Việt Nam Và Trung Quốc Tập Trung Thúc Đẩy Cho Hiệp Định Dẫn Độ

Đàm Phán Dự Thảo Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Hai Nước Việt Nam Và Trung Quốc

Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Quốc Tế Và Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam

Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong: Nguồn Gốc, Tranh Cãi Và Thách Thức

Trung Quốc Và Phương Tây Đối Đầu Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong

Dự Luật Dẫn Độ Nghĩa Là Gì

Thúc đẩy Hiệp định dẫn độ Việt Nam – Trung Quốc sớm có hiệu lực; Hoàn thành việc lập quy hoạch xây dựng dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; Khuyến khích các doanh nghiệp tiêu biểu cho công nghệ tiên tiến và trình độ phát triển của Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam; Sẵn sàng mở rộng nhập khẩu từ Việt Nam, ưu tiên triển khai công tác đánh giá tiêu chuẩn gia nhập thị trường Trung Quốc đối với sữa và sản phẩm từ sữa của Việt Nam…

Đó là những nội dung cụ thể được thống nhất trong tuyên bố chung của lãnh đạo hai nước sau chuyến thăm cấp nhà nước đến Việt Nam của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình.

Trong tuyên bố chung khẳng định: “Hai bên cho rằng hai nước Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng và đối tác hợp tác quan trọng của nhau, đều đang trong giai đoạn then chốt của cải cách phát triển, sự phát triển của nước này là cơ hội của nước kia”.

Hiệp định dẫn độ Việt Nam – Trung Quốc sớm có hiệu lực

Tuyên bố chung khẳng định hai nước sẽ “Tăng cường hợp tác về quốc phòng, an ninh và thực thi pháp luật, thực hiện tốt Tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng đến năm 2025, sử dụng hiệu quả đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng, tổ chức tốt giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, đối thoại chiến lược quốc phòng”.

Đồng thời sẽ tổ chức tốt các hoạt động mang tính cơ chế như tuần tra liên hợp ở vịnh Bắc Bộ giữa hải quân, cảnh sát biển hai nước và tàu thuyền thăm lẫn nhau, tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ, chia sẻ kinh nghiệm trong các lĩnh vực công tác Đảng, công tác chính trị, y học, gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc giữa hai quân đội.

Phát huy tốt vai trò của các cơ chế như hội nghị hợp tác phòng chống tội phạm, đối thoại an ninh chiến lược; tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như chống khủng bố, ma túy, tiền giả, lừa đảo qua mạng, quản lý xuất nhập cảnh, quản lý biên giới, an ninh mạng; triển khai giao lưu kinh nghiệm trong các lĩnh vực như bảo vệ an ninh trong nước, phối hợp truy bắt tội phạm bỏ trốn; thúc đẩy Hiệp định dẫn độ Việt Nam – Trung Quốc sớm có hiệu lực.

Tuyên bố chung còn nêu rõ: Trung Quốc sẵn sàng mở rộng nhập khẩu từ Việt Nam, ưu tiên triển khai công tác đánh giá tiêu chuẩn gia nhập thị trường Trung Quốc đối với sữa và sản phẩm từ sữa của Việt Nam; đẩy nhanh tiến độ hoàn tất các thủ tục pháp lý, mở cửa thị trường đối với một số loại hoa quả của Việt Nam; triển khai hợp tác trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, trong đó có gạo, sắn.

Về vấn đề vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ

Hai bên đi sâu trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhất trí tiếp tục tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc”; sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được.

Hai bên nhất trí làm tốt công việc tiếp theo sau khi khảo sát chung tại vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này; tiếp tục thúc đẩy công việc của nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thỏa thuận. Hai bên đánh giá cao hoạt động thả giống thủy sinh và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vịnh Bắc Bộ.

Hai bên nhất trí tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), trên cơ sở hiệp thương thống nhất, sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

Từ Vụ Bắt Giữ 380 Người Trung Quốc Đánh Bạc: Trường Hợp Nào Sẽ Bị Dẫn Độ?

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Pháp Là Cơ Sở Phòng Chống Tội Phạm Bỏ Trốn

Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Luật Dẫn Độ : Trung Quốc Đang Đẩy Hồng Kông Đến Bờ Vực Thẳm

Dự Luật Dẫn Độ Tại Hongkong

Hiệp Định Dẫn Độ Việt Nam – Trung Quốc Cần Được Công Bố, Làm Rõ

Vì Sao Dân Hồng Kông Chống Dự Luật Dẫn Độ?

Pháp Dừng Phê Chuẩn Thỏa Thuận Dẫn Độ Với Hồng Kông

Có Thể Dẫn Độ Tội Phạm Tham Nhũng Từ Canada Về Việt Nam?

Canada Đình Chỉ Hiệp Định Dẫn Độ Và Xuất Khẩu Thiết Bị Quân Sự Sang Hồng Kông

Dẫn Độ Hay Tiếp Tay Dung Túng Tội Phạm Trung Quốc?

14/8/2019

“Đại úy Hà Trọng Dược, Trạm trưởng Trạm Biên phòng CKQT Hữu Nghị cho biết, từ năm 2022 đến nay, đơn vị đã tiến hành trao trả 41 lần với hơn 500 công dân Trung Quốc bị công an nước này truy nã hoặc vi phạm pháp luật Việt Nam; tiếp nhận 65 lần với hơn 600 công dân Việt Nam từ phía Trung Quốc.”

Như vậy, 500 công dân TQ đều là tội phạm, nghi phạm. Còn 600 công dân VN không rõ có tương tự; hay chủ yếu toàn người lao động bất hợp pháp (vi phạm dân sự), bị bán sang TQ.

Nếu quả đúng như vậy thì có dấu hiệu Hiệp định dẫn độ VN-TQ có sơ hở về phía VN. Nó cần được công bố, giải thích rõ là vậy, không thể cứ “bí mật”, dấm dấm dúi dúi với dân mãi.

Tìm trên mạng, thấy cái hiệp định này cuối 2022 vẫn còn được lãnh đạo 2 nước “thúc đẩy” để “sớm có hiệu lực”. Vậy thì nó có hiệu lực từ khi nào mà đã có số liệu “dẫn độ” năm 2022 như bài báo vừa nêu?

https://www.tienphong.vn/…/buc-tuong-thep-tren-bien-ai-1452…

https://tuoitre.vn/viet-nam-va-trung-quoc-tap-trung-thuc-da…

———————-

Tại sao chúng ta lại tự từ bỏ chủ quyền ngay chính trên đất chúng ta?

Bởi AdminTD – 14/08/2019

Nguyễn Ngọc Chu https://www.facebook.com/100003703170197/posts/1702648303201926/

14-8-2019

1. UẤT ỨC

Ngày 27/7/2019 khi được tin khoảng 500 cảnh sát Công an Hải Phòng bắt giữ 380 tội phạm Trung Quốc trong đường dây đánh bạc ở khu đô thị Our City (Thành phố của chúng ta [của người Tàu]) dư luận xã hội tỏ thái độ vừa buồn vừa an ủi. Buồn vì trên đất Việt Nam mà bọn tội phạm Trung Quốc đến hành nghề tự do hơn cả đất Trung Quốc của chúng. An ủi vì Công an Việt Nam cũng bắt được một số ít băng nhóm. Buồn nhiều hơn an ủi.

Đến ngày 01/8/2019 khi biết tin Bộ Công an phối hợp với Công an Hải Phòng bàn giao 380 tên tội phạm Trung Quốc phạm tội trên đất Hải Phòng cho Trung Quốc thì người dân Việt Nam vô cùng thất vọng. Nhiều người Việt uất ức.

Uất ức là khi bắt được bọn Trung Quốc phạm tội trên đất Việt mà người Việt không xử tội theo luật pháp Việt, lại đi bàn giao cho Trung Quốc xử tội theo luật pháp Trung Quốc.

Uất ức khác nữa là bọn tội phạm Trung Quốc này không chỉ phạm tội cờ bạc tự phát thông thường mà có kẻ chủ mưu tổ chức từ phía chính quyền Trung Quốc.

Uất ức thêm nữa là bọn tội phạm Trung Quốc về Trung Quốc có thể được tha bổng.

Uất ức hơn nữa là bọn tội phạm Trung Quốc này chẳng những không bị xét xử đúng tội, không bị bỏ vào xe tù cũi lợn chở đến biên giới (như những tù nhân Việt Nam phải chịu), mà còn được chuyên chở trong đoàn xe khách, lại được hộ tống bởi công an như đoàn khách danh dự quan trọng – kẻ phạm tội mà như khách trang trọng!

Uất ức thêm hơn nữa là bọ tội phạm Trung Quốc về Trung Quốc có nhiều kẻ được tha bổng rồi quay lại Việt Nam tiếp tục gây tội.

2. PHẪN NỘ

Ngày 08/8/2019 được tin 3 tên tội phạm người Trung Quốc giết tài xế taxi người Việt Nam rồi ném xác xuống sông phi tang thì không người Việt Nam nào không căm phẫn.

Ngày 13/8/2019 người Việt Nam phẫn nộ khi biết tin 3 tên giết người Trung Quốc không bị xét xử ở Việt Nam mà lại trao trả cho Trung Quốc.

Phẫn nộ vì người Trung Quốc giết người Việt Nam ở đất Việt Nam mà không bị trừng trị theo pháp luật Việt Nam.

Phẫn nộ khác nữa là vì gia đình nạn nhân người Việt Nam không được đền bù thích đáng.

Phẫn nộ thêm nữa là vì bọn Trung Quốc cứ sang Việt Nam gây tội rồi được trả về Trung Quốc mà không biết có bị kết tội hay không.

Phẫn nộ hơn nữa là bọn tội phạm Trung Quốc này có thể quay lại Việt Nam để tiếp tục phạm tội.

Phẫn nộ thêm hơn nữa vì Việt Nam tự đánh mất chủ quyền ngay trên đất mình.

3. TẠI SAO LẠI TỰ TỪ BỎ CHỦ QUYỀN?

1. Một nguyên tắc sơ đẳng trong luật pháp quốc tế được mọi nước thừa nhận và tôn trọng là: “Tội phạm xảy ra ở nước nào thì bị xử theo luật pháp của nước đó”.

2. Một cách nôm na, “Dẫn độ” là trường hợp tội phạm đã phạm tội ở nước khác chạy đến nước sở tại lẩn tránh bị nước sở tại bắt giữ và có quốc gia yêu cầu nước sở tại dẫn độ về cho quốc gia đó để xét xử tội phạm. Việc dẫn độ chỉ xẩy ra khi quốc gia sở tại bắt giữ tội phạm đồng ý cho dẫn độ – hoặc theo hiệp ước dẫn độ đã ký kết giữa 2 quốc gia, hoặc không có hiệp ước dẫn độ nhưng vẫn đồng ý cho dẫn độ. Nếu không có hiệp ước dẫn độ giữa 2 quốc gia, nước sở tại bắt giữ tội phạm có thể không đồng ý dẫn độ.

3. Việt Nam chưa ký Hiệp ước dẫn độ với Trung Quốc. Việt Nam chỉ ký với Trung Quốc Hiệp ước tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự, tương tự như đã ký với Bungari, Hàn Quốc… và các nước khác.

