Luật Dẫn Độ Quốc Tế / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

--- Bài mới hơn ---

  • Toàn Văn Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Vương Quốc Cam
  • Hong Kong Chính Thức Rút Dự Luật Dẫn Độ, Bắc Kinh Bác Tin Thay Bà Carrie Lam
  • Hồng Kông Sửa Đổi Luật, Cho Phép Dẫn Độ Sang Trung Quốc
  • Hoàn Thiện Chế Định Hợp Tác Quốc Tế Trong Tố Tụng Hình Sự Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Luật Hôn Nhân & Gia Đình 2014
  • Vấn đề dẫn độ tội phạm luôn là đối tượng quan tâm của cộng đồng quốc tế trên bình diện hợp tác toàn cầu do tầm quan trọng của việc giải quyết có hiệu quả vấn đề hết sức nhạy cảm này trong quan hệ quốc tế.

    Dẫn độ tội phạm là một hình thức của tương trợ tư pháp, là một trong các quyền của quốc gia được yêu cầu dẫn độ.

    Dẫn

    độ là một hình thức hợp tác tương trợ tư pháp giữa các nước. Theo đó nước được

    yêu cầu sẽ bắt giữ và chuyển giao người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc người

    đã bị Tòa án của nước yêu cầu kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật cho

    nước yêu cầu để nước này truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt.

    (Theo khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007)

    Thứ hai, phân tích khái niệm dẫn độ tội phạm

    Dẫn độ tội phạm là một trong

    những chế định cổ điển của luật quốc tế trong hợp tác đấu tranh chống tội phạm,

    đổng thời thủ tục tố tụng về dẫn độ rất phức tạp và kéo dài về mặt thời gian. Dẫn

    độ tội phạm luôn đụng chạm tới chù quyền quốc gia và các quyền lợi quan trọng

    khác của quốc gia.Vì thế, cộng đồng quốc tế hết sức thận trong khi đề cập tới vấn

    đề này trong thực tiễn quan hệ quốc tế.

    Dưới sự bảo trợ của Liên hợp

    quốc, nhiều điều ước quốc tế chuyên biệt về chống tội phạm có tính chất quốc tế

    như: khủng bố, buôn bán và vận chuyển ma túy, buôn bán trẻ em và phụ nữ, khủng

    bố hàng không quốc tê’ v.v. đã được thông qua và đa số đã có hiệu lực thi hành.

    Trong các điều ưởc quốc lế loại này có ghi nhận mộl loạt các quy định quan trọng

    về dẫn độ tội phạm thuộc phạm vi điều chỉnh của các điều ước. Nhìn chung các

    quy định về vấn đề này có nội dung điều chinh tương đối giống nhau về điều kiện,

    cơ sở pháp lý, nguyên tắc dẫn độ… Bên cạnh đó, Đại hội đồng Liên hợp quốc còn

    thông qua điều ước quốc tế mầu về dẫn độ lội phạm vào nãm 1990 tại Hội nghị

    Liên hợp quốc về ngăn ngừa tội phạm tại La Habana (Cuba).

    Ngoài các điều ước quốc tế

    chuyên biệt về chống tội phạm, trong những thập niên gần đây, dưới sự bảo trợ của

    Liên hợp quốc, một loạt các điều ước quốc tế đa phương toàn cầu vể quyền con người

    đã được ký kết. Trong nội dung điều chỉnh của các điều ước này, vấn đề dẫn độ tội

    phạm đã được đề cập và giải quyết với yêu cầu phải tuân thủ các quy phạm của luật

    quốc tế về quyền con người. Khuynh hướng được thể hiên qua nội dung các điều ước

    nêu trên là hạn chế khả năng dẫn độ trong các trường hợp cụ thể, ví dụ điều khoản

    13 của Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 và Điều 3 của Công ước chống

    tra tấn và các hành vi dã man, phi nhân tính khác chống lại phẩm giá con người

    năm 1985.

    Theo khoa học luật hình sự quốc

    tế, dẫn độ tội phạm là hành vi trợ giúp pháp lý được thỏa thuận giữa các quốc

    trên các cơ sở pháp lý quốc tế được thể hiện trong quá trình quốc gia được yêu

    cầu dẫn độ chuyển giạo thể nhân dang hiện diện trên lãnh thổ nước mình cho quốc

    gia yêu cầu nhằm mục đích tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành

    phán quyết hình sự đã có hiệu lực pháp luật đối với thể nhân này.

    Dẫn độ tội phạm là một trong

    các nội dung chủ yếu của hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống các hoạt động tội

    phạm đang ngày càng gia tăng. Đây là hình thức giúp đỡ pháp lý trong việc thực

    độ hoàn toàn thuộc thẩm quyền cùa quốc gia, chỉ có quốc gia có quyền ký kết cấc

    điều ước quốc tế, thông qua các đạo luật của mình và tiến hành trong thực tế

    các hoạt dộng dẫn độ tội phạm. Đây là hậu quả tất yếu của việc thực hiện chủ

    quyền quốc gia trên phạm vi lãnh thổ xác định.

    Thứ ba, quan điểm khác về dẫn độ tội phạm

    Hiện nay trong luật hình sự

    quốc tế đều khẳng định và công nhận dẫn độ tội phạm là quyền chứ không phải là

    nghĩa vụ cùa quốc gia. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tôn trọng

    chù quyền quốc gia cùa luật quốc tế và được khẳng định trong thực tiễn quốc tế.

    Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, bất kỳ nước nào cũng có quyền giải quyết các vấn

    đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các thể nhân đang hiện diện trên lãnh

    thổ nước mình, ngay cả trong trường hợp có điều ước quốc tế thì dẫn độ tội phạm

    cũng chỉ được tiến hành với các điều kiện cụ thể được quy định.

    Cần lưu ý rằng bản thân dẫn

    độ tội phạm không phải là sự trừng phạt mà chĩ là biện pháp tạo điều kiện áp dụng

    sự trừng phạt bằng pháp luật trong tương lai. Nhận định này hoàn toàn có cơ sở

    thuyết phục khi thực tiễn đã chứng minh ở phạm vi nhất định dẫn độ tội phạm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Thống Đài Loan Lên Tiếng Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong.
  • Vụ Án Mạnh Vãn Châu Là Nguyên Nhân Chính Của Dự Luật Dẫn Độ Tại Hồng Kông?
  • Dẫn Độ Tội Phạm
  • Phái Đoàn Hoa Kỳ Tại Việt Nam Và Bộ Công An Phối Hợp Dẫn Độ Hai Tội Phạm Bỏ Trốn Quốc Tịch Hoa Kỳ
  • Dẫn Độ Hay Tiếp Tay Dung Túng Tội Phạm Trung Quốc?
  • Khái Quát Về Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẩm Quyền Xét Xử Và Việc Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế
  • Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Dẫn Độ Trong Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam
  • ‘cách Mạng Dù’ Lại Bùng Nổ Ở Hồng Kông, Chống Luật Dẫn Độ Về Trung Quốc
  • Sự Thật Về Những Tin Đồn Xung Quanh “hiệp Định Dẫn Độ Việt
  • Trung Quốc Cảnh Báo Người Biểu Tình Sau Khi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ
  • Dẫn độ là một nội dung quan trong trong tương trợ tư pháp nói riêng và luật hình sự quốc tế nói chung. Bài viết này trình bày một số nét cơ bản của dẫn độ.

    Dẫn độ được nhiều quốc gia kí kết và áp dụng thông qua các điều ước quốc tế hoặc hiệp định tương trợ tư pháp.

    Dẫn độ là một hình thức hợp tác tương trợ tư pháp giữa các nước. Theo đó nước được yêu cầu sẽ bắt giữ và chuyển giao người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc người đã bị Tòa án của nước yêu cầu kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu để nước này truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt. (Theo khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007)

    Dẫn độ được thực hiện nhằm mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người bị dẫn độ do đã phạm tội hình sự. các hoạt động này chỉ có thể thực hiện sau khi thực hiện việc dẫn độ.

    – Pháp luật trong nước của quốc gia.

    – Các điều ước quốc tế song phương về trương trợ tư pháp.

    – Các điều ước quốc tế đa phương về chống các loại tội phạm có tính chất quốc tế.

    – Nguyên tắc định danh tội phạm kép.

    – Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình.

    – Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị.

    – Không dần độ nếu án tử hình sẽ được áp dụng theo luật của quốc gia yêu cầu dẫn độ.

    (iii) Phân biệt đẫn độ với chuyển giao tội phạm đã được kết án

    Khuyến nghị của công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mỹ Công Khai Ủng Hộ Biểu Tình Hong Kong, Lên Án Sửa Đổi Dự Luật Dẫn Độ
  • Mỹ Ủng Hộ Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ
  • Hồng Kông: Hơn 1 Triệu Người Dân Xuống Đường Biểu Tình Phản Đối Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc
  • Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ: Trung Quốc Phản Ứng Thế Nào?
  • Nghị Viện Châu Âu Kêu Gọi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ
  • Vụ Án Trịnh Xuân Thanh Và Việc Dẫn Độ Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Mẫu Giấy Tờ Trong Công Tác Dẫn Độ, Chuyển Giao Người Đang Chấp Hành Án Phạt Tù
  • Hoàn Thuế Đối Với Các Trường Hợp Nộp Thừa Tiền Thuế
  • Mẫu Đơn Xin Rút Hồ Sơ Hoàn Thuế
  • Điều Kiện Và Thủ Tục Được Hoàn Thuế Giá Trị Gia Tăng
  • Làm Rõ Hồ Sơ Mời Thầu, Hồ Sơ Yêu Cầu
  • (2) Các điều ước quốc tế song phương và đa phương về tương trợ tư pháp (HĐTTTP) về hình sự và dẫn độ. Loại ĐƯQT này cũng được ký kết khá nhiều như HĐTTTP về hình sự và dẫn độ giữa Vương quốc Bỉ và Cộng hòa Liên bang Đức năm 1958; HĐTTTP về hình sự và dẫn độ giữa Vương quốc Bỉ và Ma Rốc năm 1959; Hiệp ước đa phương về TTTP và dẫn độ giữa Vương quốc Bỉ, Vương quốc Hà Lan và Luxembourg năm 1962 (Hiệp ước Benelux 1962)…

    (3) Các điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề về dân sự và hình sự có nội dung dẫn độ như: HĐTTTP giữa Việt Nam với CHDC Đức năm 1980 (đã hết hiệu lực), Liên Xô năm 1981 (đã hết hiệu lực), Tiệp Khắc năm 1982 (Séc và Slovakia kế thừa), Cu Ba năm 1984, Hunggari năm 1985, Bungari năm 1986, Ba Lan năm 1993, Lào năm 1998, Liên bang Nga năm 1998, Ucraina năm 2000, Belarusia năm 2000, Mông Cổ năm 2000, CHDCND Triều Tiên năm 2002.

    (4) Các điều ước quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm có quy định nội dung dẫn độ như: 03 Công ước về kiểm soát ma túy (1961, 1971, 1988); 03 Công ước về đấu tranh phòng, chống khủng bố hàng không quốc tế (Công ước Tokyo 1963, Công ước La Haye 1970, Công ước Montréal 1971; Công ước của Châu Âu về trừng trị khủng bố năm 1977; Công ước của ASEAN về chống khủng bố năm 2007…

    Tuy nhiên, các nước cũng có thể hợp tác dẫn độ cho nhau bằng cách vận dụng nguyên tắc “có đi có lại” trong trường hợp hai nước không có cơ sở pháp lý quốc tế để dẫn độ.

