Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Có Yếu Tố Nước Ngoài

Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình ngày 09 tháng 6 năm 2000; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài,

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam; nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam; cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài; công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài; ghi vào sổ hộ tịch việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; tổ chức và hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Điều 2. Bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng, bảo vệ phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con nhằm mục đích mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ và trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác. Điều 3. Yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự, chứng thực chữ ký người dịch, chứng thực bản sao giấy tờ 1. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận để sử dụng giải quyết các việc hôn nhân và gia đình theo quy định tại Nghị định này phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng lập, cấp hoặc xác nhận để sử dụng giải quyết các việc hôn nhân và gia đình theo quy định tại Chương IV của Nghị định này được miễn hợp pháp hóa lãnh sự. 2. Giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này bằng tiếng nước ngoài phải được địch ra tiếng Việt; bản dịch phải được chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng lập, cấp hoặc xác nhận để sử dụng giải quyết các việc hôn nhân và gia đình quy định tại Chương IV của Nghị định này chỉ cần dịch ra tiếng Việt, có cam kết của người dịch về việc dịch đúng nội dung, không cần chứng thực chữ ký người dịch. 3. Bản sao giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu giải quyết các việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, hồ sơ đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Nghị định này phải được chứng thực hợp lệ; trường hợp bản sao giấy tờ không có chứng thực thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu. Điều 4. Trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, ghi vào sổ hộ tịch các việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 1. Hồ sơ giải quyết các việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Nghị định này phải được bảo quản cẩn thận và lưu trữ theo quy định của pháp luật. 2. Việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Sở Tư pháp) giải quyết được ghi vào 01 quyển sổ hộ tịch và lưu tại Sở Tư pháp. Việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con do cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là cơ quan đại diện) giải quyết được ghi vào 02 quyển sổ hộ tịch; sau khi khóa sổ, 01 quyển lưu tại cơ quan đại diện nơi đăng ký, 01 quyển gửi về Bộ Ngoại giao để thực hiện việc cấp bản sao theo quy định của pháp luật. 3. Sau khi giải quyết việc đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con, công nhận việc kết hôn, ghi vào sổ hộ tịch việc nhận cha, mẹ, con theo quy định tại Nghị định này, Sở Tư pháp thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) để ghi chú vào sổ hộ tịch. Điều 5. Lệ phí 1. Người yêu cầu đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, công nhận việc kết hôn, ghi vào sổ hộ tịch việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam đã giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định tại Nghị định này phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật. 2. Miễn lệ phí đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới.

Mục 2 CẤP GIẤY XÁC NHẬN TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN CHO CÔNG DÂN VIỆT NAM CƯ TRÚ TRONG NƯỚC ĐỂ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN CỦA NƯỚC NGOÀI Ở NƯỚC NGOÀI

Điều 14. Thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký tạm trú của người đó, thực hiện cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Điều 15. Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân 1. Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau: a) Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định); b) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế; c) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu. Trường hợp công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. 2. Hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do người yêu cầu nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này. 3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Ủy ban nhân dân cấp xã gửi văn bản xin ý kiến Sở Tư pháp kèm theo 01 bộ hồ sơ. 4. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp thực hiện thẩm tra, xác minh và có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp xã kèm trả hồ sơ; nếu từ chối giải quyết, Sở Tư pháp giải thích rõ lý do bằng văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người yêu cầu. 5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và cấp cho người yêu cầu. 6. Căn cứ tình hình cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định bổ sung thủ tục phỏng vấn để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Mục 3 CÔNG NHẬN VIỆC KẾT HÔN CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐÃ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT TẠI CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN CỦA NƯỚC NGOÀI Ở NƯỚC NGOÀI

Điều 16. Điều kiện, hình thức công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài 1. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn. Trường hợp có vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt Nam. 2. Công nhận việc kết hôn quy định tại Khoản 1 Điều này được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn theo thủ tục quy định tại Điều 17 của Nghị định này. Điều 17. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục ghi vào sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài 1. Sở Tư pháp, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam thực hiện ghi vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài (sau đây gọi là ghi vào sổ việc kết hôn). Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Sở Tư pháp, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam, thực hiện ghi vào sổ việc kết hôn. Cơ quan đại diện thực hiện ghi vào sổ việc kết hôn của công dân Việt Nam cư trú tại nước tiếp nhận. 2. Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau: a) Tờ khai ghi vào sổ việc kết hôn (theo mẫu quy định); b) Bản sao giấy tờ chứng nhận việc kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp; c) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế; d) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người có yêu cầu. Trường hợp công nhận việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mà trước đó công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. 3. Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn phải do một trong hai bên kết hôn nộp trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều này. 4. Thời hạn giải quyết việc ghi vào sổ việc kết hôn là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí. Trong trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài không quá 05 ngày làm việc. Trường hợp từ chối ghi vào sổ việc kết hôn, Sở Tư pháp trả lời bằng văn bản cho người có yêu cầu, trong đó nêu rõ lý do. 5. Sau khi thực hiện ghi vào sổ việc kết hôn, Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp cho người yêu cầu Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ các việc hộ tịch (theo mẫu quy định).