Bởi thế, trường hợp người Duy Ngô Nhĩ (Tân Cương) trốn sang Quảng Ninh tháng 4 năm 2014 có thể không trao trả cho Trung Quốc vì chưa có Hiệp ước dẫn độ. Chưa nói đến khi bắt giữ để trao trả, họ đã cướp súng bắn người Việt Nam thì phải gữ lại để xét xử theo luật pháp Việt Nam, chứ không trả ngay cho phía Trung Quốc.

4. Đừng viện dẫn “Công ước Vienna” ( về Quan hệ Ngoại giao, thông qua năm 1961, có hiệu lực năm 1964). Vì “Công ước Vienna” chỉ miễn trừ cho những người có hộ chiếu ngoại giao. 380 người Trung Quốc tổ chức đánh bạc ở Việt Nam là thường dân, không thể hưởng quy chế ngoại giao.”

5. Không có lý do gì mà không xử tội bọn Trung Quốc phạm tội trên đất Việt Nam, nhất là chúng lại phạm tội giết người, và phạm tội có tổ chức của bọn tình báo giấu mặt.

Không xử tội người Trung Quốc phạm tội trên đất Việt Nam là Việt Nam đã tự đánh mất quyền xét xử theo luật pháp Việt Nam – chính là đã tự từ bỏ chủ quyền ngay trên lãnh thổ mình.

4. CÓ PHẢI CHĂNG CHÚNG TA ĐANG THÚC ĐẨY NGƯỜI TRUNG QUỐC ĐẾN PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM?

1. Người nước ngoài đến nước mình phạm tội, nhiệm vụ mình xét xử mà mình lại không thực thi quyền xét xử sở đẳng đương nhiên mà các nước thừa nhận, là mình không làm tròn bổn phận pháp lý như các quốc gia khác.

2. Người nước ngoài đến nước mình phạm tội, mà mình chịu trao cho nước khác, là tự xem luật pháp mình không có hiệu lực với người nước họ, là tự hạ giá công dân mình so với người nước họ, là đặt người nước họ ngoài vòng pháp luật trên đất mình.

3. Nói cụ thể, người Trung Quốc đến Việt Nam vi phạm pháp luật và gây tội khắp mọi nơi – từ mở phòng khám lừa đảo, lừa đảo tiền bạc, lừa đảo tình ái, lừa đảo hàng hóa, đánh người gây rối, cờ bạc trộm cắp, buôn bán ma túy… cho đến cả giết người trắng trợn mà Việt Nam không trừng trị theo pháp luật Việt Nam, lại trả về cho Trung Quốc, là đặt người Trung Quốc bất khả xâm phạm trên đất Việt Nam, là thúc đẩy người Trung Quốc đến phạm tội ở Việt Nam.

5. KHÔNG THỂ TỰ MÌNH HẠ THẤP GIÁ TRỊ CỦA CHÍNH MÌNH

Luật pháp của một nước là uy quyền của nước đó. Đến nước nào thì phải tuân thủ pháp luật của nước đó.

Tại sao người Trung Quốc đến Việt Nam mà không tuân thủ pháp luật Việt Nam lại tuân thủ pháp luật Trung Quốc?

Tại sao người Trung Quốc lại ngoài vòng pháp luật Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam?

Người Việt Nam đi nước ngoài phạm tội ở nước sở tại có được nước sở tại trả về Việt Nam như người Trung Quốc phạm tội ở Việt Nam không?

Chính chúng ta đang tự hạ thấp giá trị người Việt. Tự mình khinh rẻ mình thì làm sao được người nước khác tôn trọng?

Một quốc gia mà không dám trị tội người của quốc gia khác phạm tội trên lãnh thổ mình là một quốc gia sợ hãi. Đã sợ hãi thì tất sẽ bị chèn ép.

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Hiệp Ước Dẫn Độ Việt

Luật Dẫn Độ Việt – Trung: ‘‘Tị Nạn Chính Trị’’, Điều Đáng Lo Trước Tiên

Dẫn Độ Trong Tiếng Tiếng Anh

Một Năm Chống Dự Luật Dẫn Độ: Lãnh Đạo Hồng Kông Đe Dọa Không Chấp Nhận “Hỗn Loạn”

Cập Nhật Thay Đổi Luật Di Trú Mỹ

Trung Quốc Vừa Tiết Lộ : Luật Dẫn Độ Trung Quốc

Tìm Hiểu Luật Dẫn Độ Nhật Bản

Dẫn Độ Là Gì 2022? Trường Hợp Nào Được Dẫn Độ?

Dự Luật Dẫn Độ Gây Tranh Cãi Của Hong Kong Chính Thức ‘chết’

Vì Sao Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ?

Toàn Cảnh Cuộc Biểu Tình Của Hàng Trăm Ngàn Người Hong Kong Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc

Hồng Kông biểu tình chống dự luật dẵn độ sang Trung quốc Đại lục từ 3 tháng nay

Luật dẫn độ Trung quốc – Việt Namđã ký kết từ hơn 3 năm nay .

Ngày 7/4 năm 2022, Trung quốc và Việt Nam đã ký kết luật dẫn độ mà dân không hề được thông báo. Hôm 31 tháng 8 năm 2022, Tân hoa xã của Trung cộnvừa tiết lộ.

Bài báo của Tân Hoa xã :

31/8/2019 Cơ quan lập pháp hàng đầu của Trung Quốc hôm thứ Hai đã phê chuẩn một hiệp ước dẫn độ Trung Quốc-Việt Nam.

Hiệp ước dẫn độ gồm 22 điều khoản bao gồm các vấn đề như nghĩa vụ dẫn độ, điều kiện dẫn độ tội phạm, những lý do có thể sử dụng để từ chối dẫn độ và giải quyết tranh chấp.

Được ủy quyền bởi Hội đồng Nhà nước, nhóm đàm phán Trung Quốc gồm các quan chức từ nhiều bộ khác nhau đã hội đàm với phía Việt Nam vào tháng 10 năm 2013. Hai bên đã ký hiệp ước vào ngày 7 tháng 4 năm 2022 tại Bắc Kinh.

Hiệp ước đã được đệ trình vào ngày 22 tháng 8 tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nhân dân Quốc gia, cơ quan lập pháp hàng đầu, để xem xét tại phiên họp hai tháng một lần.

Nguyên văn bài báo Tân Hoa Xã tiếng Anh :

August 31/2019 China’s top legislature on Monday approved a China-Vietnam extradition treaty.

The 22-article extradition treaty covers issues such as extradition obligations, offenses eligible for extradition, reasons that can and should be used to refuse extradition, and the settlement of disputes.

Authorized by the State Council, the Chinese negotiation team was made up of officials from various departments and started talks with the Vietnamese side in October 2013. The two sides signed the treaty on April 7, 2022 in Beijing.

The treaty was submitted on Aug. 22 to the Standing Committee of the National People’s Congress, the top legislature, for review at its ongoing bimonthly session.

Tại Hồng Kông, chỉ mới là dự luật dẫn độ, dân Hồng Kông đã biểu tình phản đối từ 3 tháng nay. Còn ở Việt Nam, chính quyền đã theo lệnh Trung cộng âm thầm ký kết Hiệp định dẫn độ, không thèm thông báo với dân, không cần biểu quyết của Quốc hội. Trường hợp dấu diếm nhân dân Việt Nam đã xẩy ra nhiều lần như Hiệp định Phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1999, Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 vv…

Theo luật dẫn độ, những người Tàu phạm tội ở Việt Nam, chinh quyền CSVN không có quyền xử và phải dẫn độ sang Trung quốc. Ngay những gián điệp Tàu như tướng Công An Trương Giang Long đã tố cáo ( Xin cem Video Pháp, Anh, Việt :

nếu bắt được, CSVN cũng không có quyền xử những gián điệp này, phải trả cho Trung quốc.

và bài viết của báo Tiếng Dân :

https://baotiengdan.com/2019/08/30/trung-quoc-phe-chuan-hiep-dinh-dan-do-voi-viet-nam-nhung-dan-viet-nam-khong-ai-biet/

Nguyễn Đình Nhân

Có Phải Việt Nam Đã “khước Từ Một Phần Chủ Quyền Quốc Gia” Khi Thi Hành Luật Dẫn Độ Việt

Ela: Hiệp Hội Luật Sư Dẫn Độ

Luật An Ninh Quốc Gia Cho Phép Dẫn Độ Nghi Phạm Từ Hồng Kông Sang Trung Quốc

Dự Luật Dẫn Độ Của Hong Kong Là Gì?

Tại Sao Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông Lại Kích Hoạt Biểu Tình?

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc

Bộ Công An Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ

Tại Sao Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông Lại Kích Hoạt Biểu Tình?

Dự Luật Dẫn Độ Của Hong Kong Là Gì?

Luật An Ninh Quốc Gia Cho Phép Dẫn Độ Nghi Phạm Từ Hồng Kông Sang Trung Quốc

Với mong muốn nâng cao hiệu quả hợp tác trong việc phòng, chống tội phạm và thúc đẩy quan hệ trong lĩnh vực dẫn độ giữa hai nước thông qua việc ký kết một hiệp định về dẫn độ người phạm tội.

Theo quy định của Hiệp định này, mỗi Bên đồng ý dẫn độ cho Bên kia bất kỳ người nào đang có mặt trên lãnh thổ của nước mình mà Bên đó yêu cầu để tiến hành truy tố, xét xử hoặc thi hành án vì một tội có thể bị dẫn độ.

1. Người bị dẫn độ theo quy định của Hiệp định này là người có hành vi phạm tội có thể bị xử phạt tù với thời hạn từ một năm trở lên hoặc nặng hơn theo quy định pháp luật của cả hai Bên tại thời điểm yêu cầu dẫn độ.

3. Phù hợp với quy định của Điều này, việc xác định tội theo pháp luật của cả hai Bên được tiến hành như sau:

a) Không yêu cầu pháp luật của cả hai Bên quy định hành vi phạm tội đó phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh.

b) Tất cả các hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ phải được xem xét một cách toàn diện và không nhất thiết các yếu tố cấu thành của tội phạm đó theo pháp luật của các Bên phải giống như nhau.

5. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện bên ngoài lãnh thổ của Bên yêu cầu, thì việc dẫn độ người phạm tội sẽ được tiến hành khi pháp luật của Bên được yêu cầu cũng quy định hình phạt đối với tội phạm đó nếu thực hiện bên ngoài lãnh thổ của mình trong hoàn cảnh tương tự. Trường hợp pháp luật của Bên được yêu cầu không quy định như vậy, thì Bên được yêu cầu có thể tiến hành việc dẫn độ theo ý mình.

1. Việc dẫn độ sẽ không được thực hiện theo Hiệp định này, khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Khi Bên được yêu cầu xác định rằng tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm mang tính chất chính trị;

b) Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đã bị kết án hay được xử là vô tội trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu về chính tội phạm mà người đó bị yêu cầu dẫn độ;

d) Khi Bên được yêu cầu có căn cứ xác đáng để cho rằng yêu cầu dẫn độ được đưa ra nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trừng phạt người bị dẫn độ vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, giới tính, chính kiến hay làm người đó bị ảnh hưởng bởi các lý do trên.