    Để thực hiện việc dẫn độ cho nước ngoài, các nước thường ban hành Luật Dẫn độ như Bỉ, Pháp, Thái Lan, Nhật Bản, Israel, Thụy Điển, Irlande, Shíp, Phần Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Canada, Úc, Liên Hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len, Singapo, Philippines, Malaysia, Trung Quốc…) hoặc quy định việc dẫn độ trong Luật Tố tụng hình sự như Liên Bang Nga, Italia, Cộng hòa Séc, Bungari, Lào…, hoặc quy định định việc dẫn độ Luật Tương trợ tư pháp như Thụy Sỹ, Hunggari, Liên bang Đức… Ở Việt Nam, dẫn độ được quy định trong BLTTHS (năm 2003, năm 2022) và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Pháp luật quốc gia về dẫn độ sẽ quy định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục, thẩm quyền và cơ chế phối hợp thực hiện việc dẫn độ cho nước ngoài.

    Về thủ tục, việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy trình trình gồm 3 bước.

    Bước 1: Xây dựng và chuyển giao văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ. Căn cứ ĐƯQT và pháp luật quốc gia về dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu sẽ chuyển giao văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho nước được yêu cầu. Căn cứ vào văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu sẽ thực hiện các thủ tục pháp lý để dẫn độ theo quy định của ĐƯQT và pháp luật quốc gia. Trong trường hợp khẩn cấp, nước yêu cầu cũng có thể yêu cầu nước được yêu cầu bắt khẩn cấp người bị yêu cầu dẫn độ trước khi chuyển giao văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức.

    Văn bản yêu cầu dẫn độ phải bao gồm các thông tin cụ thể về ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản; lý do yêu cầu dẫn độ; tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu dẫn độ; tên, địa chỉ của cơ quan được yêu cầu dẫn độ; họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, nơi cư trú và các thông tin cần thiết khác về người bị yêu cầu dẫn độ và các tài liệu khác như văn bản tóm tắt vụ án; văn bản quy định về các yếu tố cấu thành tội phạm, hình phạt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với tội phạm đó.

    Nếu yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải kèm theo bản sao lệnh bắt hoặc giam giữ của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ; văn bản xác nhận người bị dẫn độ là người được nêu trong lệnh bắt hay giam giữ; văn bản về cấu thành tội phạm bị yêu cầu dẫn độ. Nếu yêu cầu dẫn độ để thi hành án phải kèm theo bản sao bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử; văn bản xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ chính là người đã bị kết án. Hồ sơ, văn bản yêu cầu dẫn độ phải được dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu hoặc ngôn ngữ khác được nước đó chấp nhận.

    Các ĐƯQT và pháp luật quốc gia về dẫn độ thường quy định việc chuyển giao, tiếp nhận văn bản, hồ sơ yêu cầu dẫn độ sẽ được thực hiện bởi các cơ quan trung ương của hai bên như Bộ Công an (Việt Nam); Bộ Tư Pháp (Cộng hòa Séc, Xlovakia, Cu Ba, Hunggari, Ba Lan, Mông Cổ, Liên bang Nga… ); Viện Kiểm sát trung ương (Bungari, Triều Tiên), hoặc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (Lào).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghi Phạm Gi.ế.t Người Bỏ X.ác Vào Vali Có Bị Dẫn Độ Về Hàn Quốc?
  • Phiếu Yêu Cầu Sửa Chữa Ô Tô
  • Việc Giải Thích, Sửa Chữa Bản Án, Quyết Định Hình Sự Của Tòa Án
  • Mẫu Thông Báo Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Thuê Nhà
  • Trao Đổi Về Thời Điểm Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Dịch Vụ
  • Thẩm Quyền Xét Xử Và Việc Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Dẫn Độ Trong Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam
  • ‘cách Mạng Dù’ Lại Bùng Nổ Ở Hồng Kông, Chống Luật Dẫn Độ Về Trung Quốc
  • Sự Thật Về Những Tin Đồn Xung Quanh “hiệp Định Dẫn Độ Việt
  • Trung Quốc Cảnh Báo Người Biểu Tình Sau Khi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ
  • Bàn Về “hiệp Định Dẫn Độ Việt
  • Luật hình sự quốc tế quy định thẩm quyền xét xử:

    Trong Luật hình sự quốc tế, việc quy định thẩm quyền xét xử đối với các hành vi phạm tội đã được quy định tương đối cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như: tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và cộng đồng quốc tế, phạm vi gây nguy hiểm cho một hay nhiều quốc gia hay toàn cầu; v.v…

    Tội phạm khi thực hiện gây nguy hại cho xã hội, cho hòa bình và an ninh của nhân loại và xâm phạm quyền con người thì thường được xét xử theo các cấp độ khác nhau. Đối với tội phạm quốc tế, việc xét xử được tiến hành tại Tòa án quốc tế như (Tòa án quốc tế Nurrumbe, Tôkyô, Tòa án hình sự quốc tế về Ruanđa và Nam Tư cũ, Tòa án hình sự quốc tế theo Quy chế Rome năm 1998) vì tính nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm quốc tế gây ra cho cộng đồng quốc tế.

    Về cơ bản, như đã đề cập tội phạm quốc tế có thể bao gồm các nhóm chính sau: Tội phạm chiến tranh, tội diệt chủng, tội phạm chống loài ngư­ời và tội xâm phạm hòa bình. Tất cả các tội phạm quốc tế này đã được cộng đồng quốc tế liệt kê các hành vi phạm tội cụ thể, đồng thời chúng đều đi ngược lại các chuẩn mực chung của pháp luật, quy tắc chung của đời sống pháp lý quốc tế, cũng như nguyên tắc nhân đạo trong luật quốc tế, xâm phạm đến các chuẩn mực hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và Nhà nước, đặc biệt các tội phạm này đã xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, quyền dân tộc và quyền con người. Chính vì lẽ đó, nhân loại và cộng đồng quốc tế đã đánh giá cao vai trò của các Tòa án có thẩm quyền xét xử các loại tội phạm này và gọi chung là Tòa án hình sự quốc tế. Về thẩm quyền xét xử/tài phán của Tòa án hình sự quốc tế (gọi tắt là ICC) theo Quy chế Rome năm 1998 được đề cập với các quy định như sau:

    Thứ nhất,

    Các tội phạm của thẩm quyền xét xử (tài phán) của ICC bao gồm: tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, tội chống loài người và tội xâm lược. Đây là các tội phạm gây sự lo ngại và nguy hiểm nhất cho cộng đồng quốc tế. Quy chế Rome cũng đã ghi nhận định nghĩa và quy định cụ thể các yếu tố cụ thể của những loại tội phạm này, đồng thời ghi nhận các hành vi phạm tội cụ thể (ví dụ: quy định 05 hành vi cấu thành tội diệt chủng, 11 hành vi cấu thành tội chống loài người, 50 hành vi cấu thành tội phạm chiến tranh; v.v…).

    Thứ hai,

    Điều 12 Quy chế quy định điều kiện thực hiện quyền tài phán, thẩm quyền theo lãnh thổ và quyền tài phán đương nhiên. Theo đó, quốc gia trở thành thành viên của Quy chế này thì cũng chấp nhận quyền tài phán của Tòa án đối với các tội phạm nêu tại Điều 5. Trong trường hợp quy định tại khoản a hoặc c Điều 13, Tòa án có thể thực hiện quyền tài phán nếu một hoặc nhiều quốc gia sau là thành viên của Quy chế này hoặc đã chấp nhận quyền tài phán của Tòa án theo quy định tại khoản 3: 1) Quốc gia mà trên lãnh thổ có tội phạm xảy ra hoặc quốc gia nơi đăng ký tàu thuyền hoặc tàu bay, nếu tội phạm được thực hiện trên tàu thuyền hay tàu bay; 2) Quốc gia mà người bị buộc tội là công dân. Như vậy, thẩm quyền theo lãnh thổ của ICC được Quy chế quy định một cách tương đối mở rộng, phục vụ Tòa án thực hiện tốt quyền tài phán của mình.

    Thứ ba,

    Bên cạnh đó, để xác định việc một quốc gia không có khả năng điều tra, truy tố trong một trường hợp cụ thể, Tòa án sẽ xem xét có phải do hệ thống tư pháp quốc gia bị sụp đổ hoàn toàn hay phần lớn hoặc do không có hệ thống tư pháp mà quốc gia đó không thể bắt giữ được người bị buộc tội hoặc thu thập được các chứng cứ và lời khai cần thiết hoặc không thể tiến hành tố tụng được hay không. Như vậy, việc xác định đúng quyền tài phán của ICC và các điều kiện thực hiện các quyền đó chính là bảo đảm sự “phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, tôn trọng chủ quyền quốc gia… bảo đảm cho ICC hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình. Điều đó cũng hạn chế được nguy cơ sử dụng ICC làm công cụ của quốc gia, tổ chức hoặc cá nhân vì mục đích chính trị

    Khác với tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế lại không phải là đối tượng trực tiếp được giải quyết tại Tòa án hình sự quốc tế, mà lại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án trong luật quốc gia, đồng thời các phán quyết được thi hành theo pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, các yêu cầu bắt buộc là khi quốc gia tiến hành xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, các điều ước, hiệp ước quốc tế mà các quốc gia đã tham gia ký kết. Nội dung và các nguyên tắc xác định thẩm quyền tài phán đối với các tội phạm có tính chất quốc tế đã được các quốc gia thành viên thống nhất và thông qua. Mỗi một lĩnh vực tương ứng đều có các điều ước, hiệp ước quốc tế ký kết giữa các thành viên để ngăn chặnvà xử lý các hành vi phạm tội. Các Công ước đã liệt kê ở trên là minh chứng cho điều này và thẩm quyền tài phán cũng đã được liệt kê cụ thể trong các Công ước tương ứng đó.

    Tóm lại, hiện nay để có cơ sở pháp lý chặt chẽ và đầy đủ xử lý các tội phạm có tính chất quốc tế, cũng như nâng cao sự hợp tác của cộng đồng quốc tế trong việc truy cứu và đưa ra xử lý các hành vi phạm tội đòi hỏi các quốc gia cần soạn thảo và tham gia ban hành, ký kết nhiều Công ước, hiệp ước để có cơ sở pháp lý bổ sung cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự và thiết lập quyền tài phán của quốc gia, đồng thời còn thể hiện nội dung: việc giữ gìn, tôn trọng và bảo vệ hòa bình, an ninh nhân loại, chủ quyền quốc gia và các quyền con người trước sự xâm hại và đe dọa xâm hại của tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế là trách nhiệm rất nặng nề và cao cả của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới.

    Luật hình sự quốc tế quy định hoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm để xử lý và bảo vệ quyền con người.

    Trong các nguyên tắc dẫn độ tội phạm, bên cạnh nguyên tắc có đi có lại để thể hiện sự tôn trọng và bình đẳng chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế, trong việc cùng nhau xử lý tội phạm, không có sự bao che, bảo kê cho tội phạm. Ngoài ra, cũng còn có nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình khi một nước yêu cầu dẫn độ công dân nước họ để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án.