Điều 18. Điều kiện nhận cha, mẹ, con 1. Việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định này chỉ được thực hiện, nếu bên nhận và bên được nhận còn sống vào thời điểm nộp hồ sơ, việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp về việc nhận cha, mẹ, con. 2. Trong trường hợp người được nhận là con chưa thành niên thì phải có sự đồng ý của người đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự. Nếu con chưa thành niên từ đủ chín tuổi trở lên thì việc nhận cha, mẹ, con phải có sự đồng ý của người con đó. 3. Con đã thành niên nhận cha không phải có sự đồng ý của mẹ, nhận mẹ không phải có sự đồng ý của cha. 4. Trường hợp con chưa thành niên nhận cha thì mẹ làm thủ tục nhận cha cho con, nhận mẹ thì cha làm thủ tục cho con. Trường hợp con chưa thành niên nhận cha mà người mẹ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc nhận mẹ mà người cha đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ làm thủ tục nhận cha hoặc nhận mẹ cho con. Điều 19. Thẩm quyền đăng ký việc nhận cha, mẹ, con 1. Sở Tư pháp, nơi đăng ký thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con, công nhận và đăng ký việc nhận cha, mẹ, con quy định tại Điều 18 của Nghị định này. Trong trường hợp người được nhận là cha, mẹ, con là công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Sở Tư pháp, nơi đăng ký tạm trú của người đó, công nhận và đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. 2. Cơ quan đại diện tại nước tiếp nhận công nhận và đăng ký việc người nước ngoài nhận công dân Việt Nam cư trú tại nước đó là cha, mẹ, con, nếu việc đăng ký không trái với pháp luật của nước tiếp nhận. Trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài là cha, mẹ, con thì cơ quan đại diện tại nước nơi cư trú của một trong hai bên, công nhận và đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Điều 20. Hồ sơ nhận cha, mẹ, con 1. Hồ sơ nhận cha, mẹ, con được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau: a) Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con (theo mẫu quy định); b) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu (đối với công dân Việt Nam cư trú ở trong nước), Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế như Giấy thông hành hoặc Thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài); c) Bản sao Giấy khai sinh của người được nhận là con trong trường hợp xin nhận con; của người nhận cha, mẹ trong trường hợp xin nhận cha, mẹ; d) Căn cứ chứng minh quan hệ cha, con hoặc mẹ, con (nếu có); đ) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), bản sao Thẻ thường trú (đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam) của người được nhận là cha, mẹ, con. 2. Hồ sơ nhận cha, mẹ, con phải do người có yêu cầu nộp trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 19 của Nghị định này. Điều 21. Thời hạn giải quyết việc nhận cha, mẹ, con Thời hạn giải quyết việc nhận cha, mẹ, con không quá 25 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí. Trường hợp cần xác minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 22 hoặc Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị định này thì thời hạn trên được kéo dài không quá 10 ngày làm việc. Điều 22. Trình tự giải quyết việc nhận cha, mẹ, con tại Việt Nam 1. Ngay sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Sở Tư pháp có trách nhiệm nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Sở Tư pháp trong thời gian 07 ngày liên tục, đồng thời có công văn đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con. 2. Ngay sau khi nhận được công văn yêu cầu của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết việc nhận cha, mẹ, con trong thời gian 07 ngày liên tục tại trụ sở Ủy ban nhân dân. Nếu có khiếu nại, tố cáo về việc nhận cha, mẹ, con, Ủy ban nhân dân cấp xã phải gửi văn bản báo cáo ngay Sở Tư pháp. 3. Trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo về việc nhận cha, mẹ, con hoặc có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của các bên cha, mẹ, con hoặc giấy tờ trong hồ sơ thì Sở Tư pháp thực hiện xác minh. 4. Nếu xét thấy các bên cha, mẹ, con đáp ứng đủ điều kiện nhận cha, mẹ, con, Giám đốc Sở Tư pháp ký Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Trường hợp từ chối công nhận việc nhận cha, mẹ, con, Sở Tư pháp thông báo cho người có yêu cầu, trong đó nêu rõ lý do từ chối. 5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Giám đốc Sở Tư pháp ký Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con, trừ trường hợp có lý do chính đáng mà các bên cha, mẹ, con có yêu cầu khác về thời gian, Sở Tư pháp thực hiện trao Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con cho các bên cha, mẹ, con và ghi vào sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Khi trao Quyết định công nhận cha, mẹ, con, bên nhận và bên được nhận phải có mặt. Điều 23. Trình tự giải quyết việc nhận cha, mẹ, con tại cơ quan đại diện 1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, cơ quan đại diện có trách nhiệm: a) Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ nhận cha, mẹ, con; trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo về việc nhận cha, mẹ, con hoặc có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của các bên cha, mẹ, con hoặc giấy tờ trong hồ sơ thì cơ quan đại diện thực hiện xác minh; b) Nếu xét thấy các bên đương sự đáp ứng đủ điều kiện nhận cha, mẹ, con thì người đứng đầu cơ quan đại diện ký Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Trong trường hợp từ chối công nhận việc nhận cha, mẹ, con thì cơ quan đại diện gửi văn bản thông báo cho người có yêu cầu, trong đó nêu rõ lý do từ chối. 2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người đứng đầu cơ quan đại diện ký Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con, trừ trường hợp có lý do chính đáng mà các bên cha, mẹ, con có yêu cầu khác về thời gian, cơ quan đại diện thực hiện trao Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con cho các bên cha, mẹ, con và ghi vào sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Khi trao Quyết định công nhận cha, mẹ, con, bên nhận và bên được nhận phải có mặt.