2. Quy định tại khoản 1.a Điều này sẽ không áp dụng đối với các tội sau đây:

a) ước đoạt hoặc tước đoạt chưa thành tính mạng hoặc xâm phạm thân thể người đứng đầu nhà nước hay thành viên gia đình của người đó.

b) Tội phạm mà các Bên có nghĩa vụ thiết lập quyền truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc dẫn độ theo một thỏa thuận quốc tế đa phương mà cả hai Bên đều là thành viên.

Việc dẫn độ theo Hiệp định này có thể bị từ chối khi có một trong các trường hợp sau đây:

1. Khi toàn bộ hoặc một phần tội phạm bị yêu cầu dẫn độ được cho là đã được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của Bên được yêu cầu theo pháp luật của Bên đó.

2. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đã được xử vô tội hoặc bị kết án tại một nước thứ ba về cùng tội đó, nếu bị kết án, thì hình phạt đã được thi hành đầy đủ hoặc không còn hiệu lực thi hành nữa.

3. Trong các trường hợp ngoại lệ, xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi ích của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu thấy rằng, việc dẫn độ sẽ không phù hợp với các nguyên tắc nhân đạo do hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu dẫn độ.

4. Khi tội mà yêu cầu dẫn độ đưa ra là một tội theo luật quân sự và không phải là tội quy định trong luật hình sự thông thường.

1. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt về tội phạm nhưng không phải là tội đang bị yêu cầu dẫn độ trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu, thì Bên được yêu cầu có thể hoãn việc dẫn độ người đó cho đến khi kết thúc quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự hay chấp hành xong toàn bộ hoặc một phần hình phạt đã tuyên. Bên được yêu cầu sẽ thông báo cho Bên yêu cầu về việc hoãn dẫn độ nói trên. Khi điều kiện hoãn dẫn độ không còn nữa thì Bên được yêu cầu phải thông báo ngay cho Bên yêu cầu và tiếp tục tiến hành việc dẫn độ nếu không có thông báo khác của Bên yêu cầu.

2. Trong trường hợp việc hoãn việc hoãn dẫn độ nêu tại khoản 1 Điều 1 làm cản trở quá trình tố tụng hình sự do hết thời hiệu hoặc gây khó khăn nghiêm trọng cho việc tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự, thì theo đề nghị của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu căn cứ vào pháp luật nước mình có thể cho dẫn độ tạm thời theo yêu cầu.

3. Người bị dẫn độ tạm thời phải được trả lại ngay sau khi quá trình tố tụng hình sự đã kết thúc hoặc hết thời hạn yêu cầu dẫn độ tạm thời mà hai Bên đã thỏa thuận. Khi có yêu cầu, Bên được yêu cầu sẽ gia hạn thời hạn đã thỏa thuận trên nếu có lý do chính đáng cho việc gia hạn này.

1. Các Bên không có nghĩa vụ phải dẫn độ công dân của mình theo Hiệp định này.

2. Nếu việc dẫn độ bị từ chối chỉ trên cơ sở quốc tịch của người bị dẫn độ, thì theo đề nghị của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu sẽ đưa vụ án ra cơ quan có thẩm quyền để truy tố.

3. Quốc tịch được xác định vào thời điểm thực hiện tội phạm và vì tội đó mà có yêu cầu dẫn độ.

1. Yêu cầu dẫn độ phải bằng văn bản và được gửi thông quan đường ngoại giao.

2. Văn bản yêu cầu dẫn độ phải kèm theo:

a) Các tài liệu mô tả đặc điểm nhận dạng, và nếu có thể, giấy tờ về quốc tịch và nơi lưu trú của người bị yêu cầu dẫn độ;

b) Một văn bản nêu sự việc của vụ án;

c) Một văn bản nêu các luật quy định về các yếu tố cấu thành tội phạm và tội danh;

d) Một văn bản nêu các luật quy định về hình phạt đối với tội phạm đó;

a) Bản sao lệnh bắt hoặc giam giữ của thẩm phán hay người có thẩm quyền khác của Bên ký kết yêu cầu dẫn độ;

b) Thông tin xác nhận người bị dẫn độ là người được nêu trong lệnh bắt hay giam giữ;

c) Một văn bản về hành vi cấu thành tội phạm đó đưa ra căn cứ hợp lý để cho rằng người bị dẫn độ đã thực hiện tội bị yêu cầu dẫn độ.

a) Bản sao bản án kết tội do Tòa án của Bên yêu cầu dẫn độ tuyên;

b) Thông tin xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ là người đã bị kết án;

c) Một văn bản trình bày về hành vi cấu thành tội phạm mà người đó bị kết án.

5. Tất cả các tài liệu do Bên yêu cầu gửi theo quy định của Hiệp định này phải được chứng nhận và gửi kèm theo bản dịch ra tiếng của Bên được yêu cầu hoặc ra tiếng Anh.

6. Tài liệu được chứng nhận theo quy định của Hiệp định này là tài liệu có chữ ký hoặc xác nhận của thẩm phán hoặc quan chức có thẩm quyền của Bên yêu cầu và đóng dấu chính thức của cơ quan có thẩm quyền của Bên đó.

1. Nếu Bên được yêu cầu cho rằng thông tin đã cung cấp kèm theo yêu cầu dẫn độ không đầy đủ để tiến hành việc dẫn độ theo hiệp định này, thì có thể yêu cầu cung cấp các thông tin bổ sung trong thời hạn do Bên được yêu cầu ấn định.

2. Nếu người bị yêu cầu dẫn độ đang bị bắt giữ và các thông tin bổ sung đã cung cấp theo Hiệp định này không đầy đủ hoặc không nhận được trong thời hạn ấn định, thì người bị bắt giữ có thể được trả tự do. Việc trả tự do cho người bị yêu cầu dẫn độ nói trên không cản trở Bên yêu cầu đưa ra yêu cầu mới về dẫn độ người đó.

3. Trong trường hợp người đó được phóng thích khỏi nơi giam giữ theo khoản 2 Điều này thì Bên được yêu cầu sẽ thông báo cho Bên yêu cầu ngay khi có thể được.

1. Trong trường hợp khẩn cấp, một Bên có thể yêu cầu bắt khẩn cấp người để dẫn độ trước khi có yêu cầu dẫn độ. Yêu cầu bắt khẩn cấp có thể được các Bên gửi qua đường ngoại giao hoặc trực tiếp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc.

2. Yêu cầu bắt khẩn cấp phải được lập bằng văn bản và gồm các nội dung sau đây:

a) Mô tả về người bị bắt để dẫn độ, kể cả các thông tin về quốc tịch của người đó;

b) Nơi người bị bắt để dẫn độ đang có mặt, nếu biết được;

c) Bản tóm tắt sự việc của vụ án, và nếu có thể, cả thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm;

d) Mô tả các luật bị vi phạm;

e) Thông báo về lệnh bắt hay lệnh tạm giữ, hoặc bản án đối với người đó;

f) Khẳng định rõ sẽ gửi văn bản yêu cầu dẫn độ đối với người bị bắt để dẫn độ.

3. Sau khi nhận được yêu cầu bắt khẩn cấp, Bên được yêu cầu sẽ tiến hành các bước cần thiết để bảo đảm việc bắt giữ người bị yêu cầu và thông báo ngay kết quả cho Bên yêu cầu.

4. Người bị bắt giữ sẽ được trả tự do nếu Bên yêu cầu không đưa ra yêu cầu dẫn độ kèm theo các tài liệu nêu tại Điều 7 trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày bắt giữ với điều kiện là việc trả tự do này không cản trở quá trình tố tụng nếu sau đó lại nhận được yêu cầu dẫn độ.

Trong trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ thông báo cho Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền của Bên được yêu cầu là người đó chấp nhận việc dẫn độ thì Bên được yêu cầu sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để tiến hành việc dẫn độ trong phạm vi pháp luật của Bên đó cho phép.

1. Trong trường hợp nhận được yêu cầu dẫn độ từ hai hay nhiều quốc gia đối với cùng một người về cùng một tội phạm hay nhiều tội phạm khác nhau, thì Bên được yêu cầu sẽ quyết định dẫn dộ người đó cho một trong các quốc gia nói trên và thông báo quyết định của mình cho các quốc gia đó.

a) Quốc tịch và nơi thường trú của người bị yêu cầu dẫn độ;

b) Các yêu cầu có được lập theo đúng quy định của Hiệp định Dẫn độ hay không;

c) Thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm;

d) Lợi ích riêng của các quốc gia yêu cầu;

e) Mức độ nghiêm trọng của tội phạm;

f) Quốc tịch của người bị hại;

g) Khả năng dẫn độ tiếp theo giữa các quốc gia yêu cầu;

h) Ngày đưa ra yêu cầu dẫn độ.

1. Ngay sau khi có quyết định về yêu cầu dẫn độ, Bên được yêu cầu thông báo quyết định đó cho Bên yêu cầu qua đường ngoại giao. Nếu từ chối dẫn độ thì phải cho biết lý do và nói rõ từ chối toàn bộ hay một phần yêu cầu dẫn độ.

2. Bên được yêu cầu sẽ chuyển giao người bị dẫn độ cho cơ quan có thẩm quyền của Bên yêu cầu tại một địa điểm trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu mà hai Bên chấp thuận.

3. Bên yêu cầu sẽ đưa người bị dẫn độ ra khỏi lãnh thổ của Bên được yêu cầu trong một thời hạn hợp lý do Bên được yêu cầu ấn định, nếu hết thời hạn trên mà người đó chưa được chuyển đi, thì Bên được yêu cầu có thể trả tự do cho người đó và có thể từ chối dẫn độ đối với tội phạm tương tự.

4. Nếu có tình huống phát sinh vượt quá khả năng kiểm soát của một Bên, cản trở Bên đó chuyển giao hay tiếp nhận người bị dẫn độ, thì phải thông báo cho Bên kia biết. Trong trường hợp đó, sẽ không áp dụng các quy định nêu tại khoản 3 Điều này. Hai Bên sẽ cùng nhau thỏa thuận để đưa ra thời hạn chuyển giao hoặc tiếp nhận người bị dẫn độ phù hợp với Điều này.

Nếu người bị dẫn độ trốn tránh việc truy cứu trách nhiệm hình sự và quay trở lại lãnh thổ của Bên được yêu cầu thì Bên yêu cầu có thể đưa ra yêu cầu dẫn độ lại người đó. Trong trường hợp này cần phải gửi kèm theo các tài liệu nêu tại Điều 7.

Phù hợp với phạm vi và các điều kiện mà hai Bên thỏa thuận và trên cơ sở tôn trọng quyền lợi của Bên thứ ba, tất cả các tài sản do phạm tội mà có hoặc cần để làm vật chứng được tìm thấy trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu, có thể sẽ được chuyển giao theo đề nghị của Bên yêu cầu việc dẫn độ được phép thực hiện.

