Luật Hồng Đức Năm Nào / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Bộ Luật Hồng Đức Ra Đời Năm Nào

Luật Hồng Đức, Bộ Luật Hồng Đức Ra Đời Năm Nào, Bộ Luật Hồng Đức, Dự Luật Hong Kong Mỹ, Dự Luật Bảo Vệ Hong Kong, Dự Luật Cứu Hong Kong, Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kong, Dự Luật Dẫn Độ ở Hong Kong, Dự Luật Hồng Kong, Dự Luật Hồng Kong Là Gì, Dự Luật Về Hong Kong, Luật Thủ Tục Sang Tên Sổ Hồng, ý Nghĩa Bộ Luật Hồng Đức, Bộ Luật Hồng Đức Ra Đời Vào Thời Nào, Dự Luật Nhân Quyền Hồng Kông, Dự Luật Nhân Quyền Hồng Kông Là Gì, Dự Luật Nhân Quyền Và Dân Chủ Hong Kong, Dự Luật Dân Chủ Và Nhân Quyền Hong Kong, Luật Chống Tham Nhũng Của Hong Kong, Giáo Trình An Sinh Xã Hội Trường Đại Học Luật Tphcm, Nxb Hồng Đức 2007, Hông Tư Số 33/2016/tt-bqp Ngày 29 Tháng 3 Năm 2016 Của Bộ. Quốc Phòng Hướng Dẫn Một Số Điều Của Luật, Hông Tư Số 33/2016/tt-bqp Ngày 29 Tháng 3 Năm 2016 Của Bộ. Quốc Phòng Hướng Dẫn Một Số Điều Của Luật, Hướng Dẫn ôn Tập Thi Vào Lớp 10 Tiếng Anh Nguyễn Hồng Quân Đáp An Nguyễn Hồng Quân, Thủ Tục Mua Bán Căn Hộ Có Sổ Hồng, Thủ Tục Cấp Bìa Hồng, Văn Tế Lễ Tơ Hồng, Vũ Hồng Văn, Thủ Tục Cầm Sổ Hồng, Thủ Tục Mua Bán Nhà Đất Có Sổ Hồng, Sổ Hồng, Thủ Tục Cấp Sổ Hồng, Thủ Tục Làm Sổ Hồng, ốc 16h Hồng Ngự, Mẫu Sổ Hồng, Mẫu Đơn Xin Cấp Sổ Hồng, Tai Mũi Họng, Hồ Hồng Sơn, Phí Hoa Hồng, Mai Hồng Quỳ, Hồng, Bán Nhà Khi Sổ Hồng, Thơ Phượng Hồng, Vàng A Hồng, Thủ Tục Cấp Sổ Hồng 2018, Địa Chỉ Trường Đại Học Lạc Hồng, Thủ Tục Cấp Sổ Hồng Chung Cư, Fidic Màu Hồng, Địa Chỉ Cơ Sở 5 Trường Đại Học Lạc Hồng, Địa Chỉ Trường Đại Học Hồng Đức 1, Thủ Tục Làm Sổ Hồng Chung Cư, Lịch Học Dh Lạc Hồng, Địa Chỉ Trường Mầm Non Hoa Hồng, 9 Bài Giảng Của Sư Phụ Lý Hồng Chí, Tóm Tắt Hồng Lâu Mộng, Thủ Tục Sang Tên Sổ Hồng, Tuoi Hong, Nguyễn Thị Hồng Vân, Lịch Học Đại Học Lạc Hồng, Hoa Hồng Trắng, Thủ Tục Mua Bán Căn Hộ Chưa Có Sổ Hồng, Quy Chế Hoa Hồng Môi Giới, Quy Trình Tai Mũi Họng, Thủ Tục Cấp Đổi Từ Sổ Đỏ Sang Sổ Hồng, Bảng Giá ô Mai Hồng Lam, Bài Thơ Phượng Hồng, Nội Dung Bài Hát ước Mơ Hồng, Hồng An Chia, Hông Tư Số 33/2016/tt-bqp, Địa Chỉ Trường Đại Học Hồng Đức Cơ Sở 1, Hông Tư Số 111/2009/tt – Bqp, Sổ Hồng Chung Cư, Bài Giảng Thứ Bảy Của Sư Phụ Lý Hồng Chí, Hư Hỏng Xe Cơ Giới, Hồng Hoang, Bai Tap Tieng Anh Mai Lan Hong 11, Phí Hoa Hồng Lazada, Biểu Phí Hoa Hồng, Biểu Phí Hoa Hồng Lazada, Viêm Họng Cấp Tính, Nguyễn Hồng Quân, Quan Hệ Hồng Công Hàn Mỵ, Trích Đoạn Hồng ơi, Nguyên Lý Bếp Hồng Ngoại, Báo Cáo Tự Đánh Giá Trường Mầm Non Hoa Hồng, Hông Tư Số 50/2016/ttlt-bqp-bca, Thủ Tục Chuyển Đổi Sổ Đỏ Sang Sổ Hồng, Xét Tuyển Đại Học Hồng Bàng, Hông Tư Số 10/gd-Đt Ngày 29/7/1994, Tia Hồng Ngoại Và Tia Gamma, Truyện Ngắn ước Mơ Hồng, Phương án Ba Bông Hồng, Thủ Tục Sang Nhượng Sổ Hồng, Phạm Hồng Nhung, Nguyễn Hồng Hưng, Nội Dung Bài Hát Em Là Bông Hồng Nhỏ, Thủ Tục Chuyển Nhượng Sổ Hồng, Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Vừa Hồng Vừa Chuyên, Phác Đồ Điều Trị Ung Thư Vòm Họng, Thủ Tục Chuyển Đổi Từ Sổ Đỏ Sang Sổ Hồng, Quyet Dinh Cap So Hong Cho Tp Hcm,

