Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Mới Nhất Pdf / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Mới Nhất 2022

--- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Xin Cấp Giấy Phép Thành Lập Và Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Văn Bản Pháp Luật Kế Toán Hiện Tại
  • Thị Thực Làm Việc
  • Giải Quyết Tranh Chấp Tài Sản Khi Ly Hôn
  • 3 Điều Lưu Ý Khi Ly Hôn Đơn Phương Khi Vợ Chồng Ở Nước Ngoài
  • Ra đời từ năm 2000 và được sửa đổi bời Luật kinh doanh bảo hiểm mới nhất số: 61/2010/QH12 ban hành ngày 24/11/2010, nhằm điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm. Nhưng KHÔNG áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.

     

    Bộ luật kinh doanh bảo hiểm

    Luật kinh doanh bảo hiểm (PDF)

     

    NỘI DUNG CỦA LUẬT SỬA ĐỔI LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM 2022

    Ngày 14/06/2019, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ 42/2019/QH14. Cụ thể, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho việc cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm; tổ chức cung cấp dịch vụ này phải mua bảo hiểm trác nhiệm nghề nghiệp phù hợp với từng loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm. Ngoài ra, cá nhân, tổ chức nói trên còn có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích thông tin khách hàng, không cung cấp thông tin cho bên thứ 3 nếu không được khách hàng đồng ý…

    Mặt khác, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm và hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm cho hợp đồng mà mình là bên mua hoặc bên được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm cho hợp đồng mà mình thu xếp thực hiện.

    NỘI DUNG LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM MỚI NHẤT

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 7. Các loại nghiệp vụ bảo hiểm

    Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

    a) Bảo hiểmtrọn đời;

    b) Bảo hiểm sinh kỳ;

    c)Bảo hiểm tử kỳ;

    d) Bảo hiểmhỗnhợp;

    đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ;

    e) Bảo hiểm liên kếtđầu tư;

    g) Bảo hiểmhưu trí.

    Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

     a) Bảo hiểmtài sản và bảo hiểm thiệt hại;

    b)Bảohiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không;

    c)Bảo hiểm hàngkhông;

    d) Bảo hiểmxecơ giới;

    đ) Bảo hiểm cháy, nổ;

    e) Bảo hiểmthân tàu và trách nhiệm dânsự của chủ tàu;

    g) Bảo hiểmtrách nhiệm;

    h) Bảo hiểmtín dụng vàrủi ro tài chính;

    i) Bảo hiểm thiệthại kinh doanh;

    k)Bảo hiểm nôngnghiệp.

    Bảo hiểm sức khoẻ bao gồm:

    a) Bảo hiểm tai nạn con người;

    b) Bảo hiểmy tế;

    c) Bảo hiểmchăm sóc sức khoẻ.

    Điều 8. Bảo hiểm bắt buộc

    1. Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.

    Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.

    2. Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

    A) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách;

    B) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

    C) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

    D) Bảo hiểm cháy, nổ. ( chi tiết)

    3. Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ, Chính phủ trình ủy ban thường vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.

    Điều 9.

     Tái bảo hiểm

    Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác, bao gồm cả doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài phảiđạt hệ số tín nhiệm theo xếp hạng của công ty đánh giá tín nhiệm quốc tế do Bộ Tài chính quy định.”

     

    HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

    Điều 12. Hợp đồng bảo hiểm

    1. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

    Điều 19. Trách nhiệm cung cấp thông tin

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:

    A) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường;

    B) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này.

    3. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật.

    Điều 21. Giải thích hợp đồng bảo hiểm

    Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.

    VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẠI LÝ VÀ MÔI GIỚI BẢO HIỂM

    Điều 85. Nội dung hoạt động đại lý bảo hiểm

    Đại lý bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền tiến hành các hoạt động sau đây:

    1. Giới thiệu, chào bán bảo hiểm;

    2. Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm;

    3. Thu phí bảo hiểm;

    4. Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

    Điều 90. Nội dung hoạt động môi giới bảo hiểm

    Nội dung hoạt động môi giới bảo hiểm bao gồm:

    1. Cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm;

    2. Tư vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, biểu phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm;

    3. Đàm phán, thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm;

     

    Điều 98. Đầu tư vốn

    1. Việc đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm.

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được sử dụng vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư ở Việt Nam trong các lĩnh vực sau đây:

    A) Mua trái phiếu Chính phủ;

    B) Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp;

    C) Kinh doanh bất động sản;

    D) Góp vốn vào các doanh nghiệp khác;

    Đ) Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng;

    E) Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng.

    LUẬT, NGHỊ ĐỊNH, THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN THI HÀNH 

    Tên văn bản

    Ngày ban hành

    Cơ quan ban hành

    Nội dung văn bản

     

    Luật Kinh doanh bảo hiểm 24/2000/QH10

    09/12/2000

    Quốc hội

    Luật quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

    Download

    Nghị định 45/2007/NĐ-CP

    27/03/2007

    Chính phủ

    Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm

    Download

    Nghị định 46/2007/NĐ-CP

    27/03/2007

    Chính phủ

    Quy định chế độ tài chính với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    Download

    Luật sửa đổi bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm

    61/2010/QH12

    24/11/2010

    Quốc hội

    Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm

    Download

    Nghị định 123/2011/NĐ-CP

    28/12/2011

    Chính phủ

    Quy định chi tiết một số điều của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi bổ sung nghị định 45/2007/NĐ-CP

    Download

    Thông tư 124/2012/TT-BTC

    30/07/2012

    Bộ Tài chính

    Hướng dẫn thi hành nghị định 45/2007/NĐ-CP và Luật Sửa đổi bổ sung luật Kinh doanh bảo hiểm

    Download

    Download phụ lục

    Thông tư 125/2012/TT-BTC

    30/07/2012

    Bộ Tài chính

    Quy định về các khoản mục chi phí trong kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

    Download

    Thông tư 232/2012/TT-BTC

    28/12/2012

    Bộ Tài chính

    Hướng dẫn kế toán áp dụng với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài

    Download

    Nghị định 98/2013/NĐ-CP

    28/08/2013

    Chính phủ

    Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số

    Download

    Nghị định 68/2014/NĐ-CP

    09/07/2014

    Chính phủ

    Sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 45/2007/NĐ-CP

    Download

    Thông tư 194/2014/TT-BTC

     

    17/12/2014

    Bộ Tài chính

    Sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 124/2012/TT-BTC và Thông tư 125/2012/TT-BTC

    Download

    Nghị định 12/2015/NĐ-CP

    12/02/2015

    Chính phủ

    Quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật và thuế sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế

    Download

    Quyết định 15/QĐ-QLBH

     

    10/03/2015

    Bộ Tài chính

    Ban hành quy chế tổ chức thi, cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm

    Download

    Nghị Định 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ

    01/07/2016

    Chính Phủ

     

    CẦN TƯ VẤN VỀ LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM MỚI NHẤT

    Hoặc muốn trở thành đối tác phân phối sản phẩm bảo hiểm với thu nhập thu động ngay trên app Moncover, đơn giản bạn tải apps moncover và trở thành đối tác của chúng tôi.

    #luatkinhdoanhbaohiem

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh Số 40
  • Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Một Số Điều Của Luật Kế Toán Đã Cởi Bỏ Các Thủ Tục Cứng Nhắc
  • Hướng Dẫn Thủ Tục Kết Hôn Giữa Người Việt Nam Với Người Mỹ
  • Cách Chơi Bài Joker Hay Và Thú Vị Nhất Cho Tân Game Thủ
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Mới Nhất Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Luật Về Hoạt Động Đại Lý Bảo Hiểm
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Hiện Hành (Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010, 2022)
  • Luận Văn Đề Tài Mô Hình Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm Ở Việt Nam Trong Điều Kiện Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Luận Văn: Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Theo Luật
  • Điều Kiện Doanh Nghiệp Nước Ngoài Kinh Doanh Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Việt Nam
  • Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành là Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 do Quốc hội ban hành ngày 09/12/2000, Hà Nội, ngày 23 tháng 07 năm 2013. Luật đã được sửa đổi bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi 2010 là Luật số 61/2010/QH12 do Quốc hội ban hành. Luật nhằm điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

    Luật kinh doanh bảo hiểm mới nhất

    Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001, được sửa đổi, bổ sung bởi:

    Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.

    Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm;

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

    Luật này quy định về kinh doanh bảo hiểm.