    Đây cũng chính là sự thể hiện quốc gia bảo vệ quyền con người cho công dân nước mình, song vẫn phải chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền trong quốc gia để tiến hành giải quyết vụ việc đó theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự nói chung. Song, nguyên tắc này lại không được áp dụng trong trường hợp công dân của nước đó phạm các tội phạm quốc tế (tội phạm chiến tranh, chống loài người, diệt chủng, xâm lược) thì các quốc gia mà công dân là thành viên phải dẫn độ công dân cho nước ngoài xét xử, xử lý các tên phạm các tội ác quốc tế, bảo vệ sự bình yên của cộng đồng thế giới, chống lại các hành động tội ác và không khoan nhượng trước bất kỳ cá nhân nào.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Về Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế
  • Mỹ Công Khai Ủng Hộ Biểu Tình Hong Kong, Lên Án Sửa Đổi Dự Luật Dẫn Độ
  • Mỹ Ủng Hộ Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ
  • Hồng Kông: Hơn 1 Triệu Người Dân Xuống Đường Biểu Tình Phản Đối Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc
  • Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ: Trung Quốc Phản Ứng Thế Nào?
  • Trung Quốc Vừa Tiết Lộ : Luật Dẫn Độ Trung Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Luật Dẫn Độ Nhật Bản
  • Dẫn Độ Là Gì 2022? Trường Hợp Nào Được Dẫn Độ?
  • Dự Luật Dẫn Độ Gây Tranh Cãi Của Hong Kong Chính Thức ‘chết’
  • Vì Sao Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ?
  • Toàn Cảnh Cuộc Biểu Tình Của Hàng Trăm Ngàn Người Hong Kong Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc
  • Hồng Kông biểu tình chống dự luật dẵn độ sang Trung quốc Đại lục từ 3 tháng nay

    Luật dẫn độ Trung quốc – Việt Namđã ký kết từ hơn 3 năm nay .

    Ngày 7/4 năm 2022, Trung quốc và Việt Nam đã ký kết luật dẫn độ mà dân không hề được thông báo. Hôm 31 tháng 8 năm 2022, Tân hoa xã của Trung cộnvừa tiết lộ.

    Bài báo của Tân Hoa xã :

    31/8/2019 Cơ quan lập pháp hàng đầu của Trung Quốc hôm thứ Hai đã phê chuẩn một hiệp ước dẫn độ Trung Quốc-Việt Nam.

    Hiệp ước dẫn độ gồm 22 điều khoản bao gồm các vấn đề như nghĩa vụ dẫn độ, điều kiện dẫn độ tội phạm, những lý do có thể sử dụng để từ chối dẫn độ và giải quyết tranh chấp.

    Được ủy quyền bởi Hội đồng Nhà nước, nhóm đàm phán Trung Quốc gồm các quan chức từ nhiều bộ khác nhau đã hội đàm với phía Việt Nam vào tháng 10 năm 2013. Hai bên đã ký hiệp ước vào ngày 7 tháng 4 năm 2022 tại Bắc Kinh.

    Hiệp ước đã được đệ trình vào ngày 22 tháng 8 tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nhân dân Quốc gia, cơ quan lập pháp hàng đầu, để xem xét tại phiên họp hai tháng một lần.

    Nguyên văn bài báo Tân Hoa Xã tiếng Anh :

    August 31/2019 China’s top legislature on Monday approved a China-Vietnam extradition treaty.

    The 22-article extradition treaty covers issues such as extradition obligations, offenses eligible for extradition, reasons that can and should be used to refuse extradition, and the settlement of disputes.

    Authorized by the State Council, the Chinese negotiation team was made up of officials from various departments and started talks with the Vietnamese side in October 2013. The two sides signed the treaty on April 7, 2022 in Beijing.

    The treaty was submitted on Aug. 22 to the Standing Committee of the National People’s Congress, the top legislature, for review at its ongoing bimonthly session.

    Tại Hồng Kông, chỉ mới là dự luật dẫn độ, dân Hồng Kông đã biểu tình phản đối từ 3 tháng nay. Còn ở Việt Nam, chính quyền đã theo lệnh Trung cộng âm thầm ký kết Hiệp định dẫn độ, không thèm thông báo với dân, không cần biểu quyết của Quốc hội. Trường hợp dấu diếm nhân dân Việt Nam đã xẩy ra nhiều lần như Hiệp định Phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1999, Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 vv…

    Theo luật dẫn độ, những người Tàu phạm tội ở Việt Nam, chinh quyền CSVN không có quyền xử và phải dẫn độ sang Trung quốc. Ngay những gián điệp Tàu như tướng Công An Trương Giang Long đã tố cáo ( Xin cem Video Pháp, Anh, Việt :

    nếu bắt được, CSVN cũng không có quyền xử những gián điệp này, phải trả cho Trung quốc.

    và bài viết của báo Tiếng Dân :

    https://baotiengdan.com/2019/08/30/trung-quoc-phe-chuan-hiep-dinh-dan-do-voi-viet-nam-nhung-dan-viet-nam-khong-ai-biet/

    Nguyễn Đình Nhân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Phải Việt Nam Đã “khước Từ Một Phần Chủ Quyền Quốc Gia” Khi Thi Hành Luật Dẫn Độ Việt
  • Ela: Hiệp Hội Luật Sư Dẫn Độ
  • Luật An Ninh Quốc Gia Cho Phép Dẫn Độ Nghi Phạm Từ Hồng Kông Sang Trung Quốc
  • Dự Luật Dẫn Độ Của Hong Kong Là Gì?
  • Tại Sao Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông Lại Kích Hoạt Biểu Tình?
  • Đề Tài: Chế Định Dẫn Độ Trong Hợp Tác Quốc Tế Theo Pháp Luật, Hot

    --- Bài mới hơn ---

  • Dẫn Độ Tội Phạm Là Gì?
  • Khi Nào Thì Được Dẫn Độ Tội Phạm?
  • Dẫn Độ Tội Phạm Được Quy Định Thế Nào?
  • Các Nguyên Tắc Của Dẫn Độ Tội Phạm
  • Hàng Ngàn Người Hong Kong Tràn Xuống Đường Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ, Cảnh Sát Phun Vòi Rồng Trấn Áp Người Quá Khích
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành luật: Chế định dẫn độ trong hợp tác quốc tế theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, cho các bạn tham khảo