Mục 2 GHI VÀO SỔ HỘ TỊCH VIỆC NHẬN CHA, MẸ, CON CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐÃ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT TẠI CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN CỦA NƯỚC NGOÀI

Điều 24. Ghi vào sổ hộ tịch việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài Việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài được ghi vào sổ hộ tịch theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này. Điều 25. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài 1. Sở Tư pháp, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện ghi vào sổ hộ tịch việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (sau đây gọi là ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con). Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Sở Tư pháp, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam, thực hiện ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con. Cơ quan đại diện tại nước tiếp nhận, nơi cư trú của công dân Việt Nam, thực hiện việc ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con. 2. Thời hạn giải quyết việc ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí. Trường hợp phải xác minh thì thời hạn được kéo dài không quá 05 ngày làm việc. 3. Hồ sơ ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau: a) Tờ khai ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con (theo mẫu quy định); b) Bản sao giấy tờ công nhận việc nhận cha, mẹ, con do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp; c) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân của người có yêu cầu, như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế; d) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người có yêu cầu. 4. Hồ sơ ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con phải do người có yêu cầu nộp trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều này. 5. Sau khi thực hiện ghi vào sổ việc nhận cha, mẹ, con, Giám đốc Sở Tư pháp, người đứng đầu cơ quan đại diện ký và cấp cho người có yêu cầu Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ các việc hộ tịch (theo mẫu quy định).

Chương IV ĐĂNG KÝ KẾT HÔN, NHẬN CHA, MẸ, CON CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI

Điều 26. Thẩm quyền đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định tại Nghị định này và quy định khác của pháp luật về đăng ký hộ tịch. Điều 27. Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn 1. Hồ sơ đăng ký kết hôn được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau đây của mỗi bên: a) Tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu quy định); b) Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân đối với công dân Việt Nam; giấy tờ để chứng minh về tình trạng hôn nhân của công dân nước láng giềng do cơ quan có thẩm quyền của nước đó cấp. Giấy tờ quy định tại điểm này được cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó là người không có vợ hoặc không có chồng. Đối với công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc đã ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. 2. Hồ sơ đăng ký kết hôn do một trong hai bên kết hôn nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký kết hôn. 3. Người nộp hồ sơ phải xuất trình giấy tờ sau đây: a) Giấy chứng minh nhân dân biên giới đối với công dân Việt Nam; trường hợp không có Giấy chứng minh nhân dân biên giới thì xuất trình giấy tờ chứng minh việc thường trú ở khu vực biên giới kèm theo giấy tờ tùy thân khác để kiểm tra; b) Giấy tờ tùy thân hoặc giấy tờ khác đối với công dân nước láng giềng do cơ quan có thẩm quyền của nước đó cấp để chứng minh việc người đó thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam. 4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ. Sau khi đã thẩm tra hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã có công văn, kèm theo bản sao 01 bộ hồ sơ (bản sao không cần chứng thực) gửi Sở Tư pháp để xin ý kiến. 5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp xem xét hồ sơ và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp từ chối đăng ký kết hôn, Sở Tư pháp có văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho hai bên nam, nữ, trong đó nêu rõ lý do. 6. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được ý kiến đồng ý của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký kết hôn như đối với trường hợp đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch. Điều 28. Trình tự, thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con 1. Hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con được lập thành 01 bộ, bao gồm: a) Tờ khai nhận cha, mẹ, con (theo mẫu quy định); b) Căn cứ chứng minh quan hệ cha con, mẹ con (nếu có). 2. Hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con phải do người có yêu cầu nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Khi nộp hồ sơ, người có yêu cầu phải xuất trình giấy tờ quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Nghị định này để kiểm tra. 3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, thực hiện niêm yết việc nhận cha, mẹ, con trong thời gian 07 ngày liên tục tại trụ sở Ủy ban nhân dân. Hết thời hạn niêm yết, Ủy ban nhân dân cấp xã có công văn, kèm theo bản sao 01 bộ hồ sơ (bản sao không cần chứng thực) gửi Sở Tư pháp để xin ý kiến. 4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn xin ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp xem xét hồ sơ nhận cha, mẹ, con và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp từ chối đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, Sở Tư pháp có văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người có yêu cầu, trong đó nêu rõ lý do. 5. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con như đối với trưòrng hợp đăng ký việc nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