    Chương 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    1. Luật này điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.
    2. Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.
    1. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
    2. Các bên tham gia bảo hiểm có thể thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt Nam.
    1. Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
    2. Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.
    3. Hoạt động đại lý bảo hiểm là hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm.
    4. Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
    5. Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng.
    6. Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.
    7. Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nếu bạn thắc mắc các vấn đề ly hôn nhanh hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ Văn Phòng Luật Sư Quang Liêm số 559 Bình Thới, phường 10, quận 11, TP. Hồ Chí Minh hoặc bằng điện thoại là: 0961 668 968 (Zalo, Viber), Email: luatsuliem@gmail.com để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp giúp bạn giải quyết: Hợp pháp, nhanh gọn, và tiết kiệm chi phí cho bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Được Quyền Thụ Hưởng Tiền Bảo Hiểm Từ Doanh Nghiệp Bảo Hiểm Trong Trường Hợp Thuê, Mượn Xe Gây Tai Nạn
  • Những Thay Đổi Chính Sách Trong Năm 2022 Về Bảo Hiểm Xã Hội Và Bảo Hiểm Y Tế
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số: 61/2010/qh12
  • Điểm Mới Đáng Chú Ý Của Luật Sửa Đổi Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2022
  • 5 Điểm Mới Của Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Mới Nhất Số: 61/2010/qh12

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Thay Đổi Chính Sách Trong Năm 2022 Về Bảo Hiểm Xã Hội Và Bảo Hiểm Y Tế
  • Người Được Quyền Thụ Hưởng Tiền Bảo Hiểm Từ Doanh Nghiệp Bảo Hiểm Trong Trường Hợp Thuê, Mượn Xe Gây Tai Nạn
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Hiện Nay
  • Pháp Luật Về Hoạt Động Đại Lý Bảo Hiểm
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Hiện Hành (Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010, 2022)
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Mới Nhất Số: 61/2010/qh12, Luật 58/2010/qh12, Luật 47/2010/qh12, Luật 50/2010/qh12, Luật 55/2010/qh12, Luật An Toàn Thực Phẩm Số 55/2010/qh12, Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Bảo Hiểm Kinh Doanh, Điều 3 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Điều 7 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Điều 49 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2000, Điều 8 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Điều 44 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Dự Thảo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Giáo Trình Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Điều 3 Khoản 9 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Quy Định Chi Tiết Thi Hành Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, 47/2010/qh12, Nghị Quyết Số 55/2010/qh12, Nghị Quyết 49/2010/qh12, Nghị Quyết 55/2010/qh12, Điều 3 Nghị Quyết Số 56/2010/qh12, Điều 3 Nghị Quyết 56/2010/qh12, Luật Bảo Hiểm Sửa Đổi 2010, Luật Bảo Hiểm 2010, Đề Thi Kinh Doanh Bảo Hiểm, Câu Hỏi Về Kinh Doanh Bảo Hiểm, Kinh Doanh Bảo Hiểm , Luận Văn Kinh Doanh Bảo Hiểm, Hợp Đồng Kinh Doanh Bảo Hiểm, Thực Tiễn Kinh Doanh Bảo Hiểm, Tiểu Luận Kinh Doanh Bảo Hiểm, Giáo Trình Bảo Hiểm Trong Kinh Doanh, Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh 3 Năm Gần Nhất, Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Tổ Chức Bảo Hiểm Tiền Gửi Hiệu Quả Nhất, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất, Thủ Tục Xin Visa Kinh Doanh Tại Nhật, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Ngh, Phân Tích Các Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, “phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp”, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội Mới Nhất, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất 2013, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất 2014, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất 2022, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất Năm 2013, Luật Bảo Hiểm Doanh Nghiệp, Nghị Định Mới Nhất Về Kinh Doanh Xăng Dầu, Luật 01/2007/qh12, Luật 37/2009/qh12, Luật 09/2008/qh12, Luật 06/2007/qh12, Luật 04/2007/qh12, Luật 05/2007/qh12, Văn Bản Pháp Luật Dành Cho Học Phần Luật Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2 Luật Doanh Nghiệp, Bộ Luật Hình Sự Số 37 2009 Qh12, Iểu Luận Luật Kinh Tế 2 Luật Doanh Nghiệp, Luật Phòng Chống Ma Túy Số 16/2008/qh12, Luật Doanh Nghiệp Mới Nhất 2022, Văn Bản Hợp Nhất Luật Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp, Luật Phòng Chống Tham Nhũng 01 2007 Qh12, Bộ Luật Kinh Doanh, Luật Kinh Doanh, Luật Phòng Chống Bệnh Truyền Nhiễm Số 03 2007 Qh12, Luật Phòng Chống Bệnh Truyền Nhiễm Số 03/2007/qh12, Bộ Luật Kinh Doanh Thương Mại, Pháp Luật Về Hộ Kinh Doanh, Pháp Luật Về Chủ Thể Kinh Doanh, Luật Kinh Doanh Quốc Tế, Pháp Luật Và Chủ Thể Kinh Doanh, Văn Bản Pháp Luật Kinh Doanh, Thông Tư 85/2010/tt-bqp Ngày 01/07/2010 Của Bộ Quốc Phòng Về Hướng Dẫn Một Số Điều Của Luật Dqtv, Báo Cáo Thực Tập Tổng Hợp Luật Kinh Doanh, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Doanh Ueh, Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế Ftu, Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế, Văn Bản Pháp Luật Quy Định Về Hộ Kinh Doanh, Định Luật 80/20 Trong Kinh Doanh, Slide Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế, Đề Cương Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế, Trắc Nghiệm Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế , Trắc Nghiệm Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế Ftu, Bản Thuyết Minh Chi Tiết Dự Thảo Luật Kinh Doanh Bất Động Sản, Luật Phòng Chống Bệnh Truyền Nhiễm Số 03/2007/qh12 Ngày 21 Tháng 11 Năm 2007, Mẫu Powerpoint 2010 Đẹp Nhất, Doanh Thu Vinamilk 2010, Phân Tích ưu Điểm Của Hộ Kinh Doanh So Với Các Loại Hình Doanh Nghiệp, Phân Tích Xây Dựng Phương án Kinh Doanh Cho Doanh Nghiệp, Doanh Nghiep Dang Ky Tai Phong Kinh Doanh Tren Dia Ban Tinh, Mẫu Giấy Thông Báo Về Việc Tạm Ngừng Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp, Khóa Luận Tốt Nghiệp Kế Toán Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Giải Pháp Nâng Cao Hoạt Động Quản Trị Kinh Doanh Tại Doanh Nghiệp, Phân Tích Những ưu Điểm Của Hộ Kinh Doanh So Với Các Loại Hình Doanh Nghiệp, Phân Tích Những ưu Điểm Của Hộ Kinh Doanh So Với Các Loại Hình Doanh Nghiêpk, Bài Mẫu Khóa Luận Tốt Nghiệp Kế Toán Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh Theo Thông Tư, Bài Mẫu Khóa Luận Tốt Nghiệp Kế Toán Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh Theo Thông Tư , Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, Khóa Luận Tốt Nghiệp Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh,

    Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Mới Nhất Số: 61/2010/qh12, Luật 58/2010/qh12, Luật 47/2010/qh12, Luật 50/2010/qh12, Luật 55/2010/qh12, Luật An Toàn Thực Phẩm Số 55/2010/qh12, Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Bảo Hiểm Kinh Doanh, Điều 3 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Điều 7 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Điều 49 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2000, Điều 8 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Điều 44 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Dự Thảo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Giáo Trình Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Điều 3 Khoản 9 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Quy Định Chi Tiết Thi Hành Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, 47/2010/qh12, Nghị Quyết Số 55/2010/qh12, Nghị Quyết 49/2010/qh12, Nghị Quyết 55/2010/qh12, Điều 3 Nghị Quyết Số 56/2010/qh12, Điều 3 Nghị Quyết 56/2010/qh12, Luật Bảo Hiểm Sửa Đổi 2010, Luật Bảo Hiểm 2010, Đề Thi Kinh Doanh Bảo Hiểm, Câu Hỏi Về Kinh Doanh Bảo Hiểm, Kinh Doanh Bảo Hiểm , Luận Văn Kinh Doanh Bảo Hiểm, Hợp Đồng Kinh Doanh Bảo Hiểm, Thực Tiễn Kinh Doanh Bảo Hiểm, Tiểu Luận Kinh Doanh Bảo Hiểm, Giáo Trình Bảo Hiểm Trong Kinh Doanh, Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh 3 Năm Gần Nhất, Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Tổ Chức Bảo Hiểm Tiền Gửi Hiệu Quả Nhất, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất, Thủ Tục Xin Visa Kinh Doanh Tại Nhật, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Ngh, Phân Tích Các Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, “phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp”, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, Điều 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội Mới Nhất, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất 2013, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất 2014, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất 2022, Luật Bảo Hiểm Mới Nhất Năm 2013, Luật Bảo Hiểm Doanh Nghiệp, Nghị Định Mới Nhất Về Kinh Doanh Xăng Dầu, Luật 01/2007/qh12,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điểm Mới Đáng Chú Ý Của Luật Sửa Đổi Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2022
  • 5 Điểm Mới Của Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi
  • Tìm Hiểu Về Sách Bình Luận Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Lao Động
  • Mách Bạn Nơi Mua Sách Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2022
  • Kinh Doanh Bảo Hiểm (Insurance Business) Là Gì? Hoạt Động Kinh Doanh Tái Bảo Hiểm
  • Từ Điển Thuật Ngữ Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Nhân Thọ
  • Luận Văn: Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm Nhân Thọ, Hot
    • Chương 1: Những quy định chung
    • Chương 2: Hợp đồng bảo hiểm
    • Chương 3: Doanh nghiệp bảo hiểm
    • Chương 4: Đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
    • Chương 5: Tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính
    • Chương 6: Doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài
    • Chương 7: Quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
    • Chương 8: Khen thưởng và xử lý vi phạm
    • Chương 9: Điều khoản thi hành

    Mua sách luật kinh doanh bảo hiểm ở đâu

    Sách luật kinh doanh bảo hiểm là nguồn tài liệu quý giá đối với những người đang theo đuổi lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Vì thế, việc tìm mua sách luật kinh doanh bảo hiểm là điều quan trọng và vô cùng cần thiết. Vậy mua sách luật kinh doanh bảo hiểm ở đâu? Mời bạn đọc tiếp nội dung chi tiết ngay sau đây.