    1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ LY CHÕ §ÞNH DÉN §é TRONG HîP T¸C QUèC TÕ THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2022
    2. 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ LY CHÕ §ÞNH DÉN §é TRONG HîP T¸C QUèC TÕ THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ HÀ NỘI – 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Ly
    4. 5. 2.2.1. Tình hình ký kết các hiệp định và quy định của pháp luật trong nước về dẫn độ……………………………………………………………………………………..44 2.2.2. Những nội dung về dẫn độ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam………..49 Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DẪN ĐỘ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM…….87 3.1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẪN ĐỘ Ở VIỆT NAM ……………………87 3.1.1. Tình hình thực hiện các yêu cầu dẫn độ…………………………………………….87 3.1.2. Nguyên nhân hạn chế hiệu quả của hoạt động dẫn độ ở Việt Nam…………90 3.2. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ…………………………………..94 3.2.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng chế định dẫn độ …………………………………………………………………….94 3.2.2. Hoàn thiện pháp luật về dẫn độ ……………………………………………………….99 3.2.3. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động dẫn độ ……………………105 KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………..109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………….111
    5. 6. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự ĐƯQT: Điều ước quốc tế TAND: Tòa án nhân dân TNHS: Trách nhiệm hình sự TTHS: Tố tụng hình sự TTTP: Tương trợ tư pháp VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
    6. 7. DANH MỤC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 3.1. Thống kê yêu cầu dẫn độ tội phạm ở Việt Nam từ 01/07/2008 đến 30/06/2014 88
    7. 13. 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ TRONG HỢP TÁC QUỐC TẾ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1. KHÁI NIỆM “DẪN ĐỘ” VÀ “CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ” 1.1.1. Sự ra đời và khái niệm dẫn độ 1.1.1.1. Sự ra đời của dẫn độ Dẫn độ được hình thành và phát triển cùng với luật quốc tế, là một bộ phận của Luật hình sự quốc tế, nó được ra đời khi có nhu cầu trao đổi về tội phạm giữa các quốc gia thông qua một thỏa ước quốc tế. Các nghiên cứu cho rằng, thời cổ đại qui chế về dẫn độ đã ra đời, khi người nước ngoài phạm tội chống lại công dân nước ngoài ở quốc gia sở tại, nơi người phạm tội cư trú. Trong thời kỳ này, đã xuất hiện các điều ước quốc tế giữa một số quốc gia về dẫn độ, chẳng hạn: Năm 1296 trước công nguyên, điều ước quốc tế về dẫn độ ở vùng Ai Cập cổ đại có nêu rõ rằng: Nếu như một ai đó chạy khỏi Ai Cập và tới quốc gia Khettôv, thì vua Khettôv sẽ không bắt giữ anh ta, mà bắt anh ta quay trở lại Ai Cập. Đặc điểm của điều ước quốc tế này thể hiện ở chỗ, vấn đề không phải chỉ là các tội phạm và thời kỳ đó, chế định dẫn độ còn đề cập tới cả người nô lệ da trắng, đặc biệt là ở Hy Lạp và đế chế La Mã. Đồng thời, có các điều ước quốc tế về dẫn độ giữa một số quốc gia thành phố của Hy Lạp . Như vậy, dẫn độ ra đời khá sớm, từ thời kỳ cổ đại chứ không phải cho đến thời kỳ hiện đại như một số học giả đưa ra. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng qui chế về dẫn độ thời kỳ cổ đại chưa có đầy đủ các nội hàm và phạm vi như ngày nay chúng ta quan niệm. Trải qua quá trình lịch sử, sự phát triển của qui chế về dẫn độ gắn liền với sự phát triển của các quan hệ quốc tế và sự hợp tác trong đấu tranh xử lý tội phạm của các quốc gia trên thế giới. “Nhiều nhà chức trách ở Pháp và Mỹ đã viết rằng trước thế kỷ XIX, sự dẫn độ với nghĩa như thời hiện đại không tồn tại” . Trong thời gian ấy, pháp luật về dẫn độ tội phạm có hai mục đích: Một là công cụ hợp tác của các quốc gia để ngăn chặn tội phạm, hai là công cụ để bảo vệ chính người bị dẫn độ. Vì vậy, ngay vào các năm 40 của thế kỷ XIX các nước Châu Âu đã thông qua một nguyên tắc là chỉ dẫn độ các tội phạm hình sự, chứ không dẫn độ tội phạm chính trị hay những người đào ngũ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, vào năm 1924, “Ủy ban các chuyên viên về pháp điển hóa tiến bộ về luật pháp quốc tế” của Hội quốc liên đã dự thảo và kiến nghị ký kết các công ước phổ cập điều chỉnh vấn đề hợp tác quốc tế về dẫn độ tội phạm. Tuy nhiên, dự thảo này chưa được ký kết thì Hội quốc liên đã ngừng hoạt động do chiến tranh. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Tòa án Nuremberg và tòa án Tokyo xét xử phát xít đã đề cập đến việc dẫn độ tội phạm, do đó năm 1946 Đại hội đồng liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết áp dụng các biện pháp truy tìm, bắt giữ và dẫn độ các tội phạm chiến tranh về quốc gia nơi thực hiện tội phạm để xét xử theo pháp luật quốc gia sở tại. Năm 1947, Đại hội đồng liên hợp quốc tiếp tục thông qua Nghị quyết về nghĩa vụ của các quốc gia trong việc dẫn độ và chuyển giao tội phạm chiến tranh cho tòa án xét xử. Trong quá trình phát triển, hàng loạt các công ước quốc tế về chống tội phạm có tính chất xuyên quốc gia ra đời, trong đó phần quan trọng là các qui định về dẫn độ tội phạm, như: Công ước về khủng bố, trẻ em, buôn bán ma túy, buôn bán người…Bên cạnh đó, năm 1990 Đại hội đồng Liên hợp quốc còn thông qua điều ước mẫu về dẫn độ tội phạm làm cơ sở để các quốc gia tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về đấu tranh chống tội phạm nói chung và dẫn độ tội phạm nói riêng. Trên cơ sở đó, những điều ước quốc tế đa phương mang tính toàn cầu, các khu vực cũng đã ký kết các điều ước khu vực, mà tiêu biểu là Công ước quốc tế về dẫn độ tội phạm châu Âu năm 1957… Như vậy, cùng với sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia, qui chế
    8. 16. 9 dẫn độ ngày càng được hoàn thiện, phát triển bảo đảm cho việc dẫn độ tội phạm có hiệu quả, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên phạm vi toàn cầu cũng như ở từng quốc gia, khu vực. Sự phát triển, hoàn thiện này thể hiện ở sự gia tăng các điều ước quốc tế về dẫn độ, trong đó đã cụ thể hóa nhóm người thuộc diện dẫn độ tội phạm, các phạm trù và các căn cứ dẫn độ cũng được xác định cụ thể hơn. Trong đó, một nguyên tắc về dẫn độ tội phạm được hình thành và ngày càng được thừa nhận rộng rãi là nguyên tắc mà theo đó những người thực hiện các hành vi vì động cơ chính trị và vì thế phải rời khỏi tổ quốc của mình thì không thuộc diện bị dẫn độ. 1.1.1.2. Khái niệm dẫn độ tội phạm Trong khoa học pháp lý, có nhiều khái niệm về dẫn độ được đưa ra căn cứ vào phạm vi và cách tiếp cận khác nhau, chúng tôi Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm dẫn độ khá cơ mở, hàm chứa nhiều nội dung: Dẫn độ người phạm tội là một chế định của luật hình sự nhằm tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm quốc tế và các tội phạm xuyên quốc gia, được thể hiện trong việc: một quốc gia này (nước được yêu cầu) căn cứ vào các quy định của Hiệp ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự đã được ký kết (hoặc các quy phạm pháp luật quốc tế trong trường hợp Hiệp định tương ứng chưa được ký kết) chuyển giao người phạm tội đang ở trên lãnh thổ của nó theo đề nghị của quốc gia kia (nước yêu cầu) mà trên lãnh thổ có việc thực hiện tội phạm hoặc có người phạm tội là công dân của mình (nước yêu cầu) để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt với người ấy . Định nghĩa này về dẫn độ đã thiếu đi tính thuyết phục khi giải thích khái niệm dẫn độ bằng việc lặp lại chính cụm từ “dẫn độ” (dẫn độ là dẫn độ). Đồng thời, định nghĩa này mới chỉ đề cập đến đối tượng của dẫn độ mà chưa chỉ ra được chủ thể tiến hành dẫn độ, nguyên tắc, thủ tục và mục đích của dẫn độ. Đặc biệt, định nghĩa chưa làm rõ được bản chất của dẫn độ là một quá trình hướng tới mục đích chuyển giao người phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án giữa các quốc gia trong đấu tranh xử lý tội phạm ở phạm vi toàn cầu. Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về dẫn độ, theo đó:”dẫn độ là việc đưa phạm nhân người nước ngoài bị bắt ở nước mình giao cho cơ quan tư pháp ở nước ngoài đó xét xử” . Theo Marjorie Whiteman, một chuyên gia về luật hình sự quốc tế của Mỹ thì: “dẫn độ là quá trình mà theo đó người mà bị kết tội hoặc bị kết án tù về hành vi phạm tội trái với pháp luật của một quốc gia và được tìm thấy ở một quốc gia khác sẽ được đưa trở về quốc gia ban đầu để xét xử hoặc tuyên án” . Định nghĩa này khẳng định việc dẫn độ chỉ áp dụng đối cá nhân người phạm tội (thể nhân) chứ không áp dụng đối với pháp nhân là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về dẫn độ. Đồng thời, định nghĩa đã nêu được mục đích của dẫn độ không chỉ để truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn để thi hành hình phạt, thông qua đó phần nào phản ánh được bản chất của dẫn độ. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng chưa nêu được đầy đủ nội hàm của dẫn độ như nguyên tắc, thủ tục… Trong cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về luật hình sự quốc tế”, chúng tôi Nguyễn Trung Tín đưa ra định nghĩa: “Dẫn độ trong luật hình sự quốc tế được hiểu là việc một quốc gia chuyển trao người bị cáo phạm tội hoặc người bị kết án (quốc gia nơi những người đó có mặt) cho một quốc gia khác (thường là quốc gia nơi tội phạm gây ra hoặc là quốc gia đã kết án người đó” . Việc trao đổi như vậy thực hiện với sự tuân thủ nguyên tắc tương xứng. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, việc trao đổi tội phạm có tính chất chính trị nhiều hơn là pháp lý, có thể khẳng định tính chất chính trị chi phối toàn bộ các hoạt động của các quốc gia trong quyết định trao đổi tội phạm. Điểm đặc biệt của trao đổi tội phạm là việc một quốc gia sẽ trao những người phạm tội là công dân nước khác cho quốc gia của những người đó với điều kiện quốc gia được trao trả cũng phải giao những công dân của họ. Do đó, sự trao đổi có tính chất hai phía, và sự tương xứng trong trao đổi tội phạm phải đảm bảo cả hai tiêu chí số lượng chất lượng. Chính vì vậy mà các tội phạm được tiến hành trao đổi chủ yếu là các tội phạm trong thời kỳ chiến tranh hoặc là tù nhân chiến tranh của hai quốc gia. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, việc trao đổi tội phạm được thực hiện nhiều nhất, khoảng thập niên 60 hoặc 70 của thế kỷ 20, Liên xô và mỹ đã nhiều lần tiến hành trao đổi tội phạm, giữa các nước thuộc khối Vacsava và NATO cũng phát sinh nhiều trường hợp trao đổi kiểu này . Trong quan hệ trao trả tội phạm xuất hiện hai loại chủ thế, chủ thể yêu cầu trao trả tội phạm là quốc gia đăng tịch phương tiện bay, còn chủ thể được yêu cầu là quốc gia nơi phương tiện bay bị chiếm đoạt
    9. 30. 23 Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, mỗi quốc gia không thể tồn tại riêng lẻ mà không có sự hợp tác, chia sẻ với các quốc gia khác. Trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm đang phát triển ở phạm vi toàn cầu thì nhu cầu về sự hợp tác giữa các quốc gia để dẫn độ những người phạm tội càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, bởi mỗi quốc gia không thể đảm bảo trong mọi trường hợp đều có thể tiến hành xử lý hình sự đối với người phạm tội khi người đó có thể tự do di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong trường hợp này, yếu tố chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực dẫn độ tội phạm thường được thể hiện một cách linh hoạt thông qua việc các quốc gia sử dụng nguyên tắc có đi có lại hoặc đàm phán, ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế về dẫn độ để thực hiện dẫn độ người phạm tội cho một bên phù hợp để bên đó tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội. 1.2.2.2. Nguyên tắc có đi có lại Đây là nguyên tắc pháp lý cần thiết để đảm bảo việc dẫn độ tội phạm có hiệu quả. Nội dung của nguyên tắc này quy định: nước được yêu cầu dẫn độ sẽ chấp nhận dẫn độ với sự đảm bảo rằng nước có yêu cầu giúp đỡ cũng sẽ chấp nhận và thực hiện một yêu cầu như vậy của nước được yêu cầu trong tương lai. Cơ sở của sự có đi có lại trong hoạt động dẫn độ tội phạm giữa các quốc gia chính là nguyên tắc tôn trọng quyền bình đẳng và chủ quyền giữa các quốc gia. Bởi thực chất vấn đề dẫn độ không tạo ra sự bắt buộc phải thực hiện yêu cầu dẫn độ giữa quốc gia yêu cầu với quốc gia được yêu cầu mà thể hiện sự thiện ý, thỏa thuận và thống nhất giữa các quốc gia. Tuy nhiên, nguyên tắc này không đồng nghĩa với sự trao đổi ngang bằng và ngay lập tức, mà tùy từng trường hợp để quyết định có thực hiện yêu cầu hợp tác của bên đối tác hay không. Nguyên tắc có đi có lại thường được ghi nhận trong các đạo luật quốc gia của các nước như: Luật về dẫn độ tội phạm năm 1958 của Tây Ban Nha, đạo luật năm 1870 của đại công quốc Luxembua, đạo luật năm 1954 của Ixraen, Bộ luật tố tụng hình sự của Tây Ban Nha, Luật tương trợ tư pháp năm 2007 của Việt Nam….
    10. 33. 26 1.2.2.4. Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình Việc điều chỉnh vấn đề dẫn độ luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với quốc tịch cá nhân bị yêu cầu dẫn độ. Nội dung của nguyên tắc không dẫn độ công dân của quốc gia được yêu cầu là: nếu người được yêu cầu dẫn độ là công dân của quốc gia được yêu cầu thì nước này có quyền từ chối dẫn độ người đó cho nước yêu cầu. Nguyên tắc này thường được đặt ra khi đối tượng bị dẫn độ là các cá nhân đã thực hiện hành vi phạm tội và bị xét xử hoặc người bị tình nghi thực hiện hành vi tội phạm đang lẩn trốn ở ngoài lãnh thổ của quốc gia yêu cầu dẫn độ và cư trú tại quốc gia anh ta là công dân. Nguyên tắc không dẫn độ công dân được ghi nhận trong rất nhiều các văn bản pháp lý quốc tế cũng như trong pháp luật của các quốc gia về dẫn độ. Điều 6 (1), công ước Châu Âu năm 1957 về dẫn độ tội phạm quy định: “mỗi bên ký kết có quyền từ chối dẫn độ công dân của mình”. Điểm a, Điều 4 – Hiệp định dẫn độ mẫu của Liên Hiệp Quốc quy định: “việc dẫn độ có thể bị từ chối: a) Nếu người bị yêu cầu dẫn độ là người người của nước được yêu cầu. Các văn bản khác như Tuyên bố chung của hội nghị quốc tế lần thứ III về thống nhất hóa luật quốc tế, Công ước năm 1948 về tội phạm diệt chủng, Quy chế của các tòa án quân sự quốc tế Nurumberg và Tokyo, công ước năm 1968 về việc không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với các tội phạm chiến tranh và tội phạm chống loài người; công ước của các quốc gia thuộc SNG năm 1993 về tương trợ tư pháp trong các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự . Ngoài ra, nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình không được áp dụng khi các cá nhân thực hiện các tội ác quốc tế như: tội phạm chống hòa bình, tội chống nhân loại, tội
    11. 36. 29 chống chính trị) và tội phạm chính trị tương đối (là những hành vi phạm tội có tính chất hình sự chung nhưng được thực hiện với động cơ, lý do chính trị như sát hại các chính khách của đảng phái đối lập, đốt phá các kho vũ khí, các khu dân cư nhằm kích động bạo loạn…) [21, tr.336]. Tuy nhiên đây chỉ là quan điểm lý luận và không được coi là căn cứ để các quốc gia xác định tội phạm được yêu cầu có phải là tội phạm chính trị và có thể từ chối dẫn độ người phạm tội đó hay không. Thực tiễn cho thấy, cơ sở để xác định hành vi phạm tội có tính chất chính trị hay không thường phụ thuộc vào hệ thống pháp luật cũng như chính sách, đường lối của quốc gia được yêu cầu dẫn độ, nơi cá nhân dẫn độ đang bỏ trốn. Theo đó, quốc gia được yêu cầu có thể từ chối dẫn độ người phạm tội nếu có căn cứ cho rằng hành vi đó được thực hiện vì mục đích chính trị. Ngay cả những trường hợp phạm tội thông thường nhưng nếu nước được yêu cầu nhận thấy tội phạm thông thường đó được thực hiện vì động cơ chính trị thì cũng có thể từ chối dẫn độ và cho người bị yêu cầu dẫn độ hưởng quyền cư trú chính trị. Do việc xác định tội phạm chính trị khó khăn như vậy nên trong các văn bản pháp lý quốc tế dùng cách liệt kê những tội phạm không được coi là tội phạm chính trị để để hưởng quyền cư trú bao gồm: – Các tội chống loài người được quy định cụ thể trong Công ước về ngăn chặn và trừng trị các tội diệt chủng, được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9.9.1948; – Các hành vi vi phạm những quy định tại Điều 50 – Công ước Genevơ 1949 về cải thiện tình trạng của thương, bệnh binh thuộc lực lượng chiến đấu trên bộ; Điều 51 – Công ước Genevơ 1949 về cải thiện tình trạng của thương, bệnh binh và những người bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân; Điều 130 – Công ước Genevơ 1949 về đối xử với tù binh chiến tranh và Điều 147 – Công ước Genevơ 1949 về bảo vệ dân thường trong thời chiến; – Mọi hành vi tương tự như trên vi phạm các luật chiến tranh có hiệu lực trong thời chiến, vi phạm các tập quán, tập quán chiến tranh hiện có nếu nó không được quy định trong các Công ước Genevơ đã được đề cập ở trên; – Hành vi phạm tội thuộc phạm vi Công ước về ngăn chặn hành vi bắt giữ máy bay trái phép xâm phạm đến an ninh hàng không, được ký kết tại Hague ngày 16.9.1970;