1. Người bị dẫn độ theo Hiệp định này có thể không bị giam giữ, xét xử hay xử phạt trên lãnh thổ của Bên yêu cầu, trừ trường hợp đối với:

a) Tội mà theo đó việc dẫn độ đã được thực hiện hoặc tội tuy có tên gọi khác nhưng cùng dựa trên các sự việc mà theo đó việc dẫn độ đã được phép tiến hành với điều kiện tội đó là tội có thể bị dẫn độ hoặc một tội nhẹ hơn;

b) Tội phạm được thực hiện sau khi đã dẫn độ người đó;

c) Tội mà cơ quan có thẩm quyền của Bên được yêu cầu đồng ý với việc giam giữ, xét xử hay xử phạt người đó;

Theo quy định của điểm này:

i. Bên được yêu cầu có thể yêu cầu cung cấp tài liệu nêu tại Điều 7;

ii. Lời khai có gía trị pháp lý của người bị dẫn độ về tội đó sẽ được gửi cho Bên được yêu cầu, nếu có;

iii. Trong thời gian yêu cầu đang được xử lý, người bị dẫn độ có thể bị Bên yêu cầu giam giữ theo thời hạn mà Bên được yêu cầu cho phép.

2. Người bị dẫn độ theo Hiệp định này không thể bị dẫn độ cho quốc gia thứ ba về tội đã thực hiện trước khi người đó bị dẫn độ trừ trường hợp Bên được yêu cầu đồng ý.

3. Khoản 1 và khoản 2 của Điều này không cản trở việc giam giữ, xét xử hay xử phạt người bị dẫn độ hoặc dẫn độ người đó đến nước thứ ba nếu:

a) Người đó rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu sau khi dẫn độ và tự nguyện quay trở lại lãnh thổ đó;

b) Người đó không rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày người đó được tự do rời đi.

1. Trong phạm vi được pháp luật của mình cho phép, việc chuyển giao người bị dẫn độ cho một trong các Bên do nước thứ ba tiến hành có quá cảnh qua lãnh thổ của Bên kia sẽ được phép thực hiện khi có văn bản yêu cầu gửi qua đường ngoại giao hoặc gửi trực tiếp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc.

2. Trong trường hợp chuyển giao bằng đường hàng không và không hạ cánh trên lãnh thổ của Bên quá cảnh, thì không yêu cầu phải xin phép quá cảnh. Nếu tiến hành việc hạ cánh không dự định trước trên lãnh thổ của Bên quá cảnh, thì Bên đó có thể yêu cầu Bên kia gửi yêu cầu xin quá cảnh theo quy định tại khoản 1 Điều này.

1. Bên được yêu cầu sẽ chịu mọi chi phí về các thủ tục trong phạm vi thẩm quyền của mình phát sinh từ yêu cầu dẫn độ.

3. Bên yêu cầu sẽ chịu các chi phí phát sinh trong việc chuyển người bị dẫn độ từ lãnh thổ của Bên được yêu cầu và chi phí quá cảnh.

2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc có thể cùng nhau trao đổi trực tiếp về quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể và duy trì, thúc đẩy các thủ tục để thực hiện Hiệp định này.

1. Hiệp định này phải được phê chuẩn và bắt đầu có hiệu lực vào thời điểm trao đổi các văn kiện phê chuẩn.

2. Hiệp định này áp dụng đối với các tội phạm được thực hiện trước hoặc sau ngày có Hiệp định này có hiệu lực.

3. Mỗi Bên có thể chấm dứt Hiệp định này bằng việc gửi thông báo bằng văn bản cho nhau vào bất kỳ thời điểm nào. Trong trường hợp đó, Hiệp định sẽ hết hiệu lực sau sáu (6) tháng kể từ ngày gửi thông báo đó.

Hiệp định này được làm thành hai bản tại Seoul ngày 15 tháng 9 năm 2003 bằng tiếng Việt, tiếng Hàn Quốc và tiếng Anh, các văn bản có giá trị như nhau. Trong trường hợp nảy sinh bất đồng trong việc giải thích Hiệp định này, văn bản tiếng Anh sẽ được dùng làm cơ sở./.

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Đại Hàn Dân Quốc 2003

Bộ Công An Đề Xuất Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Sửa Đổi Về Luật Di Trú Mỹ

Hội Thảo Trực Tuyến “đầu Tư Mỹ Eb5

Những Thay Đổi Trong Luật Di Trú Mỹ Ở Gia Kiệm

Đàm Phán Dự Thảo Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Hai Nước Việt Nam Và Trung Quốc

Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Quốc Tế Và Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam

Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong: Nguồn Gốc, Tranh Cãi Và Thách Thức

Trung Quốc Và Phương Tây Đối Đầu Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong

Dự Luật Dẫn Độ Nghĩa Là Gì

Vấn Đề Dẫn Độ Theo Bộ Luật Tố Tụng Năm 2003

Ngày 23-10, Đoàn đàm phán Việt Nam do Thiếu tướng, chúng tôi Nguyễn Ngọc Anh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Trung Quốc do bà Chen Peijie, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật và Điều ước, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa làm Trưởng đoàn đã tiến hành đàm phán dự thảo Hiệp định về dẫn độ, nhằm tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Anh, Trưởng đoàn Việt Nam; bà Chen Peijie, Trưởng đoàn Trung Quốc và các thành viên hai đoàn đàm phán.

Phát biểu tại buổi làm việc, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Anh đã chuyển lời thăm hỏi của Đồng chí Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam tới các thành viên Đoàn đàm phán Trung Quốc. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Anh nhấn mạnh: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời. Trong lĩnh vực tư pháp, hai bên đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự (năm 1998) và đã đặt vấn đề về đàm phán, ký kết một hiệp định riêng về dẫn độ nhằm tăng cường và hoàn thiện cơ sở pháp lý về hợp tác giữa các cơ quan tư pháp hai nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính vì vậy, việc đàm phán, ký kết Hiệp định vào thời điểm này có ý nghĩa về mặt chính trị, đối ngoại, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hữu nghị và đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Hai đoàn đàm phán trên tinh thần hữu nghị, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, sẽ ký Biên bản ghi nhớ và cùng thống nhất hoàn tất việc ký kết Hiệp định trong thời gian sớm nhất.

Phương Liên

Việt Nam Và Trung Quốc Tập Trung Thúc Đẩy Cho Hiệp Định Dẫn Độ

Từ Vụ Bắt Giữ 380 Người Trung Quốc Đánh Bạc: Trường Hợp Nào Sẽ Bị Dẫn Độ?

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Pháp Là Cơ Sở Phòng Chống Tội Phạm Bỏ Trốn

Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Luật Dẫn Độ : Trung Quốc Đang Đẩy Hồng Kông Đến Bờ Vực Thẳm

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Đại Hàn Dân Quốc 2003

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc

Bộ Công An Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ

Tại Sao Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông Lại Kích Hoạt Biểu Tình?

Dự Luật Dẫn Độ Của Hong Kong Là Gì?

Hiệp định về dẫn độ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại hàn Dân quốc có hiệu lực từ ngày 19 tháng 4 năm 2005./.

HIỆP ĐỊNH

VỀ DẪN ĐỘ GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ ĐẠI HÀN DÂN QUỐC

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc (sau đây gọi là “các Bên”)

Với mong muốn nâng cao hiệu quả hợp tác trong việc phòng, chống tội phạm và thúc đẩy quan hệ trong lĩnh vực dẫn độ giữa hai nước thông qua việc ký kết một hiệp định về dẫn độ người phạm tội.

Đã thỏa thuận như sau:

Theo quy định của Hiệp định này, mỗi Bên đồng ý dẫn độ cho Bên kia bất kỳ người nào đang có mặt trên lãnh thổ của nước mình mà Bên đó yêu cầu để tiến hành truy tố, xét xử hoặc thi hành án vì một tội có thể bị dẫn độ.

1. Người bị dẫn độ theo quy định của Hiệp định này là người có hành vi phạm tội có thể bị xử phạt tù với thời hạn từ một năm trở lên hoặc nặng hơn theo quy định pháp luật của cả hai Bên tại thời điểm yêu cầu dẫn độ.

3. Phù hợp với quy định của Điều này, việc xác định tội theo pháp luật của cả hai Bên được tiến hành như sau:

a) Không yêu cầu pháp luật của cả hai Bên quy định hành vi phạm tội đó phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh.

b) Tất cả các hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ phải được xem xét một cách toàn diện và không nhất thiết các yếu tố cấu thành của tội phạm đó theo pháp luật của các Bên phải giống như nhau.

5. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện bên ngoài lãnh thổ của Bên yêu cầu, thì việc dẫn độ người phạm tội sẽ được tiến hành khi pháp luật của Bên được yêu cầu cũng quy định hình phạt đối với tội phạm đó nếu thực hiện bên ngoài lãnh thổ của mình trong hoàn cảnh tương tự. Trường hợp pháp luật của Bên được yêu cầu không quy định như vậy, thì Bên được yêu cầu có thể tiến hành việc dẫn độ theo ý mình.

Điều 3. Bắt buộc từ chối dẫn độ

1. Việc dẫn độ sẽ không được thực hiện theo Hiệp định này, khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Khi Bên được yêu cầu xác định rằng tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm mang tính chất chính trị;

b) Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đã bị kết án hay được xử là vô tội trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu về chính tội phạm mà người đó bị yêu cầu dẫn độ;

d) Khi Bên được yêu cầu có căn cứ xác đáng để cho rằng yêu cầu dẫn độ được đưa ra nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trừng phạt người bị dẫn độ vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, giới tính, chính kiến hay làm người đó bị ảnh hưởng bởi các lý do trên.

2. Quy định tại khoản 1.a Điều này sẽ không áp dụng đối với các tội sau đây:

a) ước đoạt hoặc tước đoạt chưa thành tính mạng hoặc xâm phạm thân thể người đứng đầu nhà nước hay thành viên gia đình của người đó.

b) Tội phạm mà các Bên có nghĩa vụ thiết lập quyền truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc dẫn độ theo một thỏa thuận quốc tế đa phương mà cả hai Bên đều là thành viên.

Điều 4. Quyền tự quyết định từ chối dẫn độ

Việc dẫn độ theo Hiệp định này có thể bị từ chối khi có một trong các trường hợp sau đây:

1. Khi toàn bộ hoặc một phần tội phạm bị yêu cầu dẫn độ được cho là đã được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của Bên được yêu cầu theo pháp luật của Bên đó.

2. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đã được xử vô tội hoặc bị kết án tại một nước thứ ba về cùng tội đó, nếu bị kết án, thì hình phạt đã được thi hành đầy đủ hoặc không còn hiệu lực thi hành nữa.

3. Trong các trường hợp ngoại lệ, xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi ích của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu thấy rằng, việc dẫn độ sẽ không phù hợp với các nguyên tắc nhân đạo do hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu dẫn độ.

4. Khi tội mà yêu cầu dẫn độ đưa ra là một tội theo luật quân sự và không phải là tội quy định trong luật hình sự thông thường.