    Khi bạn lựa chọn nhà sách Chính trị tài chính là địa điểm cung cấp và mua sách thì sẽ có những ưu đãi và những chương trình khuyến mãi hấp dẫn, đó là:

    • Chính sách giao hàng: giao sau 2h tại chúng tôi sau 24 tiếng tại các tỉnh thành trên toàn quốc
    • Chính sách khuyến mãi: liên tục giảm giá các đầu sách 20%-60% giá sỉ, giảm 25% – 40% giá lẻ miễn phí ship toàn quốc sp bán da có đầy đủ VAT chiết khấu theo yêu cầu của khách khi xuất hóa đơn
    • Chính sách bảo hành: bảo hành vv nếu sách lỗi nội dung không đúng
    • Chính sách đổi trả: miễn phí 100% nếu sách sai lệch về chất lượng mực giấy bản thảo.

    Hy vọng qua những chia sẻ ở trên, các bạn không còn phải thắc mắc mua sách luật kinh doanh bảo hiểm ở đâu? Hãy đến ngay với Sách chính trị tài chính để đặt mua. Mọi thắc mắc của khách hàng vui lòng gọi đến 028 36 36 21 82 để được tư vấn. Chúng tôi luôn hỗ trợ 24/7 mọi vấn đề của khách hàng.

    Sách giúp bạn nắm bắt được thông tin hiệu quả hơn

    SÁCH CHÍNH TRỊ TÀI CHÍNH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Sửa Đổi Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2022 2022
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2010
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 61/2010/qh12
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2010
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi 2010
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm: Hợp Đồng Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều 3 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Quy Định Về Các Loại Bảo Hiểm Bắt Buộc Trong Xây Dựng
  • Luật 42/2019/qh14 Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ
  • Khoản 9 Điều 12 Luật Bảo Hiểm Y Tế
  • Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Lao Động
  • Am hiểu pháp luật khi đi tư vấn bảo hiểm là cách thức để Anh chị tư vấn bảo vệ chính mình và khách hàng của mình. Chúng tôi hy vọng rằng Anh chị sẽ là những chuyên gia tư vấn hàng đầu được khách hàng tin yêu và tôn trọng.

    Kính chúc Anh chị thành công.

    Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm;

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

    Luật này quy định về kinh doanh bảo hiểm.

    Luật số 24/2000/QH10 của Quốc hội : Kinh doanh Bảo hiểm

    CHƯƠNG II: HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM MỤC 1: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM Điều 12. Hợp đồng bảo hiểm

    1. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

    2. Các loại hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

    A) Hợp đồng bảo hiểm con người;

    B) Hợp đồng bảo hiểm tài sản;

    C) Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    3. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải được áp dụng theo quy định của Bộ luật hàng hải; đối với những vấn đề mà Bộ luật hàng hải không quy định thì áp dụng theo quy định của Luật này.

    Điều 13. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm

    1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:

    A) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;

    B) Đối tượng bảo hiểm;

    C) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;

    D) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;

    Đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

    E) Thời hạn bảo hiểm;

    G) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

    H) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

    I) Các quy định giải quyết tranh chấp;

    K) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng.

    2. Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nội dung khác do các bên thoả thuận.

    Điều 14. Hình thức hợp đồng bảo hiểm

    Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.

    Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.

    Điều 15. Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

    Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

    Điều 16. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

    1. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm.

    2. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng.

    3. Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

    A) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý;

    B) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm.

    Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm 1. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

    A) Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

    C) Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 19, khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật này;

    D) Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

    E) Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự;

    G) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

    A) Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm;

    B) Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

    C) Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

    D) Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường;

    Đ) Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

    E) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm 1. Bên mua bảo hiểm có quyền:

    A) Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm;

    B) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm;

    C) Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20 của Luật này;

    D) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

    Đ) Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật;

    E) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    2. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:

    A) Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

    C) Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;

    D) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

    E) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:

    A) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường;

    B) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này.

    3. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật.

    Điều 20. Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm

    1. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm.

    2. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm.

    Điều 21. Giải thích hợp đồng bảo hiểm

    Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.

    Điều 22. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

    1. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong các trường hợp sau đây:

    A) Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm;

    B) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại;

    C) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;

    D) Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

    Đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 23. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

    Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự, hợp đồng bảo hiểm còn chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

    1. Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm;

    2. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác;

    3. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

    2. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này, bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.

    3. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia hạn đóng phí; bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm cho đến hết thời gian gia hạn theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.

    Điều 25. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm

    1. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận sửa đổi, bổ sung phí bảo hiểm, điều kiện, điều khoản bảo hiểm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    2. Mọi sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.

    Điều 26. Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm

    1. Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

    2. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế.

    Điều 27. Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    2. Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

    3. Bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

    Điều 28. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

    1. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là một năm, kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.

    2. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm chứng minh được rằng bên mua bảo hiểm không biết thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày bên mua bảo hiểm biết việc xảy ra sự kiện bảo hiểm đó.

    3. Trong trường hợp người thứ ba yêu cầu bên mua bảo hiểm bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày người thứ ba yêu cầu.

    Điều 29. Thời hạn trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

    Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thoả thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.

    Điều 30. Thời hiệu khởi kiện

    Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là ba năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo Hiểm Xã Hội
  • Khoản 1 Điều 5 Luật Bảo Hiểm Xã Hội
  • Khoản 2 Điều 135 Luật Bảo Hiểm Xã Hội
  • Trách Nhiệm Cung Cấp Trong Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Điều 31 Luật Bảo Hiểm Xã Hội
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Là Gì ? Tìm Hiểu Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Hiểm Xã Hội Tiếng Anh Là Gì?
  • Các Thuật Ngữ Tiếng Anh Ngành Bảo Hiểm (Insurance)
  • Điểm Mới Của Luật Sửa Đổi Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ
  • Quốc Hội Thông Qua Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Sở Hữu Trí Tuệ
  • Quốc Hội Thông Qua Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Và Sở Hữu Trí Tuệ
  • Luật kinh doanh bảo hiểm là đạo luật quy định tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, được Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 8 thông qua ngày 09.12.2000 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.4.2001.

    Ở Việt Nam, trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, hầu hết các hoạt động kinh doanh bảo hiểm do các công tỉ bảo hiểm Pháp tiến hành.

    Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tương tự các nước xã hội chủ nghĩa khác, ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm do Nhà nước thực hiện nên được gọi là bảo hiểm nhà nước. Văn bản pháp luật đầu tiên về kinh doanh bảo hiểm là Quyết

    định số 179/CP của Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 17.12.1964 quy định thành lập Công ti bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) trực thuộc Bộ Tài chính, chuyên trách hoạt động bảo hiểm nhà nước. Trong điều kiện đất nước có chiến tranh và nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hoạt động của Bảo Việt vừa mang tính kinh doanh, vừa mang tính quản lí nhà nước. Các quy tắc bảo hiểm do Bảo Việt quy định trong một thời gian dài được áp dụng như quy phạm pháp luật.

    Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế kinh doanh bảo hiểm. Để thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tăng cường quản lí nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, ngày 18.12.1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định tương đối có hệ thống về hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng phát triển thị trường bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường.

    Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có mục đích là bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; phát triển thị trường bảo hiểm; thúc đẩy và góp phần duy trì sự phát triển một cách bền vững của nền kinh tế – xã hội; tăng cường hiệu lực quản lí của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Phạm vi điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm là quan hệ tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

    Luật gồm lời nói đầu, 9 chương, 189 điều, có những nội dung cơ bản sau đây: quy định nguyên tắc và phạm vi kinh doanh bảo hiểm; quy định hình thức tổ chức kinh doanh bảo hiểm, các loại sản phẩm bảo hiểm; quy định về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm; quy định quản lí nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.

    Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 là đạo luật đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng pháp luật kinh doanh bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Khác với Luật kinh doanh bảo hiểm của nhiều nước, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam không áp dụng với các hoạt động bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh. Tương tự ở nhiều nước, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam áp dụng chung cho cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Ở một số nước, về kĩ thuật lập pháp có sự phân biệt giữa đạo luật điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và đạo luật điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Ví dụ: Thái Lan có hai đạo luật về kinh doanh bảo hiểm: Đạo luật bảo hiểm nhân thọ năm (1992) (B.E 2535), Đạo luật bảo hiểm phi nhân thọ năm (1992) (B.E 2502).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tải Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Quyền Lợi Khách Hàng Ra Sao Khi Công Ty Bảo Hiểm Aia Phá Sản?
  • Vụ Bảo Hiểm Aia Từ Chối Chi Trả: ‘cần Trung Thực Khi Điền Hồ Sơ Bảo Hiểm’
  • Tìm Việc Làm, Tuyển Dụng Công Ty Tnhh Bảo Hiểm Nhân Thọ Aia (Việt Nam)
  • Mua Bảo Hiểm, Chết Không Được Bồi Thường Vì Sai Chữ Ký
  • 5 Điểm Mới Của Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Mới Đáng Chú Ý Của Luật Sửa Đổi Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2022
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số: 61/2010/qh12
  • Những Thay Đổi Chính Sách Trong Năm 2022 Về Bảo Hiểm Xã Hội Và Bảo Hiểm Y Tế
  • Người Được Quyền Thụ Hưởng Tiền Bảo Hiểm Từ Doanh Nghiệp Bảo Hiểm Trong Trường Hợp Thuê, Mượn Xe Gây Tai Nạn
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Hiện Nay
  • Không hạn chế quyền tự do kinh doanh

    Trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng về năng lực và điều kiện cung cấp, Luật cho phép tất cả các tổ chức có tư cách pháp nhân đáp ứng điều kiện có thể thực hiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm. Cá nhân được cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm độc lập.