Luật Hồng Đức, Bộ Luật Hồng Đức Ra Đời Năm Nào, Bộ Luật Hồng Đức, Dự Luật Hong Kong Mỹ, Dự Luật Bảo Vệ Hong Kong, Dự Luật Cứu Hong Kong, Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kong, Dự Luật Dẫn Độ ở Hong Kong, Dự Luật Hồng Kong, Dự Luật Hồng Kong Là Gì, Dự Luật Về Hong Kong, Luật Thủ Tục Sang Tên Sổ Hồng, ý Nghĩa Bộ Luật Hồng Đức, Bộ Luật Hồng Đức Ra Đời Vào Thời Nào, Dự Luật Nhân Quyền Hồng Kông, Dự Luật Nhân Quyền Hồng Kông Là Gì, Dự Luật Nhân Quyền Và Dân Chủ Hong Kong, Dự Luật Dân Chủ Và Nhân Quyền Hong Kong, Luật Chống Tham Nhũng Của Hong Kong, Giáo Trình An Sinh Xã Hội Trường Đại Học Luật Tphcm, Nxb Hồng Đức 2007, Hông Tư Số 33/2016/tt-bqp Ngày 29 Tháng 3 Năm 2016 Của Bộ. Quốc Phòng Hướng Dẫn Một Số Điều Của Luật, Hông Tư Số 33/2016/tt-bqp Ngày 29 Tháng 3 Năm 2016 Của Bộ. Quốc Phòng Hướng Dẫn Một Số Điều Của Luật, Hướng Dẫn ôn Tập Thi Vào Lớp 10 Tiếng Anh Nguyễn Hồng Quân Đáp An Nguyễn Hồng Quân, Thủ Tục Mua Bán Căn Hộ Có Sổ Hồng, Thủ Tục Cấp Bìa Hồng, Văn Tế Lễ Tơ Hồng, Vũ Hồng Văn, Thủ Tục Cầm Sổ Hồng, Thủ Tục Mua Bán Nhà Đất Có Sổ Hồng, Sổ Hồng, Thủ Tục Cấp Sổ Hồng, Thủ Tục Làm Sổ Hồng, ốc 16h Hồng Ngự, Mẫu Sổ Hồng, Mẫu Đơn Xin Cấp Sổ Hồng, Tai Mũi Họng, Hồ Hồng Sơn, Phí Hoa Hồng, Mai Hồng Quỳ, Hồng, Bán Nhà Khi Sổ Hồng, Thơ Phượng Hồng, Vàng A Hồng, Thủ Tục Cấp Sổ Hồng 2018, Địa Chỉ Trường Đại Học Lạc Hồng, Thủ Tục Cấp Sổ Hồng Chung Cư, Fidic Màu Hồng, Địa Chỉ Cơ Sở 5 Trường Đại Học Lạc Hồng, Địa Chỉ Trường Đại Học Hồng Đức 1, Thủ Tục Làm Sổ Hồng Chung Cư,