Điều 5. Hoãn và dẫn độ tạm thời

1. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt về tội phạm nhưng không phải là tội đang bị yêu cầu dẫn độ trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu, thì Bên được yêu cầu có thể hoãn việc dẫn độ người đó cho đến khi kết thúc quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự hay chấp hành xong toàn bộ hoặc một phần hình phạt đã tuyên. Bên được yêu cầu sẽ thông báo cho Bên yêu cầu về việc hoãn dẫn độ nói trên. Khi điều kiện hoãn dẫn độ không còn nữa thì Bên được yêu cầu phải thông báo ngay cho Bên yêu cầu và tiếp tục tiến hành việc dẫn độ nếu không có thông báo khác của Bên yêu cầu.

2. Trong trường hợp việc hoãn việc hoãn dẫn độ nêu tại khoản 1 Điều 1 làm cản trở quá trình tố tụng hình sự do hết thời hiệu hoặc gây khó khăn nghiêm trọng cho việc tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự, thì theo đề nghị của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu căn cứ vào pháp luật nước mình có thể cho dẫn độ tạm thời theo yêu cầu.

3. Người bị dẫn độ tạm thời phải được trả lại ngay sau khi quá trình tố tụng hình sự đã kết thúc hoặc hết thời hạn yêu cầu dẫn độ tạm thời mà hai Bên đã thỏa thuận. Khi có yêu cầu, Bên được yêu cầu sẽ gia hạn thời hạn đã thỏa thuận trên nếu có lý do chính đáng cho việc gia hạn này.

1. Các Bên không có nghĩa vụ phải dẫn độ công dân của mình theo Hiệp định này.

2. Nếu việc dẫn độ bị từ chối chỉ trên cơ sở quốc tịch của người bị dẫn độ, thì theo đề nghị của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu sẽ đưa vụ án ra cơ quan có thẩm quyền để truy tố.

3. Quốc tịch được xác định vào thời điểm thực hiện tội phạm và vì tội đó mà có yêu cầu dẫn độ.

Điều 7. Thủ tục dẫn độ và tài liệu cần thiết

1. Yêu cầu dẫn độ phải bằng văn bản và được gửi thông quan đường ngoại giao.

2. Văn bản yêu cầu dẫn độ phải kèm theo:

a) Các tài liệu mô tả đặc điểm nhận dạng, và nếu có thể, giấy tờ về quốc tịch và nơi lưu trú của người bị yêu cầu dẫn độ;

b) Một văn bản nêu sự việc của vụ án;

c) Một văn bản nêu các luật quy định về các yếu tố cấu thành tội phạm và tội danh;

d) Một văn bản nêu các luật quy định về hình phạt đối với tội phạm đó;

a) Bản sao lệnh bắt hoặc giam giữ của thẩm phán hay người có thẩm quyền khác của Bên ký kết yêu cầu dẫn độ;

b) Thông tin xác nhận người bị dẫn độ là người được nêu trong lệnh bắt hay giam giữ;

c) Một văn bản về hành vi cấu thành tội phạm đó đưa ra căn cứ hợp lý để cho rằng người bị dẫn độ đã thực hiện tội bị yêu cầu dẫn độ.

a) Bản sao bản án kết tội do Tòa án của Bên yêu cầu dẫn độ tuyên;

b) Thông tin xác nhận người bị yêu cầu dẫn độ là người đã bị kết án;

c) Một văn bản trình bày về hành vi cấu thành tội phạm mà người đó bị kết án.

5. Tất cả các tài liệu do Bên yêu cầu gửi theo quy định của Hiệp định này phải được chứng nhận và gửi kèm theo bản dịch ra tiếng của Bên được yêu cầu hoặc ra tiếng Anh.

6. Tài liệu được chứng nhận theo quy định của Hiệp định này là tài liệu có chữ ký hoặc xác nhận của thẩm phán hoặc quan chức có thẩm quyền của Bên yêu cầu và đóng dấu chính thức của cơ quan có thẩm quyền của Bên đó.

1. Nếu Bên được yêu cầu cho rằng thông tin đã cung cấp kèm theo yêu cầu dẫn độ không đầy đủ để tiến hành việc dẫn độ theo hiệp định này, thì có thể yêu cầu cung cấp các thông tin bổ sung trong thời hạn do Bên được yêu cầu ấn định.

2. Nếu người bị yêu cầu dẫn độ đang bị bắt giữ và các thông tin bổ sung đã cung cấp theo Hiệp định này không đầy đủ hoặc không nhận được trong thời hạn ấn định, thì người bị bắt giữ có thể được trả tự do. Việc trả tự do cho người bị yêu cầu dẫn độ nói trên không cản trở Bên yêu cầu đưa ra yêu cầu mới về dẫn độ người đó.

3. Trong trường hợp người đó được phóng thích khỏi nơi giam giữ theo khoản 2 Điều này thì Bên được yêu cầu sẽ thông báo cho Bên yêu cầu ngay khi có thể được.

1. Trong trường hợp khẩn cấp, một Bên có thể yêu cầu bắt khẩn cấp người để dẫn độ trước khi có yêu cầu dẫn độ. Yêu cầu bắt khẩn cấp có thể được các Bên gửi qua đường ngoại giao hoặc trực tiếp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc.

2. Yêu cầu bắt khẩn cấp phải được lập bằng văn bản và gồm các nội dung sau đây:

a) Mô tả về người bị bắt để dẫn độ, kể cả các thông tin về quốc tịch của người đó;

b) Nơi người bị bắt để dẫn độ đang có mặt, nếu biết được;

c) Bản tóm tắt sự việc của vụ án, và nếu có thể, cả thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm;

d) Mô tả các luật bị vi phạm;

e) Thông báo về lệnh bắt hay lệnh tạm giữ, hoặc bản án đối với người đó;

f) Khẳng định rõ sẽ gửi văn bản yêu cầu dẫn độ đối với người bị bắt để dẫn độ.

3. Sau khi nhận được yêu cầu bắt khẩn cấp, Bên được yêu cầu sẽ tiến hành các bước cần thiết để bảo đảm việc bắt giữ người bị yêu cầu và thông báo ngay kết quả cho Bên yêu cầu.

4. Người bị bắt giữ sẽ được trả tự do nếu Bên yêu cầu không đưa ra yêu cầu dẫn độ kèm theo các tài liệu nêu tại Điều 7 trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày bắt giữ với điều kiện là việc trả tự do này không cản trở quá trình tố tụng nếu sau đó lại nhận được yêu cầu dẫn độ.

Trong trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ thông báo cho Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền của Bên được yêu cầu là người đó chấp nhận việc dẫn độ thì Bên được yêu cầu sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để tiến hành việc dẫn độ trong phạm vi pháp luật của Bên đó cho phép.

Điều 11. Nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một người

1. Trong trường hợp nhận được yêu cầu dẫn độ từ hai hay nhiều quốc gia đối với cùng một người về cùng một tội phạm hay nhiều tội phạm khác nhau, thì Bên được yêu cầu sẽ quyết định dẫn dộ người đó cho một trong các quốc gia nói trên và thông báo quyết định của mình cho các quốc gia đó.

a) Quốc tịch và nơi thường trú của người bị yêu cầu dẫn độ;

b) Các yêu cầu có được lập theo đúng quy định của Hiệp định Dẫn độ hay không;

c) Thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm;

d) Lợi ích riêng của các quốc gia yêu cầu;

e) Mức độ nghiêm trọng của tội phạm;

f) Quốc tịch của người bị hại;

g) Khả năng dẫn độ tiếp theo giữa các quốc gia yêu cầu;

h) Ngày đưa ra yêu cầu dẫn độ.

Điều 12. Chuyển giao người bị dẫn độ

1. Ngay sau khi có quyết định về yêu cầu dẫn độ, Bên được yêu cầu thông báo quyết định đó cho Bên yêu cầu qua đường ngoại giao. Nếu từ chối dẫn độ thì phải cho biết lý do và nói rõ từ chối toàn bộ hay một phần yêu cầu dẫn độ.

2. Bên được yêu cầu sẽ chuyển giao người bị dẫn độ cho cơ quan có thẩm quyền của Bên yêu cầu tại một địa điểm trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu mà hai Bên chấp thuận.

3. Bên yêu cầu sẽ đưa người bị dẫn độ ra khỏi lãnh thổ của Bên được yêu cầu trong một thời hạn hợp lý do Bên được yêu cầu ấn định, nếu hết thời hạn trên mà người đó chưa được chuyển đi, thì Bên được yêu cầu có thể trả tự do cho người đó và có thể từ chối dẫn độ đối với tội phạm tương tự.

4. Nếu có tình huống phát sinh vượt quá khả năng kiểm soát của một Bên, cản trở Bên đó chuyển giao hay tiếp nhận người bị dẫn độ, thì phải thông báo cho Bên kia biết. Trong trường hợp đó, sẽ không áp dụng các quy định nêu tại khoản 3 Điều này. Hai Bên sẽ cùng nhau thỏa thuận để đưa ra thời hạn chuyển giao hoặc tiếp nhận người bị dẫn độ phù hợp với Điều này.

Nếu người bị dẫn độ trốn tránh việc truy cứu trách nhiệm hình sự và quay trở lại lãnh thổ của Bên được yêu cầu thì Bên yêu cầu có thể đưa ra yêu cầu dẫn độ lại người đó. Trong trường hợp này cần phải gửi kèm theo các tài liệu nêu tại Điều 7.

Điều 14. Chuyển giao tài sản

Phù hợp với phạm vi và các điều kiện mà hai Bên thỏa thuận và trên cơ sở tôn trọng quyền lợi của Bên thứ ba, tất cả các tài sản do phạm tội mà có hoặc cần để làm vật chứng được tìm thấy trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu, có thể sẽ được chuyển giao theo đề nghị của Bên yêu cầu việc dẫn độ được phép thực hiện.

1. Người bị dẫn độ theo Hiệp định này có thể không bị giam giữ, xét xử hay xử phạt trên lãnh thổ của Bên yêu cầu, trừ trường hợp đối với:

a) Tội mà theo đó việc dẫn độ đã được thực hiện hoặc tội tuy có tên gọi khác nhưng cùng dựa trên các sự việc mà theo đó việc dẫn độ đã được phép tiến hành với điều kiện tội đó là tội có thể bị dẫn độ hoặc một tội nhẹ hơn;

b) Tội phạm được thực hiện sau khi đã dẫn độ người đó;

c) Tội mà cơ quan có thẩm quyền của Bên được yêu cầu đồng ý với việc giam giữ, xét xử hay xử phạt người đó;

Theo quy định của điểm này:

i. Bên được yêu cầu có thể yêu cầu cung cấp tài liệu nêu tại Điều 7;

ii. Lời khai có gía trị pháp lý của người bị dẫn độ về tội đó sẽ được gửi cho Bên được yêu cầu, nếu có;

iii. Trong thời gian yêu cầu đang được xử lý, người bị dẫn độ có thể bị Bên yêu cầu giam giữ theo thời hạn mà Bên được yêu cầu cho phép.

2. Người bị dẫn độ theo Hiệp định này không thể bị dẫn độ cho quốc gia thứ ba về tội đã thực hiện trước khi người đó bị dẫn độ trừ trường hợp Bên được yêu cầu đồng ý.