    Cá nhân không bị hạn chế quyền đầu tư, kinh doanh đối với 4 dịch vụ phụ trợ bảo hiểm còn lại, có thể thực hiện thông qua tổ chức dưới các hình thức như là chủ đầu tư, tham gia góp vốn thành lập các tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, là nhân viên của các tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.

    Các tổ chức không có tư cách pháp nhân cũng không bị hạn chế quyền đầu tư, kinh doanh, được thực hiện dưới tư cách cá nhân như đã nêu ở trên.

    Không quy định điều kiện kinhdoanh

    Nội dung của Luật thể hiện việc chuẩn hoá các dịch vụ phụ trợ bảo hiểm trên tinh thần mở cửa, nhưng có sự kiểm soát bằng điều kiện năng lực chuyên môn.

    Luật không quy định điều kiện về đăng ký, cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp mà chỉ đưa ra điều kiện để làm cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện hậu kiểm.

    Quy định này phù hợp với chủ trương đổi mới trong phương thức quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, giúp doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền lợi của khách hàng tham gia bảo hiểm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.

    Đưa ra quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật

    Nhằm phát triển thị trường dịch vụ phụ trợ bảo hiểm một cách chuyên nghiệp và bài bản, bảo đảm an toàn tài chính đối với thị trường bảo hiểm, bảo vệ quyền, lợi ích của người tham gia bảo hiểm, chất lượng việc cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới tại Việt Nam của cá nhân, tổ chức nước ngoài, Luật và Nghị định đã quy định tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải xây dựng, ban hành tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài sử dụng dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải xây dựng, triển khai và giám sát việc thực hiện tiêu chuẩn lựa chọn, sử dụng dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, đối với cả đối tượng cung cấp trong nước và nước ngoài.

    Không phân biệt nhà đầu tư

    Điều này sẽ tạo môi trường pháp lý bình đẳng, ổn định cho nhà đầu tư nước ngoài hoạt động, giúp nâng cao chất lượng của dịch vụ phụ trợ bảo hiểm trong nước, đáp ứng nguyên tắc Đối xử Quốc gia (NT) trong Hiệp định CPTPP. Việc cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới được quy định tại Luật và quy định chi tiết tại Nghị định số 80/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Quy định điều kiện, tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm được áp dụng chung cho nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

    Quản lý và giám sát phù hợp

    Cơ chế quản lý, giám sát hoạt động cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm được quy định tại khoản 10 Điều 1 Luật số 42/2019/QH14, trên tinh thần không quy định về cấp phép mà chỉ thực hiện hậu kiểm.

    Nội dung quản lý, giám sát bao gồm: việc đáp ứng về điều kiện, nguyên tắc, trách nhiệm khi cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực phụ trợ, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phụ trợ bảo hiểm. Nội dung cụ thể về quản lý, giám sát dịch vụ phụ trợ bảo hiểm được quy định tại khoản 16 Điều 1 Nghị định số 80/2019/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm:

    a). Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm: giám sát thông qua công tác tiền kiểm (cấp phép) và hậu kiểm (giám sát hoạt động tài chính, nghiệp vụ, quản trị rủi ro, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính).

    b). Đối với tổ chức khác cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm: giám sát thông qua công tác hậu kiểm (chế độ báo cáo, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính).

    c). Đối với cá nhân: quản lý việc thi, cấp, công nhận chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm; nội dung chương trình đào tạo.

    d). Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài: Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý, giám sát thông qua tiền kiểm (qua phương thức cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, hoặc hợp tác với tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm tại Việt Nam; kiểm soát về điều kiện, tiêu chuẩn) và hậu kiểm (chế độ báo cáo; thanh tra, kiểm tra việc sử dụng của các tổ chức cung cấp trong nước, xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi
  • Tìm Hiểu Về Sách Bình Luận Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Lao Động
  • Khoản 9 Điều 12 Luật Bảo Hiểm Y Tế
  • Luật 42/2019/qh14 Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ
  • Những Điểm Mới Trong Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Quát Một Số Văn Bản Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Các Loại Bảo Hiểm Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Chủ Thể Kinh Doanh (Có Đáp Án)
  • Câu Hỏi Bán Trắc Nghiệm Luật Kinh Doanh (Có Đáp Án)
  • Phân Loại Các Loại Hình Bảo Hiểm
  • “21. Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm là bộ phận cấu thành của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, do doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức, cá nhân khác thực hiện nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm.

    23. Đánh giá rủi ro bảo hiểm là hoạt động nhận diện, phân loại, đánh giá tính chất và mức độ rủi ro, đánh giá việc quản trị rủi ro về con người, tài sản, trách nhiệm dân sự làm cơ sở tham gia bảo hiểm.

    là hoạt động thu thập, phân tích số liệu thống kê, tính phí bảo hiểm, dự phòng nghiệp vụ, vốn, biên khả năng thanh toán, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, xác định giá trị doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.

    26. Hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm là hoạt động hỗ trợ bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện các thủ tục giải quyết bồi thường bảo hiểm.

    Quy định về điều kiện, nguyên tắc, quyền trách nhiệm của Tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm

    b) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức khác có tư cách pháp nhân được quyền cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm (gọi chung là tổ chức cung c p dịch vụ phụ trợ bảo hiểm).

    b) Cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho việc cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm; tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hi m phải mua bảo hi ách nhiệm nghề nghiệp phù hợp với từng loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm;

    c) Tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm và hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm mà tổ chức đó đ ng thời là bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm hoặc người thụ hư

    d) Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám đ nh tổn thất bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm mà doanh nghiệp đó thực hiện thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm.

    b) Có văn bằng từ đại học trở lên về chuy n ngành bảo hiểm. Trường hợp không có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm thì phải có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành khác và chứng chỉ về tư vấn bảo hiểm do cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp ở trong nước hoặc ở nước ngoài cấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Bảo Hiểm
  • Một Số Câu Nhận Định Và Bài Tập Chứng Khoán Và Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Thông Qua Luật Sửa Đổi Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Sở Hữu Trí Tuệ
  • Quốc Hội Thông Qua Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Và Sở Hữu Trí Tuệ
  • Quốc Hội Thông Qua Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Sở Hữu Trí Tuệ
  • Tiểu Luận Khái Quát Về Kinh Doanh Bảo Hiểm & Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Đbqh Góp Ý Kiến Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ
  • Có Bao Nhiêu Loại Bảo Hiểm Và Phân Biệt Các Loại Như Thế Nào?
  • Bảo Hiểm Là Gì? Các Thuật Ngữ Cơ Bản Nhất Trong Bảo Hiểm Bạn Nên Biết
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ (Sửa Đổi)
  • Dự Thảo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Luật Sở Hữu Trí Tuệ Sửa Đổi
  • KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM & PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM.

    Phần I : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM – PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM

    I. KHÁI NIỆM KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM.

    1/ Khái niệm chung về bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm

    Dù phương thức sản xuất nào, con người và tài sản cũng luôn bị đe doạ bởi thiên tai và

    các tai biến bất ngờ phát sinh ngay trong hoạt động của con người.

    Dù muốn hay không nhiều loại rủi ro đã xuất hiện vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến

    cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, DN và toàn xã hội. Chính sự tồn tại của rủi ro là

    nguồn gốc phát sinh tồn tại của bảo hiểm. Nguyên nhân gây ra những rủi ro là yếu tố tự nhiên,

    kỹ thuật và yếu tố xã hội khác. Suốt trong lịch sử của mình, loài người đã phải chịu đựng và

    chứng kiến biết bao hiểm hoạ, nào là động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán, sóng thần, dịch bệnh,

    chiến tranh, tai nạn giao thông, hoả hoạn, phóng xạ, ô nhiễm. ..

    Rủi ro, hiểm hoạ bất ngờ xảy ra không biết trước về thời gian, địa điểm, quy mô, mức

    độ thiệt hại, điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống, cũng như quá trình sản xuất kinh doanh ở từng

    cá nhân, gia đình, tổ chức và cũng ảnh hưởng đến sự ổn định chung của xã hội. Đứng trước

    thực trạng đó, con người luôn có những hành động tích cực, chủ động để ngăn ngừa, khắc

    phục có hiệu quả những tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra với tất cả khả năng của

    mình, nhằm giảm tới mức thấp nhất những thiệt hại để sớm phục hồi quá trình sản xuất kinh

    doanh và đời sống. Các biện pháp phổ biến được con người sử dụng là:

    -Biện pháp phòng ngừa: là biện pháp do con người sử dụng do nhận thức được quy luật

    của tự nhiên như đắp đê chống lũ, trồng rừng phòng hộ, xây dựng các trạm phòng cháy, xây

    dựng hệ thống dự báo thời tiết…

    -Biện pháp cứu trợ: biện pháp này được thực hiện khi đã có rủi ro xảy ra để khắc phục

    hậu quả của rủi ro. Biện pháp này có thể do chính quyền nhà nước thực hiện hoặc do các tổ

    chức, cá nhân thực hiện trên tinh thần nhân đạo và mang tính tự nguyện nhằm giúp đỡ các tổ

    chức, cá nhân gặp rủi ro khắc phục các hậu quả.