Tư Vấn Bộ Luật Hồng Đức Ra Đời Năm Nào

Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật hay Lê triều hình luật, là bộ luật chính thức của nhà nước Đại Việt thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều có tên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi cho bài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức.

Bộ luật Hồng Đức ra đời năm nào

Bộ luật Hồng Đức là một thành tựu hết sức quan trọng trong lịch sử lập pháp Việt Nam so với các triều đại trước đó cũng như nhiều nước trên thế giới.

Bộ luật Hồng Đức được tìm thấy trên hai bản ị ván khắc và một bản chép tay với tiêu đề Lê triều hình sự.

Các tài liệu này đều không ghi tên tác giả niên đại, không có lời tựa… Bộ luật này được ban bố lần đầu tiên trong khoảng những năm 1470 . 1497 dưới thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu lịch sử, một số nhà nghiên cứu cho rằng Bộ luật này được biên soạn và San hành từ thời vua Lê Thái Tổ (1428) và không ngừng được hoàn chỉnh, trong đó, sự đóng góp của vua Lê Thánh Tông là to lớn hơn cả.

Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều. Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểu quy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt v.v).

Bố trí cụ thể như sau:

Chương Danh lệ: 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản có tính chất chi phối nội dung các chương điều khác (quy định về thập ác, ngũ hình, bát nghị, chuộc tội bằng tiền v.v)

Chương Vệ cấm: 47 điều quy định về việc bảo vệ cung cấm, kinh thành và các tội về cấm vệ.

Chương Vi chế: 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai trái của quan lại, các tội về chức vụ.

Chương Quân chính: 43 điều quy định về sự trừng phạt các hành vi sai trái của tướng, sĩ, các tội quân sự.

Chương Hộ hôn: 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân-gia đình và các tội phạm trong các lĩnh vực này.

Chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau (14 điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm chước bổ sung luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội phạm trong lĩnh vực này.

Chương Thông gian: 10 điều quy định về các tội phạm tình dục.

Chương Đạo tặc: 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một số tội chính trị như phản nước hại vua.

Chương Đấu tụng: 50 điều quy định về các nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và các tội vu cáo, lăng mạ v.v

Chương Trá ngụy: 38 điều quy định các tội giả mạo, lừa dối.

Chương Bộ vong: 13 điều quy định về việc bắt tội phạm chạy trốn và các tội thuộc lĩnh vực này.

Chương Đoán ngục: 65 điều quy định về việc xử án, giam giữ can phạm và các tội phạm trong lĩnh vực này.

Hai chương cuối này đã có một số quy định về tố tụng, nhưng chưa hoàn chỉnh.

Các quy định dân sự trong luật Hồng Đức

Trong bộ luật Hồng Đức, các quan hệ dân sự được đề cập tới nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng đất.

QTHL đã phản ánh hai chế độ sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến là: sở hữu nhà nước (ruộng công) và sở hữu tư nhân (ruộng tư).

Trong bộ luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền-công điền tương đối toàn diện về vấn đề ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất chỉ được thể hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất công như: không được bán ruộng đất công (điều 342), không được chiếm ruộng đất công quá hạn mức (điều 343), không được nhận bậy ruộng đất công đã giao cho người khác (điều 344), cấm làm sai quy định phân cấp ruộng đất công (điều 347), không để bỏ hoang ruộng đất công (điều 350), cấm biến ruộng đất công thành tư (điều 353), không được ẩn lậu để trốn thuế (điều 345) v.v

Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật thời Lê khá gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Cụ thể: Khi cha mẹ còn sống, không phát sinh các quan hệ về thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình, dòng họ.