3. Khoản 1 và khoản 2 của Điều này không cản trở việc giam giữ, xét xử hay xử phạt người bị dẫn độ hoặc dẫn độ người đó đến nước thứ ba nếu:

a) Người đó rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu sau khi dẫn độ và tự nguyện quay trở lại lãnh thổ đó;

b) Người đó không rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày người đó được tự do rời đi.

Điều 16. Thông báo kết quả

1. Trong phạm vi được pháp luật của mình cho phép, việc chuyển giao người bị dẫn độ cho một trong các Bên do nước thứ ba tiến hành có quá cảnh qua lãnh thổ của Bên kia sẽ được phép thực hiện khi có văn bản yêu cầu gửi qua đường ngoại giao hoặc gửi trực tiếp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc.

2. Trong trường hợp chuyển giao bằng đường hàng không và không hạ cánh trên lãnh thổ của Bên quá cảnh, thì không yêu cầu phải xin phép quá cảnh. Nếu tiến hành việc hạ cánh không dự định trước trên lãnh thổ của Bên quá cảnh, thì Bên đó có thể yêu cầu Bên kia gửi yêu cầu xin quá cảnh theo quy định tại khoản 1 Điều này.

1. Bên được yêu cầu sẽ chịu mọi chi phí về các thủ tục trong phạm vi thẩm quyền của mình phát sinh từ yêu cầu dẫn độ.

3. Bên yêu cầu sẽ chịu các chi phí phát sinh trong việc chuyển người bị dẫn độ từ lãnh thổ của Bên được yêu cầu và chi phí quá cảnh.

2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp Đại Hàn Dân Quốc có thể cùng nhau trao đổi trực tiếp về quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể và duy trì, thúc đẩy các thủ tục để thực hiện Hiệp định này.

Điều 20. Hiệu lực và chấm dứt hiệu lực của hiệp định

1. Hiệp định này phải được phê chuẩn và bắt đầu có hiệu lực vào thời điểm trao đổi các văn kiện phê chuẩn.

2. Hiệp định này áp dụng đối với các tội phạm được thực hiện trước hoặc sau ngày có Hiệp định này có hiệu lực.

3. Mỗi Bên có thể chấm dứt Hiệp định này bằng việc gửi thông báo bằng văn bản cho nhau vào bất kỳ thời điểm nào. Trong trường hợp đó, Hiệp định sẽ hết hiệu lực sau sáu (6) tháng kể từ ngày gửi thông báo đó.

Hiệp định này được làm thành hai bản tại Seoul ngày 15 tháng 9 năm 2003 bằng tiếng Việt, tiếng Hàn Quốc và tiếng Anh, các văn bản có giá trị như nhau. Trong trường hợp nảy sinh bất đồng trong việc giải thích Hiệp định này, văn bản tiếng Anh sẽ được dùng làm cơ sở./.

Bộ Công An Đề Xuất Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Sửa Đổi Về Luật Di Trú Mỹ

Hội Thảo Trực Tuyến “đầu Tư Mỹ Eb5

Những Thay Đổi Trong Luật Di Trú Mỹ Ở Gia Kiệm

Thay Đổi Luật Di Trú

Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Quốc Tế Và Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam

Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong: Nguồn Gốc, Tranh Cãi Và Thách Thức

Trung Quốc Và Phương Tây Đối Đầu Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong

Dự Luật Dẫn Độ Nghĩa Là Gì

Vấn Đề Dẫn Độ Theo Bộ Luật Tố Tụng Năm 2003

Anh: Dẫn Độ Đối Tượng Chủ Chốt Xét Xử Vụ 39 Thi Thể Trong Xe Tải, Mỹ: New York Chính Thức Hủy Bỏ Điều Luật Giữ Bí Mật Hồ Sơ Cảnh Sát

Trên cơ sở xem xét một số điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm hoặc điều ước quốc tế về

tương trợ tư pháp có nội dung về dẫn độ tội phạm được ký kết giữa Việt Nam và một số quốc

gia khác như: Hiệp định Tương trợ Tư pháp Việt Nam – Ba Lan năm 1993, Hiệp định Tương

trợ Tư pháp Việt Nam – Liên bang Nga năm 1998, Hiệp định Tương trợ Tư pháp về Dân sự

và Hình sự giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân

dân Lào năm 1998, Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003, Hiệp

định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Australia năm 2012.

phạm; Đối tượng của hoạt động dẫn độ; Căn cứ từ chối dẫn độ; Thủ tục dẫn độ và các tài liệu

cần thiết; Quy định bắt khẩn cấp; Quy định dẫn độ đơn giản; Quy định về giải quyết các

trường hợp đặc biệt trong dẫn độ (nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một cá nhân, hoãn thi hành

quyết định dẫn độ, dẫn độ lại, quá cảnh); Quy định về chi phí dẫn độ tội phạm.

Những quy định về dẫn độ tội phạm trong các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và một số

quốc gia nêu trên đã thể hiện được sự tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế về

dẫn độ tội phạm (về nguyên tắc dẫn độ tội phạm, các trường hợp từ chối dẫn độ, trình tự, thủ

tục dẫn độ tội phạm.). Phù hợp với điều kiện của các quốc gia về chế độ kinh tế, chính trị và

hệ thống pháp luật, Việt Nam và các quốc gia này đã xây dựng các điều khoản phù hợp nhằm

đạt được hiệu quả tốt nhất trong hợp tác dẫn độ tội phạm.

Tuy nhiên, hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam với các quốc gia vẫn còn

một số tồn tại cần khắc phục là

Một là: số lượng các điều ước song phương được ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia khác có

giữa Việt Nam và các quốc gia chủ yếu vẫn dựa trên các hiệp định tương trợ tư pháp mà ít các

hiệp định riêng về dẫn độ tội phạm

Đàm Phán Dự Thảo Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Hai Nước Việt Nam Và Trung Quốc

Việt Nam Và Trung Quốc Tập Trung Thúc Đẩy Cho Hiệp Định Dẫn Độ

Từ Vụ Bắt Giữ 380 Người Trung Quốc Đánh Bạc: Trường Hợp Nào Sẽ Bị Dẫn Độ?

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Pháp Là Cơ Sở Phòng Chống Tội Phạm Bỏ Trốn

Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Dẫn Độ Trong Luật Quốc Tế Và Pháp Luật Việt Nam

‘cách Mạng Dù’ Lại Bùng Nổ Ở Hồng Kông, Chống Luật Dẫn Độ Về Trung Quốc

Sự Thật Về Những Tin Đồn Xung Quanh “hiệp Định Dẫn Độ Việt

Trung Quốc Cảnh Báo Người Biểu Tình Sau Khi Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ

Bàn Về “hiệp Định Dẫn Độ Việt

Tổng Hợp Văn Bản Hướng Dẫn Luật Doanh Nghiệp 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGÔ HỮU PHƯỚC

DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 62.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2012

2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

1. chúng tôi Võ Khánh Vinh

2. TS. Nguyễn Thị Phương Hoa

Phản biện 1: chúng tôi Nguyễn Ngọc Anh

Phản biện 2: chúng tôi Hoàng Thị Minh Sơn

Phản biện 3: TS. Võ Thị Kim Oanh

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí

Minh, số 02 Nguyễn Tất Thành, quận 4, TP. Hồ Chí Minh.

Vào hồi……….giờ………ngày……….tháng………..năm 2009

Có thể tìm hiểu luận án tại:

Thư viện Quốc gia

Thư viện Viện Nhà nước và pháp luật

3

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt

Nam nói riêng nhiều thành tựu và cơ hội to lớn để phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, toàn cầu hóa và hội nhập

kinh tế cũng phát sinh nhiều nguy cơ, thách thức lớn đối với các quốc gia như bất ổn chính trị, xung đột sắc tộc,

tôn giáo, tệ nạn xã hội… trong đó có tình hình tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày

càng gia tăng và diễn biến phức tạp, đe dọa đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như hòa bình và

an ninh quốc tế.

Theo thống kê của INTERPOL, hàng năm trên thế giới xảy ra hơn 700 vụ khủng bố, làm trên 7.000

người chết và khoảng 12.000 người bị thương. Các loại tội phạm hình sự nguy hiểm như giết người, cướp tài

sản, bắt cóc tống tiền, hoạt động băng nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng tăng tại hầu hết các

nước trên thế giới. Các tội phạm ma túy xuyên quốc gia, tội phạm buôn bán người, nhất là phụ nữ, trẻ em đã gây

ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tình hình hoạt động của các đường dây, tổ chức đưa người nhập cư bất hợp pháp

trên thế giới tiếp tục gây ra nhiều vấn đề phức tạp đối với an ninh, trật tự của nhiều quốc gia. Các tội phạm kinh

tế xuyên quốc gia ngày càng diễn biến phức tạp hơn cả về địa bàn hoạt động, cũng như tính chất và mức độ

nghiêm trọng…

Không ngoài xu thế chung của thế giới, sau khi gia nhập WTO và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền

kinh tế thế giới, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi để phát triển đất nước, Việt Nam cũng phải đối mặt với

nhiều nguy cơ và thách thức lớn đối với nền kinh tế, văn hóa, xã hội, chủ quyền và an ninh quốc gia trong đó có

tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp.

Theo báo cáo tổng quan về tình hình tội phạm ở Việt Nam của Tổng cục Cảnh sát cho thấy, mỗi năm ở

nước ta xảy ra khoảng 82.555 vụ phạm tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trong đó có 57.415 vụ phạm tội về

hình sự, 14.139 vụ phạm tội về kinh tế, 11.001 vụ phạm tội về ma túy… Trung bình mỗi ngày xảy ra khoảng 227

vụ, mỗi giờ xảy ra 9,5 vụ… Hiện nay, ở Việt Nam đã hình thành các đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em từ Việt

Nam sang các nước trong khu vực, thậm chí đến các nước Châu Âu, Châu Phi. Ở Việt Nam đã xuất hiện một số

băng nhóm tội phạm gốc Hoa cấu kết với các băng nhóm tội phạm trong nước để hoạt động phạm tội như bảo

kê, cướp tài sản, giết người… Các hoạt động buôn lậu ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra

nước ngoài diễn biến hết sức phức tạp, đã xuất hiện ngày càng nhiều đường dây buôn bán vận chuyển các chất

ma túy xuyên quốc gia, chủ yếu là hê-rô-in, các loại ma túy tổng hợp, cần sa với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh

vi.

Bên cạnh đó, hàng năm có hàng triệu lượt người nước ngoài và kiều bào Việt Nam (trong tổng số hơn 04

triệu người đang định cư trên 103 quốc gia và vùng lãnh thổ) nhập cảnh vào Việt Nam để thăm thân nhân, đầu

tư, kinh doanh, du lịch… Trong số đó có nhiều phần tử lợi dụng cơ hội đến Việt Nam để thực hiện tội phạm. Do

vậy, tình hình người nước ngoài và người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi trốn vào Việt Nam và phạm tội ở

Việt Nam rồi trốn ra nước ngoài trong thời gian qua có xu hướng gia tăng.