    -Biện pháp dự trữ – bảo hiểm: Bảo hiểm là biện pháp phòng xa để nhằm hạn chế tới

    mức thấp nhất những rủi ro gây ra. Mần mống của bảo hiểm có từ xa xưa khi con người chưa

    biết đến bảo hiểm nhưng họ đã có ý thức được việc làm cần thiết để bảo đảm cho sự sinh tồn

    như dự trữ lương thực, vật nuôi trong ngày săn bắn được nhiều để dùng cho những ngày mưa

    rét không đi săn bắn và hái lượm được. Đó là là những dấu hiệu đầu tiên về hoạt động bảo

    hiểm mang tính chất tự bảo hiểm.

    Bảo hiểm thực chất là việc con người phải dành ra một phần sản phẩm trong kết quả lao

    động hàng năm của mình để lập ra quỹ dự trữ đủ lớn về vật tư hoặc bằng tiền (quỹ đó gọi là

    quỹ dự trữ bảo hiểm ) nhằm :

    -Hỗ trợ tài chính cho việc đề phòng và hạn chế tổn thất khi hiểm hoạ chưa hoặc đang

    xảy ra.

    1

    -Bù đắp và bồi thường kịp thời những thiệt hại và tổn thất về người và tài sản, sau khi

    xảy ra hiểm hoạ.

    Có 3 loại quỹ được thành lập và chi dùng cho mục đích nêu trên là :

    -Quỹ dự trữ nhà nước được lập ra từ ngân sách nhà nước (quỹ dự phòng trong ngân

    sách, quỹ dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ tài chính ). Quỹ này thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước

    quản lý, nó được sử dụng để bù đắp những thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra trên

    diện rộng quy mô lớn, vì phạm vi hoạt động rộng, nên chỉ sử dụng khi có những biến cố rủi ro

    lớn trên nhiều vùng, ảnh hưởng tới nhiều tầng lớp dân cư. quỹ này không được sử dựng khi rủi

    ro thiệt hại mang tính cá biệt. Do đó nó không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của từng tổ chức,

    gia đình, cá nhân.

    -Quỹ dự phòng riêng của từng tổ chức, cá nhân, gia đình: ( Quỹ dự trữ phân tán) Quỹ

    này do các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân tự lập ra bằng thu nhập của mình, họ tự quản lý, sử

    dụng cho nên nó có thể đáp ứng kịp thời, nhanh chóng chủ động đối với những tổn thất vừa và

    nhỏ, nhưng vì quy mô quỹ không lớn, không thể bù đắp cho những tổn thất lớn, không phát

    huy được tính cộng đồng tương trợ, nó chỉ đóng khung trong từng đơn vị, không cơ động, có

    thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, lãng phí vốn, hiệu quả kinh tế không cao.

    -Quỹ bảo hiểm tập trung do đông đảo những người tham gia bảo hiểm đóng góp theo

    một chế độ thống nhất và bình đẳng (Quỹ dự trữ tập trung mang tính cộng đồng ). Quỹ này

    được lập bằng tiền do những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những biến cố nào đó

    đóng góp, tạo lập quỹ. Nó được sử dụng để phòng ngừa và bù đắp những tổn thất cho các tổ

    chức, cá nhân tham gia lập quỹ khi có sự kiện bảo hiểm xuất hiện. Phương thức tạo lập và sử

    dụng quỹ này trên nguyên tắc ” lấy số đông bù cho số ít ” nên nó mang tính kinh tế, tính xã hội

    cao. Bởi vì: Giúp cho người tham gia bảo hiểm khắc phục nhanh chóng những thiệt hại, đảm

    bảo cho quá trình sản xuất và đời sống phát triển bình thường. Nó là biện pháp dự trữ bảo hiểm

    có hiệu quả kinh tế cao nhất, có khả năng thanh toán nhanh, bù đắp lớn. Đối với mỗi cá nhân

    hàng năm chỉ phải chi ra một lượng tiền nhỏ để đóng phí bảo hiểm, không ảnh hưởng đến đời

    sống của mình. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thì phí bảo hiểm là một chi phí xã hội

    cần thiết nó được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Nếu đem số phí đó phân ra theo từng đơn

    vị sản phẩm và phân bổ cho cả năm tài chính thì số phí baỏ hiểm phải gánh chịu trên một đơn

    vị sản phẩm là không đáng kể. Trong trường hợp có xảy ra rủi ro thì người tham gia bảo hiểm

    được đền bù toàn bộ hay một phần thiệt hại, vốn kinh doanh được bảo toàn, đời sống ổn định.

    Hình thức dự trữ bảo hiểm này sẽ đáp ứng một cách đầy đủ, linh hoạt nhất đối với mọi nhu cầu

    đa dạng của mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế.

    Dưới góc độ kinh tế tài chính thì bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do

    những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những sự cố nào đó đóng góp và để từ quỹ đó sử

    dụng để đề phòng, ngăn ngừa và bù đắp những tổn thất cho những tổ chức, cá nhân tham gia

    lập quỹ khi họ gặp những rủi ro bảo hiểm hoặc để thực hiện những chính sách xã hôi.

    Như vậy, việc tạo lập quỹ bảo hiểm là một yếu tố, một yêu cầu không thể thiếu được để

    đảm bảo cho nền kinh tế -xã hội phát triển bình thường khi gặp phải tổn thất do những yếu tố

    khách quan bất ngờ gây ra. Người ta ví “không có bảo hiểm như cầu thang không có tay vịn”

    Cùng với sự phát triển của xã hội loài người do nhu cầu ổn định sản xuất và đời sống

    các loại bảo hiểm khác nhau đã ra đời. Đặc biệt khi nền kinh tế hàng hoá phát triển nhu cầu

    bảo hiểm ngày càng đòi hỏi đa dạng, con người đã đã xây dựng các quỹ dự trữ bảo hiểm khác

    2

    nhau. Nhưng để đạt hiệu quả kinh tế -xã hội cao trong hoạt động bảo hiểm, kinh doanh dịch vụ

    bảo hiểm ra đời và nó không ngừng phát triển trong nền kinh tế hàng hoá -tiền tệ. Bảo hiểm

    không chỉ đơn thuần làm lá chắn cho sự phát triển kinh tế và ổn định đời sống, mà còn thực sự

    trở thành một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt để thu lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp. Hai

    mục đích đó vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để hoạt động bảo hiểm tồn tại và phát triển.

    Do tính chất đa dạng của các loại rủi ro xâm hại đến lợi ích của nhiều chủ thể đòi hỏi

    phải có nhiều loại hình bảo hiểm:

    – Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm có bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm

    TNDS;

    -Căn cứ vào tính chất pháp lý trong baỏ hiểm có bảo hiểm bắt buộc bảo hiểm tự

    nguyện;

    * căn cứ vào tính chất, phương thức và mục đích sử dụng các loại quỹ bảo hiểm tập

    trung mang tính cộng đồng, người ta chia bảo hiểm thành hai loại bảo hiểm mang tính kinh

    doanh và bảo hiểm phi kinh doanh:

    Bảo hiểm không mang tính kinh doanh là loại hình bảo hiểm do nhà nước thực hiện

    nhằm thực hiện chính sách kinh tế xã hội. Nó đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, Mục đích của

    hoạt động bảo hiểm này không đặt ra mục tiêu kinh doanh lấy lợi nhuận. Loại hình bảo hiểm

    phi kinh doanh ở nước ta hiện nay là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi …

    Bảo hiểm có tính kinh doanh là hoạt động bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thực

    hiện thông qua việc lập quỹ bảo hiểm từ nguồn thu phí bảo hiểm của các tổ chức, cá nhân tham

    gia, sau đó quỹ này được sử dụng để bồi thường, chi trả cho các trường hợp thuộc diện được

    bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm.

    Nếu so sánh giữa bảo hiểm không mang tính kinh doanh mà điển hình là bảo hiểm xã

    hội với loại hình kinh doanh bảo hiểm thì giữa chúng có những diểm giống nhau đó là: chúng

    đều có mục đích giúp ổn định kinh tế, đảm bảo đời sống, khắc phục khó khăn do nguyên nhân

    khách quan gây ra. Người tham gia đều có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm. Bên cạnh đó,

    chúng có điểm khác nhau cơ bản sau:

    Nội dung

    ph

    ân

    biệ

    t

    Bản chất

    Bảo hiểm xã hội (một loại hình bảo

    hiểm không mang tính kinh doanh)

    Kinh doanh bảo hiểm

    Là một chính sách thuộc lĩnh vực đảm Là một dịch vụ tài chính xuất phát

    bảo xã hội của một nhà nước

    từ nhu cầu được bảo vệ, ngoài sự

    đảm bảo chung của xã hội

    Đối tượng Là người lao động, người làm công, ăn Con người, tài sản, trách nhiệm dân

    bảo hiểm

    lương

    sự

    Phạm vi

    bảo hiểm

    Trong giới hạn một quốc gia

    Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia(Tái

    bảo hiểm ).

    3

    Nguồn

    Chủ yếu huy động sự đóng góp của Được tạo lập từ sự đóng góp phí

    hình thành người lao động,người sử dụng lao động của tổ chức, cá nhân có nhu cầu

    quỹ

    và có thể một phần trợ cấp từ ngân được bảo hiểm.

    sách.

    bảo hiểm

    Mục đích

    sử

    quỹ

    Để trợ cấp cho người lao động khi họ Chi bồi thường cho những tổ chức,

    dụng tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao cá nhân tham gia gặp rủi ro thuộc

    động.

    phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.