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dẫn Độ Gần 400 Nghi Phạm Người Trung Quốc Về Nước Bằng Đường Bộ
  • Hồng Kông Chính Thức Rút Dự Luật Dẫn Độ
  • Mỹ Quan Ngại Dự Luật Dẫn Độ Gây Tranh Cãi Tại Hong Kong
  • Dự Luật Dẫn Độ Của Hồng Kông Có Thể Khiến Người Mỹ Gặp Rủi Ro
  • Chủ Tịch Hạ Viện Mỹ Lên Án Mạnh Dự Luật Dẫn Độ Của Hong Kong
  • Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Quốc Tế Và Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong: Nguồn Gốc, Tranh Cãi Và Thách Thức
  • Trung Quốc Và Phương Tây Đối Đầu Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong
  • Dự Luật Dẫn Độ Nghĩa Là Gì
  • Vấn Đề Dẫn Độ Theo Bộ Luật Tố Tụng Năm 2003
  • Anh: Dẫn Độ Đối Tượng Chủ Chốt Xét Xử Vụ 39 Thi Thể Trong Xe Tải, Mỹ: New York Chính Thức Hủy Bỏ Điều Luật Giữ Bí Mật Hồ Sơ Cảnh Sát
  • Trên cơ sở xem xét một số điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm hoặc điều ước quốc tế về

    tương trợ tư pháp có nội dung về dẫn độ tội phạm được ký kết giữa Việt Nam và một số quốc

    gia khác như: Hiệp định Tương trợ Tư pháp Việt Nam – Ba Lan năm 1993, Hiệp định Tương

    trợ Tư pháp Việt Nam – Liên bang Nga năm 1998, Hiệp định Tương trợ Tư pháp về Dân sự

    và Hình sự giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân

    dân Lào năm 1998, Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003, Hiệp

    định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Australia năm 2012.

    phạm; Đối tượng của hoạt động dẫn độ; Căn cứ từ chối dẫn độ; Thủ tục dẫn độ và các tài liệu

    cần thiết; Quy định bắt khẩn cấp; Quy định dẫn độ đơn giản; Quy định về giải quyết các

    trường hợp đặc biệt trong dẫn độ (nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một cá nhân, hoãn thi hành

    quyết định dẫn độ, dẫn độ lại, quá cảnh); Quy định về chi phí dẫn độ tội phạm.

    Những quy định về dẫn độ tội phạm trong các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và một số

    quốc gia nêu trên đã thể hiện được sự tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế về

    dẫn độ tội phạm (về nguyên tắc dẫn độ tội phạm, các trường hợp từ chối dẫn độ, trình tự, thủ

    tục dẫn độ tội phạm.). Phù hợp với điều kiện của các quốc gia về chế độ kinh tế, chính trị và

    hệ thống pháp luật, Việt Nam và các quốc gia này đã xây dựng các điều khoản phù hợp nhằm

    đạt được hiệu quả tốt nhất trong hợp tác dẫn độ tội phạm.

    Tuy nhiên, hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam với các quốc gia vẫn còn

    một số tồn tại cần khắc phục là

    Một là: số lượng các điều ước song phương được ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia khác có

    giữa Việt Nam và các quốc gia chủ yếu vẫn dựa trên các hiệp định tương trợ tư pháp mà ít các

    hiệp định riêng về dẫn độ tội phạm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đàm Phán Dự Thảo Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Hai Nước Việt Nam Và Trung Quốc
  • Việt Nam Và Trung Quốc Tập Trung Thúc Đẩy Cho Hiệp Định Dẫn Độ
  • Từ Vụ Bắt Giữ 380 Người Trung Quốc Đánh Bạc: Trường Hợp Nào Sẽ Bị Dẫn Độ?
  • Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Pháp Là Cơ Sở Phòng Chống Tội Phạm Bỏ Trốn
  • Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ
  • Đào Tạo Luật Sư Có Trình Độ Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Tư Vấn Về Quyền Được Xét Xử Công Bằng Giữa Luật Quốc Tế Và Luật Việt Nam ?
  • Luật Sư Gia Đình Nói Về Vụ Bằng Lái Quốc Tế?
  • Iln: Luật Sư Quốc Tế Mạng
  • Aibl: Hiệp Hội Luật Sư Kinh Doanh Quốc Tế
  • Đào Tạo Luật Sư Thương Mại Quốc Tế
  • Liên đoàn Luật sư có kế hoạch đào tạo một số luật sư có trình độ quốc tế. Về việc này tôi xin góp vài ý kiến cho công việc chung. Ắt sẽ có vị sẽ hỏi rằng “Anh có phải là luật sư có trình độ quốctế không mà ý kiến, ý cò”. Tôi xin thưa là không, nhưng tôi có thiện chí, và biết người ta làm như thế nào.

    Trước hết, luật sư có trình độ quốc tế nên được hiểu cho đúng. Trình độ quốc tế thì ở một nước nào đó, chứ không phải trên nhiều nước;và cũng chỉ ở trong một số lãnh vực luật nhất định thôi, chứ không phải nhiều ngành. Thứ nữa không nên nghĩ rằng có trình độ đó là có thể đi cãi ở tòa án tại các nước khác. Tôi chắc rằng trong đoàn ngũ chúng ta, không ai nghĩ như thế vì chúng ta biết luật sư của một đoàn luật sư khu vực nào thì được biện hộ tại tòa án trong khu vực đó; sang thẩm quyền khác thì phải xin phép. Ngoài khó khăn ấy ra, tôi nghĩ khó có thân chủ nào ở Việt Nam nhờ một luật sư ở chúng tôi hay Hà Nội đi biện hộ cho mình ở ICC bên Pháp. Thuê luật sư ở bên đó rẻ hơn. Thuê luật sư ở Việt Nam phải trả tiền máy bay, khách sạn, còn thù lao thì không thấp hơn mức họ kiếm được ở nhà. Chưa hết, luật sư mình có rành rẽ thủ tục tố tụng của người ta không? Bản thân tôi, được nhắc têntrong vài quyển niên giám chuyên ngành (directory) như Chambers, Legal Practice… và là “leading lawyer in corporate governance” năm 2008 và 2009 ở Việt Nam của Asia Law& Practice, hay “senior stateman” của văn phòng mình, năm 2008 trong Chambers. Tuy vậy, tôi chẳng cảm thấy mình có trình độ quốc tế!. Tôi thấy có luật sư nói đã từng cãi ở Tòa án Singapore. Nói phét đấy. Luật sư Singapore nhờ mình sang làm “expert witness” thôi. Tôi đã làm việc này vào năm 1991 và biết rõ. Nghe họ nói với tòa “Sir, my learned collegue” thì đã không biết dịch là gì rồi! Không nên gây hiểu nhầm tai hại.

    Trình bày điều trên tôi không định khoe mình (vì tôi biết nhiều người không thích) mà là chỉ nói thật và để độc giả đánh giá các nhận xét sẽ được nêu. Tôi xin trình bày hai điểm: Một là yêu cầu về bản thân của luật sư có trình độ quốc tế và các điều kiện bên ngoài để luật sư ấy duy trì được trình độ; sau khi đã giới hạn “trình độ quốc tế” như trên.

    Yêu cầu về bản thân của luật sư

    Luật sư có trình độ quốc tế phải là người hiểu (không phải là biết) các luật căn bản của ta như tố tụng, dân sự, hình sự, hành chánh, nắm rõ các nguyên tắc căn bản của chúng, và chuyên sâu về một số ngành luật mình định chọn cho nghề nghiệp.

    Muốn thế, khi tốt nghiệp cử nhân người ấy phải giỏi tiếng Anh hay tiếng Pháp để học cao học ở một đại học luật nước ngoài hầu tiếp cận và “bơi” trong tập tục và nội dung của luật pháp quốc tế. Một trong những khó khăn của sinh viên học cao học là không được học luật căn bản (tố tụng,dân sự, hợp đồng…) của nước đó vì họ không dạy chúng ở cao học. Hơn nữa lúc sửa soạn du học đa số người nghĩ rằng nên học môn nào mà Việt Nam không có; chứ còn cái đã biết rồi thì học làm gì. Do vậy, ít người chọn các môn cơ bản. Nếu muốn chọn còn tùy trường họ có cho hay không. Tôi không biết trường luật ởcác nước khác, nhưng ở Harvard, học cao học thì bạn có thể học luật tố tụng, luật về bằng chứng của sinh viên cử nhân; chỉ với điều khi thì phải đạt B- trở lên không thì rớt; trong khi cử nhân thì C cũng đỗ. Sang Mỹ mà học luật tố tụng của họ thì phíquá, dùng nó làm gì ở Việt Nam?

    Thế nhưng khi hành nghề ở Việt Nam thì lại cần phải biết chúng, ít nhiều, để còn nói chuyện với khách nước ngoài, giải thích cho họ sự khác biệt. Thí dụ thủ tục nhận tội (plead guilty), tại ngoại, nếu họ hỏi mình; hoặc biết chúng để giao dịch với luật sư nước ngoài khi làm chung với họ trong một vụ của thân chủ mình. Không biết sơ sơ các luật ấy thì mình không biết từ chối và giải thích với họ; thí dụ, ở nước tôi không có luật “đào bới bằng chứng”, rồi sẽ giải thích quy định về bằng chứng của ta, nhấn mạnh là ” không đào bới gì cả” mà “trung thực và khách quan”. Thếlà đồng nghiệp nước ngoài thích mình ngay! Thú thật dịch bằng chứng “khách quan” là gì theo nội dung sang tiếng Anh cho họ hiểu cũng khó.Đó là một từ triết học!Côngviệc thứ nhất của luật sư có trình độ quốc tế là am hiểu luật căn bản của mình và biết về luật căn bản của một hệ thống luật nào đó (dân luật hay thông luật) và nắm bắt các sự thay đổi của ngành luật mình chuyên phụ trách.