Trước diễn biến tình hình tội phạm trong nước và thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi các

quốc gia phải tăng cường liên kết, hợp tác đồng bộ và toàn diện bằng tất cả các biện pháp chính trị, pháp luật,

kinh tế, an ninh… từ bình diện khu vực, liên khu vực và toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,

4

chống tội phạm. Trong đó, dẫn độ là biện pháp tất yếu khách quan và hiệu quả nhất để các quốc gia truy cứu

trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội ở quốc gia này nhưng đang lẩn trốn tại quốc

gia khác.

Tuy nhiên, về phương diện khoa học pháp lý, dẫn độ là vấn đề còn rất mới ở Việt Nam nên chưa có

nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện. Mặt khác, hoạt động đàm phán, ký kết ĐƯQT về dẫn độ

và thực tiễn dẫn độ ở Việt Nam từ trước đến nay cũng chưa được nghiên cứu và tổng kết. Do đó, việc áp dụng

ĐƯQT có quy định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập và pháp luật Việt Nam gặp nhiều khó khăn,

vướng mắc, hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả dẫn độ ở

Việt Nam thì tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn về dẫn độ là yêu cầu cấp thiết và có

tính thời sự rất lớn trong giai đoạn hiện nay.

Xuất phát từ nhận thức và thực trạng nói trên, tác giả chọn đề tài: “DẪN ĐỘ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM” làm Luận án Tiến sĩ Luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Dẫn độ là một hình thức hợp tác quốc tế được điều chỉnh đồng thời bởi pháp luật quốc tế (các ĐƯQT có

quy định về dẫn độ và các ĐƯQT về quyền con người) và pháp luật quốc gia (Luật Dẫn độ, Luật Tố tụng hình

sự, Luật Tương trợ tư pháp… ). Do vậy, từ trước đến nay trong lĩnh vực khoa học pháp lý ở Việt Nam và nước

ngoài, vấn đề dẫn độ có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của Luật Quốc tế, Luật Hình sự quốc

tế, Luật Quốc tế về quyền con người và dẫn độ cũng có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một chế định của

pháp luật quốc gia, thuộc chuyên ngành khoa học pháp lý về hình sự, tố tụng hình sự và tương trợ tư pháp.

Trên bình diện quốc tế, từ cuối thế kỷ thứ XIX đến nay, ở Châu Âu đã có rất nhiều công trình nghiên

cứu về độc lập về dẫn độ hoặc nghiên cứu về luật hình sự quốc tế, luật quốc tế về quyền con người có đề cập đến

dẫn độ của các tác giả có uy tín lớn trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Tiêu biểu là các công trình đã được xuất

bản thành giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí khoa học pháp lý của

các tác giả như: Nhóm này bao gồm các công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được xuất bản thành giáo trình, sách

tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí khoa học pháp lý của các tác giả như: Edmond

Poullet, (1867), “Luật hình sự cổ của Duché Brabant”, Bruxelles, M.Hayer, Viện Hàn lâm Vương quốc Bỉ;

Louis Renault (1879),”Nghiên cứu về dẫn độ giữa Pháp và Anh”,Nhà xuất bản A.Cotillon; André

(1880),”Nghiên cứu về các điều kiện dẫn độ”, Nhà xuất bản L.Larose; Maurice Violet (1898),”Thủ tục dẫn độ,

đặc biệt tại lãnh thổ nước tị nạn”, Nhà xuất bản Giard & Brière; Charles Soldan (1882),”Dẫn độ tội phạm chính

trị”, Nhà xuất bản Thorin; Maulineau (1879),”Hậu quả pháp lý của dẫn độ”, Nhà xuất bản chúng tôi Blanc-Hardel;

Paul Bernard (1890),”Lý luận và thực tiễn dẫn độ”, tái bản lần 2, Nhà xuất bản Duchemin; Viện Luật quốc tế

(1923),”Tuyển tập các vụ việc của Tòa án”; Ivan Anthony Shearer (1971),”Dẫn độ trong luật quốc tế”, Nhà

xuất bản Manchester University Press Dobbs Ferry, N.Y, Oceana Publications Kalfat (1987),”Áp dụng các

ĐƯQT và pháp luật quốc gia trong dẫn độ bị động”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật hình sự, Đại

học Paris 2; Ducel (André) (1988),”Nghiên cứu so sánh thực tiễn dẫn độ của Pháp với các nước Anh – Mỹ”,

luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I; Henry (F.), Ép. Ringel (1988),”Tội

phạm chính trị trong pháp luật về dẫn độ”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học AixMarseille; Ingeade (1988),”Chế độ pháp lý của dẫn độ trong khuôn khổ của Hội đồng Châu Âu”, luận án Tiến sĩ

Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Monpellier I; Loued, Mohamed Naceur (1989),”Thủ tục dẫn độ bị

5

động trong pháp luật hiện đại của Pháp”, luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành tố tụng hình sự, Đại học Khoa

học xã hội Toulouse; Zari (Anna), (1991),”Nguyên tắc đặc biệt trong dẫn độ nhìn từ góc độ quyền con người”,

luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Đại học Paris I; André VITU (1992), “Ám sát chính trị

trong luật quốc tế và dẫn độ”, Nhà xuất bản Gazette Palais; Adrien Masset và Anne Sophie Massa (2007), “Dẫn

độ”, Tạp chí Khoa học về tội phạm, Đại học Liège, Vương quốc Bỉ; Ủy ban Châu Âu về vấn đề tội phạm

(CDPC) và Ủy ban chuyên gia về thực thi các Công ước của Châu Âu trong lĩnh vực hình sự (2003),”Công ước

Châu Âu về dẫn độ – Hướng dẫn và thủ tục”; Gilbert. G (1991),”Luật dẫn độ và vấn đề quyền con người”, Nhà

xuất bản Martimes Nijhoff; Claudin DIB (2008),”Dẫn độ và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và các giải pháp

khả dĩ tại Canada”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Québec, Montréal, Canada

Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ XX đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu độc lập về dẫn độ,

về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, về hợp tác tương trợ tư pháp quốc tế nói chung và

hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng đã được công bố trong các cuốn sách chuyên khảo, tham khảo

hoặc đã được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành khoa học pháp lý tiêu biểu là công trình của các tác giả:

Nguyễn Ngọc Anh (2000),”Hoạt động dẫn độ tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các

nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5; Dương Tuyết Miên (2006),”Vấn đề dẫn độ tội phạm “, Tạp chí

TAND số 10 (5); Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công (2006), “Dẫn độ những vấn đề lý

luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Đào Thị Hà (2006),”Vấn đề dẫn độ trong pháp luật

Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thủy (2007),”Một số

vấn đề về dẫn độ tội phạm”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Xuân Yêm (2000), “Dẫn độ tội phạm, tương

trợ pháp lý về hình sự và chuyển giao phạm nhân quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm”, Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Yêm (2000),”Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong

đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam”, Tạp chí TAND số 1 (1); Nguyễn Thị Mai Nga (2007),”Dẫn độ

tội phạm và hoạt động tương trợ tư pháp của Viện Kiểm sát trong giải quyết các vụ án ma túy có yếu tố nước

ngoài”, Tạp chí Kiểm sát số 16 (8); Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Anh Dũng (2007), Hợp tác quốc tế đấu tranh

phòng, chống tội phạm của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn

Ngọc Anh, Nguyễn Quốc Cường (2008),”Hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự trong bối cảnh hội nhập kinh tế

quốc tế”, Tạp chí TAND số 2 (1); Chử Văn Dũng (2008),”Hoạt động INTERPOL trong thực hiện tương trợ tư

pháp hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân; Đại học

Cảnh sát nhân dân (2009),”Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự trong điều tra tội phạm có yếu tố nước ngoài

của lực lượng cảnh sát nhân dân – Lý luận và thực tiễn”, đề tài nghiên cứu khoa cấp bộ, mã số: BX-2008-T4823; Nguyễn Giang Nam (2011),”Hoạt động tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm trong điều tra tội

phạm có yếu tố nước ngoài”, luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân…

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế về dẫn độ như đã đề cập ở trên chúng tôi

thấy rằng, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài đã rất thành công trong việc

nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật quốc gia cũng

như thực tiễn ký kết, gia nhập, thực hiện ĐƯQT và pháp luật về dẫn độ của một số quốc gia trên thế giới và Việt

Nam. Kết quả của các công trình nghiên cứu về dẫn độ trong nước và nước ngoài đã đóng góp rất to lớn trong

việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện chế định dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn

còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về dẫn độ cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện như: Khái niệm, đặc

Thẩm Quyền Xét Xử Và Việc Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Khái Quát Về Dẫn Độ Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Mỹ Công Khai Ủng Hộ Biểu Tình Hong Kong, Lên Án Sửa Đổi Dự Luật Dẫn Độ

Mỹ Ủng Hộ Người Hong Kong Biểu Tình Phản Đối Dự Luật Dẫn Độ

Hồng Kông: Hơn 1 Triệu Người Dân Xuống Đường Biểu Tình Phản Đối Luật Dẫn Độ Sang Trung Quốc

Hồng Kông Sửa Đổi Luật, Cho Phép Dẫn Độ Sang Trung Quốc

Hoàn Thiện Chế Định Hợp Tác Quốc Tế Trong Tố Tụng Hình Sự Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp

Luật Hôn Nhân & Gia Đình 2014

Chuyển Đổi Công Ty Theo Luật Doanh Nghiệp 2014

Luật Doanh Nghiệp 2014: Các Hướng Dẫn Thực Hiện Của Chính Phủ – Luatviet Advocates & Solicitors

Điều 172. Công Ty Hợp Danh Theo Luật Doanh Nghiệp 2014

Chính quyền Hồng Kông vừa đưa ra một dự luật, theo đó trưởng đặc khu có quyền ra lệnh cho dẫn độ các nghi phạm bị Trung Quốc, Macao, Đài Loan truy lùng, cũng như các quốc gia khác hiện chưa có hiệp định dẫn độ với Hồng Kông. Tuần trước hàng ngàn người Hồng Kông đã xuống đường để phản đối.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

Đăng ký

Tải ứng dụng RFI để theo dõi toàn bộ thời sự quốc tế

Download_on_the_App_Store_Badge_VN_RGB_blk_100217

google-play-badge_vi

Hong Kong Chính Thức Rút Dự Luật Dẫn Độ, Bắc Kinh Bác Tin Thay Bà Carrie Lam

Toàn Văn Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Vương Quốc Cam

Dẫn Độ Tội Phạm Trong Luật Hình Sự Quốc Tế

Tổng Thống Đài Loan Lên Tiếng Về Dự Luật Dẫn Độ Hong Kong.

Vụ Án Mạnh Vãn Châu Là Nguyên Nhân Chính Của Dự Luật Dẫn Độ Tại Hồng Kông?

Luật Dẫn Độ : Trung Quốc Đang Đẩy Hồng Kông Đến Bờ Vực Thẳm

Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ

Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Pháp Là Cơ Sở Phòng Chống Tội Phạm Bỏ Trốn

Từ Vụ Bắt Giữ 380 Người Trung Quốc Đánh Bạc: Trường Hợp Nào Sẽ Bị Dẫn Độ?