Chương V TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, HỖ TRỢ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Quan Hệ Hôn Nhân Và Gia Đình Có Yếu Tố Nước Ngoài

17/03/2024

Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

Như vậy, theo các quy định trên, các quan hệ hôn nhân và gia đình được coi là quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài khi có một trong những dấu hiệu sau:

– Chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình là người nước ngoài.

– Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình xảy ra ở nước ngoài.

Theo quy định tại điều 122 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 thì:

1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

2. Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật này.

Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng.

III. Quy định của pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài1. Khái niệm

Luật Hôn nhân và gia đình không định nghĩa cụ thể về kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng có thể hiểu kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ thực hiện việc kết hôn để xác lập quan hệ vợ chồng trong các trường hợp:

– Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài.– Người nước ngoài kết hôn với nhau ở Việt Nam – Công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài2. Điều kiện kết hôn trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Luật Hôn nhân Gia đình 2014 thì:

1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

2. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.

Như vậy, các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam được áp dụng cho bên nam hoặc nữ là công dân Việt Nam hoặc khi việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tiến hành tại Việt Nam. Theo đó, hai bên nam nữ muốn kết hôn với nhau phải đáp ứng các điều kiện sau đây theo điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

3. Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo Nghị định số 24/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện đăng ký kết hôn cho các trường hợp sau:

+ Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;

+ Kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam, thực hiện đăng ký kết hôn đối với trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký thường trú của một trong hai bên là người nước ngoài, thực hiện đăng ký kết hôn nếu họ có yêu cầu đăng ký kết hôn với nhau tại Việt Nam.

Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cũng có thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp cụ thể sau:

– Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và việc kết hôn được tiến hành ở nước ngoài, nếu việc đăng ký kết hôn đó không trái với pháp luật của nước sở tại.

– Kết hôn giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau, nếu họ có yêu cầu.

3. Căn cứ tình hình cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định bổ sung giấy xác nhận của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài về việc công dân Việt Nam đã được tư vấn, hỗ trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong hồ sơ đăng ký kết hôn nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.”

5. Trình tự thủ tục giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam

a, Nộp, tiếp nhận hồ sơ.

Theo Điều 8 Nghị định 24/2013/NĐ-CP thì Hồ sơ đăng ký kết hôn do một trong hai bên kết hôn nộp trực tiếp tại Sở Tư pháp, nếu đăng ký kết hôn tại Việt Nam hoặc cơ quan đại diện, nếu đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện.

Cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ, nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ thì viết phiếu tiếp nhận hồ sơ, ghi rõ ngày phỏng vấn và ngày trả kết quả.

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, không hợp lệ, cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn hai bên nam, nữ bổ sung, hoàn thiện. Văn bản hướng dẫn phải ghi đầy đủ, rõ ràng loại giấy tờ cần bổ sung, hoàn thiện; cán bộ tiếp nhận hồ sơ ký, ghi rõ họ tên và giao cho người nộp hồ sơ. Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí.

Trường hợp người có yêu cầu nộp hồ sơ không đúng cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 6 của Nghị định này, cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn người đó đến cơ quan có thẩm quyền để nộp hồ sơ.

