầu sẽ chịu mọi chi phí về các thủ tục trong phạm vi thẩm quyền của mình phát sinh từ yêu cầu dẫn độ.

3. Bên yêu cầu sẽ chịu các chi phí phát sinh trong việc chuyển người bị dẫn độ từ lãnh thổ của Bên được yêu cầu và chi phí quá cảnh.

2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc có thể cùng nhau trao đổi trực tiếp về quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể và duy trì, thúc đẩy các thủ tục để thực hiện Hiệp định này.

Điều 20. Hiệu lực và chấm dứt hiệu lực của hiệp định

1. Hiệp định này phải được phê chuẩn và bắt đầu có hiệu lực vào thời điểm trao đổi các văn kiện phê chuẩn.

2. Hiệp định này áp dụng đối với các tội phạm được thực hiện trước hoặc sau ngày có Hiệp định này có hiệu lực.

3. Mỗi Bên có thể chấm dứt Hiệp định này bằng việc gửi thông báo bằng văn bản cho nhau vào bất kỳ thời điểm nào. Trong trường hợp đó, Hiệp định sẽ hết hiệu lực sau sáu (6) tháng kể từ ngày gửi thông báo đó.

Hiệp định này được làm thành hai bản tại Seoul ngày 15 tháng 9 năm 2003 bằng tiếng Việt, tiếng Hàn Quốc và tiếng Anh, các văn bản có giá trị như nhau. Trong trường hợp nảy sinh bất đồng trong việc giải thích Hiệp định này, văn bản tiếng Anh sẽ được dùng làm cơ sở./.

Bộ Công An Đề Xuất Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Sửa Đổi Về Luật Di Trú Mỹ

Hội Thảo Trực Tuyến “đầu Tư Mỹ Eb5

Những Thay Đổi Trong Luật Di Trú Mỹ Ở Gia Kiệm

Thay Đổi Luật Di Trú

Việt Nam Và Trung Quốc Tập Trung Thúc Đẩy Cho Hiệp Định Dẫn Độ

Đàm Phán Dự Thảo Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Hai Nước Việt Nam Và Trung Quốc

Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Quốc Tế Và Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam

Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong: Nguồn Gốc, Tranh Cãi Và Thách Thức

Trung Quốc Và Phương Tây Đối Đầu Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong

Dự Luật Dẫn Độ Nghĩa Là Gì

Thúc đẩy Hiệp định dẫn độ Việt Nam – Trung Quốc sớm có hiệu lực; Hoàn thành việc lập quy hoạch xây dựng dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; Khuyến khích các doanh nghiệp tiêu biểu cho công nghệ tiên tiến và trình độ phát triển của Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam; Sẵn sàng mở rộng nhập khẩu từ Việt Nam, ưu tiên triển khai công tác đánh giá tiêu chuẩn gia nhập thị trường Trung Quốc đối với sữa và sản phẩm từ sữa của Việt Nam…

Đó là những nội dung cụ thể được thống nhất trong tuyên bố chung của lãnh đạo hai nước sau chuyến thăm cấp nhà nước đến Việt Nam của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình.

Trong tuyên bố chung khẳng định: “Hai bên cho rằng hai nước Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng và đối tác hợp tác quan trọng của nhau, đều đang trong giai đoạn then chốt của cải cách phát triển, sự phát triển của nước này là cơ hội của nước kia”.

Hiệp định dẫn độ Việt Nam – Trung Quốc sớm có hiệu lực

Tuyên bố chung khẳng định hai nước sẽ “Tăng cường hợp tác về quốc phòng, an ninh và thực thi pháp luật, thực hiện tốt Tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng đến năm 2025, sử dụng hiệu quả đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng, tổ chức tốt giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, đối thoại chiến lược quốc phòng”.

Đồng thời sẽ tổ chức tốt các hoạt động mang tính cơ chế như tuần tra liên hợp ở vịnh Bắc Bộ giữa hải quân, cảnh sát biển hai nước và tàu thuyền thăm lẫn nhau, tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ, chia sẻ kinh nghiệm trong các lĩnh vực công tác Đảng, công tác chính trị, y học, gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc giữa hai quân đội.

Phát huy tốt vai trò của các cơ chế như hội nghị hợp tác phòng chống tội phạm, đối thoại an ninh chiến lược; tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như chống khủng bố, ma túy, tiền giả, lừa đảo qua mạng, quản lý xuất nhập cảnh, quản lý biên giới, an ninh mạng; triển khai giao lưu kinh nghiệm trong các lĩnh vực như bảo vệ an ninh trong nước, phối hợp truy bắt tội phạm bỏ trốn; thúc đẩy Hiệp định dẫn độ Việt Nam – Trung Quốc sớm có hiệu lực.

Tuyên bố chung còn nêu rõ: Trung Quốc sẵn sàng mở rộng nhập khẩu từ Việt Nam, ưu tiên triển khai công tác đánh giá tiêu chuẩn gia nhập thị trường Trung Quốc đối với sữa và sản phẩm từ sữa của Việt Nam; đẩy nhanh tiến độ hoàn tất các thủ tục pháp lý, mở cửa thị trường đối với một số loại hoa quả của Việt Nam; triển khai hợp tác trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, trong đó có gạo, sắn.

Về vấn đề vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ

Hai bên đi sâu trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhất trí tiếp tục tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc”; sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được.

Hai bên nhất trí làm tốt công việc tiếp theo sau khi khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này; tiếp tục thúc đẩy công việc của nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thỏa thuận. Hai bên đánh giá cao hoạt động thả giống thủy sinh và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vịnh Bắc Bộ.

Hai bên nhất trí tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), trên cơ sở hiệp thương thống nhất, sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

Từ Vụ Bắt Giữ 380 Người Trung Quốc Đánh Bạc: Trường Hợp Nào Sẽ Bị Dẫn Độ?

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Pháp Là Cơ Sở Phòng Chống Tội Phạm Bỏ Trốn

Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Luật Dẫn Độ : Trung Quốc Đang Đẩy Hồng Kông Đến Bờ Vực Thẳm

Dự Luật Dẫn Độ Tại Hongkong

🌟 Home
🌟 Top