Thứ hai là các quan hệ thừa kế theo di chúc (các điều 354, 388) và thừa kế không di chúc (thừa kế theo luật) với các điều 374-377, 380, 388. Điều đáng chú ý là bộ luật Hồng Đức cho người con gái có quyền thừa kế ngang bằng với người con trai là một điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong kiến khác. Đây chính là điểm nổi bật nhất của luật pháp triều Lê.

Các quy định hình sự trong luật Hồng Đức

Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo, bao trùm toàn bộ nội dung của bộ luật. Các nguyên tắc hình sự chủ yếu của nó là:

Vô luật bất thành hình (điều 642, 683, 685, 708, 722): trong đó quy định chỉ khép tội khi trong bộ luật có quy định, không thêm bớt tội danh, áp dụng đúng hình phạt đã quy định và nó là tương tự như trong các bộ luật hình sự hiện đại.

Chiếu cố (điều 1, 3-5, 8, 10, 16, 17, 680): trong đó quy định các chiếu cố đối với địa vị xã hội, tuổi tác (trẻ em và người già cả), tàn tật, phụ nữ v.v

Chuộc tội bằng tiền (điều 6, 16, 21, 22, 24): đối với các tội danh như trượng, biếm, đồ, khao đinh, tang thất phụ, lưu, tử, thích chữ. Tuy nhiên các tội thập ác (mười tội cực kỳ nguy hiểm cho chính quyền) và tội đánh roi (có tính chất răn đe, giáo dục) không cho chuộc.

Trách nhiệm hình sự (điều 16, 35, 38, 411, 412): trong đó đề cập tới quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và việc chịu trách nhiệm hình sự thay cho người khác.

Miễn, giảm trách nhiệm hình sự (điều 18, 19, 450, 499, 553): trong đó quy định về miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong các trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khả kháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người).

Thưởng người tố giác, trừng phạt người che giấu (điều 25, 39, 411, 504)

Phân loại theo hình phạt (ngũ hình và các hình phạt khác)

Theo sự vô ý hay cố ý phạm tội

Theo âm mưu phạm tội và hành vi phạm tội

Tính chất đồng phạm

Thập ác: Là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như:

Các quy định tố tụng

Mặc dù không được tách bạch ra thành các chương riêng rẽ, nhưng luật Hồng Đức đã thể hiện một số khái niệm của luật tố tụng hiện đại như:

Thẩm quyền và trình tự tố tụng của các cấp chính quyền (điều 672)

Thủ tục tố tụng (phần lớn của hai chương cuối) như đơn kiện- đơn tố cáo (các điều 508, 513, 698), thủ tục tra khảo (các điều 546, 660, 665, 667, 668, 714, 716), thủ tục xử án (các điều 671, 709), phương pháp xử án (các điều 670, 683, 686, 708, 714, 720, 722), thủ tục bắt người (các điều 646, 658, 659, 663, 676, 680, 701-704).

Qua đó có thể thấy những điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là một bước tiến khá căn bản trong việc cải thiện địa vị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thể được gía trị thời sự và cách lập pháp tiến tiến của nền lập pháp nước ta để lại kế thừa cho Luật hôn nhân gia đình hiện đại.

Bộ Luật Hồng Đức Và Bản Đồ Hồng Đức – Hoàng Thành Thăng Long

Bộ Luật Hồng Đức đã trải qua một quá trình xây dựng lâu dài từ thời Lê Thái Tổ, đến thời Lê Thánh Tông mới hoàn thành là một trong những thành tựu về khoa học và giáo dục; một cống hiến quan trọng dưới thời Lê Sơ.

Theo nghiên cứu của Giáo sư Vũ Khiêu, sự phát triển cao độ của chế độ phong kiến tập quyền dưới thời Lê sơ đã đề ra yêu cầu xây dựng một bộ pháp luật hoàn chỉnh để cố định những trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị, để bảo vệ và bênh vực nên chuyên chính của giai cấp phong kiến. Bộ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) đã ra đời trong hoàn cảnh lịch sử ấy, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triên sang giai đoạn mới của chế độ phong kiến Việt Nam.