Thủ tục tiếp nhận hồ sơ quy định ở trên cũng được áp dụng khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, công nhận việc kết hôn, ghi vào sổ hộ tịch việc nhận cha, mẹ, con theo quy định tại Nghị định này, trừ quy định về việc ghi ngày phỏng vấn .

b, Giải quyết việc đăng ký kết hôn

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Sở Tư pháp có trách nhiệm:

– Thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại trụ sở Sở Tư pháp đối với hai bên nam, nữ để kiểm tra, làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn và mức độ hiểu biết nhau của hai bên nam, nữ. Trường hợp cần phiên dịch để thực hiện phỏng vấn thì Sở Tư pháp chỉ định người phiên dịch.

Trình tự phỏng vấn đối với người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài theo Điều 10 Thông tư số 22/2013/TT-BTP Quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CPđược thực hiện như sau:

“1. Sở Tư pháp cử cán bộ tiến hành phỏng vấn đối với người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Khi phỏng vấn cán bộ Sở Tư pháp cần làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn của công dân Việt Nam; sự hiểu biết của công dân Việt Nam về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài, về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú.

2. Kết quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn bên công dân Việt Nam cho thấy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Sở Tư pháp yêu cầu bên người nước ngoài về Việt Nam để phỏng vấn làm rõ:

a) Hai bên chênh lệch nhau từ 20 tuổi trở lên;

b) Người nước ngoài kết hôn lần thứ ba hoặc đã kết hôn và ly hôn với vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam;

c) Công dân Việt Nam không hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài; không hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú;

d) Người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho biết sẽ không có mặt để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

3. Kết quả phỏng vấn phải ghi thành văn bản, có chữ ký của người phỏng vấn, người được phỏng vấn.”

Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản. Cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến đề xuất của mình và ký tên vào văn bản phỏng vấn; người phiên dịch (nếu có) phải cam kết dịch chính xác nội dung phỏng vấn và ký tên vào văn bản phỏng vấn.

Nếu kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên kết hôn không hiểu biết về hoàn cảnh của nhau thì Sở Tư pháp hẹn ngày phỏng vấn lại; việc phỏng vấn lại được thực hiện sau 30 ngày, kể từ ngày đã phỏng vấn trước.

– Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; trường hợp nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời, kết hôn giả tạo, lợi dụng việc kết hôn để mua bán người, kết hôn vì mục đích trục lợi khác hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của hai bên nam, nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn, Sở Tư pháp thực hiện xác minh làm rõ.

Trường hợp xét thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của cơ quan công an, Sở Tư pháp có công văn nêu rõ vấn đề cần xác minh, kèm theo bản sao 01 bộ hồ sơ đăng ký kết hôn (bản sao không cần chứng thực) gửi cơ quan công an cùng cấp đề nghị xác minh.

Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được công văn của Sở Tư pháp, cơ quan công an thực hiện xác minh vấn đề được yêu cầu và trả lời bằng văn bản cho Sở Tư pháp.

Sau khi thực hiện phỏng vấn hai bên nam, nữ, nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ kết hôn, ý kiến của cơ quan công an (nếu có), Sở Tư pháp báo cáo kết quả và đề xuất giải quyết việc đăng ký kết hôn trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, kèm theo 01 bộ hồ sơ đăng ký kết hôn.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Sở Tư pháp cùng hồ sơ đăng ký kết hôn, nếu xét thấy hai bên nam, nữ đáp ứng đủ điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp từ chối đăng ký kết hôn quy định tại Điều 12 của Nghị định này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn và trả lại hồ sơ cho Sở Tư pháp để tổ chức lễ đăng ký kết hôn.

6. Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôna) Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam:

Trường hợp từ chối đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản nêu rõ lý do gửi Sở Tư pháp để thông báo cho hai bên nam, nữ.( Điều 10 Nghị định 24/2013 NĐ-CP)

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam không quá 25 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí.

Trường hợp Sở Tư pháp yêu cầu cơ quan công an xác minh thì thời hạn được kéo dài không quá 10 ngày làm việc.

b) Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện:

Như vậy, thời gian tối đa để cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xem xét, giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam là không quá 25 ngày làm việc. Ở đây cần lưu ý thời hạn nêu trên được tính từ ngày một trong hai bên nộp đầy đủ hồ sơ, Sở Tư pháp đã kiểm tra, tiếp nhận hồ sơ đó một cách đầy đủ, đồng thời hai bên đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định.

Việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài được giải quyết trong thời hạn không quá 20 ngày, kể từ ngày cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí.

IV. Quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trường hợp cơ quan đại diện yêu cầu cơ quan trong nước xác minh thì thời hạn được kéo dài không quá 35 ngày.