    Học kiểu đó là học để “đáp ứng” vì có nhu cầu của khách đặt ra cho mình. Chưa hết! Người Pháp gọi luật sư là “thầy” (maitre) nên luật sư phải đi trước thân chủ một bước về kiến thức. Thí dụ, để trả lời về Công ước Berne mà chính phủ tuyên bố tham gia, nhà xuất bản sách đến hỏi; luật sư không chỉ trả lời theo văn bản mà còn phải giải thích rộng ra; so sánh với thực tế nhà xuất bản đã kinh qua để họ hiểu quy định mới và cách làm cũ. Muốn đi trước khách hàng một bước thì phải học theo kiểu “đón đầu” (không phải là “đi tắt đón đầu” đâu ạ). Hoc kiểu này mà khách không bao giờ đến là… toi công! Thế nhưng vẫn phải làm dẫu có… công toi!

    Xin mở rộng một tí về việc học và hành của luật sư. Làm luật sư khác với làm thầy giáo. Nếu ví môn học như một cái cuốc để phân biệt, thì thầy giáo cầm cái cuốc múa may trên tay, càng “hoành tráng” thì càng được sinh viên khen nức nở. Bảo đảm sẽ có một hai cô sinh viên xinh đẹp đến thăm thầy ngày Nhà giáo. Luật sư thì khác hẳn: cầm cuốc và cuốc, đất, hay đá ong, không ngừng nghỉ! Được trả tiền hay không thì thấy ngay. Kết quả nhãn tiền chứ không phải một sự khâm phục… trong lòng!

    Khi có các yêu cầu trên thì có ba vấn đề khác phát sinh. Ấy là: (i) tiếp cận được nguồn sách báo, thông tin ở nước ngoài để cập nhật kiến thức; (ii) vậy phải có tiền và (iii) có thời giờ để làm. Về các hệ quả này, là dân ngoại đạo, tôi xin kể chỉ một điều về thời gian, mắt thấy tai nghe. Luật sư có trình độ quốc tế thực sự hiện nay mà làm việc với khách nước ngoài thì họ thường đến văn phòng từ 9 giờ sáng, đến hơn 10 giờ đêm mới về.Vợ trách con than họ còn giải thích (“em thông cảm”) chứ sách vở nằm trên kệ chờ họ đọc thì… còn lâu! Họ phải thường ăn xôi đi làm; vì sáng dậy thì vợ con đi rồi, phở không để nguội được, cơm rang thì cứng quá do để lâu; chỉ có gói xôi đậu xanh, hay đậu đen là… bền vững! Cuộc sống luật sư Việt Nam có trình độ quốc tế căng thẳng lắm. Họ nhiều việc đến nỗi phải gắt lên “nhiều việc quá, cực quá, không cần tiền nữa!” Than vậy chứ thôi, cũng sợ mất khách. Họ – có cả tôi- sợ mất khách hơn sợ Đoàn luật sư hay Sở Tư pháp nhiều! Các luật sư làm trưởng văn phòng luật sư quốc tếhầu hết đều thấm đẫm cảm giác này. Từ chối khách thì sợ không đủ sở hụi để chi trả hàng tháng cho văn phòng; mà nhiều khách quá thì cả mình lẫn văn phòng không kham nổi. Cách giải quyết là làm thêm về đêm. Khách thuê luật sư thì chỉmuốn “xong từ hôm qua”! Vào tuổi tôi, nhìn lại mình vì có thời giờ, tôi nhận ra: Luật sư chỉ là “Nô lệ cao cấp – Làm đẹp đất nước – Làm an lòng người”.

    Tóm lại, cho điều kiện thứ nhất, tự bản thân mình, ngoài công việc phải làm; người luật sư có trình độ quốc tế phải “làm thêm” để trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, và tiếp xúc trong nước lẫn quốc tế (tham gia các hội luật sư, đóng hội phí hàng năm). Gay go lắm. Có khi mồ hôi hột đổ, sau áo sơ- mi có thắt cà- vạt, trong máy lạnh!

    Hoàn cảnh bên ngoài

    Về điểm này có hai điều kiện bắt buộc để luật sư có trình độ quốc tế duy trì được trình độ; không có thì sẽ bị tụt! Ấy là (i) khách hàng và (i) các cơ quan tư pháp cùng hỗ trợ tư pháp hay môi trường pháp lý.

    Về khách hàng

    Nếu có ai hỏi các luật sư đang hành nghề rằng yếu tố nào ảnh hưởng đến công việc của họ nhiều nhất thì tôi tin đến 99% luật sư sẽ trả lời là khách hàng. Vâng ạ, khách hàng rất quan trọng đối với luật sư. Khách hàng được hiểu là “người đến thuê luật sư làm và trả tiền”. Đối với luật sư, “khách hàng” quyết định chứ không phải “nhu cầu” của họ. Bộ Tư pháp trước kia và Liên đoàn Luật sư hiện nay biết rõ là có nhu cầu cao ở trong nước về kiến thức trong giao thương quốc tế. Và chủ trương của Liên đoàn hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu này. Tuy nhiên “nhu cầu” không nuôi được luật sư, quốc tế hay không!

    Luật sư – như đã đề cập – không có quyền gì. Vậy ai muốn họ làm “nô lệ cao cấp” thì phải trả tiền cho họ. Không có tiền thì họ treo niêu! Chẳng ai cứu họ vì nghĩ họ giàu! Đó là mặt “trắng”; vậy “mặt đen” sẽ là trả tiền thì mới làm. Đấy là quy luật của cuộc sống mà không ai có thể dùng quyền lực gì để thay đổi. Khách hàng là người quản lý luật sư mạnh nhất và khắc nghiệt nhất. Cách làm của họ khi thất vọng là: “Chào luật sư, tôi đi”. Người nọ truyền tai người kia, và luật sư sẽ từ từ… nợ tiền nhà!

    Khi luật sư có trình độ quốc tế hành nghề trong những điều kiện như thế;ai sẽ bảo đảm cho họ rằng, họ sẽ có khách! Đấy là vấn đề cơ bản. Luật sư không thể trông chờ sự giới thiệu khách của bất cứ ai. Giới thiệu là một chuyện, nhận làm hay không là một chuyện khác, do khách hàng và luật sư định đoạt. Đấy là một mặt về sự quan trọng của khách hàng đối với luật sư.

    Mặt khác, đòi hỏi của khách hàng sẽ tác động vào, hay thậm chí tạo nên, khả năng chuyên môn của luật sư. Khách hàng toàn đến nhờ luật sư để xin ly hôn – không nhờ làm thủ tục hôn thú – thì luật sư trở thành “luật sư ly hôn.”Họ nhờ luật sư về nhà đất thì thành “nhà đất” vân vân. Nếu khả năng chuyên môn của một luật sư có trình độ quốc tế mà được khách hàng “chuyển đổi” như thế thì rõ ràng trình độ quốc tế cũng bị giảm theo. Họ từ chối ư? Sao họ trả tiền thuê văn phòng?

    Về tầm quan trọng của khách hàng thì đã có tiền lệ. Xin cứ nhìn vào hoạt động của các trung tâm trọng tài, quốc tế lẫn quốc nội. Tại sao thế? Thưa vì doanh nhân không đến các trung tâm đó; dẫu có nhiều trọng tài viên có trình độ chuyên môn cao (vì họ đang hành nghề mà).

    Tóm lại, luật sư có trình độ quốc tế phải có khách. Không có khách thì tài năng của họ cũng mai một. Khách tìm đến luật sư tại vì uy tín của luật sư mà họ nghe từ người quen và rồikiểm chứng, trước khi trả tiền. Có vẻ như điều kiện này nằm ngoài tầm tay của Liên đoàn. Tôi đoán các cơ quan hữu trách khi đề cập luật sư có trình độ quốc tế chỉ nhìn đến “nhu cầu” của xã hội, một yếu tố chính trị; chứ chưa biết tận tường yếu tố “nhân sinh” của thân phận luật sư.

    Toà án và các cơ quan hỗ trợ tư pháp

    Trong hoàn cảnh kia, xin hỏi đã có những cố gắng gì để làm tăng trình độ của thẩm phán? Trong hệ thống tư pháp, luật sư là khâu yếu nhất vì họ không có quyền mà chỉ “đề nghị toà”. Chọn khâu yếu nhất để nâng trình độ tư pháp của đất nước lên thì cũng giống như nâng một sợi dây xích bằng thép nặng trĩu lên để kéo đi, mà nắm cái mắt xích làm bằng chì. Gia tăng số lượng luật sư là dễ nhất vì không phải đưa tiền cho họ đi học, mà lại còn thu được tiền của họ nữa. Đã có tiền lệ. Cứ hỏi các luật sư đang tập sự thì biết ngay!.

    Đấy là về toà án. Còn về những cơ quan hỗ trợ tư pháp thì sao? Luật sư soạn hợp đồng phải đem ra công chứng mà làm khác bản mẫu dùng ở đó thì khó lòng được công chứng lắm. Như vậy thì, khả năng soạn thảo hợp đồng quốc tế của luật sự sẽ bị bản mẫu hợp đồng – xin nhấn mạnh bản mẫu – hạ gục ngay! Công chứng viên rất tươi cười và thông cảm nhưng họ chỉ vào… bản mẫu! Bản hướng dẫn thì còn thêm bớt được, “mẫu hợp đồng” thì phải theo. Rất tiếc các cơ quan của ta thích ra mẫu (trừ Bộ Xây dựng)! Xin kết đoạn này bằng một câu tóm tắt: “Luật sư có trình độ quốc tế sẽ thất bại trước các yêu cầu của bản… mẫu”.Luật lệ của chúng ta trước kia điều chỉnh các hoạt động xã hội theo câu chữ, nay đang từ từ đi vào bản chất (luật đầu tư chung, luật thuế thu nhập doanh nghiệp là ví dụ); nhưng các cấp thi hành luật vẫn giải thích theo câu chữ để “bảo vệ mình” tối đa. Não trạng như thế sao giúp luật sư quốc tế hội nhập!

    Xem như thế, ước muốn đào tạo luật sư có trình độ quốc tế sẽ rất khó thực hiện. Việc tồn tại một đội ngũ như mong muốn đòi hỏi ba yếu tố vững bền: bản thân luật sư, khách hàng và trình độ chung của nền tư pháp. Một cái kiềng ba chân mà hai chân khập khễnh thì chắc chắn sẽ làm đổ nồi cơm gạo chợ Đào!

    Luật sư Nguyễn Ngọc Bích ( Phap luat vietnam)

    Công ty luật DRAGON

    --- Bài cũ hơn ---

  • Diễn Đàn Rao Vặt Tổng Hợp: Luật Sư Trọng Tài Quốc Tế Là Gì?
  • Luật Sư Tư Vấn Thương Mại Quốc Tế
  • Chai Nước Có Ruồi: Nguyên Thẩm Phán Tand Tối Cao Sẽ Bào Chữa Cho Bị Cáo Minh
  • Vụ Nữ Nhân Viên Tố Giám Đốc Dn Hiếp Dâm: Không Ai Cho Lột Đồ
  • Cựu Bộ Trưởng Nguyễn Bắc Son: ‘tôi Thấy Việc Bị Khởi Tố Tội Nhận Hối Lộ Là Đúng’
  • Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Dẫn Độ Trong Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • ‘cách Mạng Dù’ Lại Bùng Nổ Ở Hồng Kông, Chống Luật Dẫn Độ Về Trung Quốc
  • Sự Thật Về Những Tin Đồn Xung Quanh “hiệp Định Dẫn Độ Việt
  • Trung Quốc Cảnh Báo Người Biểu Tình Sau Khi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ
  • Bàn Về “hiệp Định Dẫn Độ Việt
  • Tổng Hợp Văn Bản Hướng Dẫn Luật Doanh Nghiệp 2014
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

    NGÔ HỮU PHƯỚC

    DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

    VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

    Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

    Mã số: 62.38.01.04

    TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

    TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2012

    2

    Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

    Người hướng dẫn khoa học:

    1. chúng tôi Võ Khánh Vinh

    2. TS. Nguyễn Thị Phương Hoa

    Phản biện 1: chúng tôi Nguyễn Ngọc Anh

    Phản biện 2: chúng tôi Hoàng Thị Minh Sơn

    Phản biện 3: TS. Võ Thị Kim Oanh

    Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí

    Minh, số 02 Nguyễn Tất Thành, quận 4, TP. Hồ Chí Minh.