Thực ra bộ luật đó không phải do Lê Thánh Tông sáng tạo ra, cũng không phải được xây dựng riêng trong những năm Hồng Đức (1470 -1497), mà là tài sản của một thời kì phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, trong cả thời Lê sơ. Công lao của triều vua Lê Thánh Tông là đã san định các luật lệ của những  triều trước để hoàn thành bước xây dựng bộ pháp điển ấy.

Bộ Luật Hồng Đức, sau khi được xây dựng đã trở thành pháp luật của thời Lê sơ và của các triều đại sau cho đến thế kỉ XVIII. Các triều đại phong kiến thời Lê Trung Hưng (1533 -1789) sau này vẫn lấy Bộ Luật Hồng Đức làm quy tắc mẫu mực, chỉ sửa đổi, bổ sung thêm một số điều khoản phụ cho thích hợp với hoàn cảnh xã hội đương thời mà thôi.

Bộ Luật Hồng Đức là một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam. Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kĩ thuật pháp lí hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, có những điểm tiếp cận gần với kĩ thuật pháp lí hiện đại.

Văn bản của bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán-Nôm (Hà Nội). Tại đây có hai bản in ván khắc đều có tên là Quốc triều hình luật. Ngoài ra còn có một bộ sách chép tay tuy có tên gọi là Lê triều hình luật, nhưng nội dung của nó lại là bản sao lại của Quốc triều hình luật (nhà Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này.

Trong đó bản Quốc triều hình luật mang ký hiệu A.341 là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có giá trị nhất. Bộ luật trong sách này gồm 6 quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng gồm 129 tờ đóng chung thành một cuốn. Sách không ghi tên tác giả, không có dấu hiệu niên đại soạn thảo hay niên đại in ấn và cũng không có lời tựa hoặc các chú dẫn khác. Bìa nguyên bản cuốn sách đã mất, được thay thế bằng một tờ bìa viết 4 chữ Hán là Quốc triều hình luật bằng bút lông. Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép lại trong phần Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí, nhưng thiếu so với cuốn sách này 143 điều trong tổng số 722 điều.

Từ đầu thế kỷ 20, Quốc triều hình luật đã được khảo dịch sang tiếng Pháp. Đến năm 1956, nó mới được dịch sang quốc ngữ lần đầu tiên (bản dịch của Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn do Lương Thần Cao Nãi Quang phiên âm, và dịch nghĩa, Nguyễn Sĩ Giác hiệu đính, Vũ Văn Mẫu viết lời tựa, nhà in Nguyễn Văn Của phát hành, Sài Gòn, 1956). Gần đây, Viện Sử học Việt Nam đã dịch thuật lại cho chuẩn xác hơn. (Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội – 1991).

Nghiên cứu về địa lý Việt Nam và sự ra đời của bản đồ Hồng Đức

Cùng với Bộ Luật Hồng Đức, Giáo sư Vũ Khiêu cũng phân tích về ý nghĩa của sự ra đời của Bản đồ Hồng Đức và đánh giá là một cống hiến quan trọng dưới thời Lê Sơ.

Hiện nay, trong kho sách Hán – Nôm, ta có thể thấy ít nhất 10 dị bản bản đồ Hồng Đức được sao vẽ lại trong sách bản đồ do người đời sau thực hiện. Đây đều là những phiên bản được sao vẽ lại bắt đầu từ gốc: bản đồ Hồng Đức ra đời năm 1490.

Bản đồ Hồng Đức là một bộ Atlas quốc gia đầu tiên của nước ta do Nhà nước phong kiến Việt Nam biên vẽ và ban hành. Sách Đại Việt sử kí toàn thư còn ghi lại khá cụ thể quá trình thu thập tài liệu và thời gian hoàn thành tập bản độ hết sức quí giá này.

Tập bản đồ Hồng Đức còn lại đến ngày nay, gồm 15 tấm bản đồ và những phần chữ thuyết minh, chú giải cho bản đồ.