1. Khái niệm

Theo quy định tại Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 thì “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” Như vậy, có thể hiểu ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật trên cơ sở sự tự nguyện của ít nhất một bên trong quan hệ vợ chồng. Bên cạnh đó, theo pháp luật Việt Nam thì cơ sở pháp lý để chấm dứt quan hệ hôn nhân là một bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể được nhận biết thông qua một trong ba dấu hiệu sau đây:

+ Về chủ thể: một trong các bên chủ thể của quan hệ ly hôn là người nước ngoài. Người nước ngoài được hiểu là tất cả những người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch và người có nhiều quốc tịch nhưng không có quốc tịch Việt Nam.

+ Căn cứ ly hôn xảy ra ở nước ngoài: ví dụ cả hai bên vợ chồng đều là người Việt Nam nhưng đã kết hôn ở nước ngoài nay xin ly hôn tại Việt Nam. Trong vụ việc này, căn cứ để giải quyết ly hôn là việc kết hôn được tiến hành ở nước ngoài nên vụ việc mang yếu tố nước ngoài.

2. Các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trong ba dấu hiệu trên thì dấu hiệu về chủ thể là dấu hiệu thường xuyên được bắt gặp nhất trong quá trình giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài. Trên thực tế, các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài mà tòa án Việt Nam hay giải quyết là vụ việc xảy ra giữa một công dân Việt Nam đã kết hôn với một người nước ngoài.

Khi quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài phát sinh, có nhiều hệ thống luật của các nước khác nhau có thể dùng để giải quyết quan hệ đó. Để giải quyết xung đột pháp luật này, nguyên tắc luật quốc tịch và nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự hay được áp dụng. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định một số nguyên tắc cơ bản sau đây để giải quyết xung đột pháp luật trong vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài:

V. Quy định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định:

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.

Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao gồm:

– Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

– Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.

– Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam.

Luật hôn nhân gia đình cũng quy định thêm: Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc nhận trẻ em nước ngoài thường trú tại Việt Nam làm con nuôi phải tuân theo quy định của Luật này và quy định trong pháp luật của nước mà người đó là công dân về điều kiện nhận nuôi con nuôi.

Việc công dân Việt Nam nhận trẻ em là người nước ngoài làm con nuôi đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam.

Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác.

2. Trong trường hợp việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện tại nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của con nuôi.”

Trân trọng!

CV Nguyễn Huy – Công ty Luật Minh Gia

Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Khi Ly Hôn: Ly Hôn Có Yếu Tố Nước Ngoài

Về thủ tục trường hợp kết hôn và ly hôn giữa các công dân Việt Nam được thực hiện dễ dàng với mức độ phổ biến của pháp luật. Vậy khi có yếu tố nước ngoài, Luật hôn nhân và gia đình khi ly hôn quy định thế nào?

Theo quy định tại Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội hiện hành về Ly hôn có yếu tố nước ngoài thì:

“1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”.

Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết?

Luật hôn nhân và gia đình khi ly hôn như đã trích dẫn ở trên cho thấy “việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam”, vậy cụ thể Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết trường hợp này?

Căn cứ khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2024 thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài:

– Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;

– Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;

– Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;

– Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;

Cũng theo Luật này thì Tòa án nhân dân cấp Tỉnh có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài (đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài).

PHAN LAW VIETNAM Hotline: 1900.599.995 – 0794.80.8888 Email: [email protected]

Quy Định Về Hôn Nhân Và Gia Đình Có Yếu Tố Nước Ngoài

Về thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: Khoản 1 và khoản 2 Điều 123 Luật HNGĐ dẫn chiếu đến quy định trong các đạo luật khác là pháp luật về hộ tịch và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2024 mà không có quy định loại trừ. Tuy nhiên, khoản 3 Điều này, Điều 128, khoản 2 Điều 129 Luật HNGĐ lại có quy định riêng biệt về thẩm quyền của TAND cấp huyện, thẩm quyền áp dụng cho một số quan hệ hôn nhân và gia đình cụ thể.

Quy định tại khoản 3 Điều 123 Luật HNGĐ trùng với quy định tại khoản 4 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2024. Do vậy, không cần thiết phải quy định thẩm quyền trong Luật HNGĐ.

Thẩm quyền xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài: Về thẩm quyền của cơ quan hộ tịch, Điều 128 Luật HNGĐ mặc dù chỉ dẫn đế pháp luật về hộ tịch nhưng còn thiếu trường hợp công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đã được quy định tại Điều 43 Luật Hộ tịch năm 2014.