Việt Nam Và Trung Quốc Tập Trung Thúc Đẩy Cho Hiệp Định Dẫn Độ

Đàm Phán Dự Thảo Hiệp Định Về Dẫn Độ Giữa Hai Nước Việt Nam Và Trung Quốc

Tình trạng quá tải ở khoa cấp cứu các bệnh viện được các báo Pháp hôm nay 11/06/2019 rất chú ý. Le Figaro chạy tựa ” Cuộc khủng hoảng cấp cứu đặt chính phủ dưới áp lực ” ; Libération đăng ảnh nhân viên y tế biểu tình với dòng tít lớn ” Bệnh viện : Khẩn cấp “. Nhật báo kinh tế Les Echos nói về sự lục đục giữa Renault và Nissan. La Croix quan tâm đến Brexit,đăng ảnh một chiếc tàu bay giấy mang màu cờ Anh với dòng tựa ” Anh quốc bập bềnh trôi “.

Ở trang trong, tất cả các nhật báo lớn của Pháp ra ngày hôm nay đều có bài viết về cuộc biểu tình đại quy mô của người dân Hồng Kông chống lại dự luật dẫn độ sang Trung Quốc.

Phóng sự trên trang web của Le Monde ghi nhận những biểu ngữ mang dòng chữ màu đen trên nền đỏ ” Không dẫn độ sang Trung Quốc “ là phổ biến nhất, trong dòng sông áo trắng bất tận của những người biểu tình.

Dòng người kéo dài nhiều cây số trên Hennessy Road, đại lộ chạy dài từ đông sang tây của khu vực bắc Hồng Kông. Đoàn biểu tình phải xuất phát sớm nửa giờ theo yêu cầu của cảnh sát, vì người người còn kéo đến từ khắp lối, hệ thống xe điện ngầm bị quá tải.

Trên 70 tổ chức phi chính phủ (NGO) địa phương lẫn quốc tế (Pen Hong Kong, Amnesty International, Human Rights Watch…) đã viết một lá thư dài cho bà Lâm Trịnh Nguyệt Nga yêu cầu rút lại dự luật. Nhà chính trị học Thành Danh (Dixon Sing) cho rằng ” Trước mắt, chính quyền Hồng Kông của bà Lâm sẽ bị khủng hoảng về tính chính danh, và ngày càng ít được tin tưởng “.

Trước đó vài tuần, một nữ luật sư giấu tên nói với La Croix : ” Sau khi kiểm soát được về chính trị và đe dọa truyền thông đặc khu khiến họ phải tự kiểm duyệt, Trung Quốc cộng sản của Tập Cận Bình lần này tấn công vào cột trụ cuối cùng của Nhà nước pháp quyền Hồng Kông, đó là tư pháp “. Đối với luật sư Lý Trụ Minh (Martin Lee), một khuôn mặt uy tín của phong trào dân chủ Hồng Kông, ” một khi luật dẫn độ được thông qua, không thể nào bảo đảm được an ninh cho tất cả những ai sống, làm việc hoặc du hành đến Hồng Kông “.

Nga bắt nhà báo điều tra, xã hội dân sự nổi sóng

Cũng về nhân quyền, nhưng tại Nga, Libération cho biết ” Nước Nga sững sờ sau vụ dàn dựng để bắt một nhà báo “. Việc Ivan Golounov, nhà báo điều tra cho tờ báo độc lập Meduza bị bắt giữ tại Matxcơva với cái cớ ” mưu toan buôn ma túy “, đã làm dậy lên một làn sóng phản kháng chưa từng thấy của xã hội dân sự.

Hôm 6/6, nhà báo can đảm 36 tuổi chuyên điều tra những vụ chính khách tham nhũng, cảnh sát ăn hối lộ, mafia…đã bị hai người mặc thường phục bắt về đồn, và cảnh sát thông báo trong túi ba lô của anh có 4 gam méphédrone. Cũng theo cảnh sát, khi khám nhà đã phát hiện ” một lượng ma túy quan trọng “, nhưng vài giờ sau chính quyền đã phải thú nhận số ma túy này không phải đã tịch thu được trong căn hộ của Golounov. Các xét nghiệm không cho thấy một dấu vết ma túy nào trong máu hay trên tay của nhà báo.

Hàng không mẫu hạm Pháp tuần du châu Á

Tại Biển Đông, phóng sự trên Le Figaro mang tên ” Khi hàng không mẫu hạm Charles-de-Gaulles được triển khai tại châu Á “, cụ thể là ở eo biển Malacca,ca ngợi sự ưu việt của công cụ chiến lược ngoại hạng Pháp, pha trộn giữa công nghệ tối tân và kỹ năng hoàn hảo.

Chỉ có Hải quân Pháp và Mỹ sở hữu hàng không mẫu hạm nguyên tử có các phi đạo đặc biệt giúp các phi cơ mang đầy đủ thiết bị cất cánh nhanh chóng, thực hiện được nhiều nhiệm vụ khác nhau. Các phi công luyện tập thường xuyên, họ cho biết sau 15 ngày không cất cánh sẽ bắt đầu mất đi sự chính xác cần thiết.

Hàng Trung Quốc đội lốt hàng Việt để sang Mỹ

Phụ trang kinh tế Le Figaro có một bài ngắn cho biết ” Việt Nam tố cáo hàng giả của Trung Quốc “. Tờ báo cho rằng cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung liên tục gây ra những tác động tiêu cực, mà nạn nhân bị liên lụy mới nhất là Việt Nam. Hà Nội hôm qua phải lên tiếng tố cáo hiện tượng nhiều loại hàng Trung Quốc giả dạng ” Made in Vietnam ” để tránh né hàng rào thuế quan Mỹ.

Chính quyền Việt Nam hứa hẹn ” tăng cường trừng phạt ” việc núp bóng khiến một số công ty Trung Quốc đặc biệt là trong ngành dệt may, tránh được mức thuế hải quan 25% của Mỹ. Khoảng mấy chục trường hợp hàng hóa mang nhãn ” Made in Vietnam ” nhưng sản xuất tại Trung Quốc đã được hải quan Việt Nam phát hiện, nhưng có rất nhiều chuyến hàng khác đã lọt lưới. Chính quyền Việt Nam dự định kiểm tra chặt chẽ hơn hàng xuất khẩu, không chỉ sang Mỹ mà cả châu Âu, Nhật Bản. Hà Nội có nguy cơ bị Washington trừng phạt nặng nề nếu không ngăn chận được hiện tượng hàng Trung Quốc đội lốt hàng Việt.

Hàn Quốc, đất nước của những chú chó sinh sản vô tính

Cũng tại châu Á, nhưng trên lãnh vực khoa học, La Croix viết về ” Đất nước của những chú chó sinh sản vô tính “. Ở Hàn Quốc, có đến 80% chó nghiệp vụ ở các sân bay được sinh sản vô tính, và kỹ thuật này đang lan tràn để cung cấp cho cảnh sát hay với mục đích thương mại.

Tờ báo mô tả phi trường quốc tế Incheon : nhà ga mới toanh với các robot hướng dẫn hành khách, các bảng chỉ dẫn khổng lồ và…những chú chó sinh sản vô tính. Yonhap tiết lộ, tại các sân bay Hàn Quốc, có đến 80% những chú chó đánh hơi hành lý tìm hàng cấm, là những bản sao gien di truyền của những chú chó khác. Theo các chuyên gia được hãng tin Hàn Quốc trích dẫn, thì chi phí huấn luyện một con chó sinh sản vô tính rẻ bằng phân nửa chó bình thường. Do ADN của chúng được lấy từ những con chó nghiệp vụ giỏi, người dạy thú mất ít thời gian hơn.

Hiện có 42 con chó sinh sản vô tính được cơ quan kiểm dịch Hàn Quốc sử dụng, toàn bộ đều so Sooam Biotech sản xuất. Dưỡng đường tư do giáo sư tai tiếng Hwang Woo Suk thành lập là một trong những cơ sở hiếm hoi trên thế giới nhận sinh sản vô tính chó với mục đích thương mại. Những khách hàng giàu có muốn một bản sao của thú cưng đã chết, với cái giá 75.000 euro. Ngoài cơ quan kiểm dịch, cảnh sát quốc gia cũng đặt hàng vài chục chú chó sinh sản vô tính, bất chấp sự phản đối của các hiệp hội bảo vệ súc vật.

Pháp : Khoa cấp cứu các bệnh viện quá tải trầm trọng

Quay lại với nước Pháp trước tình trạng khoa cấp cứu của các bệnh viện bị quá tải, bài xã luận của Le Figaro than thở ” Kiệt lực “, còn Libération cho rằng tình hình là ” Đáng tuyệt vọng “.

Le Figaro nêu ra một con số duy nhất để giải thích : trong vòng 20 năm qua, số bệnh nhân vào khoa cấp cứu đã tăng gấp đôi, với 22 triệu trường hợp trong năm ngoái. Bệnh viện phải đón tiếp cả những người chỉ bị bệnh nhẹ lẫn những ca nặng, chưa kể đến số người nước ngoài cư trú bất hợp pháp ngày càng tăng, được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí từ năm 2000.

Libération chỉ trích chính phủ : không thể nói phong trào đình công của ngành y tế là bất ngờ. Nếu nhà nước không nhanh chóng cung cấp phương tiện bổ sung, và các y bác sĩ không liên đới hỗ trợ lẫn nhau, thì khó thể thoát khỏi ngõ cụt hiện nay. Tờ báo lo ngại tình trạng sẽ tệ hại hơn khi xảy ra nạn dịch hoặc một đợt nóng. Nhưng theo Le Figaro, bài toán không đơn giản, vì với 200 tỉ euro, Pháp đã là một trong những nước thuộc khối OCDE chi nhiều nhất cho y tế.

Kịch bản nào cho Brexit ?

Còn về nước láng giềng Anh quốc đang đau đầu với Brexit, xã luận của La Croix ví von ” Màn kịch cuối cùng “.

Brexit, màn 2, hồi…thứ bao nhiêu không rõ. Cũng như phong trào Áo Vàng, các nhà viết kịch bản giỏi nhất rốt cuộc cũng mất đi ” sợi chỉ đỏ ” xuyên suốt. Không có gì chắc chắn là đến ngày 31/10/2019, tấm màn nhung sẽ khép lại hẳn. Các diễn viên chính đang muốn thay chân bà Theresa May vẫn đang tích cực hoạt động trong hậu trường.

Thỏa thuận hay không thỏa thuận ? Câu hỏi đặt ra từ ba năm qua vẫn còn đó. Theo tờ báo, châu Âu một lần nữa phải chứng tỏ sự bình tĩnh, không bán rẻ các lợi ích của mình, không sợ hãi trước mối đe dọa một Brexit ” cứng ” – Luân Đôn ra khỏi Liên Hiệp Châu Âu mà không có thỏa thuận nào.

Dự Luật Dẫn Độ Tại Hongkong

Hồng Kông Trong Mối Quan Hệ Với Trung Quốc Đại Lục

Phản Ứng Đối Với Biểu Tình Tại Hồng Kông 2022

Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông 2022

Thành Viên:anewplayer/biểu Tình Chống Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông 2022/danh Sách Các Cuộc Biểu Tình Chống Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông Tháng 8 Năm 2022