    Không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của Nhằm mục tiêu kinh doanh lấy lợi

    người Lao động và của cả cộng đồng.

    nhuận

    thể Do cơ quan nhà nước quản lý theo quy

    quỹ chế chung thống nhất.

    Doanh nghiệp bảo hiểm

    Luật điều Bộ luật lao động và VBPL về bảo hiểm Luật kinh doanh bảo hiểm

    chỉnh

    xã hội khác

    2/ Khái niệm chung về kinh doanh bảo hiểm

    Theo nghĩa rộng kinh doanh bảo hiểm là hoạt động có mục đích sinh lời của các chủ thể

    kinh doanh trên thị trường bảo hiểm để nhằm tới việc ký kết và thực hiện tốt được các hợp

    đồng bảo hiểm.

    Tại Điều 3, Luật kinh doanh BH năm 2000: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của

    doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi

    ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh

    nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ngươì được bảo

    hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

    Một số khái niệm được sử dụng trong định nghĩa trên được pháp luật giải thích như sau:

    – Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp

    bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm

    hoặc người thụ hưởng.

    – Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng

    được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ

    hưởng.

    – Người thụ hưởng bảo hiểm là tổ chức cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để

    nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.

    -Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định

    mà khi có sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ

    hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.

    4

    5

    6

    Doanh nghiệp bảo hiểm

    Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    Đại lý bảo hiểm

    7

    * Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm; Bao gồm tất cả quy định chung về hợp đồng bảo

    hiểm

    * Pháp luật về chế độ bảo hiểm cụ thể

    PL về bảo hiểm con người

    Pl về bảo hiểm tài sản

    PL về bảo hiểm trách nhiệm dân sự

    2.3. Các nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm.

    Tại điều 6 Luật kinh doanh bảo hiểm có quy định các nguyên tắc cơ bản trong kinh

    doanh bảo hiểm gồm:

    Thứ nhất, tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm phải tham gia bảo hiểm tại doanh

    nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam

    Việc đặt ra nguyên tắc này nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển

    lành mạnh và lâu dài của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đồng thời bảo đảm sự quản lý chặt

    chẽ của Nhà nước và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tập quán quốc tế.

    Tuy nhiên do thực trạng phát triển của thị trường bảo hiểm ở Việt Nam chưa đáp ứng được hết

    nhu cầu bảo hiểm của xã hội, Tại Điều 3 Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của

    luật kinh doanh bảo hiểm có quy định về điều kiện, nguyên tắc tham gia bảo hiểm:

    1. Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm,

    hoạt động môi giới bảo hiểm tại việt nam phải được bộ tài chính cấp giấy phép thành lập và

    hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm.

    2. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm và

    chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại việt nam.

    không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh

    nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm.

    Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có thể tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo

    hiểm không có trụ sở ở Việt Nam trong những trường hợp: Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt

    động ở Việt Nam chưa cung cấp được loại sản phẩm bảo hiểm mà tổ chức, cá nhân có nhu cầu

    tham gia bảo hiểm hoặc theo quy định của các điều ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký

    kết hoặc tham gia. Hợp đồng bảo hiểm được giao kết giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với

    doanh nghiệp bảo hiểm không có trụ sở ở Việt Nam trái với các quy định trên đều bị coi là vô

    hiệu.

    Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm phải duy trì khả năng tài chính phù hợp với quy mô

    kinh doanh của mình để bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

    Với tính chất là hoạt động kinh doanh rủi ro và mang tính xã hội hoá cao, với vai trò

    quan trọng của kinh doanh bảo hiểm đối với nền kinh tế và sự ổn định của đời sống xã hội việc

    bảo đảm khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm để bảo đảm quyền lợi cho các tổ chức,

    cá nhân tham gia bảo hiểm là rất quan trọng, bởi nó không chỉ tạo uy tín tạo ra khả năng kinh

    doanh có hiệu quả cho doanh nghiệp bảo hiểm mà nó còn có ý nghĩakinh tế xã hội lớn. Với

    việc quy định nguyên tắc chung cơ bản này trong Luật kinh doanh bảo hiểm, để trên cơ sở đó

    8

    9

    kho¶n 5 ®iÒu 3 luËt kinh doanh b¶o hiÓm n¨m 2000.

    10

    doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để bảo đảm các cam kết của mình

    trước những người tham gia bảo hiểm khi có các sự cố bảo hiểm xảy ra. Các quỹ này là nguồn

    quan trọng để tham gia đầu tư nhằm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhưng

    phải đảm bảo nguyên tắc tính an toàn, tính sinh lời, và tính thanh khoản của các khoản vốn đầu

    tư. Thông thường thì tính bồi thường tổn thất thực tế cho người được bảo hiểm trong một hợp

    đồng bảo hiểm thường rất lớn, lớn gấp nhiều lần so với số phí bảo hiểm đã đóng. Vì thế, để

    đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất, trong hoạt động bảo hiểm phải

    áp dụng nguyên tắc lấy số đông bù số ít, tức là phải cung cấp nhiều sản phẩm bảo hiểm cho

    nhiều loại khách hàng, trên nhiều vùng thị trường khác nhau… để lấy phí bảo hiểm đóng góp

    từ nhiều người nhằm bù đắp cho một số ít người gặp rủi ro. Trên thực tế, đối với những hợp

    đồng có giá trị lớn hoặc trường hợp có khả năng doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho

    nhiều người được bảo hiểm trong cùng một sự cố, để giảm bớt trách nhiệm tài chính đối với

    rủi ro bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm thường phải thực hiện nghiệp vụ tái bảo hiểm hoặc

    đồng bảo hiểm. Mặt khác, để giảm bớt chi phí bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải tăng

    cường giám sát các biện pháp phòng ngừa hạn chế tổn thất bảo hiểm.

    Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức thành lập và hoạt động theo các qui định

    của Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật. Xuất phát từ tính chất đặc

    thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được coi là một tổ chức kinh

    doanh ngành nghề đặc biệt, nên pháp luật phải có những qui định riêng áp dụng cho doanh

    nghiệp bảo hiểm, đó là Luật kinh doanh bảo hiểm. Trong việc tổ chức thành lập và hoạt động

    của mình doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân theo Luật kinh doanh bảo hiểm.

    Tuy nhiên, bên cạnh việc áp dụng các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh

    nghiệp bảo hiểm còn phải tuân thủ theo các qui định khác của pháp luật trong hệ thống pháp

    luật Việt Nam – nếu như vấn đề nào đó Luật kinh doanh bảo hiểm không quy định, không điều

    chỉnh trực tiếp …Chẳng hạn doanh nghiệp bảo hiểm là công ty cổ phần thì việc tổ chức và

    hoạt động của doanh nghiệp phải tuân theo các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm đồng

    thời còn phải tuân thủ các qui định dành cho công ty cổ phần quy định Luật doanh nghiệp …

    Thứ ba, Doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính. Để quản lý

    hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan

    quản lý nhà nước nhất định. Một số nước ở Châu á như Singapor, Philipin, cơ quan quản lý

    nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm có tên gọi là Uỷ ban giám sát bảo hiểm. Các nước

    khác như Anh, Nhật Bản, cơ quan này là một phòng trực thuộc vụ quản lý các ngân hàng.

    ở Việt Nam, công tác quản lý nhà nước về hoạt động bảo hiểm được Chính phủ giao

    cho Bộ Tài chính thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác bảo hiểm. Trước đây do tính độc

    quyền trong kinh doanh bảo hiểm, lúc đó Bộ tài chính đã giao cho Bảo Việt thực hiện hai chức

    năng quản lý và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm. Sau khi đất nước ta chuyển đổi sang kinh tế thị

    trường thì để đáp ứng yêu cầu quản lý trong cơ chế kinh tế này, ngày 15 tháng 5 năm 1992 Bộ

    trưởng Bộ tài chính đã ra quyết định số 223TC/ QĐ- BTC thành lập phòng quản lý bảo hiểm

    trực thuộc vụ tài chính ngân hàng và tổ chức tài chính, Như vậy, bằng qui định trên Bộ Tài

    Chính đã tách chức năng quản lý và chức năng kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt. Từ thời

    điểm đó cho đến nay Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ trực tiếp thực hiện chức năng

    quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Điều này đã được Luật kinh doanh bảo

    hiểm qui định cụ thể: “Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính Phủ thực hiện quản lý nhà

    nước về kinh doanh bảo hiểm “(Khoản 2, Điều 121)

    11

    Đây là đặc điểm giúp ta phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong

    nền kinh tế. Bởi vì, trong khi các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề khác

    chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước khác như các tổ chức tín dụng chịu sự quản

    lý nhà nước trực tiếp của Ngân hàng nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán

    chịu sự quản lý nhà nước của Uỷ ban chứng khoán nhà nước …

    1.2. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm.

    Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung lĩnh vực bảo hiểm rủi ro là lĩnh vực độc

    quyền của nhà nước (gọi tên là bảo hiểm nhà nước). ở nước ta chỉ duy nhất có Tổng công ty

    bảo hiểm Việt Nam (bảo Việt). Cơ quan “Bảo Việt” thực hiện đồng thời cả hai chức năng quản

    lý nhà nước và kinh doanh bảo hiểm rủi ro. Chuyển sang cơ chế kinh tế mới – cơ chế kinh tế

    thị trường, Nhà nước không còn giữ độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm rủi ro mà cho phép các

    thành phần kinh kế được tham gia kinh doanh bảo hiểm-. Nhà nước có phân định rạch ròi giữa

    chức năng quản lý và chức năng kinh doanh trong bảo hiểm rủi ro – Thị trường bảo hiểm đã

    hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nhiều loại hình doanh

    nghiệp bảo hiểm ra đời, sản phẩm bảo hiểm phát triển rất đa dạng để đáp ứng nhu cầu của xã

    hội. Vì vậy, việc phân loại các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là rất cần thiết. Có nhiều tiêu

    chí để phân loại doanh nghiệp bảo hiểm, mỗi cách phân loại có ý nghĩa và mục đích riêng.

    * Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm (cách phân

    loại này theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 chưa sửa đổi bổ sung) thì có các loại hình

    doanh nghiệp bảo hiểm sau:

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước

    đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những

    nhiệm vụ nhà nước giao. Bên cạnh việc áp dụng các qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm,

    doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn phải tuân thủ các qui định trong các văn bản pháp luật

    dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

    nghĩa ở nước ta những doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước

    nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan

    tâm, tạo điều kiện khuyến khích phát triển để nó trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong

    những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

    – Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên

    cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với

    phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn

    góp của mình góp vào công ty.Thực chất thì công ty cổ phần bảo hiểm là những công ty cổ

    phần kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Việc tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần bảo

    hiểm luôn chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật doanh nghiệp.

    – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp

    nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành

    viên. Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm”.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành,Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ là Tổ chức,

    công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoạt động trong

    cùng một lĩnh vực, ngành nghề, có nhu cầu bảo hiểm đều có quyền tham gia thành lập tổ chức

    bảo hiểm tương hỗ với tư cách là thành viên sáng lập. Chỉ các tổ chức, cá nhân giao kết hợp

    đồng bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm tương hỗ mới có thể trở thành thành viên của tổ chức bảo

    12

    hiểm tương hỗ. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ do Chính

    phủ quy định.

    Trên thế giới, phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức dưới hình thức công ty

    bảo hiểm tương hỗ. Đây là loại hình doanh nghiệp được thành lập nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn

    nhau giữa các thành viên, mục đích kinh doanh chỉ là thứ yếu. ở Việt Nam, thị trường bảo

    hiểm mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển thì đây là một mô hình mới, chưa hề có một tổ chức

    bảo hiểm tương hỗ nào tồn tại trên thực tế. Việc qui định loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này

    ở Việt Nam hiện nay là cần thiết, phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế Việt Nam.

    Bởi vì đối với một số lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản tại Việt

    Nam là những lĩnh vực mà ta có thế mạnh mà các doanh nghiệp bảo hiểm hiện chưa phục vụ

    được hoặc hoạt động không có hiệu quả. nếu chúng ta có doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ

    trong những lĩnh vực như vậy có nhiều lợi thế. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn

    bản qui phạm về tổ chức bảo hiểm tương hỗ là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để loại hình

    doanh nghiệp này phát triển.

    Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài (gồm doanh nghiệp bảo hiểm liên

    doanh; Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài). Là doanh nghiệp bảo hiểm

    được thành lập có một phần vốn hoặc 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm nước

    ngoài để kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài

    tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

    -Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: Là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ

    sở góp vốn của bên Việt Nam và bên nước ngoài. (Tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong

    doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn

    30% vốn điều lệ.)

    Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ

    chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn

    toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt

    Nam.

    Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài không bị

    hạn chế về nội dung, phạm vi hoạt động khi bán sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp có

    vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức và cá nhân nước ngoài; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh;

    các sản phẩm phục vụ cho những chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp

    và bảo hiểm rủi ro tài chính, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc mở rộng nội

    dung, phạm vi hoạt động sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, phù hợp với nhu

    cầu phát triển thị trường và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Cụ thể:

    Trong năm hoạt động đầu tiên, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được

    phép mở một chi nhánh ngoài trụ sở chính để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sau 3

    năm kể từ khi hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu

    tư nước ngoài được phép mở thêm 2 chi nhánh để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm,

    môi giới bảo hiểm. Sau 5 năm kể từ khi hoạt động, việc mở thêm chi nhánh của doanh nghiệp

    bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện theo nhu

    cầu phát triển thị trường và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

    Theo điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định:

    Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm bao gồm:

    13

    – Công ty cổ phần bảo hiểm.

    – Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm.

    – Hợp tác xã bảo hiểm.

    – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

    * Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thì các

    doanh nghiệp bảo hiểm được chia thành hai loại là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh

    nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm

    nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ con người. Mặc dù đối tượng bảo

    hiểm nhân thọ là con người, nhưng so với các loại hình bảo hiểm con người khác nó có một số

    dâú hiệu đặc trưng sau: bảo hiểm nhân thọ thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù. Bảo

    hiểm nhân thọ là sự kết hợp giữa hình thức bảo hiểm và hình thức tiết kiệm vừa là hình thức

    đầu tư.

    Do thời hạn bảo hiểm dài, mức phí bảo hiểm thường lớn, pháp luật có quy định cho phù

    hợp với tính chất và đặc điểm của loại hình nghiệp vụ bảo hiểm này, nhằm bảo vệ quyền lợi

    cho các bên tham gia quan hệ bảo hiểm. Chẳng hạn các quy định về đóng phí bảo hiểm của

    bên mua bảo hiểm, hoặc pháp luật quy định về vấn đề đầu tư vốn của loại hình doanh nghiệp

    bảo hiểm nhân thọ có sự khác biệt với hoạt động đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phi

    nhân thọ để bảo vệ sự an toàn trong thanh toán, tính hiệu quả trong hoạt động đầu tư cho

    doanh nghiệp bảo hiểm, bảo vệ quyền, lợi ích cho người tham gia bảo hiểm và cho cả doanh

    nghiệp bảo hiểm…

    – Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm

    phi nhân thọ. Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và

    các nghiềp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    Do sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại nghiệp vụ bảo hiểm trên mà Điều

    60 khoản 2 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định ” Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép

    đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh

    nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con

    người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ”. Vì thế trong các doanh nghiệp bảo hiểm ở nước ta hiện

    nay có hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh

    nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Chúng khác nhau không chỉ về tên gọi, nghiệp vụ kinh doanh

    mà trong những chế độ cụ thể, pháp luật có những quy định cho chúng khác nhau, đặc biệt là

    trong chế độ tài chính đối với hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này .

    1.3 Quy chế cấp giấy phép thành lập hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải thể, phá

    sản doanh nghiệp bảo hiểm,

    Pháp luật hiện hành có quy định về điều kiện và thủ tục để được cấp giấy phép thành

    lập và hoạt động đối với các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong đó có một số điều kiện quan trọng

    như điều kiện về vốn điều kiện về nhân sự như:

    – Không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh

    nghiệp;

    14

    – Phải có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của

    Chính phủ (kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300 tỷ đồng Việt Nam; Kinh doanh bảo hiểm

    nhân thọ: 600 tỷ đồng Việt Nam);

    – Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo

    hiểm…cụ thể: Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín,

    đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tổng giám đốc

    (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp, có thực

    tiễn quản lý kinh doanh hay quản lý nhà nước về bảo hiểm ít nhất 3 năm và phải thường trú tại

    Việt Nam trong thời gian đương nhiệm…

    – Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật

    này;

    – Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy

    định khác của pháp luật;

    * Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư thành lập doanh nghiệp bảo hiểm 100%

    vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh giữa doanh nghiệp bảo hiểm nước

    ngoài với doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho

    phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam;

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang hoạt động hợp pháp ít nhất 10 năm theo quy

    định của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính tính tới thời điểm nộp hồ sơ xin cấp Giấy

    phép;

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có tổng tài sản tối thiểu tương đương 2 tỷ đô la

    Mỹ vào năm trước năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép;

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt

    động kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật khác của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ

    sở chính trong vòng 3 năm liền kề năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép.

    * Về Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động thực hiện theo quy định tại Luật

    Doanh nghiệp, Điều 64 của Luật Kinh doanh bảo hiểm cụ thể hoá trong 7 NĐ bao gồm:

    a) Đơn xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo mẫu do Bộ Tài chính quy định;

    b) Dự thảo điều lệ doanh nghiệp phù hợp với quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật

    Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành. Dự thảo Điều lệ doanh nghiệp phải

    có đầy đủ chữ ký của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập hoặc người đại

    diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập;

    c) Danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ kèm theo

    d) Xác nhận của ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam về mức vốn điều lệ gửi

    tại tài khoản phong toả mở tại ngân hàng đó;

    đ) Phương án hoạt động 5 năm đầu phù hợp với lĩnh vực kinh doanh xin cấp Giấy

    phép, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm,

    đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích

    kinh tế của việc thành lập doanh nghiệp kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát

    15

    16

    độc lập về tình hình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    nước ngoài nơi đóng trụ sở chính trong 3 năm gần nhất;

    – Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính:

    + Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thành lập doanh

    nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Việt Nam. Trường hợp quy định của

    nước nơi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính không

    yêu cầu phải có văn bản chấp thuận thì phải có bằng chứng xác nhận việc này;

    + Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang hoạt động

    kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành hoạt động ở Việt

    Nam;

    + Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang trong tình

    trạng tài chính lành mạnh và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý tại nước nơi doanh nghiệp

    bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính.