Về thẩm quyền của Tòa án, các Điều 28, 29, 469 và 470 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2024 quy định về thẩm quyền của tòa án Việt Nam với các vụ việc dân sự nói chung và các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng, nhưng Điều 469 và Điều 470 không có quy định cụ thể về thẩm quyền quốc tế (thẩm quyền của tòa án Việt Nam so với tòa án nước ngoài) đối với vụ việc về quan hệ pháp lý giữa cha mẹ con. Việc Luật HNGĐ có quy định riêng nhưng không đầy đủ về thẩm quyền của tòa án có thể dẫn đến những cách giải thích khác nhau.

Về thẩm quyền giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài: Khoản 1 và khoản 2 Điều 129 Luật HNGĐ mâu thuẫn nhau. Khoản 2 xác định thẩm quyền thuộc về cơ quan của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú, như vậy nếu người yêu cầu không cư trú ở Việt Nam thì cơ quan của Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết vụ việc và không có điều kiện để áp dụng khoản 1 trong đó cho phép giải quyết các yêu cầu cấp dưỡng của người không cư trú tại Việt Nam (áp dụng pháp luật mà họ là công dân).

Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước đều xác định cơ quan có thẩm quyền là cơ quan nơi người yêu cầu cấp dưỡng thường trú hoặc cư trú nhưng pháp luật áp dụng thì có Hiệp định quy định là pháp luật nơi người yêu cầu thường trú, có Hiệp định lại quy định là pháp luật nơi người yêu cầu là công dân.

Về pháp luật áp dụng đối với các vụ việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: Luật HNGĐ không quy định rõ về hệ thuộc luật áp dụng trong một số quan hệ cụ thể: quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là quan hệ cha mẹ con… Trong những trường hợp này, nguyên tắc chung của Luật HNGĐ là áp dụng pháp luật Việt Nam (không theo nguyên tắc áp dụng pháp luật của nước nơi có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ đó như quy định của Bộ luật dân sự năm 2024). Điều 122 Luật HNGĐ cũng quy định một số vấn đề về áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế, dẫn chiếu… là những vấn đề có tính nguyên tắc đã được quy định trong Bộ luật dân sự.

Về pháp luật áp dụng đối với kết hôn có yếu tố nước ngoài: Điều 126 nên sử dụng chung thuật ngữ “pháp luật của nước mà bên kết hôn có quốc tịch” tương tự như cách sử dụng trong BLDS.

Khoản 2 Điều 126 Luật HNGĐ không áp dụng nguyên tắc chung tại khoản 1 mà chỉ buộc các bên tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam. Quy định này có thể khiến cho hôn nhân của những người nước ngoài này không được công nhận tại quốc gia mà họ là công dân, tạo kẽ hở để người nước ngoài lẩn tránh các quy định pháp luật về kết hôn ở quốc gia mà họ là công dân.

Đối với các văn bản quy định chi tiết, mặc dù có quy định về việc áp dụng pháp luật của nước mà mỗi bên kết hôn có quốc tịch, các quy định về thủ tục kết hôn có yếu tố nước ngoài (Điều 38 Luật Hộ tịch, Điều 30 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch) chỉ đòi hỏi bên nước ngoài nộp giấy chứng minh tình trạng hôn nhân hoặc giấy tờ xác nhận đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước ngoài (trong trường hợp không có giấy chứng minh tình trạng hôn nhân) mà không xem xét nội dung quy định của pháp luật nước ngoài về các điều kiện kết hôn.

Các quy định hiện hành (Điều 38 Luật hộ tịch, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch) không yêu cầu việc nộp hồ sơ phải có mặt cả bên nam nữ. Tuy nhiên, Điều 3 Luật Hộ tịch quy định người yêu cầu đăng ký kết hôn trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan hộ tịch. Như vậy, cần quy định rõ một trong hai bên có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn hay không.

Trường hợp kết hôn với người nước ngoài, bên kết hôn nước ngoài đang cứ trú ở nước ngoài thường gặp trở ngại trong việc sắp xếp tới Việt Nam 2 lần vào cả thời điểm nộp hồ sơ và thời điểm đăng ký kết hôn. Sự có mặt của bên nước ngoài trong giai đoạn này không có nhiều ý nghĩa khi pháp luật không bắt buộc phỏng vấn các bên kết hôn như trước đây (chưa có quy định về các trường hợp cần phỏng vấn).