    Vào hồi……….giờ………ngày……….tháng………..năm 2009

    Có thể tìm hiểu luận án tại:

    Thư viện Quốc gia

    Thư viện Viện Nhà nước và pháp luật

    3

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

    Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt

    Nam nói riêng nhiều thành tựu và cơ hội to lớn để phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, toàn cầu hóa và hội nhập

    kinh tế cũng phát sinh nhiều nguy cơ, thách thức lớn đối với các quốc gia như bất ổn chính trị, xung đột sắc tộc,

    tôn giáo, tệ nạn xã hội… trong đó có tình hình tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày

    càng gia tăng và diễn biến phức tạp, đe dọa đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như hòa bình và

    an ninh quốc tế.

    Theo thống kê của INTERPOL, hàng năm trên thế giới xảy ra hơn 700 vụ khủng bố, làm trên 7.000

    người chết và khoảng 12.000 người bị thương. Các loại tội phạm hình sự nguy hiểm như giết người, cướp tài

    sản, bắt cóc tống tiền, hoạt động băng nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng tăng tại hầu hết các

    nước trên thế giới. Các tội phạm ma túy xuyên quốc gia, tội phạm buôn bán người, nhất là phụ nữ, trẻ em đã gây

    ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tình hình hoạt động của các đường dây, tổ chức đưa người nhập cư bất hợp pháp

    trên thế giới tiếp tục gây ra nhiều vấn đề phức tạp đối với an ninh, trật tự của nhiều quốc gia. Các tội phạm kinh

    tế xuyên quốc gia ngày càng diễn biến phức tạp hơn cả về địa bàn hoạt động, cũng như tính chất và mức độ

    nghiêm trọng…

    Không ngoài xu thế chung của thế giới, sau khi gia nhập WTO và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền

    kinh tế thế giới, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi để phát triển đất nước, Việt Nam cũng phải đối mặt với

    nhiều nguy cơ và thách thức lớn đối với nền kinh tế, văn hóa, xã hội, chủ quyền và an ninh quốc gia trong đó có

    tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp.

    Theo báo cáo tổng quan về tình hình tội phạm ở Việt Nam của Tổng cục Cảnh sát cho thấy, mỗi năm ở

    nước ta xảy ra khoảng 82.555 vụ phạm tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trong đó có 57.415 vụ phạm tội về

    hình sự, 14.139 vụ phạm tội về kinh tế, 11.001 vụ phạm tội về ma túy… Trung bình mỗi ngày xảy ra khoảng 227

    vụ, mỗi giờ xảy ra 9,5 vụ… Hiện nay, ở Việt Nam đã hình thành các đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em từ Việt

    Nam sang các nước trong khu vực, thậm chí đến các nước Châu Âu, Châu Phi. Ở Việt Nam đã xuất hiện một số

    băng nhóm tội phạm gốc Hoa cấu kết với các băng nhóm tội phạm trong nước để hoạt động phạm tội như bảo

    kê, cướp tài sản, giết người… Các hoạt động buôn lậu ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra

    nước ngoài diễn biến hết sức phức tạp, đã xuất hiện ngày càng nhiều đường dây buôn bán vận chuyển các chất

    ma túy xuyên quốc gia, chủ yếu là hê-rô-in, các loại ma túy tổng hợp, cần sa với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh

    vi.

    Bên cạnh đó, hàng năm có hàng triệu lượt người nước ngoài và kiều bào Việt Nam (trong tổng số hơn 04

    triệu người đang định cư trên 103 quốc gia và vùng lãnh thổ) nhập cảnh vào Việt Nam để thăm thân nhân, đầu

    tư, kinh doanh, du lịch… Trong số đó có nhiều phần tử lợi dụng cơ hội đến Việt Nam để thực hiện tội phạm. Do

    vậy, tình hình người nước ngoài và người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi trốn vào Việt Nam và phạm tội ở

    Việt Nam rồi trốn ra nước ngoài trong thời gian qua có xu hướng gia tăng.

    Trước diễn biến tình hình tội phạm trong nước và thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi các

    quốc gia phải tăng cường liên kết, hợp tác đồng bộ và toàn diện bằng tất cả các biện pháp chính trị, pháp luật,

    kinh tế, an ninh… từ bình diện khu vực, liên khu vực và toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,

    4

    chống tội phạm. Trong đó, dẫn độ là biện pháp tất yếu khách quan và hiệu quả nhất để các quốc gia truy cứu

    trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội ở quốc gia này nhưng đang lẩn trốn tại quốc

    gia khác.

    Tuy nhiên, về phương diện khoa học pháp lý, dẫn độ là vấn đề còn rất mới ở Việt Nam nên chưa có

    nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện. Mặt khác, hoạt động đàm phán, ký kết ĐƯQT về dẫn độ

    và thực tiễn dẫn độ ở Việt Nam từ trước đến nay cũng chưa được nghiên cứu và tổng kết. Do đó, việc áp dụng

    ĐƯQT có quy định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam gặp nhiều khó khăn,

    vướng mắc, hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả dẫn độ ở

    Việt Nam thì tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn về dẫn độ là yêu cầu cấp thiết và có

    tính thời sự rất lớn trong giai đoạn hiện nay.

    Xuất phát từ nhận thức và thực trạng nói trên, tác giả chọn đề tài: “DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

    VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM” làm Luận án Tiến sĩ Luật học của mình.

    2. Tình hình nghiên cứu đề tài

    Dẫn độ là một hình thức hợp tác quốc tế được điều chỉnh đồng thời bởi pháp luật quốc tế (các ĐƯQT có

    quy định về dẫn độ và các ĐƯQT về quyền con người) và pháp luật quốc gia (Luật Dẫn độ, Luật Tố tụng hình

    sự, Luật Tương trợ tư pháp… ). Do vậy, từ trước đến nay trong lĩnh vực khoa học pháp lý ở Việt Nam và nước

    ngoài, vấn đề dẫn độ có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của Luật Quốc tế, Luật Hình sự quốc

    tế, Luật Quốc tế về quyền con người và dẫn độ cũng có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của

    pháp luật quốc gia, thuộc chuyên ngành khoa học pháp lý về hình sự, tố tụng hình sự và tương trợ tư pháp.

    Trên bình diện quốc tế, từ cuối thế kỷ thứ XIX đến nay, ở Châu Âu đã có rất nhiều công trình nghiên

    cứu về độc lập về dẫn độ hoặc nghiên cứu về luật hình sự quốc tế, luật quốc tế về quyền con người có đề cập đến

    dẫn độ của các tác giả có uy tín lớn trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Tiêu biểu là các công trình đã được xuất

    bản thành giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí khoa học pháp lý của

    các tác giả như: Nhóm này bao gồm các công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được xuất bản thành giáo trình, sách

    tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí khoa học pháp lý của các tác giả như: Edmond

    Poullet, (1867), “Luật hình sự cổ của Duché Brabant”, Bruxelles, M.Hayer, Viện Hàn lâm Vương quốc Bỉ;

    Louis Renault (1879),”Nghiên cứu về dẫn độ giữa Pháp và Anh”,Nhà xuất bản A.Cotillon; André

    (1880),”Nghiên cứu về các điều kiện dẫn độ”, Nhà xuất bản L.Larose; Maurice Violet (1898),”Thủ tục dẫn độ,

    đặc biệt tại lãnh thổ nước tị nạn”, Nhà xuất bản Giard & Brière; Charles Soldan (1882),”Dẫn độ tội phạm chính

    trị”, Nhà xuất bản Thorin; Maulineau (1879),”Hậu quả pháp lý của dẫn độ”, Nhà xuất bản chúng tôi Blanc-Hardel;

    Paul Bernard (1890),”Lý luận và thực tiễn dẫn độ”, tái bản lần 2, Nhà xuất bản Duchemin; Viện Luật quốc tế

    (1923),”Tuyển tập các vụ việc của Tòa án”; Ivan Anthony Shearer (1971),”Dẫn độ trong luật quốc tế”, Nhà

    xuất bản Manchester University Press Dobbs Ferry, N.Y, Oceana Publications Kalfat (1987),”Áp dụng các

    ĐƯQT và pháp luật quốc gia trong dẫn độ bị động”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật hình sự, Đại

    học Paris 2; Ducel (André) (1988),”Nghiên cứu so sánh thực tiễn dẫn độ của Pháp với các nước Anh – Mỹ”,

    luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I; Henry (F.), Ép. Ringel (1988),”Tội

    phạm chính trị trong pháp luật về dẫn độ”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học AixMarseille; Ingeade (1988),”Chế độ pháp lý của dẫn độ trong khuôn khổ của Hội đồng Châu Âu”, luận án Tiến sĩ

    Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I; Loued, Mohamed Naceur (1989),”Thủ tục dẫn độ bị

    5

    động trong pháp luật hiện đại của Pháp”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành tố tụng hình sự, Đại học Khoa

    học xã hội Toulouse; Zari (Anna), (1991),”Nguyên tắc đặc biệt trong dẫn độ nhìn từ góc độ quyền con người”,

    luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Paris I; André VITU (1992), “Ám sát chính trị

    trong luật quốc tế và dẫn độ”, Nhà xuất bản Gazette Palais; Adrien Masset và Anne Sophie Massa (2007), “Dẫn

    độ”, Tạp chí Khoa học về tội phạm, Đại học Liège, Vương quốc Bỉ; Ủy ban Châu Âu về vấn đề tội phạm

    (CDPC) và Ủy ban chuyên gia về thực thi các Công ước của Châu Âu trong lĩnh vực hình sự (2003),”Công ước

    Châu Âu về dẫn độ – Hướng dẫn và thủ tục”; Gilbert. G (1991),”Luật dẫn độ và vấn đề quyền con người”, Nhà

    xuất bản Martimes Nijhoff; Claudin DIB (2008),”Dẫn độ và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và các giải pháp

    khả dĩ tại Canada”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Québec, Montréal, Canada

    Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ XX đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ,

    về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, về hợp tác tương trợ tư pháp quốc tế nói chung và

    hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng đã được công bố trong các cuốn sách chuyên khảo, tham khảo

    hoặc đã được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành khoa học pháp lý tiêu biểu là công trình của các tác giả:

    Nguyễn Ngọc Anh (2000),”Hoạt động dẫn độ tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các

    nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5; Dương Tuyết Miên (2006),”Vấn đề dẫn độ tội phạm “, Tạp chí

    TAND số 10 (5); Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công (2006), “Dẫn độ những vấn đề lý

    luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Đào Thị Hà (2006),”Vấn đề dẫn độ trong pháp luật

    Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thủy (2007),”Một số

    vấn đề về dẫn độ tội phạm”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Xuân Yêm (2000), “Dẫn độ tội phạm, tương

    trợ pháp lý về hình sự và chuyển giao phạm nhân quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm”, Nhà xuất bản

    Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Yêm (2000),”Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong

    đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam”, Tạp chí TAND số 1 (1); Nguyễn Thị Mai Nga (2007),”Dẫn độ

    tội phạm và hoạt động tương trợ tư pháp của Viện Kiểm sát trong giải quyết các vụ án ma túy có yếu tố nước

    ngoài”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Anh Dũng (2007), Hợp tác quốc tế đấu tranh

    phòng, chống tội phạm của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn

    Ngọc Anh, Nguyễn Quốc Cường (2008),”Hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự trong bối cảnh hội nhập kinh tế

    quốc tế”, Tạp chí TAND số 2 (1); Chử Văn Dũng (2008),”Hoạt động INTERPOL trong thực hiện tương trợ tư

    pháp hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân; Đại học

    Cảnh sát nhân dân (2009),”Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài

    của lực lượng cảnh sát nhân dân – Lý luận và thực tiễn”, đề tài nghiên cứu khoa cấp bộ, mã số: BX-2008-T4823; Nguyễn Giang Nam (2011),”Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm trong điều tra tội

    phạm có yếu tố nước ngoài”, luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân…

    Từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế về dẫn độ như đã đề cập ở trên chúng tôi

    thấy rằng, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài đã rất thành công trong việc

    nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật quốc gia cũng

    như thực tiễn ký kết, gia nhập, thực hiện ĐƯQT và pháp luật về dẫn độ của một số quốc gia trên thế giới và Việt

    Nam. Kết quả của các công trình nghiên cứu về dẫn độ trong nước và nước ngoài đã đóng góp rất to lớn trong

    việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện chế định dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn

    còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về dẫn độ cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện như: Khái niệm, đặc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thẩm Quyền Xét Xử Và Việc Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế
  • Khái Quát Về Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế
  • Mỹ Công Khai Ủng Hộ Biểu Tình Hong Kong, Lên Án Sửa Đổi Dự Luật Dẫn Độ
  • Mỹ Ủng Hộ Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ
  • Hồng Kông: Hơn 1 Triệu Người Dân Xuống Đường Biểu Tình Phản Đối Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc
  • Ủy Ban Luật Gia Quốc Tế Và Hiệp Hội Luật Sư Ấn Độ Khởi Kiện Trung Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệp Hội Luật Sư Quốc Tế: Chính Quyền Kim Jong
  • Hiệp Hội Luật Sư Quốc Tế Iba Phê Phán Vụ Bắt Giữ Luật Sư Lê Công Định Tại Việt Nam
  • Tư Vấn Hợp Đồng Quốc Tế
  • Vai Trò Của Luật Sư Trong Việc Tư Vấn Cho Doanh Nghiệp Trong Thương Mại Quốc Tế
  • Luật Sư Tư Vấn Tài Chính Và Ngân Hàng
  • Gần đây, Ủy ban Luật gia Quốc tế và Hiệp hội Luật sư Ấn Độ đã gửi đơn lên Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, yêu cầu Trung Quốc chịu trách nhiệm về việc che giấu dịch bệnh dẫn đến đại dịch toàn cầu.

    Đây là trường hợp mới nhất sau khi một tổ chức dân sự Mỹ khởi kiện tập thể Trung Quốc. Theo các cơ quan truyền thông Ấn Độ The Times of India và Business Today, hai tổ chức quốc tế là Ủy ban Luật gia quốc tế (International Commission of Jurists – ICJ) và Hiệp hội Luật sư toàn Ấn Độ (All India Bar Association – AIBA) đã đệ đơn khiếu nại lên Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC) để buộc Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về sự lây lan của virus Corona mới trên toàn thế giới, gây tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tâm lý, cũng như gây nguy hại về kinh tế và xã hội cho người dân trên thế giới.

    Ông Adish C. Aggarwala, Chủ tịch Ủy ban Luật gia Quốc tế đồng thời là Chủ tịch Hiệp hội Luật sư toàn Ấn Độ, viết trong đơn khiếu nại: “Chúng tôi khiêm tốn khẩn cầu Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc yêu cầu và buộc Trung Quốc bồi thường xứng đáng cho cộng đồng quốc tế và các quốc gia thành viên, đặc biệt là Ấn Độ”.

    Ủy ban Luật gia Quốc tế được thành lập vào năm 1952 với mục đích đảm bảo sự phát triển tiến bộ và thực hiện có hiệu quả các quyền con người và luật nhân đạo quốc tế; bảo đảm thực hiện các quyền dân sự, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội; sự độc lập của ngành tư pháp và nghề luật.

    Đây không phải là vụ kiện đầu tiên được tiến hành chống lại Trung Quốc. Vào ngày 12/3, Công ty luật Berman ở Florida, Mỹ, đã tiến hành vụ kiện tập thể chống lại Trung Quốc vì che giấu dịch bệnh. Các nguyên đơn là 4 công dân và 1 doanh nghiệp Mỹ. Các bị đơn bao gồm chính phủ Trung Quốc, Ủy ban Y tế và Sức khỏe Quốc gia, Bộ Quản lý Khẩn cấp, Bộ Dân chính (Nội vụ), Chính quyền tỉnh Hồ Bắc và Chính quyền thành phố Vũ Hán.

    Đây là vụ kiện dân sự đầu tiên đòi bồi thưởng trên thế giới chống lại Trung Quốc vì che giấu dịch bệnh đã gây ra hậu quả nghiêm trọng kể từ khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát.

    Luật sư của nguyên đơn Moore nói rằng vụ kiện này không nhằm vào người dân Trung Quốc, mà là những người phải chịu trách nhiệm về thảm họa mà thế giới đang phải chịu đựng.

    Vụ kiện thứ hai

    Vào ngày 17/3, Larry Klayman, một luật sư nổi tiếng người Mỹ, cựu công tố viên của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã đệ đơn lên tòa án miền bắc bang Texas khởi kiện Trung Quốc về việc phát triển vũ khí sinh học, dẫn đến đại dịch về virus Corona mới toàn cầu. Nguyên đơn của vụ kiện để ngỏ, bất cứ ai bị thiệt hại bởi virus Corona mới, không phân biệt danh tính và quốc tịch, đều có thể tham gia vào vụ kiện, sau đó cùng nhau đòi bồi thường.

    Bị đơn bao gồm chính phủ Trung Quốc, quân đội, chuyên gia sinh học quân đội Trần Vi, Viện Nghiên cứu Virus học Vũ Hán, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, giám đốc Vương Diên Dật và nhà nghiên cứu Thạch Chính Lợi. Đơn khiếu nại yêu cầu tòa án tiểu bang tiến hành xét xử và đòi Trung Quốc bồi thường số tiền “ít nhất 20 nghìn tỷ USD”.

    Đến ngày 5/4, dịch bệnh COVID-19 đã lan khắp thế giới, khiến hơn 1,25 triệu người được chẩn đoán nhiễm bệnh, gần 70.000 người đã chết, trở thành thảm họa lớn nhất đối với nhân loại kể từ Thế chiến II.

    Theo số liệu mới nhất, hơn 330.000 người ở Hoa Kỳ đã được chẩn đoán nhiễm coronavirus mới và hơn 9.500 người đã chết. Xung quanh nguồn gốc của virus và các vấn đề khác, giới chính trị Hoa Kỳ và công chúng tiếp tục lên án và đổ lỗi cho Trung Quốc.

    Vào ngày 31/3, Ngoại trưởng Mike Pompeo cho biết trong một cuộc họp báo rằng một quan chức của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chết sau khi bị nhiễm virus Corona mới. Đồng thời, một lần nữa ông lại chỉ trích những hậu quả của việc Trung Quốc che giấu dịch bệnh.

    Trước đây, ông Pompeo đã nhấn mạnh trước mắt cần phải làm hết sức để hạn chế sự lây lan của virus Corona mới. Trong tương lai, phải tiến hành điều tra về dịch bệnh này và Hoa Kỳ có quyền yêu cầu Trung Quốc bồi thường.

    Ông Pompeo cho rằng không có quốc gia nào có quyền che giấu dịch bệnh, giống như một người mắc bệnh truyền nhiễm, không thể che giấu nó. Luật pháp của tất cả các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều rất rõ ràng. Che giấu bệnh tật dẫn đến những người khác bị lây nhiễm đều sẽ bị kết án phạm tội nghiêm trọng.

    Hạ nghị sĩ Jim Banks đảng Cộng hòa bang Indiana và các thành viên khác của Quốc hội đã đệ trình một dự luật liên đảng vào ngày 24/3, yêu cầu chính quyền Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về những hành động sai trái che giấu dịch bệnh thời kỳ đầu và gây ra hậu quả lớn, phải trả khoản tiền bồi thường rất lớn cho tổn thất kinh tế và sức khỏe cho nước Mỹ và người dân Mỹ.

    Cùng ngày, Thượng nghị sĩ Cộng hòa Josh Hawley bang Missouri, đã đề xuất một dự luật khác tại Thượng viện kêu gọi các quan chức y tế công cộng từ nhiều quốc gia tiến hành một cuộc điều tra quốc tế để buộc Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về dịch bệnh toàn cầu và gây tổn hại cho người Mỹ và mọi người trên khắp thế giới.

    Dự luật này đề xuất các đòi hỏi thiết thực hơn, bao gồm định lượng thiệt hại do dịch COVID-19 gây ra cho các quốc gia, thiệt hại về và sức khỏe cho nước Mỹ và dân chúng, đồng thời thiết lập một cơ chế bồi thường.

    Đòi Trung Quốc bồi thường vì Covid-19, các công ty Mỹ bị tấn công mạng

    Hãng luật Berman Law Group, theo đuổi vụ kiện tập thể chống lại Trung Quốc ở Mỹ và công ty Lucas Compton, chuyên về vận động hành lang, cho biết họ đang ghi nhận 5.000 vụ tấn công mạng nhắm hệ thống máy tính và máy chủ (server) mỗi ngày, được cho là xuất phát từ chính phủ Trung Quốc.

    “Những đợt tấn công mạng tăng mạnh sau khi hai công ty phối hợp nộp đơn kiện lên tòa án ở bang Florida hôm 12.3 và thu hút sự chú ý của công chúng và truyền thông”, ông Vinh Vuong, người phát ngôn cho Berman Law Group và Lucas Compton, nói đài Fox News.

    “Chúng tôi đã truy vết và phát hiện những đợt tấn công mạng xuất phát từ địa chỉ IP ở Trung Quốc. Dù vậy, đa số đợt tấn công mạng không thành công”, ông Vuong nói.

    Tuy nhiên, địa chỉ IP có thể dễ dàng bị giả mạo, điều này đồng nghĩa là cuộc tấn công mạng từ địa chỉ IP Trung Quốc không nhất thiết do chính phủ Trung Quốc tiến hành hay xuất phát từ bên trong Trung Quốc, theo Fox News.

    Đơn kiện của Berman Law Group và Lucas Compton đòi bồi thường thiệt hại cho các cá nhân cùng doanh nghiệp ở Mỹ, với cáo buộc chính phủ Trung Quốc khinh suất, xử lý trì trệ khi dịch Covid-19 mới bùng phát ở thành phố Vũ Hán cuối năm ngoái.

    Nguyên đơn tố cáo chính quyền Trung Quốc “ngay từ đầu biết rõ Covid-19 là nguy hiểm và có khả năng gây ra đại dịch, nhưng phản ứng trì trệ hoặc che đậy thông tin vì lợi ích kinh tế của chính họ”.

    Theo Cánh Cò

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gcca: Hiệp Hội Luật Sư Công Ty Toàn Cầu
  • Imla: Phương Tiện Truyền Thông Quốc Tế Luật Sư Hiệp Hội
  • Đoàn Công Tác Lđlsvn Tham Dự Hội Nghị Thường Niên Hiệp Hội Luật Sư Quốc Tế Tại Italy
  • Văn Phòng Luật Sư Quốc Tế Bình An
  • Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100