    Hồ sơ xin cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    được lập thành 3 (ba) bộ trong đó có 1 (một) bộ là bản chính, 2 (hai) bộ là bản sao. Hồ sơ đề

    nghị cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu

    tư nước ngoài được lập thành 3 (ba) bộ, mỗi bộ gồm 1 (một) bản bằng tiếng Việt và 1 (một)

    bản bằng tiếng nước ngoài thông dụng. Các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng nước

    ngoài ra tiếng Việt phải được cơ quan công chứng Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp

    luật về công chứng. Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ xin cấp Giấy

    phép.

    Pháp luật quy định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và thu hồi giấy phép thành

    lập và hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể: Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập

    và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày

    nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính phải cấp hoặc từ chối

    cấp giấy phép. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải có văn bản giải

    thích lý do. Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh

    doanh.

    Pháp luật còn quy định: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành

    lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đăng báo hàng

    ngày của báo trung ương và báo địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính trong 5 số báo

    liên tiếp về những nội dung chủ yếu như sau: Tên, địa chỉ trụ sở chính, Chi nhánh, Văn phòng

    đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Mức vốn điều

    lệ và số vốn điều lệ đã góp; Họ, tên của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Số

    Giấy phép và ngày cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; Các nghiệp vụ bảo hiểm, nghiệp vụ

    môi giới bảo hiểm được phép kinh doanh.

    Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh

    nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy

    định của pháp luật để chính thức hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Nếu quá

    thời hạn này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không bắt đầu hoạt

    động thì bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động.

    17

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi

    một trong những nội dung sau đây: Tên doanh nghiệp; Vốn điều lệ; Mở hoặc chấm dứt hoạt

    động của chi nhánh, văn phòng đại diện; Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại

    diện; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chiếm

    10% số vốn điều lệ trở lên; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc); Chia, tách,

    sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp…

    Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra

    một trong những trường hợp như: Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin

    cố ý làm sai sự thật; Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà

    không bắt đầu hoạt động; Giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi hình

    thức doanh nghiệp; Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong giấy

    phép thành lập và hoạt động; Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam

    kết với bên mua bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài có thể bị thu hồi

    giấy phép thành lập và hoạt động khi doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài nơi đóng trụ sở chính

    bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

    Trong trường hợp Bộ Tài chính cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, chấp

    thuận cho doanh nghiệp bảo hiểm thay đổi một trong những nội dung quy định, Bộ Tài chính

    thông báo ngay bằng văn bản kèm theo bản sao giấy phép thành lập và hoạt động, quyết định

    thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động hoặc quyết định chấp thuận việc sửa đổi, bổ sung

    giấy phép thành lập và hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp

    đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện.

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt

    động kinh doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là có đủ khả năng thanh toán khi

    đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định và có biên khả năng thanh toán không

    thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của Chính phủ. Trong trường hợp có

    nguy cơ mất khả năng thanh toán (khi biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó thấp hơn

    biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định) thì doanh nghiệp bảo hiểm phải chủ động

    thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán đồng thời phải báo cáo nguy cơ

    mất khả năng thanh toán cho Bộ Tài chính trong đó nói rõ về thực trạng tài chính, nguyên nhân

    dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và các biện pháp khắc phục….Trong trường hợp

    doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán theo phương án đã được

    chấp thuận, thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khôi phục khả

    năng thanh toán, gồm những biện pháp như: Bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu; Tái bảo hiểm; thu

    hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động; Củng

    cố tổ chức bộ máy và thay đổi người quản trị, điều hành của doanh nghiệp; Yêu cầu chuyển

    giao hợp đồng bảo hiểm; Các biện pháp khác.

    Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán

    theo yêu cầu của Bộ Tài chính thì Bộ Tài chính ra quyết định thành lập Ban kiểm soát khả

    năng thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán của doanh nghiệp

    bảo hiểm.

    Ban kiểm soát khả năng thanh toán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    – Chỉ đạo và giám sát việc triển khai thực hiện các biện phục khả năng thanh toán theo

    phương án đã được chấp thuận;

    18

    19

    Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao

    gồm:

    – Trụ sở chính;

    – Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở, công ty thành viên hạch toán phụ thuộc (được gọi là

    Chi nhánh) trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ

    thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo

    uỷ quyền;

    – Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp

    môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ

    các lợi ích đó;

    – Địa điểm kinh doanh, phòng giao dịch (được gọi là địa điểm kinh doanh) là nơi hoạt

    động kinh doanh cụ thể, trực thuộc Chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi

    giới bảo hiểm.

    Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm muốn mở Chi nhánh, Văn

    phòng đại diện phải đáp ứng các điều kiện sau:

    – Vốn điều lệ thực có phải đảm bảo theo quy định của Bộ Tài chính;

    – Bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu

    quả;

    – Không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật trong 3 năm liên tục ngay

    trước năm nộp hồ sơ. Doanh nghiệp bảo hiểm không vi phạm quy định về khả năng thanh

    toán;

    – Có Quy chế tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;

    – Người điều hành Chi nhánh, Văn phòng đại diện có kinh nghiệm và kiến thức chuyên

    môn về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định

    của pháp luật;

    – Có hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện theo quy định

    Hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện bao gồm:

    – Đơn xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện có chữ ký của người đại diện có thẩm quyền

    của doanh nghiệp, trong đó trình bày tóm tắt sự cần thiết, tên gọi, địa điểm, nội dung, phạm vi hoạt

    động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;

    – Phương án hoạt động 3 năm đầu của Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong đó nêu rõ

    nhu cầu khách hàng; dự báo thị trường; nội dung, phạm vi hoạt động, các sản phẩm bảo hiểm

    dự kiến kinh doanh; dự kiến kết quả kinh doanh; tổ chức bộ máy, nhân sự; địa điểm đặt Chi

    nhánh, Văn phòng đại diện và cơ sở vật chất kỹ thuật;

    – Giấy tờ hợp lệ chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    đáp ứng các điều kiện quy định.

    Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính phải

    trả lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Trong trường hợp từ chối

    chấp thuận, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Khái Niệm Chung Về Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Quy Định Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Fahasa Bị Tố Chiêu Trò Khi Bán Sách Giá 1.000 Đồng
  • Tiki Vàký Kết Hợp Tác Chiến Lược
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 24/2000/qh10: Doanh Nghiệp Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật 42/2019/qh14 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ Sửa Đổi 2022
  • Law 42/2019/qh14 Amendments Of Law On Insurance Business And Law On Intellectual Property
  • Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Số 61/2010/qh12 Năm 2010 Miễn Phí
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 61/2010/qh12
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010 Số 61/2010/qh12
  • CHƯƠNG III

    DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    MỤC 1

    CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG

    Điều 59. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm

    Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước;

    2. Công ty cổ phần bảo hiểm;

    3. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ;

    4. Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh;

    5. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

    Điều 60. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm

    1. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

    A) Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm;

    B) Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất;

    C) Giám định tổn thất;

    D) Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn;

    Đ) Quản lý quỹ và đầu tư vốn;

    E) Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ.

    Điều 61. Nội dung kinh doanh tái bảo hiểm

    Kinh doanh tái bảo hiểm bao gồm:

    1. Chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác;

    2. Nhận bảo hiểm lại một phần hay toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm.

    2. Việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển thị trường bảo hiểm, thị trường tài chính của Việt Nam.

    Điều 63. Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động

    Các điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:

    1. Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ;

    2. Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật này;

    3. Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;

    4. Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm.

    Điều 64. Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động

    Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:

    1. Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động;

    2. Dự thảo điều lệ doanh nghiệp;

    3. Phương án hoạt động năm năm đầu, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm, đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích kinh tế của việc thành lập doanh nghiệp;

    4. Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người quản trị, người điều hành doanh nghiệp;

    6. Quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loại sản phẩm bảo hiểm dự kiến tiến hành.

    Điều 65. Thời hạn cấp giấy phép

    Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.

    Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

    Điều 66. Lệ phí cấp giấy phép

    Doanh nghiệp bảo hiểm được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải nộp lệ phí cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.

    Điều 67. Công bố nội dung hoạt động

    Sau khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải công bố nội dung hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.

    Điều 68. Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong những trường hợp sau đây:

    A) Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin cố ý làm sai sự thật;

    B) Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà không bắt đầu hoạt động;

    C) Giải thể theo quy định tại Điều 82 của Luật này;

    D) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp;

    Đ) Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động;

    E) Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết với bên mua bảo hiểm.

    2. Trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải đình chỉ ngay việc giao kết hợp đồng bảo hiểm mới, nhưng vẫn có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm và phải thực hiện các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết trước ngày bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

    Trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    3. Quyết định thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm được Bộ Tài chính công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Điều 69. Những thay đổi phải được chấp thuận

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi một trong những nội dung sau đây:

    A) Tên doanh nghiệp;

    B) Vốn điều lệ;

    C) Mở hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện;

    D) Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện;

    Đ) Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;

    E) Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên;

    G) Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc);

    H) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp.

    2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải công bố các nội dung thay đổi đã được chấp thuận theo quy định của pháp luật.

    (Còn nữa…)

    Theo chinhphu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số: 24/2000/qh10
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10 Của Quốc Hội
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10
  • Doanh Nghiệp Bảo Hiểm Phá Sản
  • Nếu Công Ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Phá Sản Thì Quyền Lợi Khác Hàng Sẽ Ra Sao?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100