Tư Vấn Luật Hôn Nhân Gia Đình Có Yếu Tố Nước Ngoài (Kết Hôn

23/09/2024

Nguyễn Thị Biển

Nội dung tư vấn: Chào luật sư! Tôi có chút vấn đề nhờ luật sư tư vấn giúp: tôi có làm kết hôn với người chồng Đài Loan. Gia đình tôi không đồng ý cho tôi lấy chồng nước ngoài nhưng vì yêu tôi vẫn làm. Chúng tôi đã làm thủ tục tất cả đã xong giờ chỉ còn chờ đến ngày hẹn phỏng vấn nữa là đến phỏng vấn kết hôn ở Văn phòng Đài bắc nữa là xong hoàn thiện ( vì luật kết hôn với người đài loan có thay đổi từ 1.1.2024).

Và hiện tại bây giờ đang chờ, thì gia đình tôi phát hiện va muốn tôi huỷ để kết hôn với người bạn trai cũ của tôi vẫn còn yêu tôi và thường hay đến nhà. dù cho tôi có thuyết phục như thế nào, Giấy chứng nhận kết hôn đã có, họ yêu cầu tôi huỷ kết hôn với người Đài loan, nếu không tự giải quyết gia đình tôi sẽ can thiệp, sẽ tìm đến cơ quan chức năng, đến văn phòng đài bắc báo với họ là chúng tôi làm giả kết hôn, tìm mọi cách để họ không làm cho tôi nữa. Vậy tôi xin nhờ luật sư tư vấn giúp tôi gia đình tôi có thể làm như vậy không? Có thể can thiệp và làm ảnh hưởng đến việc kết hôn của chúng tôi như vậy không? Chúng tôi đang chờ phỏng vấn, có ảnh hưởng đến kết quả phỏng vấn của chung tôi hay không? Tôi có thuyết phục gia đình rằng tôi không thể kết hôn với người khác vì đã có giấy chứng nhận kết hôn nhưng gia đình tôi tìm hiểu ở đâu và luôn bảo giấy đó chưa có giá trị vì đang chờ họ xét duyêt vẫn có thể huỷ. Tôi có thể gửi đơn lên huỷ và kết hôn với bạn trai cũ của tôi người mà gia đình tôi muốn tôi lấy. Sau đó làm giấy đăng ký kết hôn sau. dù tôi có thuyết phục hay giải thích như thế không được là vi phạm phap luật như thế nào họ cũng không tin và không đồng ý. Nếu tôi huỷ kết hôn với người chồng đài loan tôi đã đăng ký, thì có được không? Cần những yêu cầu hay giấy tờ gì? Và mất thời gian bao lâu? Tôi đang áp lực quá không biết phải giải quyết như thế nào! Nhờ luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cảm ơn!

Thứ nhất, theo quy định của pháp luật thì việc kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định như sau:

“Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.”

Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Theo đó chỉ khi nào một bên của quan hệ vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức và đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình thì cha, mẹ người thân thích mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Trong vụ việc của bạn, gia đình bạn không có quyền yêu cầu, đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn hay không công nhận việc đăng ký kết hôn của bạn.

Thứ hai, Về giải quyết thủ tục ly hôn ở Việt Nam sẽ áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam tại điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014

Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp của bạn đã được cấp giấy đăng ký kết hôn tức là nhà nước đã thừa nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp của hai người. Khi bạn muốn ly hôn sẽ tiến hành thủ tục ly hôn theo hình thức thuận tình ly hôn hoặc đơn phương xin ly hôn. Hình thức thuận tình ly hôn được hiểu là hai bên thật tự nguyện ly hôn và có thỏa thuận về phân chia tài sản, con chung ,.. thì Tòa án sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn của hai bạn. Còn trường hợp bạn đơn phương xin ly hôn thì bạn sẽ phải có căn cứ ly hôn đó là việc bạn có căn cứ chứng minh hành vi bạo lực gia đình của chồng, hay có căn cứ cho rằng cuộc sống hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không thể đạt được thì sau khi tiến hành thủ tục hòa giải không thành thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho bạn.

Các giấy tờ bạn cần có để hoàn thiện hồ sơ gửi Tòa án giải quyết việc ly hôn gồm: mẫu đơn xin ly hôn (hoặc đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn), giấy đăng ký kết hôn (bản chính), giấy chứng nhận về tài sản, chứng minh nhân dân bản chứng thực, bên chồng bạn cần cung cấp bản sao hộ chiếu hoặc visa đã được hợp pháp hóa lãnh sự,…

Về thủ tục đơn phương ly hôn với người nước ngoài bạn có thể tham khảo bài viết : Thủ tục đơn phương ly hôn với người nước ngoài

CV Hà Tuyền – Công ty Luật Minh Gia