15 tấm bản đồ đó bao gồm 1 Bản đồ cả nước, 1 tấm bản đồ kinh đô Thăng Long ; 13 bản đồ của 13 sứ thừa tuyên đương thời.

Xét về mặt hình thức thể hiện bản đồ Hồng Đức, kết hợp các trang bản đồ và các trang thành văn (tiếng Anh: text). Các trang thành văn mô tả cấu trúc chính của mỗi trang thừa tuyên. Việc kết hợp như thế cũng vẫn còn thông dụng trong các Atlas hiện nay. Như vậy, nếu bỏ qua yêu cầu chặt chẽ về cơ sở toán học như bản đồ học hiện đại, thường chiếu cố đối với các sản phẩm bản đồ cổ đại, thì bản đồ Hồng Đức có đủ tiêu chuẩn như một Atlas địa lí chung của nước  ta vào thế kỉ XV.

Tác Giả Của Bộ Luật Hồng Đức?

ANH PHÓ trả lời: Bạn Kim Thành thân mến,

Hồng Đức là niên hiệu thứ hai của vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Niên hiệu đầu của vua Thánh Tông là Quang Thuận (1460-1470), niên hiệu sau là Hồng Đức (1470-1497). Mặc dù dân gian quen gọi là Bộ luật Hồng Đức song tên chính thức của nó là Quốc triều Hình luật; cũng không phải được làm ra dưới triều vua Lê Thánh Tông mà đó là một công trình pháp lý được biên soạn, bổ sung trải qua nhiều thời kỳ, nhiều đời vua nhà Lê.

Thật vậy, khác với nhiều văn bản pháp luật cơ bản của nhà Lê mà lịch sử đã ghi rõ ràng tên tác giả trực tiếp biên soạn (thí dụ: Luật thư do Nguyễn Trãi soạn (1440-1442); Quốc triều luật lệnh do Phan Phu Tiên soạn (1440-1442); Thiên Nam dư hạ tập do Thân Nhân Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử và Đàm Văn Lễ biên soạn (1483)…); còn Quốc triều Hình luật (Bộ luật Hồng Đức) vốn là bộ luật cơ bản nhất của triều Lê đến nay còn tồn tại, có nội dung tổng quát, được đánh giá cao thì lại không biết rõ ra đời chính xác vào thời điểm tháng, năm nào; do ai biên soạn.

Chúng ta được biết qua lịch sử nước nhà, sau khi đánh đuổi xong giặc Minh, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) lập nhà Lê sơ gồm các vua kế tục nhau như sau: Lê Thái Tổ (1428-1433), Lê Thái Tông (1433-1442). Lê Nhân Tông (1442-1459), Lê Nghi Dân (1459-1460), Lê Thánh Tông (1460-1497), Lê Hiến Tông (1497-1504), Lê Túc Tông (1504-1505), Lê Uy Mục (1505-1510), Lê Tương Dực (1510-1516), Lê Chiêu Tông (1516-1522) và Lê Cung Hoàng (1522-1527). Tổng cộng nhà Lê sơ trị vì 100 năm gồm có 11 vua.

Theo kết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước thì ta có thể kết luận rằng: Bộ luật Hồng Đức mà hiện nay chúng ta biết được, đã được soạn tập suốt quá trình lâu dài dưới đời các vua đầu của nhà Lê sơ. Trong đó, bắt đầu có những điều luật ra đời dưới đời vua Lê Thái Tổ (1428-1433) và có lẽ đã có sự đóng góp đắc lực của các luật gia Nguyễn Trãi, Phan Phu Tiên…

Vào các đời vua Lê sau đó, bộ luật này được bổ sung một số điều luật và được in lại, ban bố nhiều lần. Tuy không biết đích xác Bộ luật Hồng Đức được hoàn thiện hoàn chỉnh vào năm nào nhưng có thể khẳng định vào giữa thời Lê sơ mà công hoàn chỉnh lớn nhất là của vua Lê Thánh Tông, vào niên hiệu Hồng Đức (1470-1497). Vì vậy mà người đời sau truyền tụng nó với tục danh là Bộ luật Hồng Đức.

Thân chào bạn Kim Thành.

(Nguyệt san Pháp Luật chúng tôi số 164)